Để hiểu được cái hay, cái đẹp của tác phẩm theo thể loại kí từ đó thấyđược cái tôi độc đáo của các nhà văn là điều không hề dễ dàng bởi: + Thứ nhất, cả Người lái đò Sông Đà và Ai đã đặt
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Số điện thoại : 0967039333
Mã sáng kiến : 12.51.0
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Số điện thoại : 0967039333
Mã sáng kiến : 12.51.0
Trang 3MỤC LỤC
1 Lời giới thiệu 1
2 Tên sáng kiến 2
3 Tác giả sáng kiến 2
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến 2
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 2
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu 3
7 Mô tả bản chất của sáng kiến 3
Phần 1: Nội dung của sáng kiến 3
1.1 Những vấn đề cơ bản về kí 3
1.1.1 Khái quát về thể kí 3
1.1.2 Một số phương pháp về việc giảng dạy kí hiện đại 5
1.1.3 Một số nhận định hay về tác giả, tác phẩm kí 8
1.2 Hệ thống các phương pháp cơ bản, đặc trưng để giải các dạng bài tập về hai văn bản kí 11
1.3 Hướng dẫn học sinh làm câu 5 điểm về văn bản kí trong đề thi THPT Quốc gia (các dạng bài tập) 12
1.3.1 Cách làm dạng bài cảm nhận, phân tích nhân vật, giá trị của tác phẩm/ đoạn trích 14
1.3.2 Cách làm dạng đề phân tích, cảm nhận các chi tiết, đoạn văn, hình ảnh, nhân vật trong một tác phẩm, từ đó nhận xét về một vấn đề nào đó 23
1.3.3 Cách làm bài văn dạng đề liên hệ 43
1.3.4 Cách làm dạng đề nghị luận ý kiến bàn về văn học 50
1.3.5 Cách làm bài dạng đề so sánh văn học 62
1.4 Giới thiệu những đề nâng cao tự giải 65
Phần 2: Khả năng áp dụng của sáng kiến 66
Phần 3: Kết luận 67
8 Những thông tin cần được bảo mật 68
9 Các điều kiện cần thiết để áp dung sáng kiến 68
10 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu: 68
11 Danh sách những tổ chức/ cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu .72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 4BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 LỜI GIỚI THIỆU
Bồi dưỡng học sinh ôn thi THPT Quốc gia là một một công việc nhiềukhó khăn và thách thức Chỉ xét riêng ở một khía cạnh trong quá trình bồi dưỡng
là cung cấp các dạng đề và hướng dẫn cách làm cho từng dạng đề đã đòi hỏi rấtcao ở người thầy một sự tìm tòi, sáng tạo và nhanh nhạy nắm bắt những đổithay Thực tế cho thấy, những năm gần đây, kí là thể loại hay và khó đang xuấthiện nhiều trong kì thi Tốt nghiệp, THPT Quốc gia, đặc biệt là ở câu Nghị luậnvăn học (5,0 điểm) Điển hình như: Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm
2012, đề bài là: Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò Sông Đà của
nhà văn Nguyễn Tuân Gần đây nhất là trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2019,
đề thi ra là: Cảm nhận của anh/ chị về hình tượng sông Hương trong đoạn trích:
“Trong những dòng sông đẹp … chân núi Kim Phụng” Từ đó, nhận xét cách
nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường…
Nhà văn Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường là những tác giả xuấtsắc của kí Việt Nam với ngòi bút tài hoa uyên bác có cá tính sáng tạo Các vănbản kí của hai ông được đưa vào chương trình Ngữ văn 12 là một việc làm cógiá trị, góp phần tăng cường chất văn và đáp ứng mục tiêu giáo dục mĩ cảm chohọc sinh Nhưng thực tế khi dạy và học các đoạn trích này đã và đang gặp nhiềukhó khăn Để hiểu được cái hay, cái đẹp của tác phẩm theo thể loại kí từ đó thấyđược cái tôi độc đáo của các nhà văn là điều không hề dễ dàng bởi:
+ Thứ nhất, cả Người lái đò Sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông? là 2
văn bản kí dài mà việc phân bố thời lượng chính khóa cho 2 văn bản này cònquá ít (4 tiết)… Đây là một thực tế đáng để chúng ta phải suy nghĩ
+ Thứ hai, các tác phẩm văn xuôi thiên về tự sự, các em làm quen với cốttruyện, hệ thống nhân vật, tình tiết, tình huống Trong suốt một quá trình dàitrước đó, học sinh chủ yếu được học các tác phẩm ấy dần dần, cảm xúc và nhậnthức của các em đã quen nương theo cốt truyện, hệ thống nhân vật, tình tiết… Vìvậy khi gặp tác phẩm kí giàu chất trữ tình học sinh nào cũng sợ, các em thấylúng túng, mất phương hướng với những khái niệm nhân vật trữ tình, cái tôi trữtình, giọng điệu trữ tình, mạch cảm xúc chủ quan dẫn đến học sinh khó tiếpnhận được tác phẩm Vì không thật sự hứng thú nên việc truyền đạt và tiếp nhậntrên lớp học đối với những nội dung này khó lòng đạt được kết quả như mongmuốn
Hơn thế, để cung cấp thêm tư liệu dạy học cho giáo viên trao đổi, học tậpkinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh ôn thi THPT quốc gia đạt hiệu
Trang 5Đào tạo Vĩnh Phúc thường xuyên chỉ đạo các cụm trường trong tỉnh tổ chức hộithảo chuyên đề ôn thi THPT Quốc gia Trong những hội thảo đó, đã xây dựngđược hệ thống các chuyên đề bồi dưỡng học sinh ôn thi THPT quốc gia phongphú làm tài liệu dùng chung cho người dạy Có nhiều giáo viên đã đề xuấtnhững phương pháp hiệu quả, tích cực hướng dẫn học sinh giải quyết đề nghịluận văn học trong cấu trúc đề thi THPT Quốc gia Song chưa có chuyên đề nào
đi sâu vào hướng dẫn học sinh tiếp cận các văn bản này theo đặc trưng của thể
kí
Trong khi đó chỉ còn vài tháng nữa là các em sẽ bước vào kì thi THPTQuốc gia - kì thi quan trọng có tính chất bước ngoặt trong cuộc đời của các em.Chính vì vậy, việc giúp học sinh nắm bắt được cách thức tiếp cận một tác phẩm/đoạn trích kí là vô cùng cần thiết Nhận thức rõ điều đó, là một giáo viên mônNgữ văn, người viết luôn trăn trở làm sao để giúp chính bản thân mình cùngđồng nghiệp và học sinh có thêm những hiểu biết cơ bản về thể kí; biết cảm thụđược cái hay, cái đẹp, giá trị của mỗi tác phẩm văn học từ đó chủ động trong quátrình học, ôn thi và có kết quả tốt nhất cho kì thi THPT Quốc Gia năm học 2019
- 2020 và những năm tiếp theo Xuất phát từ mong muốn đó, chúng tôi đã chọn
đề tài: Hướng dẫn học sinh ôn thi THPT Quốc gia các văn bản thuộc thể kí Với
hi vọng góp một vài kinh nghiệm nhỏ có tính ứng dụng cụ thể đối với giáo viên
và học sinh trong quá trình ôn thi THPT Quốc gia
Trong chuyên đề này, chúng tôi xin được trình bày Một số phương pháp
về việc giảng dạy kí hiện đại Củng cố kiến thức cơ bản Đặc biệt, hướng dẫnmột số đề văn thuộc câu 5 điểm trong đề thi THPT Quốc gia thường gặp liênquan đến hai đoạn trích kí trong Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 theo đề minhhọa của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức công bố ngày 24/01/2018 Ngoài
ra, đề xuất một số đề tự giải cho học sinh…
2 TÊN SÁNG KIẾN
Hướng dẫn học sinh ôn thi THPT Quốc gia các văn bản thuộc thể kí.
3 TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
- Họ và tên: Nguyễn Thị Minh Phượng
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Ngô Gia Tự - Lập Thạch -Vĩnh Phúc
- Email: phuongvanngt1@gmail.com
4 CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN
- Họ và tên: Nguyễn Thị Minh Phượng
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Ngô Gia Tự - Lập Thạch - Vĩnh Phúc
- Email: phuongvanngt1@gmail.com
- Số điện thoại: 0967039333
5 LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Trang 6Sáng kiến được áp dụng khi tìm hiểu 2 văn bản thuộc thể loại kí trong sáchNgữ văn 12 tập 1 (cơ bản) ở trường THPT theo phân phối chương trình Ngữ văn
THPT hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo là: Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường
6 NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU: 06/01/2018
7 MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
PHẦN 1: VỀ NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KÍ
1.1.1 Khái quát về thể kí
a) Khái niệm
Kí là một loại hình văn học bao gồm nhiều thể loại chủ yếu là văn xuôi tự
sự, dùng để ghi chép, miêu tả và biểu hiện những sự vật, sự việc, con người cóthật trong cuộc sống… theo sự cảm nhận, đánh giá của tác giả từ những điềumắt thấy, tai nghe Kí thường không có cốt truyện rõ ràng, thậm chí có khikhông có cả nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ Văn học, kí là thể loại văn học có đặc điểm “tôn
trọng sự thật khách quan của cuộc sống, không hư cấu”
Còn các tác giả của Từ điển tiếng Việt thì cho rằng kí là loại “thể văn tự
sự có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất”
b) Đặc trưng cơ bản của kí
- Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật, kí đòi hỏi sựtrung thực, chính xác Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành, có thờigian, địa điểm, hành động và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh gợi khôngkhí
- Tác giả kí khéo sử dụng tài liệu đời sống kết hợp với tư tưởng, cảm thụ,nhận xét, đánh giá Vì vậy sức hấp dẫn của kí là khả năng tái hiện sự thật mộtcách sinh động của tác giả Kí chấp nhận sự hư cấu, do đó phải dựa vào nhữngliên tưởng, tưởng tượng bất ngờ, tài hoa của tác giả khi phản ánh sự vật, cuộcsống
- Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là chất chủ quan, chất trữ tình sâuđậm của cái tôi tác giả Cho nên sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấpdẫn của cái tôi ấy (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độcđáo…)
- Ngôn ngữ bút kí giàu hình ảnh và giàu chất thơ Trước hết, ngôn từ nghệthuật của kí hướng vào miêu tả phong tục qua những đặc điểm môi trường hoặcnhững nét tính cách tiêu biểu của cuộc sống Vì thế nó vừa cụ thể, sinh động,đậm chất đời thường, vừa khái quát Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm kíthường rất linh hoạt về giọng điệu Kí thường không chỉ trần thuật, mà cùng với
Trang 7trần thuật là phân tích, khái quát ý nghĩa của các hiện tượng đời sống được đềcập, phản ánh trong tác phẩm.
c) Phân loại kí
Kí cũng đa dạng về kiểu loại và kết cấu Theo đó, người ta chia kí thành
hai nhóm lớn Nhóm thứ nhất thiên về tự sự gồm các thể chính như: kí sự, phóng
sự, nhật kí, hồi kí Nhóm thứ hai nghiêng về trữ tình với các thể chính như: tùy
bút, bút kí, tản văn…
Kí sự: Là một thể của kí thiên về tự sự, thường ghi chép các sự kiện, hay
kể lại một câu chuyện khi nó mới xảy ra Kí sự có cốt truyện hoàn chỉnh hoặctương đối hoàn chỉnh, cũng là loại thể có yếu tố trữ tình và chính luận, nhưngkhuynh hướng của tác giả được toát ra từ tình thế và hành động Yếu tố phi cốttruyện của những loại kí này không nhiều Tác phẩm kí sự cũng cấu tạo theophương thức kết cấu thông thường của một tác phẩm nghệ thuật: mở đầu và pháttriển sự kiện, sự biến phát triển đến cao độ - hoặc căng thẳng nhất - và kết thúc
Kí sự là bức tranh toàn cảnh trong đó sự việc và con người đan chéo, nhữnggương mặt của nhân vật không thật rõ nét
Phóng sự: Là một thể kí nổi bật bằng những sự thật xác thực, dồi dào và
nóng hổi, không chỉ đưa tin mà còn dựng lại hiện trường cho mọi người quansát, đánh giá, do đó nó nghiêng hẳn về phía tự sự, miêu tả, tái hiện sự thật Nộidung chủ yếu của phóng sự lại thiên về vấn đề mà người viết muốn đề xuất vàgiải quyết Do đó phóng sự, mặc dù có chất liệu chủ yếu là người thật việc thật,nhưng có màu sắc chính luận
Nhật kí: Là một thể loại kí mang tính chất riêng tư, đời thường nhiều
nhất Nếu hầu hết các tác phẩm văn học là để giao lưu với người khác, thì nhật
kí lại chỉ để giao lưu với chính mình Là ghi chép của cá nhân về sự kiện có thật
đã, đang và tiếp tục diễn ra theo thời gian, nhật kí thường bao gồm cả nhữngđoạn trữ tình ngoại đề và những suy nghĩ có tính chất chủ quan về sự kiện Mộtnhật kí có phẩm chất văn học khi nó thể hiện được một thế giới tâm hồn, khi quanhững sự việc và tâm tình cá nhân tác giả giúp người đọc nhìn thấy những vấn
đề xã hội trọng đại
Hồi kí: Những ghi chép có tính chất suy tưởng của cá nhân về quá khứ,
một dạng gần như tự truyện của tác giả Hồi kí cung cấp những tư liệu của quákhứ mà đương thời tác giả chưa có điều kiện nói được Khác với nhật kí, do đặcthù thời gian đã lùi xa, sự kiện trong hồi kí có thể bị nhớ nhầm hoặc tưởng tượngthêm mà người viết không tự biết
Bút kí: Là một thể của kí, bút kí thiên về ghi lại một cảnh vật mà nhà văn
mắt thấy tai nghe, thường trong các chuyến đi Bút kí tái hiện con người và sựviệc một cách phong phú, sinh động, nhưng qua đó biểu hiện khá trực tiếp
Trang 8phương thức nghị luận, tự sự, trữ tình nhưng tùy theo độ đậm nhạt khác nhaucủa các phương thức mà ta có bút kí chính luận, bút kí tùy bút v.v
Tùy bút: Là một thể của kí, tùy bút nghiêng hẳn về trữ tình với điểm tựa
là cái tôi của tác giả Hình thức thể loại này cho phép nhà văn phóng bút viết tùytheo cảm hứng, tùy cảnh, tùy việc mà suy tưởng, nhận xét, đánh giá, trình bàyv.v Những chi tiết, con người cụ thể trong tác phẩm chỉ là cái cớ để tác giả bộc
lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá… (Bản thân Nguyễn Tuân từng địnhnghĩa một cách khôi hài: Tùy bút là tùy theo bút mà viết)
1.1.2 Một số phương pháp về việc giảng dạy kí hiện đại Việt Nam trong
chương trình Ngữ văn 12 qua Người lái đò Sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
a) Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại.
Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại vừa là một yêu cầu vừa là mộtnguyên tắc của quá trình phân tích và giảng dạy tác phẩm văn học nói chung.Với thể loại kí, việc tìm hiểu đặc trưng thể loại lại càng có ý nghĩa quan trọnghơn Nắm vững và bám sát vào đặc trưng của thể kí, người đọc sẽ khám pháđược cái hay, cái đẹp của tác phẩm Dưới đây là một vài phương pháp cơ bảnkhi tiếp cận thể loại kí:
* Cho học sinh phát hiện ra nét tương đồng và khác biệt của đối tượng được tác
giả phản ánh trong 2 tác phẩm kí so với đối tượng tương tự có thật ở ngoài đời
Vì kí viết về sự thật, người thật, việc thật nên đòi hỏi phải chính xác,trung thực Việc cho học sinh phát hiện ra nét tương đồng và khác biệt của đốitượng được tác giả phản ánh trong 2 tác phẩm kí so với đối tượng tương tự cóthật ở ngoài đời là rất cần thiết
Ví dụ:
+ Sông Đà nếu chỉ được Nguyễn Tuân ghi chép bằng những số liệu đơnthuần như một nhà địa lý (tên khai sinh, độ dài…) thì cái phần hồn hung bạo vàthơ mộng của nó sẽ không được phát hiện
+ Dòng sông Hương của xứ Huế thơ mộng cũng vậy Nếu Hoàng PhủNgọc Tường chỉ ghi lại các khúc đoạn trong dòng chảy của nó từ thượng nguồn
về với Huế không thôi thì sẽ không có gì hấp dẫn, mà cái hấp dẫn chính là ở chỗtác giả tưởng tượng sông Hương như một con người có số phận, có tâm hồn (côgái Digan) có hành động cụ thể dưới những điểm nhìn khám phá khác nhau Khithì sông Hương như một cô gái mang trong mình tình yêu tha thiết với thànhphố Huế, khi lại là một người mẹ sản sinh cho xứ Huế những giá trị văn hóatruyền thống cùng âm nhạc, thi ca, khi lại là một nhận chứng của lịch sử đầy oaihùng hiển hách
* Học sinh phát hiện và đánh giá óc quan sát, trí liên tưởng, tưởng tượng năng lực sử dụng ngôn ngữ của 2 nhà văn
Trang 9Sức hấp dẫn của kí chính là ở khả năng tái hiện sự thật một cách sinh độngcủa tác giả Nếu chỉ đơn thuần là ghi chép thì tác phẩm kí hết sức khô khankhông gây được ấn tượng với người đọc
Ví dụ:
+ Người lái đò Sông Đà: Khi khám phá vẻ đẹp hung bạo của con sông,
Nguyễn Tuân đã vận dụng tri thức của nhiều ngành để miêu tả tính cách của consông mà ông gọi là “loài thủy quái khổng lồ” là “kẻ thù số một” của con người.Nhà văn đã huy động vốn kiến thức của điện ảnh, hội họa, kiến trúc, điêu khắc,thậm chí cả lĩnh vực quân sự, võ thuật, thể thao để miêu tả
Khi khám phá vẻ thơ mộng, trữ tình của con sông, lại cần phát hiện ra sựthay đổi, di chuyển điểm nhìn và cách miêu tả Dòng sông ấy được chiêmngưỡng từ trên cao nhìn xuống Hình dáng con sông Đà được ví như một “sợidây thừng ngoằn ngoèo” và dễ thương, đáng yêu biết bao, qua phép so sánh liêntưởng độc đáo “Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình”
Với hình tượng ông lái đò: Nhân vật này không được khắc họa thành sốphận như trong tác phẩm tự sự Thực ra đó chỉ là một khoảnh khắc trên sôngnước để qua đó Nguyễn Tuân tôn vinh con người lao động trong thời kỳ mới -thời kỳ miền Bắc xây dựng Chủ nghĩa xã hội
+ Ai đã đặt tên cho dòng sông? Vẻ đẹp thiên nhiên của sông Hương là
kết quả của nguồn tri thức phong phú thuộc các lĩnh vực địa lí, lịch sử, văn hóa
và khả năng quan sát sắc sảo của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Ở đây Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đều rất “tài hoa”, luônnhìn cuộc sống, sự vật, con người ở phương diện, góc độ văn hóa thẩm mỹ, nênphát hiện ra nhiều vẻ đẹp của hiện thực cuộc sống Đồng thời cả 2 nhà văn cũngrất “uyên bác”: hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và có thể cungcấp, đóng góp, lí giải những kiến thức đó cho người khác
* Học sinh phát hiện được đặc điểm của “cái tôi” tác giả trong mỗi bài kí.
Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là tính chủ quan, chất trữ tình sâu đậmcủa cái tôi tác giả Cho nên sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫncủa cái tôi ấy
Ví dụ:
+ “Cái tôi” của Nguyễn Tuân trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn
Tuân: Đó là một cái tôi tài hoa, một cái tôi “uyên bác”.
+ “Cái tôi” trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc
Tường: “Cái tôi” say mê kiếm tìm cái đẹp, dạt dào cảm xúc và luôn gắn bó vớithiên nhiên “Cái tôi” yêu quê hương đất nước hướng về cội nguồn Một “cáitôi” tài hoa uyên bác
b) Rèn luyện phương pháp đọc hiểu cho học sinh
Trang 10Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mớiphương pháp dạy học Ngữ văn trong tiếp nhận văn bản Hoạt động đọc hiểu củahọc sinh cần được thực hiện theo một trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từđọc đúng, đọc thông, đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo Khi hìnhthành năng lực đọc hiểu của học sinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụthẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy.
Trong quá trình đọc hiểu học sinh cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:
- Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân - là những hiểu biết vềchủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thểloại của văn bản
- Thể hiện những hiểu biết về văn bản: Tìm kiếm thông tin, đọc lướt để tìm ýchính, đọc kỹ tìm các chi tiết Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, phân tích,kết nối, tổng hợp… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản Phản hồi vàđánh giá thông tin trong văn bản
Học sinh cần làm nổi bật được: Đề tài, thể loại, cảm hứng sáng tạo, đọc vàtìm hiểu bố cục của văn bản, nội dung của văn bản, đặc sắc nghệ thuật của vănbản…
Như vậy, việc đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho học sinh đọc - hiểu văn
bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sángtạo Viết sáng tạo là khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của
cá nhân về đối tượng, vấn đề được đặt ra… Viết sáng tạo được thể hiện ở nhiềuphương diện khác nhau, với các mức độ khác nhau, vì vậy cần tạo ra đượcnhững cơ hội để học sinh thể hiện ngay trong quá trình đọc hiểu, đồng thời pháttriển các năng lực khác trong học tập
c) Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy.
Sơ đồ tư duy là phương pháp ghi nhớ chi tiết để tổng hợp hay để phân tíchmột vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh Vì vậy giúp cho học sinh
dễ nhớ và dễ ôn tập hơn:
- Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng
- Quan hệ hỗ trợ tương ứng giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càngquan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần ý chính
- Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thịgiác
- Ôn tập và ghi nhớ sẽ rất hiệu quả và nhanh hơn
- Thêm thông tin (ý) dẽ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào bản đồ
- Mỗi bản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ
- Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng,bát chap thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh
Trang 11Như vậy, sơ đồ tư duy là một công cụ lý tưởng cho việc giảng dạy và
trình bày các khái niệm trong lớp học Sơ đồ tư duy giúp cho giáo viên tập trungvào các vấn đề cần trao đổi cho học sinh, cung cấp một cái nhìn tổng quan vềchủ đề mà không có thông tin thừa Học sinh sẽ không phải tập trung vào việcđọc chép dài dòng, mà thay vào đó sẽ lắng nghe những gì mà thầy cô giáo diễnđạt Hiệu quả bài học sẽ tăng
1.1.3 Một số nhận định hay về tác giả, tác phẩm kí trong chương trình SGK Ngữ văn 12, tập 2 (cơ bản).
a Về Nguyễn Tuân và tùy bút Người lái đò Sông Đà
* Của Nguyễn Tuân
1 Văn chương trước hết phải là văn chương Nghệ thuật trước hết là
nghệ thuật Sau đó mới là cuộc đời…Đã là nghệ thuật phải có phong cách độc đáo.
2 Nghề văn là nghề chữ, là nghề dùng chữ nghĩa “sinh sự” để mà “sự
sinh”
3 Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ Nhà văn không
chỉ học tập ngôn ngữ mà có sáng tạo Không nên ăn bám vào ngôn ngữ người khác Giàu ngôn ngữ thì văn sẽ hay Trường vốn sẽ đi được xa Cùng một vốn ngôn ngữ ấy nhưng sử dụng có tìm tòi sáng tạo thì văn sẽ bề thế và kích thước.
Có vốn mà không biết sử dụng thì chỉ như nhà giàu giữ của.
4 Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của
nó Văn phải linh hoạt, văn không linh hoạt là văn cứng đơ thấp khớp.
* Của các đồng nghiệp đánh giá Nguyễn Tuân
1 Anh Đức: Không biết chừng nào mới lại có một nhà văn như thế, một
nhà văn mà khi ta gọi là một bậc thầy của ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo, vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngọn bút đều như có đóng một dấu triện riêng
2 Nguyễn Minh Châu: Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ
tài hoa.
3 Tôn Thảo Miên: Ông có một vốn từ vựng cực kì phong phú, một lối
hành văn độc đáo, tinh tế và rất có duyên Câu văn của ông dường như chứa đựng mọi âm thanh, sắc màu của cuộc sống, hay nói cách khác là sự hòa quyện của thõ ca, nhạc, họa, Nguyễn Tuân xứng đáng là một bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ, một nhà văn độc đáo vô song.
4 Nguyễn Đình Thi: Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái Thật và
cái Đẹp … Nguyễn Tuân là bậc thầy tiếng Việt Nam và ông làm công việc tạo ra những cái chưa có.
5 Phan Ngọc: Ngôn ngữ tiếng Việt khi ở trong tay Nguyễn Tuân trở
Trang 126 Anh Đức: Chúng ta vừa mất đi một bậc thầy ngôn ngữ Một nhà văn
mà khi ta gọi là bậc thầy nghệ thuật ngôn từ ta không thấy ngại miệng Một nhà văn độc đáo vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra dưới đầu ngọn bút đều như
có đóng một dấu triện riêng.
7 Tố Hữu: Nguyễn Tuân là người thợ kim hoàn của chữ.
8 Tạ Tỵ: Nguyễn Tuân viết văn mà giống như thợ kim hòan điêu khắc
cần cù chạm trổ vào mặt đá quý những hình nét trác tuyệt.
9 Hoài Anh: Cái đẹp của Nguyễn Tuân không phải là cái đẹp mơ mộng,
nhàn nhạt, phẳng lặng, mà là cái đẹp tạo hình, có góc cạnh, nhiều khi dữ dội”.
“Nguyễn Tuân người nghệ sĩ ngôn từ đưa cái đẹp đến thăng hoa đến một độ cao hiếm thấy trong văn học Việt Nam.
10 Vũ Ngọc Phan: Chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú
vị, vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức.
* Một số câu thơ về dòng sông và Tây Bắc
1 Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc…….còn đâu
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên).
2 Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu… sông xuôi
(Đất Nước - Nguyễn Khoa Điềm).
3 Cái tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường
Thác, bao nhiêu thác cũng qua
Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời
(Bài ca xuân 61 - Tố Hữu).
b Về Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ai đã đặt tên cho dòng sông?
* Những nhận định hay
1 Nguyễn Tuân: Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường có "rất nhiều ánh lửa"
2 Nguyên Ngọc: Anh là một người ham sống đến mê mải, sống và đi, đi
để được sống, với đất nước, với nhân dân, với con người, đi say mê và say mê viết về họ
3 Hoàng Cát: Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký văn
học của riêng mình Thế mạnh của ông là tri thức văn học, triết học, lịch sử, địa
lý sâu và rộng, gần như đụng đến vấn đề gì, ở thời điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể tung hoành thoải mái ngòi bút được
Trang 134 Ngô Minh: Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số rất ít nhà văn viết
bút ký nổi tiếng ở nước ta vài chục năm nay Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở tấm lòng nhân văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc, quyến rũ Đó là những trang viết tài hoa, tài tử, tài tình
5 Tô Hoài: Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn đạt được 7 chữ “ T”
-thứ nhất là có Tâm, rồi có Tình, có Tài, có Thực Tiễn, và Trung Thực
* Thơ về sông Hương
- Con sông nửa thực nửa mơ
Nửa mong Lí Bạch, nửa chờ Khuất Nguyên (Nguyễn Trọng Tạo)
- Con sông dung dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu ( Thu Bồn)
- Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ (Nguyễn Bính)
- Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền,
Trường giang như kiếm lập thanh thiên.
(Muôn dãy núi như chạy vòng quanh khu ruộng xanh mướt
Dòng sông dài như lưỡi gươm dựng giữa trời xanh) (Cao Bá Quát)
* Bài hát về Huế, sông Hương
- Ai ra xứ Huế thì ra
Ai về là về núi Ngự
Ai về là về sông Hương
Nước sông Hương còn vương chưa cạn
Chim núi Ngự tìm bạn bay về
Người tình quê ơi người tình quê thương nhớ lắm chi
(Ai ra xứ Huế - Duy Khánh)
- Ðã đôi lần đến với Huế mộng mơ
Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt
Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được
Nét dịu dàng pha lẫn trầm tư
(Huế Tình Yêu Của Tôi - Trương Tuyết Mai)
- Trở lại Huế thương bài thơ khắc trong chiếc nón
Em cầm trên tay ra đứng bờ sông
Sông Hương nước chảy thuyền trôi lững lờ,
Em trao nón đợi và em hẹn hò
( Huế thương - An Thuyên)
1.2 HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN, ĐẶC TRƯNG ĐỂ GIẢI CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ HAI VĂN BẢN KÍ
*Về phía giáo viên
Trang 14Để thực hiện chuyên đề đã chọn, chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhữngphương pháp sau:
- Hoạt động song phương giữa giáo viên và học sinh trong quá trình tiếpcận, tìm hiểu và nhận biết những phương diện đặc sắc của văn bản
- Đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp khảo sát thống kê - phân loại
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh văn học
- Thảo luận nhóm, điều tra thực tiễn, tự liên hệ
Kết hợp sử dụng phương pháp gợi mở, nêu vấn đề, trao đổi thảo luận nhằmphát triển khả năng tư duy hệ thống, thiết lập hệ thống ý và phát huy khả nănglàm việc nhóm, làm việc độc lập ở học sinh Phân loại đề theo cấu trúc đề thiTHPTQG: Sau khi cung cấp cho các em hiểu những vấn đề quan trọng, hệ thốngcác kiến thức, giáo viên sẽ tiến hành soạn hệ thống câu hỏi theo các dạng trên vàbám sát cấu trúc đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo (hệ thống câu hỏi này sẽđược phát cho học sinh trước khi học chuyên đề 01 ngày để các em chuẩn bị vàchủ động trong việc xử lí đề)
- Tổ chức ôn luyện hệ thống kiến thức cơ bản cần sử dụng trong chuyên đề
- Phương pháp thực hành: Giáo viên cần phải cho học sinh viết bài chuyên
đề như cấu trúc đề thi THPTQG theo định kì (có báo trước) và không theo định
kì (bất chợt), chấm chữa bài và uốn nắn những chỗ còn chưa đạt trong bài viếtcủa học sinh Khuyến khích nêu gương những học sinh có bài viết tốt, khen ngợikịp thời những học sinh có biểu hiện tiến bộ
* Về phía học sinh
- Yêu cầu học sinh xử lí nguồn tài liệu ở nhà qua hệ thống câu hỏi (Đọchiểu văn bản trong sách giáo khoa, đọc sách tham khảo, truy cập internet tìmnguồn tài liệu trực tuyến…)
- Sau khi xử lí nguồn tài liệu, học sinh tích cực, chủ động trả lời các câu hỏitrong phần hướng dẫn học bài, đồng thời thiết lập hệ thống dàn ý dựa trên hệthống câu hỏi ra về nhà
- Học sinh cần huy động những năng lực như: năng lực vận dụng tổng hợp,năng lực hợp tác, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực vận dụngkiến thức liên môn giải quyết vấn đề thực tiễn… để hiểu sâu, rộng hơn đoạntrích.Trong giờ học chuyên đề, giáo viên cho học sinh tự giải quyết vấn đề quathảo luận nhóm Dùng các kĩ thuật dạy học tích cực mới như: kĩ thuật hội chợ, kĩthuật khăn trải bàn, kĩ thuật mảnh ghép ) Cuối cùng, giáo viên nhận xét và kết
Trang 15luận Như thế, học sinh sẽ phải tư duy và chủ động trong việc chiếm lĩnh trithức.
- Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu để đánh giá mức độ nhận thức củahọc sinh từ đó điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với
tình hình thực tế
1.3 HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM CÂU 5 ĐIỂM VỀ VĂN BẢN KÍ
TRONG ĐỀ THI THPT QUỐC GIA (các dạng bài tập)
Mục tiêu:
*Kiến thức
- Giúp học sinh: Nắm được những đặc trưng cơ bản của thể loại kí (trong đó có
tùy bút và bút kí) Phát hiện và cảm nhận được vẻ đẹp của đối tượng thẩm mỹqua các đoạn trích/ tác phẩm ấy Đồng thời nắm được đặc điểm cái “tôi” củamỗi nhà văn
* Kĩ năng
- Nhận diện được văn bản thuộc thể loại tùy bút
- Biết cách đọc - hiểu một tác phẩm kí hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thểloại
- Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc làm bài văn nghị luận văn học
- Ôn luyện và hình thành cho học sinh kĩ năng giải các đề thi liên quan đến tácphẩm ở nhiều mức độ, nhiều kiểu bài theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia: phầnLàm văn (5,0 đ)
* Thái độ
Giáo dục HS
- Biết trân quý những giá trị văn hóa truyền thống mà kí hiện đại đem lại
- Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong kí hiện đại Việt Nam
- Tình yêu và cảm xúc trước vẻ đẹp của các đối tượng thẩm mĩ
* Năng lực
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến kí hiện đại Việt Nam
- Năng lực đọc – hiểu các tác phẩm kí hiện đại Việt Nam
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về kí hiện đại
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận
- Năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học
- Năng lực giải quyết vấn đề…
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ bày tỏ quan điểm, cảm nhận sau khi đọc vănbản Năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ
- Năng lực vận dụng kiến thức liên môn: lịch sử, địa lý, âm nhạc, hội họa,
du lịch, thi ca, phong tục tập quán; Tích hợp kiến thức sách vở và đời sống; Tíchhợp tự thân: Đọc văn - Tiếng việt - Làm văn Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục
Trang 16từ năm 2017, cấu trúc một đề Ngữ văn gồm có 3 phần: Phần I - Đọc hiểu (3điểm); Phần II- Làm văn gồm 2 câu (câu 1- nghị luận xã hội 2 điểm, câu 2 - nghịluận văn học 5 điểm) Với mục đích góp phần hệ thống các vấn đề cần ôn luyện
về mảng kí, giúp học sinh tự trau dồi kiến thức, rèn luyện kĩ năng làm bài đạt kếtquả tốt trong kì thi Trung học phổ thông quốc gia năm học 2019 - 2020 vànhững năm tiếp theo, chúng tôi tập trung vào các dạng đề sau:
+ Dạng đề cảm nhận, phân tích nhân vật, giá trị của tác phẩm: Đề
thường đưa ra yêu cầu trực tiếp phân tích hoặc cảm nhận nhân vật, giá trị hiện
thực và nhân đạo của tác phẩm
+ Dạng đề phân tích, cảm nhận các chi tiết, đoạn văn, hình ảnh, nhân
vật trong một tác phẩm, từ đó nhận xét về một vấn đề nào đó Đề thường yêu
cầu: Phân tích, cảm nhận nhân vật, chi tiết, đoạn văn trong các lần miêu tả; nhậnxét: sự thay đổi, vẻ đẹp/ bình luận nội dung nhân đạo/ tác giả muốn gửi gắmđiều gì? so sánh nhân vật…chủ đề và tư tưởng của tác phẩm
Lưu ý: Dạng đề kiến thức cơ bản trong tác phẩm truyện: Chi tiết, hai đoạn
văn, hai lần miêu tả, hai nhân vật…trong tác phẩm hoặc trong hai tác phẩm Câuhỏi vận dụng: Nhận xét, bình luận, hãy rút ra… sự thay đổi, thân phận, vẻ đẹp;
tư tưởng, thông điệp; nghệ thuật…
+ Dạng đề liên hệ trong tác phẩm văn học: Đề thường đưa ra yêu cầu
phân tích, cảm nhận nhân vật, chi tiết… từ đó liên hệ với một nhân vật, chi tiếttrong tác phẩm khác
+ Dạng bài nghị luận ý kiến bàn về văn học Vấn đề mà đề bài thường
đưa ra là: Một (hoặc nhiều) vấn đề, khía cạnh, phương diện trong tác phẩm vănhọc: Nhân vật, hình tượng, đoạn văn, chi tiết nghệ thuật, cách kết thúc tác
phẩm… Dạng câu hỏi đặc trưng của đề bàn về ý kiến văn học trong đề thi THPT
Quốc gia thường là: Từ cảm nhận của mình về anh/chị hãy bàn luận những ý kiến trên hoặc anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên
Lưu ý: Hai ý kiến cần bàn luận có thể: Một ý kiến đúng, một ý kiến sai.
Cả hai ý kiến đều đúng, bổ sung cho nhau
+ Dạng đề so sánh:Các loại đề so sánh văn học thường gặp: So sánh haichi tiết trong hai tác phẩm văn học So sánh hai đoạn văn So sánh hai nhân vật
So sánh cách kết thúc hai tác phẩm So sánh phong cách tác giả So sánh, đánhgiá hai lời nhận định về một tác phẩm
Hệ thống các phương pháp cơ bản, đặc trưng để giải các dạng bài tập trong chuyên đề, cụ thể như sau:
1.3.1) Cách làm dạng bài cảm nhận, phân tích nhân vật, giá trị của tác phẩm
a) Yêu cầu
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, nhân vật (ấn tượng về nhân vật là gì?)
Trang 17- Khái quát về nhân vật/ Khái quát về giá trị tác phẩm
- Phân tích các phương diện của nhân vật (lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ,nội tâm, cử chỉ, hành động…)/ Phân tích các biểu hiện của giá trị tác phẩm
- Tư tưởng tác giả gửi gắm qua nhân vật
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Vẻ đẹp của hình tượng người lái đò sông Đà trong Người lái đò Sông
Đà của nhà văn Nguyễn Tuân (SGK Ngữ văn 12, tập 1, cơ bản)
HƯỚNG DẪN
1 Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
- Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Nóiđến ông là người ta nghĩ ngay đến một nhà văn tài hoa, uyên bác và có một cáchdiễn đạt rất độc đáo
- Người lái đò sông Đà là một tùy bút thành công của Nguyễn Tuân, được rút từtập tùy bút Sông Đà Hình tượng nổi lên trong tùy bút là hình tượng người lái
đò Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, người lái đò trở thành một nghệ sĩ trongnghệ thuật vượt thác leo ghềnh và hội tụ rất nhiều những vẻ đẹp khác nhau
2 Vẻ đẹp của hình tượng người lái đò
a Ngoại hình và hoàn cảnh sống
- Ông lái đò được nhà văn miêu tả có những nét ngoại hình và tố chất khá đặc
thù cho những người lao động trên sông nước: tay ông lêu nghêu, chân lúc nàocũng khuỳnh khuỳnh, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh
- Cuộc sống của người lái đò là những cuộc chiến đấu hàng ngày với thiên nhiên
- một thứ thiên nhiên Tây Bắc đầy dữ dội để giành lấy sự sống từ tay nó về taymình
- Trên bả vai người lái đò bầm lên một khoanh củ nâu Cái đồng tiền tụ máu ấy
là một thứ huân chương lao động siêu hạng tặng cho người lái đò sông Đà
b Vẻ đẹp tài trí
- Ông lái đò hiểu tường tận tính nết của con sông Đà, nhớ tỉ mỉ, Trí nhớ ôngđược rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ như đóng đanh vào lòng tất cảnhững luồng nước của những con thác hiểm trở
- Ông nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, ông thuộc quy luật phục kíchcủa nó
Trang 18- Trong cuộc chiến đấu với sông Đà để giành lấy sự sống, ông bình tĩnh đối đầuvới những thác ghềnh nguy hiểm Ông khôn khéo vượt qua mọi cạm bẫy củathạch trận sông Đà, băng qua các cửa tử nơi thác hiểm trở, chỉ huy con thuyềnxuôi ngược trên sông tới đích bình yên.
c Ông đò là người lao động dũng cảm, kiên cường, một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác nghềnh
- Để làm nổi bật phẩm chất dũng cảm, kiên cường và vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ củangười lái đò, Nguyễn Tuân đã miêu tả rất sinh động trận thủy chiến ác liệt trênsông Đà Trong trận thủy chiến đó, ông đò tả đột hữu xung, chiến đấu quả cảmvới trùng vi thạch trận sông Đà để thuần phục dòng sông dữ
+ Bước đầu vào trận chiến đấu (trùng vi 1): thác nước rống lên như hàngngàn con trâu mộng; đá dữ dàn bày thạch trận (D/c: mặt nước hò la vang dậy ùavào mà bẻ gãy cán chèo, sóng nước như quân liều mạng ) Trùng vi thạch trậnsông Đà vô cùng lắt léo: vòng đầu: bốn cửa tử, một cửa sinh; vòng thứ haichúng tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền; vòng cuối cùng bên phải,bên trái đều là luồng chết, luồng sống nằm ở giữa bọn đá hậu vệ của con thác =>thiên nhiên dữ dội, hung bạo, hiểm ác Ông đò là vị chỉ huy con thuyền sáu bơichèo quyết tâm chiến thắng sông Đà dữ dội, hung ác Mặc dù đây là một cuộcchiến không cân sức
+ Ông nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, chống trả quyết liệtnhững đòn âm, đòn tỉa của sóng thác sông Đà (trùng vi 2) Ông cố nén vếtthương “ hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái” kiên cường chịu đựng nỗi đau vềthể xác “Trên con thuyền sáu bơi chèo vẫn nghe thấy tiếng chỉ huy ngắn gọntỉnh táo của người cầm lái” Ông đò đã chiến đấu với thác dữ, sóng nước sông
Đà bằng trí dũng tuyệt vời, bằng những động tác táo bạo, mạnh mẽ và vô cùngchuẩn xác: Khi thì ông cưỡi lên thác sông Đà “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”
Có khi ông nắm chặt lấy cái bờm sóng ghì cương lái mà phóng nhanh conthuyền đến với cửa sinh Đối đầu với bọn thủy quân hung dữ, độc ác: đứa thìông tránh mà rẻo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mở đường tiến
+ Ở trùng vi thạch trận cuối cùng ông chỉ huy con thuyền như một mũitên tre xuyên qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được, bỏ lạinhững luồng tử, những thác dữ -> Ông là một người nghệ sĩ tài hoa vượt quatrận thủy chiến ác liệt, thuần phục dòng sông Qua đây thể hiện sự ngoan cường,dũng cảm, kinh nghiệm sông nước của ông đò Đây chính là nguyên nhân đểông đò có thể chiến thắng được sự hung bạo, dữ đội của sông Đà
d Phong thái ung dung của ông đò
- Sau khi vượt qua những gian nan, nguy hiểm ông đò nhìn những thử thách đãqua bằng một cái nhìn giản dị mà lãng mạn Cái tài của ông đò không có chút
Trang 19kiêu bạc mà rất gần gũi với đời thường (D/c: Khi đã đưa con thuyền vào dòngnước êm ả thì sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ Đêm ấy nhà đò đốt lửa tronghang đá nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh Chả aibàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước có đủ tướng
dữ quân tợn vừa rồi)
e Nghệ thuật biểu hiện nhân vật
- Nguyễn Tuân đã tạo được tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ rõ phẩmchất của mình Nhà văn đã miêu tả cuộc vượt thác của người lái đò như mộtcuộc thủy chiến ác liệt, không hề cân sức Càng nhấn mạnh vẻ hung dữ, hiểmđộc của thạch trận sông Đà, tác giả càng khắc họa sinh động sự từng trải, vẻmưu trí, tinh thần kiên cường dũng cảm, phong thái ung dung và tài nghệ củangười lái đò
- Tác giả còn sử dụng vốn từ ngữ phong phú, sống động giàu chất tạo hình, đầy
cá tính, phù hợp với đối tượng được miêu tả Nhà văn có những từ dùng rất mới
mẻ, lối nhân hóa độc đáo, những ví von so sánh, liên tưởng chính xác, thú vị
“ông đò nắm chặt lấy bờm sóng” “cưỡi đến cùng như là cưỡi trên lưng hổ”
3 Đánh giá
- Hình ảnh người lái đò cho thấy Nguyễn tuân đã tìm được nhân vật mới - nhữngcon người đáng trân trọng, ngợi ca không thuộc tầng lớp đài các “vang bóng mộtthời” mà là những người lao động bình thường - “chất vàng mười” của Tây Bắc
- Qua hình tượng ông lái đò, Nguyễn Tuân thể hiện quan niệm:
+ Người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu với quân thù mà còn có
cả trong cuộc sống lao động thường ngày
+ Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của con người không chỉ thể hiện trong lĩnh vựcsáng tạo nghệ thuật mà còn thể hiện ở lĩnh vực của cuộc sống, trong mọi hoạtđộng của con người dù là lao động trí óc hay chân tay
Đề 2
Cảm nhận về vẻ đẹp của sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường (SGK Ngữ văn 12, tập 1, cơ bản)
HƯỚNG DẪN
1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận
Trong văn học Việt Nam hiện đại, nói đến những người viết tùy bút cóthực tài bao giờ người ta cũng nghĩ đến Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ NgọcTường Cả hai đều say mê kiếm tìm và diễn tả cái đẹp nhưng nếu Nguyễn Tuân
ưa thích những cái đẹp đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ với tất cả tính chất dữdội, khác thường của nó thì với Hoàng Phủ Ngọc Tường, cái đẹp phải thơ mộng,dịu dàng
Trang 20- Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một trong những bài kí đặc sắc thể hiện phong
cách trữ tình hướng nội súc tích và tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường Vớingòi bút tài hoa, uyên bác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tái hiện sống động những
vẻ đẹp quyến rũ của con sông Hương- con sông thuộc về một thành phố duynhất
2 Vẻ đẹp của sông Hương.
2.1 Vẻ đẹp của sông Hương qua cảnh sắc thiên nhiên a) Dòng sông nơi thượng nguồn
- Đoạn trích được mở đầu bằng một nhận xét mang đậm tính chủ quan về dòng
sông Hương: “Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói
đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất”.
- Với trí tưởng tượng và niềm say mê, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu tả dòngsông Hương ở khúc thượng lưu trong những vẻ đẹp hoang dại đầy cá tính:
+ Với hình ảnh “bản trường ca của rừng già”, sông Hương hiện ra với
cả chiều dài rộng hùng vĩ và dòng chảy mãnh liệt trong sự ngưỡng mộ và niềm
say mê của nhà văn Bởi “trường ca” là áng văn chương có dung lượng lớn thường mang đậm cảm hứng ngợi ca, còn “rừng già” lại là hình ảnh của những
cánh rừng đại ngàn hoang sơ, bí ẩn, mênh mông
+ Dòng sông chảy qua dãy Trường Sơn đã nhận vào dòng chảy của nó tất
cả những sắc thái phong phú, đa dạng của rừng già khi “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, khi “mãnh liệt qua những ghềnh thác”, khi “cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”, và có khi lại “dịu dàng say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”…
+ Cách miêu tả uyển chuyển tài hoa qua những hình ảnh đối lập đã giúpnhà văn làm hiện lên hình ảnh dòng sông Hương nơi thượng nguồn với đồngthời cả sức mạnh và vẻ đẹp Dòng sông với những lớp sóng hung hãn cuộn tràobởi sự tiếp sức của thác ghềnh sóng gió, những xoáy hút dữ dội tiềm ẩn nỗi kinhhoàng của vực sâu, những miên man da diết của cỏ cây hoa lá nơi rừng đại ngàn;
do đó sông Hương vừa tràn đầy sức mạnh hoang sơ, man dại, vừa khơi gợinhững bí ẩn say mê, vừa ngời sáng vẻ đẹp kiêu sa, rực rỡ
+ Không dừng lại trong những miêu tả trực tiếp, nhà văn còn dùng phép
nhân hóa khiến dòng sông được miêu tả như một “cô gái Digan khóng khoáng
và man dại”, “bản lĩnh gan dạ”, “tâm hồn tự do và trong sáng”, cái mạnh mẽ
phóng khoáng của một bộ tộc yêu thích cuộc sống tự do lang thang nay đây mai
đó được gắn cho dòng chảy hoang dã khiến sông Hương nơi thượng nguồn càngtrở nên quyến rũ đắm say
- Sắc thái nhân hóa càng đậm nét khi nhà văn lý giải sự tương phản của sôngHương ở hai khúc thượng lưu và hạ lưu, không phải bằng những kiến thức địa lý
Trang 21thông thường Trong cái nhìn suy tư của nhà văn, sông Hương như một ngườicon gái vốn mang sức mạnh hoang dã của rừng già nay đã được chế ngự để
nhanh chóng tạo cho mình một “sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ” khi về đến Huế
-sự dịu dàng như một cái bến bình yên người ta thường mong sau những thácghềnh bão táp, sự trí tuệ của những con người từng trải và đầy bản lĩnh để có thểgiấu kín gian truân sóng gió trong vẻ êm đềm, bình lặng, tuyệt đối không muốnbộc lộ cái quá khứ của nửa cuộc đời đầu oanh liệt và vĩnh viễn ở lại với nhữngcánh rừng đại ngàn Trong cảm nhận của nhà văn, sông Hương khi về tới Huế đã
hoàn toàn trở thành người mẹ phù sa của “một vùng văn hóa xứ sở”- những thét
gào man dại, những phóng túng tự do nay đằm lắng trong sự bồi đắp dịu dàng,thương mến của đồng bằng châu thổ Những hình ảnh phong phú, ấn tượng,những liên tưởng tài hoa và thủ pháp nhân hóa đặc sắc đã làm hiện lên dòngsông Hương khúc thượng nguồn với vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt đầy cátính, qua đó cho thấy cách cảm nhận suy tư có bề sâu trí tuệ của nhà văn
b) Sông Hương về vùng châu thổ
* Sông Hương về tới đồng bằng và ngoại vi thành phố:
Trước khi trở thành người tình dịu dàng và chung thủy của cố đô, sôngHương đã trải qua một hành trình đầy gian truân thử thách Trong cái nhìn tình
tứ và lãng mạn của nhà văn, toàn bộ cuộc hành trình của sông Hương từ thượng
nguồn về tới Huế giống như một “cuộc tìm kiếm có ý thức” người tình đích thực
của cô gái đẹp trong một câu chuyện cổ tích về tình yêu Sử dụng một loạt cácđộng từ mang sắc thái nhân hóa, nhà văn đã vẽ nên một hành trình sống độngcủa dòng sông:
- Ra khỏi rừng già, giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoang dại, sông Hương là
người con gái đẹp ngủ mơ màng Rừng già đã chế ngự được bản năng của người
con gái để nó “ra khỏi vùng núi như nàng tiên được đánh thức, sông Hương
bỗng bừng bừng lên sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân” Dòng sông
chuyển dòng liên tục rồi “vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những
đường cong thật mềm”, “vẽ một hình vòng cung thật tròn” rồi “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ” Nó “vượt qua, đi trong dư vang của Trường Sơn”,“trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách” “Dòng sông lúc này mềm như tấm lụa với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi
- Mặt nước sông Hương “ánh lên những phản quang nhiều màu sắc – một vẻ
đẹp đa màu biến ảo” ảnh hưởng bởi nền trời Tây Nam của thành phố “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”
- Khi đi qua những lăng tẩm, đền đài của những vua chúa đời Nguyễn, nó có
vẻ đẹp trầm mặc Khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên
Mụ, nó có vẻ đẹp triết lí, cổ thi Khi đi qua những bãi bờ xanh biếc của vùng
Trang 22ngoại ô Kim Long, nó như tươi vui hẳn lên Đến gần thành phố nó uốn một cánh
cung rất nhẹ sang cồn Hến làm cho dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng ‘vâng’
không nói ra của tình yêu
Đoạn văn miêu tả đã cho thấy vẻ đẹp của sông Hương chính là sự hắtbóng kỳ diệu vẻ đẹp của quần thể thiên nhiên mơ mộng xứ Huế - thiên nhiênHuế như nguồn phù sa tuyệt vời bồi đắp vẻ đẹp nên thơ cho dòng sông Hương,
“người con gái dịu dàng” của mình Sự kết hợp tài hoa hai bút pháp kể và tảtrong cảm quan cắt nghĩa đã làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương trong sự phốicảnh kỳ thú giữa dòng sông và cảnh sắc phong phú, đa dạng của thiên nhiên xứHuế
* Vẻ đẹp sông Hương trong lòng thành phố Huế
- Trước tiên, sông Hương được miêu tả trong “nét thẳng thực yên tâm” khi vào
đến thành Huế, cách miêu tả đặc sắc của nghệ thuật nhân hóa đã đem đến cảmgiác thanh thản, bình yên của một dòng sông khi tìm thấy chính mình, tìm thấytình yêu của mình khi về với thành phố hình như chỉ dành riêng cho nó, tồn tại
vì nó, một thành phố luôn đợi chờ, luôn tin vào dòng sông thân yêu từ miềnthăm thẳm đại ngàn xa xôi Nghệ thuật nhân hóa đã khiến dòng sông trở nên gầngũi vô cùng với mảnh đất cố đô và con người xứ Huế
- Sau cảm giác bình yên giữa lòng thành phố, dòng sông bắt đầu thể hiện sựduyên dáng quen thuộc của mình trong những nét uốn lượn tình tứ Đó là việc
“sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ nhàng đến Cồn Hến”, với liên tưởngđộc đáo, lãng mạn của nhà văn, “đường cong ấy làm dòng sông mềm hẳn đi,như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu” Qua phép so sánh thật ngọtngào, dòng sông bỗng trở thành người tình dịu dàng, e ấp mà vẫn thật tình tứ,đắm say của Huế
- Sông Hương: “một dòng sông trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là mộtmặt hồ yên tĩnh”, trong đó từ nhịp ngắt, các yếu tố điệp cho đến so sánh đều gópphần làm đậm thêm nhịp chảy chậm rãi, yên ả của dòng sông; có lúc nhà vănkhông giấu được tình yêu thiên vị của mình khi so sánh dòng chảy băng băngcủa sông Nêva lúc xuân về với “điệu chảy lặng tờ” của dòng sông xứ Huế, nhàvăn còn rằng chỉ dòng chảy êm lặng ấy mới giúp con người cảm nhận được tâmhồn dịu dàng, đa cảm của một dòng sông “ngập ngừng như muốn đi, muốn ở,chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng”
* Tạm biệt Huế để ra biển cả
- Sông Hương còn được vẽ bởi một bàn tay nghệ sỹ tài hoa trong nghệ thuậtphối màu Màu sắc của dòng sông là màu “xanh thẳm” của chính nó, màu rực rỡcủa trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh trong đêm hội trên sông, lung linh sắcmàu phong phú của cảnh vật bến bờ: từ những mảng phản quang nhiều màu sắc
Trang 23của núi đồi “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” đến những “biền bãi xanh biếc củangoại ô Kim Long”; từ màu thanh khiết nõn nà của “chiếc cầu trắng in ngần trênnền trời”, nhỏ nhắn như những vầng trăng non đến sắc “u trầm” của những vầng
cổ thụ, ánh “lập lòe” của lửa thuyền chài, rồi lại là màu xanh biếc của tre trúc,của cau thôn Vĩ Dạ cùng sắc “mơ màng sương khói” của Cồn Hến… SôngHương đã hiện ra như một bức tranh tuyệt đẹp trong thành Huế với những nét vẽhuyền ảo, những sắc màu thơ mộng
* Nhận xét: Có thể nói sông Hương trong lòng thành phố mang vẻ đẹp đối lập
với sông Hương ở khúc thượng nguồn Khúc thượng nguồn nó rầm rộ, mãnh liệtbao nhiêu thì ở đây nó dịu dàng bấy nhiêu Nó đã giữ được vẻ đẹp cổ kính, thơmộng của đế đô
- Đoạn miêu tả sông Hương đi trong lòng thành phố thật trữ tình Người đọc cócảm giác sông Hương giống như một người tình say đắm thủy chung, tình tứ kínđáo, đầy vương vấn với thành phố Sông Hương có tâm hồn, có tính cách, nướcsông Hương tỏa đi khắp ngõ ngách trong thành phố, tưới mát cho người dân,gần gũi với xóm chài
- Sông Hương trở thành người mẹ bao dung tượng trưng cho tâm hồn người Huế
- Vẻ đẹp sông Hương khi đi qua thành phố khác hẳn sông Hương ở khúc thượngnguồn bởi sự ngọt ngào Nhà văn đã thật tài tình khi miêu tả và so sánh, khiếnngười đọc như bị cuốn vào vẻ đắm say của dòng sông
=> Có thể nói Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn tài hoa vừa am hiểu kiếnthức về địa lí của thành phố Huế, hiểu rất rõ về bản đồ của Sông Hương, cùngvới tim đa tình, nhạy cảm và sự liên tưởng, tưởng tượng tài hoa, ông đã miêu tảthủy trình của sông Hương tựa như một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhânđích thực của người con gái trong một câu chuyện tình yêu nhuốm màu cổ tích.Sông Hương không chỉ đẹp trong thần thái mà còn đẹp trong sự chung tình,chung thủy
b Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ góc độ lịch sử
Nhìn từ góc độ địa lý, sông Hương khúc thượng nguồn là “bản trường cacủa rừng già”; khi về tới Huế, sông Hương mang âm hưởng của một điệu slowchậm rãi sâu lắng, một bản tình ca tình tứ ngọt ngào; nhưng nếu đặt trong quan
hệ với lịch sử dân tộc, sông Hương lại là bản anh hùng ca hào hùng, bi tráng,
là chứng nhân nhẫn nại, kiên cường của cuộc đời qua bao thăng trầm trong lịchsử
- Là một trong số những dòng sông có mặt từ thuở đầu lập nước, sông Hương đãchứng kiến và tham gia hầu hết những biến cố quan trọng vừa oanh liệt vừa đauthương trong suốt chiều dài của lịch sử của dân tộc
Trang 24+ Sông Hương xuất hiện trong lịch sử trước hết với vai trò một dòng sôngbiên thùy của đất nước các vua Hùng, thuở còn mang tên Linh Giang - dòng
sông thiêng; trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi, sông Hương là dòng sông “viễn
châu”, dòng sông ở chốn xa xôi của Tổ quốc đã cùng con người tham gia vàonhững trận chiến đấu oanh liệt để bảo vệ chủ quyền nước Đại Việt thân yêu
+ Dòng sông cũng đã từng “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anhhùng Nguyễn Huệ” trong thế kỷ XVIII,
+ “Nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX với máu của bao cuộc khởinghĩa”
+ Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của thế kỷ XX, sông Hươnglại đóng góp sức mạnh của mình để làm nên chiến thắng, từ Cách mạng ThángTám 1945 đến mùa xuân Mậu Thân năm 68, sông Hương kiên cường chịu đựngnỗi đau của những mất mát không thể bù đắp khi thành phố Huế bị bom Mỹ tànphá, khi những di sản văn hóa bị hủy hoại Cũng vì thế, sông Hương đã trởthành một “nét son” trong lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc
- Đặt sông Hương trong chiều dài lịch sử từ thời dựng nước của các vuaHùng tới thời đánh Mỹ, nhà văn đã thể hiện không chỉ tình yêu mà còn là niềm
tự hào sâu sắc về dòng sông quê hương Tác giả coi sông Hương là “dòng sôngcủa thời gian ngân vang” - sông Hương đã mang trong mình nó những âm vanghào hùng, bi tránh của dòng thời gian lịch sử với cả những chiến công và những
đau thương Sông Hương còn được coi là dòng sông “của sử thi viết giữa màu
cỏ lá xanh biếc” - nghệ thuật ẩn dụ đã làm hiện lên vai trò của một chứng nhân
lịch sử, cách miêu tả tinh tế lại gợi ra những sắc thái khác nhau cùng tồn tạitrong một dòng sông, vì sử thi còn được gọi là anh hùng ca, là thể loại gắn vớinhững chiến công, gợi đến chiến tranh; nhưng “màu cỏ lá xanh biếc” lại là sắcmàu mang chất trữ tình của cuộc sống, của tình yêu và sự bình yên Sông Hương
vì thế vừa sử thi, vừa trữ tình, vừa là thiên anh hùng ca hào tráng, vừa là khúctình ca tươi mát, dịu dàng
c Vẻ đẹp cuả sông Hương nhìn từ góc độ văn hóa
- Sông Hương được khám phá không chỉ ở góc độ thiên nhiên mà còn được
nhìn ở phương diện văn hóa Dưới góc nhìn văn hóa, tác giả khẳng định có mộtdòng thi ca về sông Hương Sông Hương còn gắn với âm nhạc, với lịch sử Nó
là tâm hồn của người Huế, cũng là tâm hồn của nhân dân Việt Nam từ ngàn đờinay
* Sông Hương là một dòng thi ca
- Cảm hứng về các dòng sông Việt Nam luôn là cảm hứng vô tận của thi nhân.Đối với sông Hương thì đó là một dòng thơ không lặp lại mình Hầu như cácnghệ sĩ Việt Nam khi đến với sông Hương đều để lại cho nền văn học những câu
Trang 25thơ bất hủ Cao Bá Quát từng viết: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”
(Sông Hương được ví như thanh kiếm dựng trời xanh) Tản Đà trong bài thơ
“Chơi Huế” đã gọi là “Dòng sông trắng lá cây xanh”…
Quả thực sông Hương là cả một dòng thi ca, một nguồn cảm hứng bất tậncủa các văn nghệ sĩ muôn đời
* Sông Hương còn gắn liền với âm nhạc
- Miêu tả sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường thấy nó gắn liền với nền âmnhạc cổ điển Huế Tác giả hình dung toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đượchình thành trên mặt nước dòng sông này
Nhà văn còn tưởng tượng trong một khoang thuyền nào đó, “giữa tiếng
nước rơi bán âm của những mái chèo khuya, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế được sinh thành.” Phải có độ nhạy cảm, phải có khả năng thẩm âm, phải hiểu
biết sâu sắc về âm nhạc xứ Huế, tác giả mới có được những nhận xét như vậy
- Từ góc độ âm nhạc, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn thấy trong khoảnh khắc trùng
lại của sông nước, sông Hương đã trở thành “người tài nữ đánh đàn lúc đêm
khuya”
- Đặc biệt hơn nhà văn còn tưởng tượng, nhớ đến đại thi hào Nguyễn Du đã bao
năm lênh đênh trên quãng sông này với một “phiến trăng sầu” để từ đó những
bản đàn đã đi suốt đời Kiều, cũng là để Nguyễn Du viết được những câu thơ bất
hủ “Trong như tiếng hạc bay qua /Đục như tiếng suối mới ra nửa vời”.
+ Với trí tưởng tượng say đắm của nhà văn, sông Hương hiện lên vớinhững vẻ đẹp khác nhau của một cô gái, khi là “cô gái Digan phóng khoáng vàman dại”, có lúc “tự hiến đời mình làm một chiến công”, có lúc lại trở về trong
“cuộc sống bình thường, là một người con gái dịu dàng của đất nước” Ngườicon gái ấy chắc chắn phải là cô gái Huế tài hoa và sâu sắc, tình tứ và dịu ngọt,lẳng lơ kín đáo mà rất mực chung tình, biết làm đẹp một cách ý nhị duyên dángvới chút sương khói như “tấm voan huyền ảo của tự nhiên”
d Nghệ thuật:
Bộc lộ ngòi bút tài hoa, uyên bác
- Huy động nhiều vốn kiến thức địa lí, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật
- Ngôn ngữ phong phú, uyển chuyển, giàu hình ảnh, đầy chất thơ, gợi hình, gợicảm, câu văn giàu nhạc điệu; cách sử dụng những phép tu từ so sánh, nhân hoá,
ẩn dụ…
- Có sự kết hợp hài hoà giữa cảm xúc và trí tuệ
- Liên tưởng rất mực phóng túng
- Có sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc và trí tuệ, giữa chủ quan và khách quan
- Văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế, tài hoa
3 Đánh giá
Trang 26- Hoàng Phủ Ngọc Tường đã soi bằng tâm hồn mình và tình yêu quê hương xứ
sở vào sông Hương khiến cho nó trở nên lung linh đa dạng như đời sống tâmhồn con người Sông Hương hiện lên thật đẹp đẽ, thơ mộng, quyến rũ Nhà văn
đã nhìn Sông Hương như một cô gái Huế dịu dàng mà sâu sắc, đa tình mà kínđáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình, khéo trang sức mà không phô phanggiống như những cô dâu Huế ngày xưa trong sắc áo điều lục Vẻ đẹp của sôngHương cũng chính là vẻ đẹp của con người Huế
- Đọc bài kí, ta càng thêm yêu và tự hào về thiên nhiên, đất nước mình Từ đó, tacàng có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn và bảo vệ đất nước
1.3.2 Cách làm dạng đề phân tích, cảm nhận các chi tiết, đoạn văn, hình ảnh, nhân vật trong một tác phẩm , từ đó nhận xét về một vấn đề nào đó
a) Dạng đề phân tích, cảm nhận nhân vật qua các chi tiết, đoạn văn
Yêu cầu:
- Phân tích, cảm nhận nhân vật qua chi tiết, đoạn văn
- Nhận xét, bình luận trên cơ sở phân tích ấy; xác định các phương diện ởtrên: thân phận, vẻ đẹp, hiện thực, tư tưởng, thông điệp để nhận xét; đặt trong sựvận động, phát triển, thay đổi; bổ sung hay đối lập (cần có tư duy khái quát)
+ Mở rộng: Lý giải nguyên nhân, ý nghĩa sự miêu tả ấy; nhân vật còn hấpdẫn ở các chi tiết khác, phương diện khác
Các ý cần có:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, khẳng định thành công tác phẩm thể hiệntrên nhiều phương diện trong đó… Cảm nhận nhân vật qua hai lần miêu tả sau tasẽ…
- Nêu vị trí nhân vật, ý nghĩa nhân vật
- Cảm nhận, phân tích nhân vật qua các chi tiết, đoạn văn
- Làm rõ nhân vật qua lần miêu tả thứ nhất
+ Vị trí đoạn văn lần miêu tả thứ nhất, hoàn cảnh dẫn đến
+ Tái hiện lại chi tiết
+ Cảm nhận ý nghĩa chi tiết: thân phận, hiện thực, vẻ đẹp, tư tưởng, nghệthuật miêu tả
- Làm rõ nhân vật qua lần miêu tả thứ hai
+ Hoàn cảnh, vị trí chi tiết
+ Tái hiện lại chi tiết
+ Cảm nhận ý nghĩa chi tiết
- Nhận xét các phương diện, yêu cầu theo tiêu chí (thân phận, vẻ đẹp, tưtưởng, quan điểm nhân sinh)
- Lý giải nguyên nhân (theo đề tài, cá tính, hoàn cảnh, giai đoạn sáng tác),
ý nghĩa chi tiết
Trang 27- Đánh giá nội dung và nghệ thuật, cảm nghĩ bản thân.
- Khái quát lại vấn đề, khái quát lại ý nghĩa của chi tiết đối với nhân vật,
nhà văn Nhấn mạnh sự thành công của nhân vật, tác phẩm
b) Dạng đề yêu cầu phân tích, cảm nhận về chi tiết nghệ thuật.
Yêu cầu
- Khi tiến hành phân tích cần chú ý đến các phương diện như: vị trí, tầnsuất xuất hiện chi tiết, tác động của chi tiết tới nhân vật, cốt truyện… Chi tiếtnghệ thuật tự bản thân nó có tính độc lập tương đối nhưng nếu không đặt nótrong tương quan với toàn thể tác phẩm, trong mối qua hệ qua lại mật thiết vớinhững chi tiết khác thì sự phân tích sẽ dễ rơi vào suy diễn tùy tiện
Các ý cần có:
- Giới thiệu: tác giả, tác phẩm, chi tiết
- Giới thiệu chi tiết nghệ thuật (nêu xuất xứ, vị trí của chi tiết trong tác
phẩm, tái hiện chi tiết và có thể nói qua tác động của chi tiết đó đối với diễn biếncủa truyện)
- Phân tích giá trị nội dung của chi tiết (ý nghĩa tư tưởng, ý nghĩa nhânvăn) trong quan hệ với diễn biến của truyện, trong quan hệ giữa các nhân vật,trong quan hệ với chính bản thân nhân vật (số phận và tính cách)
- Phân tích giá trị nghệ thuật của chi tiết (nghệ thuật xây dựng hình tượng,nghệ thuật điển hình hóa, nghệ thuật kết cấu…)
- Đánh giá chung về chi tiết (góp phần thể hiện chủ đề tư tưởng của tácphẩm như thế nào, làm bật lên giá trị hiện thực, nhân đạo, tầm tư tưởng của tácgiả, thể hiện phong cách nghệ thuật của nhà văn ra sao …)
c) Dạng đề yêu cầu phân tích, cảm nhận về các chi tiết nghệ thuật trong thế đối sánh
Dạng bài phân tích, cảm thụ văn học trong thế đối sánh có thể được đặt ra
ở nhiều cấp độ trong đó có đối sánh chi tiết nghệ thuật Những chi tiết nghệthuật được đưa ra so sánh thường có sự gặp gỡ nhất định về hoàn cảnh, ý nghĩatác động với các nhân vật hay vai trò với cốt truyện…
Bài văn phân tích, cảm nhận về các chi tiết nghệ thuật trong thế đối sánh cóthể được tiến hành làm theo hai cách: cách thứ nhất là phân tích lần lượt từngđối tượng rồi chỉ ra điểm giống, điểm khác nhau và lí giải nguyên nhân Cáchthứ hai là tiến hành so sánh đồng thời với việc phân tích, phần thân bài của bàiviết được chia làm ba luận điểm lớn: Luận điểm thứ nhất là điểm giống nhau;luận điểm thứ hai là điểm khác nhau, (trong mỗi luận điểm lại có những phươngdiện so sánh phù hợp); luận điểm thứ ba là lí giải nguyên nhân Dù tiến hànhtheo cách nào thì bài làm cũng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
- Giới thiệu: tác giả, tác phẩm, chi tiết.
Trang 28- Giới thiệu các chi tiết nghệ thuật cần phân tích, cảm nhận trong thế đốisánh
- Làm rõ các đặc điểm của từng chi tiết như xuất xứ, vị trí, ý nghĩa của chitiết) trong quan hệ với diễn biến của truyện, trong quan hệ giữa các nhân vật,trong quan hệ với chính bản thân nhân vật (số phận và tính cách)
- Phân tích giá trị nghệ thuật của từng chi tiết (nghệ thuật xây dựng hìnhtượng, nghệ thuật điển hình hóa, nghệ thuật kết cấu…)
- Làm rõ những điểm tương đồng, khác biệt giữa các chi tiết, lí giải đượcnguyên nhân sự tương đồng, khác biệt đó
- Đánh giá khái quát về chi tiết (góp phần thể hiện chủ đề tư tưởng của tácphẩm như thế nào, làm bật lên giá trị hiện thực, nhân đạo, tầm tư tưởng của tácgiả, thể hiện phong cách nghệ thuật của nhà văn ra sao ?…)
d) Một số đề minh họa:
ĐỀ
1
Phân tích hình tượng con sông Đà trong đoạn trích Người lái đò Sông
Đà của Nguyễn Tuân Từ đó, anh (chị) hãy đánh giá sự độc đáo trong quan
niệm về cái đẹp của nhà văn được thể hiện qua hình tượng trên.
HƯỚNG DẪN
1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp, cái thật Cảm hứng chính củatác giả khi đến với vùng đất Tây Bắc xa xôi hùng vĩ là đi tìm vàng quanh sông
Đà, đặc biệt là chất vàng mười trong tâm hồn con người nơi đây
- Người lái đò sông Đà là thiên tùy bút đặc sắc in trong tập Sông Đà, xuất bản
năm 1960 của Nguyễn Tuân Trong thiên tùy bút này, Nguyễn Tuân không chỉ
ca ngợi con người lao động Tây bắc “ thứ vàng mười đã qua thử lửa” mà cònphát hiện và ca ngợi vẻ đẹp độc đáo của con sông Đà: vừa dữ dội hung bạo, vừathơ mộng trữ tình
2 Phân tích hình tượng con sông Đà
- Sông Đà là một con sông độc đáo Sự độc đáo của dòng sông thể hiện qua haicâu thơ của Nguyễn Quang Bích được Nguyễn Tuân trích dẫn ở phần đề từ của
tác phẩm: “Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu” (có nghĩa mọi
dòng sông đều chảy về hướng đông, chỉ có sông Đà chảy về hướng bắc) Dướingòi bút tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên như một nhân vậtsống động với hai tính cách nổi bật: hung bạo và trữ tình
a Tính cách hung bạo
- Trước hết Sông Đà hùng vĩ ở cảnh “đá bờ sông dựng vách thành”, mặt sông
chỗ ấy chỉ lúc “đúng ngọ” (lúc giữa trưa) mới có mặt trời Có vách đá chẹt lòng
Trang 29bờ kia Vì lòng sông hẹp, bờ sông là vách đá cao, nên ngồi trong khoang đò ởquãng sông ấy “đang mùa hè mà cũng thấy lạnh.”
- Cảnh hùng vĩ của Sông Đà còn thể hiện ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng với
hàng cây số “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghèsuốt năm” Đây là nơi nguy hiểm, người lái đò nào đi qua khúc sông này màkhông thận trọng tay lái thì “dễ lật ngửa bụng thuyền ra”
- Sông Đà hùng vĩ còn ở những cái “hút nước” trên sông ở quãng Tà Mường
Vát Đó là những xoáy nước khổng lồ, được tác giả so sánh “giống như cáigiếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu” Nước ở đây “thở vàkêu như của cống cái bị sặc” Đây là nơi rất nguy hiểm, không có thuyền nàodám men gần những cái “hút nước” ấy Có những thuyền đã bị cái hút nó hútxuống, thuyền trồng ngay “cây chuối ngược” rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầmdưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy “tan xác” ở khuỷnh sông dưới Tácgiả đã tưởng tượng: có người quay phim táo tợn, ngồi trên chiếc thuyền thúng,rồi xuống đáy “cái hút” Sông Đà mà thu hình thì sẽ có những thước phim ấn
tượng, gây cảm giác sợ hãi cho người xem
- Nhưng hùng vĩ nhất, hung bạo nhất là thác Sông Đà Thác Sông Đà có âm
thanh dữ dội, nhiều vẻ, được tác giả miêu tả: Còn xa lắm mới đến cái thác dưới
mà đã nghe thấy tiếng nước “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, so sánh độc đáo:tiếng nước thác nghe như là “oán trách”, như là “van xin”, như là “khiêu khích”,rồi rống lên “như tiếng một ngàn con trâu mộng” gầm thét khi bị cháy rừng
- Hình ảnh thác Sông Đà là cả một “chân trời đá” Mỗi hòn đá mang một dáng
vẻ, nhưng mặt hòn đá nào trong cũng “ngỗ ngược… nhăn nhúm, méo mó”.Sông Đà hình như đã giao nhiệm vụ cho mỗi hòn đá và bày ra “thạch trận” đểgây khó khăn, nguy hiểm cho những con thuyền “Thạch trận” Sông Đà có ba
vòng vây Vòng thứ nhất, thác Sông Đà mở ra “năm cửa trận”, có bốn “cửa tử”, một “cửa sinh” nằm lập lờ ở phía tả ngạn Vòng thứ hai, thác Sông Đà lại “tăng
thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền”, cũng chỉ có một “cửa sinh” nhưng
lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn nhưng bên
phải, bên trái đều là “luồng chết” cả, cái “luồng sống” ở ngay giữa bọn đá hậu
- Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của Sông Đà được tác giả quan sát và miêu tả ở
nhiều góc độ, điểm nhìn, không gian và thời gian khác nhau Quan sát từ trên cao, Sông Đà có dòng chảy uốn lượn, con sông như mái tóc người thiếu nữ Tây
Trang 30Bắc kiều diễm Sông Đà “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tócchân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai vàcuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” Nước Sông Đà biến đổi theomùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng: mùa xuân “dòng xanh ngọc bích”, mùa thu
“lừ lừ chín đỏ” Những chi tiết miêu tả của tác giả gợi lên một liên tưởng thú vị:giữa khung cảnh ngày xuân thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, Sông Đà hiệnlên như một mĩ nhân tràn đầy xuân sắc, một thiếu nữ đương độ xuân thì
- Sau chuyến đi rừng dài ngày, từ bờ sông, tác giả đã thấy Sông Đà thật gợi cảm “như một cố nhân” Nhìn mặt nước Sông Đà thấy “loang loáng như như
trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy” Đó là “màu nắng tháng
ba Đường thi”, cùng với hình ảnh bờ Sông Đà, bãi Sông Đà đầy những “chuồnchuồn bươm bướm” tạo nên một cảnh sắc hấp dẫn Nhà văn đã bộc lộ cảm xúckhi nhìn con sông bằng những so sánh tài hoa: “Chao ôi, trông con sông, vuinhư thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”
- Khi đi trên thuyền, tác giả thấy cảnh vật hai bên bờ Sông Đà vừa hoang sơ
nhuốm màu cổ tích vừa trù phú, tràn trề nhựa sống Ven sông có những nươngngô “nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, có cỏ gianh đồi núi “đang ra những nõnbúp”, có “đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm” Nhà văn đã cómột liên tưởng độc đáo: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồnnhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Dòng sông quãng này “lững lờ nhưnhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”
Tóm lại, hình tượng Sông Đà được tác giả khắc họa độc đáo, nổi bật với
hai đặc điểm: vừa hung vĩ, hung bạo, vừa thơ mộng, trữ tình Qua hình tượngcon Sông Đà, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, thể hiện tìnhcảm tha thiết của mình với đất nước Hình tượng con Sông Đà trong bài tùy bútgợi lên ở người đọc suy nghĩ về trách nhiệm bảo vệ môi trường cho những dòngsông, bởi đó là quà tặng vô giá của thiên nhiên giành cho con người
- Vốn kiến thức uyên bác của tác giả thuộc nhiều ngành: lịch sử, thơ ca, hội hoạ,quân sự, thể thao
Trang 313 Sự độc đáo trong quan niệm về cái đẹp của nhà văn được thể hiện qua hình tượng
- Hình tượng sông Đà biểu trưng cho chất vàng mười của thiên nhiên Tây Bắc,của cái Đẹp mà nhà văn khao khát kiếm tìm và thể hiện trong các sáng tác saucách mạng Hình tượng sông Đà là phông nền để nhà văn khắc hoạ nổi bật vẻđẹp trí dũng tuyệt vời, chất tài hoa nghệ sĩ của hình tượng ông lái đò Từ hìnhtượng sông Đà, người đọc cảm nhận được lòng yêu nước, tinh thần dân tộcmang sắc thái riêng của Nguyễn Tuân
- Hình tượng sông Đà thể hiện sự độc đáo trong quan niệm về cái đẹp củaNguyễn Tuân sau cách mạng:
+ Sau cách mạng, Nguyễn Tuân vẫn là người say mê khao khát cái Đẹp,nhưng Nguyễn Tuân đã biết tìm kiếm và khai thác cái Đẹp trong lòng cuộc sốngcủa cả dân tộc
+ Nguyễn Tuân vẫn luôn đi tìm vẻ đẹp độc đáo của cuộc sống, vì vậy ông
đã bị sông Đà cuốn hút bởi sự khác thường: “Chúng thuỷ giai Đông tẩu / Đà
giang độc Bắc lưu”
+ Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng luôn nhìn sự vật ở phương diệnvăn hoá, mĩ thuật Với cách nhìn này, sông Đà trong mắt ông hiện lên như một
kì quan của tạo hoá
+ Nguyễn Tuân còn quan niệm cái đẹp phải gây ấn tượng mạnh Vì vậy,ông thường miêu tả những cảnh đẹp tuyệt đích: hoặc phải thơ mộng, trữ tình đếnmức tuyệt mĩ, hoặc hoành tráng đến dữ dội, dữ dằn Sông Đà hội tụ được cả hai
vẻ đẹp ấy
4 Đánh giá khái quát vấn đề
- Đà giang qua lăng kính nghệ thuật tài hoa, lối viết uyên bác của Nguyên Tuânthực sự đã trở thành đứa con đầy cá tính của người mẹ thiên nhiên Tây Bắc, làmột công trình thiên tạo tuyệt vời Đó chính là chất vàng quý giá của TâyBắc.Thiên nhiên qua trang viết của Nguyễn Tuân hùng vĩ, hung bạo đến mứckhủng khiếp, mà đẹp đẽ nên thơ cũng đến ngất ngây.Qua hình tượng con sông
Đà, Nguyễn Tuân đã thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên, đấtnước
- Với ông, thiên nhiên là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa Cảmnhận và miêu tả con sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác vàlịch lãm của mình Hình tượng sông Đà chính là phông nền cho sự xuất hiện vàtôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới
- Đọc Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân ta thêm yêu thiên nhiên, cảnh
sắc, non nước mình
Trang 32Cảm nhận về đoạn văn sau trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn
Tuân:
“Thuyền tôi trôi trên Sông Đà ( ) nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên” (Trang 191, 192 SGK cơ bản Ngữ Văn 12) Từ đó nhận xét về cái tôi của nhà văn.
Đoạn văn tập trung miêu tả vẻ đẹp đầy thơ mộng, trữ tình của con sông Đà
- Khác với nơi thượng nguồn, sóng, nước, thác, đá dữ dội, sông Đà quãng nàylững lờ trôi, êm lặng, hiền hòa, sông nước thanh bình, cảnh vật hai bên bờ sôngvừa hoang sơ nhuốm màu cổ tích, vừa trù phú tràn đầy nhựa sống
- Nguyễn Tuân đã miêu tả sông Đà một cách khách quan kèm theo nhiều giảđịnh “ Thuyền tôi trôi trên sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từđời Lý, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”
- Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng đầy sức sống của cảnh hai bên bờ sông Đà được nhàvăn gợi lên qua những hình ảnh gợi cảm, những so sánh độc đáo, bất ngờ thú vị
“Một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”
+ Giọng văn êm đềm thư thái, có những câu tác giả sử dụng toàn thanhbằng “Thuyền tôi trôi trên sông Đà”, tác giả sử dụng gam màu nhạt gợi lên mộtkhông gian lặng tờ, yên ắng, ít tiếng động Chỉ có tiếng “đàn cá dầm xanh quẫyvọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi”, “tiếng cá đạp nước đuổi đàn hươuvụt biến” Tất cả tạo nên một khung cảnh tĩnh lặng, thi vị, trữ tình
- Chính vẻ đẹp đầy chất thơ của con sông Đà khiến Nguyễn Tuân liên tưởng tới
tứ tơ đằm thắm của Tản Đà ngày trước “Dải sông Đà bọt nước lênh bênh quenbiết”
b Đặc sắc nghệ thuật của đoạn văn
- Đoạn văn thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: độc đáo, tàihoa, uyên bác Nhà văn đã vận dụng hiểu biết của nhiều ngành khác nhau: địa
lý, lịch sử, hội họa, văn chương và những tri thức về tự nhiên để khắc họa vẻđẹp của sông Đà
- Tác giả thể hiện một trí tưởng tượng phong phú, bất ngờ, thú vị
- Tác giả vận dụng thành công nhiều thủ pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa,ngôn từ phong phú giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm Câu văn co duỗi nhịpnhàng, giàu nhịp điệu, giàu tính nhạc
c Cái tôi của Nguyễn Tuân:
Trang 33Đoạn văn thể hiện cái tôi tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân.
- Nguyễn Tuân đắm say với cảnh sắc thiên nhiên để tận hưởng vẻ đẹp phongphú của thiên nhiên: đó là cảnh “lặng tờ hoang sơ như một bờ tiền sử” như mộtcâu chuyện cổ tích hay cảnh sắc căng tràn sức sống của nương ngô, của đồi cỏgianh
- Nguyễn Tuân có một tâm hồn rất tinh tế, rộng mở để đón nhận cái đẹp, nhàvăn hòa nhập với thiên nhiên, sống cùng thiên nhiên, cảm nhận được thiên nhiênnhư cũng có tâm hồn đồng điệu với mình
+ Nhà văn hiểu và cảm nhận được hành động vểnh tai của con hươu vàtưởng tượng ra tiếng nói tiếng nói riêng của con vật này
+ Nhà văn cũng cảm thấy được dòng sông Đà quãng này “như nhớthương những hòn thác đá xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc, như đanglắng nghe giọng nói êm êm của người miền xuôi”
- Tâm hồn Nguyễn Tuân bay bổng, lãng mạn: từ con sông Đà hiện tại, tác giảliên tưởng, nhớ về con sông Đà của Tản Đà ngày trước Tuy vậy, nhà văn vẫnluôn suy tư về một tương lai của Tây Bắc “Chao ôi, thấy thèm được giật mình vìmột tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - YênBái - Lai châu” Đây chính là tiếng nói đầy tinh thần trách nhiệm của một ngườinghệ sĩ giàu lòng yêu nước đối với mảnh đất và con người miền Tây bắc xa xôi
=> Tất cả góp phần tạo nên những trang văn miêu tả vẻ đẹp trữ tình của sông
Đà, đồng thời bộc lộ tình cảm yêu mến, thiết tha đối với quê hương đất nước
ấy Bốn năm bọn thuỷ quân nơi cửa ải nước bờ bên trái liền xô ra định níu con thuyền vào tập đoàn cửa tử Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”
Và sau khi vượt thác: “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống
cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang
cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi” (Người lái đò Sông Đà - Ngữ văn lớp 12,
tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)
Trang 34Phân tích hình ảnh người lái đò sông Đà trong hai lần miêu tả trên.
Từ đó nhận xét về cách nhìn con người của Nguyễn Tuân.
Hướng Dẫn
1 Mở bài
Giới thiệu vấn đề nghị luận:
2 Thân bài
Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm
Tuỳ bút Người lái đò sông Đà là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất
của Nguyễn Tuân viết sau Cách mạng, được in trong tập "Sông Đà" (1960) Ở tuỳ bút này, người lái đò sông Đà là một hình tượng độc đáo, hấp dẫn mang rõ dấu ấn phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
2.1 Cảm nhận về người lái đò sông Đà
a Đoạn 1: Ông lái đò là người rất mực tài trí, dũng cảm trong
những chuyến vượt thác đầy hiểm nguy
- Nguyễn Tuân đã có dụng ý nghệ thuật sâu xa là để cho người lái đò xuất hiệntrong một hoàn cảnh đầy thử thách khốc liệt Nguyễn Tuân khẳng định "Ôngmuốn ghi cái đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trênchiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà"
+ Ở vòng vây thứ nhất: Thác Sông Đà mở ra “năm của trận”, có bốn “cửatử”, một “cửa sinh” Cửa sinh nằm “lập lờ ở phía tả ngạn” Khi con thuyền xuấthiện, phối hợp với đá, nước thác reo hò làm “thanh viện” cho đá, những hòn đá
bệ vệ oai phong lẫm liệt Có hòn đá trông nghiêng thì y như là đang hỏi cáithuyền “phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến” Hòn đá khác thì lùi lại mộtchút và “thách thức” cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào Không một chút naonúng, ông đò hai tay giữ mái chèo để khỏi bị hất lên khi sóng trận địa phóngthẳng vào mình Nhìn thấy con thuyền và người lái đò, mặt nước “hò la vangdậy”, ùa vào mà “bẻ gãy cán chèo”, võ khí của người lái đò Sóng nước thì nhưthể quân liều mạng, vào sát nách mà “đá trái mà thúc gối” vào bụng và hôngthuyền, có lúc chúng “đội cả thuyền lên” Nước bám lấy thuyền như đô vật “túmlấy thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra”… Ông đò đã bị thương, nhưng ông
“cố nén vết thương”, hai chân vẫn “kẹp chặt lấy cuống lái” Cuộc chiến đã đếnhồi quyết liệt, sóng nước “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm” vào chỗhiểm Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy “ngắn gọntỉnh táo” của người cầm lái Và ông lái đò đã phá xong cái “trùng vi thạch trận”vòng thứ nhất của thác Sông Đà
+ Không một chút nghỉ tay, ông lái đò tiếp tục phá luôn vòng vây thứ haicủa thác Sông Đà Ở vòng thứ hai này, thác Sông Đà lại “tăng thêm nhiều cửatử” để đánh lừa con thuyền Vẫn chỉ có một cửa sinh Nếu ở vòng thứ nhất, cửa
Trang 35sinh nằm “lập lờ phía tả ngạn”, thì ở vòng thứ hai này, cửa sinh lại “bố trí lệchqua phía bờ hữu ngạn” Đó chính là khó khăn, thách thức đối với người lái đò.Nhưng ông lái đò đã “thuộc qui luật phục kích” của lũ đá nơi ải nước hiểm trởnày Ông hiểu rằng cưỡi lên thác Sông Đà phải “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”.Cuộc chiến của ông lái đò ở vòng thứ hai đã bắt đầu Nắm chặt cái bờm sóngđúng luồng, ông đò ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà “phóngnhanh vào cửa sinh” rồi “lái miết một đường chéo” về phía cửa đá ấy Thấy conthuyền tiến vào, bốn năm bọn thủy quân bên bờ trái liền “xô ra” định níu conthuyền “lôi vào tập đoàn cửa tử” mà tiêu diệt Nhưng ông lái đò vẫn “nhớ mặt”bọn này, đứa thì ông tránh mà “rảo bơi chèo lên”, đứa thì ông “đè sấn lên màchặt đôi ra” để mở đường tiến Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền, chỉ cònvẳng tiếng reo hò của của sóng thác luồng sinh Tuy vậy, bọn chúng vẫn “khôngngớt khiêu khích”, dù cái thằng đá tướng đứng ở cửa vào đã “tiu nghỉu cái mặtxanh lè” vì bị thua cái thuyền du kích nhỏ bé.
+ Vượt qua vòng thứ hai, ông lái đò còn phải vượt qua vòng thứ ba nữa Ởvòng vây thứ ba này, thác Sông Đà ít cửa hơn nhưng bên phải bên trái đều là
“luồng chết” cả Cái “luồng sống” ở chặng thứ ba này lại ở ngay giữa bọn đáhậu vệ Ông lái đò đã hiểu điều đó Ông cứ “phóng thẳng thuyền” chọc thủngcửa giữa đó Thuyền của ông đò “vút qua” cổng đá cánh mở cánh khép với batầng cửa: cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng Con thuyền của ông đò “nhưmột mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái lượnđược” Vượt qua vòng vây thứ ba cũng là vượt qua hết thác Sông Đà Ông lái đònhư một người chỉ huy lão luyện, đầy bản lĩnh và kinh nghiệm Ông là một nghệ
sĩ tài hoa với nghề vượt thác leo ghềnh
+ Nguyễn Tuân đã mô tả một cách chân thật vừa trân trọng, vừa yêuthương, vừa cảm phục nhân vật ông lái đò vô cùng hiên ngang, trí dũng trongcuộc chiến đấu với những con sóng, con thác đầy hung dữ, nguy hiểm Cuộcvượt thác, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân diễn ra như một trận đánh dữ dội cónhiều hồi, nhiều đợt, mỗi đợt lại có những thử thách ác liệt khác nhau, dòngsông bày ra những thạch trận hiểm hóc khác nhau: "Đá ở đây từ ngàn năm vẫnmai phục trong lòng sông để vồ lấy con thuyền Đá bày ra thạch trận trên sôngvới những boongke chìm và pháo đài nổi, phối hợp với đá, nước thác reo hò làmthanh viện cho đá phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác"
- Nghệ thuật: Kho từ vựng giàu có và vốn kiến thức văn hoá khoa học phongphú, uyên bác như quân sự, võ thuật, thể dục thể thao, điện ảnh của NguyễnTuân được dịp huy động để miêu tả cuộc thuỷ chiến ác liệt giữa người lái đò vàsóng thác sông Đà "Sóng nước thúc gối vào bụng và hông thuyền có lúc chúngđội cả thuyền lên sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất" Có lúc
Trang 36tưởng như ông lái đò sẽ bị con thuỷ quái sông Đà vô cùng hung bạo ấy nuốtchửng Nhưng ông lái đò vẫn không hề nao núng, trái lại vẫn bình tĩnh chủ độngchiến đấu một cách dũng cảm đầy mưu trí như một vị chỉ huy tài trí tuyệt vời,điều khiển con thuyền lần lượt vượt qua các thác ghềnh như "Phá cái trận đồ bátquái của dòng sông hung bạo" "Dòng nước hùm beo đang hồng hộc tế mạnhtrên sông Đà" Nhưng người lái đò vẫn "Cưỡi lên thác sông Đà đến cùng như làcưỡi hổ".
b Đoạn 2:
Sau khi vượt thác - bến bờ bình yên - khi vượt qua thác lũ, mọi việc vất
vả, nguy hiểm xèo xèo tan trong trí nhớ những người lái đò Họ coi việc đối mặtvới sóng nước hung bạo, hiểm nguy là chuyện thường nhật, thường tính, không
có gì đáng nói Khi đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, học chỉ bàn về
cá dầm xanh, cá anh vũ Ông lái đò cũng như đồng nghiệp của mình còn gắn
bó thiết tha với làng bản quê hương Họ thường treo bu gà trống có bộ lông đẹp
vá giọng gáy hay ở đuôi thuyền để đi đựờng xa, qua bờ này bến khác, có tiếng
gù gáy đem theo, nó đỡ nhớ nương ruộng bản mường mình
+ Với Nguyễn Tuân, chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ ở nơi giáp mặt với quân thù,
mà có thể xuất hiện hàng ngày trong cuộc sống lao động của những con ngườibình thường giản dị, không tên tuổi, ở ngay cả những nơi xa xôi, hẻo lánh của
Tổ quốc Cuộc sống lao động của người lái đò vô danh nơi hoang vu kia xứngđáng là một thiên anh hùng ca lao động
3 Nhận xét về cách nhìn con người của Nguyễn Tuân
- Một đặc điểm của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân là "thiên nhiên hay conngười đều được chú ý khám phá ở phướng diện văn hóa, mĩ thuật của nó" Vìthế, ta còn bắt gặp ở đây hình ảnh một ông lái đò rất mực tài hoa, nghệ sĩ bêncạnh vẻ đẹp của lòng dũng cảm và bản lĩnh cao cường trước thử thách của thiênnhiên
- Nếu như trước cách mạng tháng Tám, con người Nguyễn Tuân hướng tới và cangợi là những “con người đặc tuyển, những tính cách phi thường”, có phần xa lạvới nhiều người, thì sau Cách mạng, ông hướng ngòi bút của mình đến nhữngcon người lao động bình thường đang âm thầm cống hiến cho đất nước Ôngphát hiện ra nét tài hoa nghệ sĩ của họ được thể hiện ngay trong công việc laođộng vô cùng nguy hiểm nhưng cũng vô cùng cao cả của mình Nguyễn Tuângọi đó là "Cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí con người Tây Bắc" Nhàvăn dành cho người lao động cái nhìn trân trọng, tin tưởng, yêu thương
4 Kết bài
Nguyễn Tuân đích thực là một nghệ sĩ tài hoa bậc thầy trong việc ngợi canhững con người lao động trong gian lao nguy hiểm nhưng đầy vinh quang, điển
Trang 37hình là hình tượng ông lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà với nhiều nét
đẹp và cả chất nghệ sĩ trong nghề
ĐỀ 4
Nguyễn Tuân miêu tả vẻ đẹp của dòng sông Đà trong nhiều cảnh sắc, khi
là thác nước và những cửa ải đá:
“ Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa
nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng Tới cái thác rồi Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá
cả chân trời đá Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy
để vồ lấy thuyền Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này…”
Khi là vẻ đẹp của dòng chảy trữ tình được nhìn từ trên cao:
"Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì ruợu bữa, lù lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mổi độ thu về" (Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân,
Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2016)
Anh/chị hãy phân tích vẻ đẹp của sông Đà trong hai đoạn văn trên Từ
đó làm rõ cảm hứng nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua dòng sông Tây Bắc.
Hướng dẫn
* Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
* Vẻ đẹp của Sông Đà trong đoạn thứ nhất:
- Sự hung bạo, dữ dội của thác nước và những cửa ải đá:
+ Thác nước sông Đà gầm réo trong những âm thanh ghê sợ, nhà văn đã nhân
hóa con sông, biến nó thành một sinh thể dữ dằn, hung bạo: lúc nghe như là oán
trách, lúc lại như là van xin, khi thì khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, có lúc
nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu
rừng tre nứa nổ lửa,…
Trang 38hung hãn, mỗi hòn đá có gương mặt riêng, nhiệm vụ riêng trong thạch trận bàysẵn dụ con thuyền, mỗi hòn đá là một tên lính thủy hung tợn.
- Nghệ thuật: Ngôn ngữ giàu sức tạo hình với các động từ, tính từ có khả năng
miêu tả, thủ pháp so sánh, liên tưởng bất ngờ, thú vị, kiến thức phong phú từ cáclĩnh vực: địa lý, lịch sử, điện ảnh, quân sự, võ thuật Câu văn mang âm hưởngmạnh mẽ, ào ạt như thác ghềnh sông
* Vẻ đẹp của Sông Đà trong đoạn thứ hai:
- Dòng sông được quan sát tỉ mỉ, công phu ở nhiều thời điểm, nhiều góc độ
+ Dòng chảy duyên dáng, mềm mại, yêu kiều, uốn lượn: "tuôn dài, tuôn dài "
+ Sắc nước sông Đà thay đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp nên thơ, lãngmạn trong so sánh của Nguyễn Tuân
- Nghệ thuật: So sánh, liên tưởng độc đáo; ngôn ngữ phong phú, sống động, gợi
hình, gợi cảm, câu văn mang âm điệu trữ tình, lắng sâu, êm ái
* Cảm hứng nghệ thuật của Nguyễn Tuân
- Trong cái nhìn Nguyễn Tuân, Sông Đà hiện lên với những tính cách đối lập:vừa dữ dội vừa duyên dáng, như công trình nghệ thuật tuyệt mĩ giữa thiên nhiên.Nhà văn ca ngợi núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng
- Vẻ đẹp đầy cá tính của dòng sông chính là "chất vàng mười" của thiên nhiên
Tây Bắc tác giả muốn khám phá, kiếm tìm
- Tình yêu tha thiết, say mê với thiên nhiên, đất nước; sự tài hoa, uyên bác củatác giả thể hiện qua cái nhìn tinh tế và sự cảm nhận độc đáo
ĐỀ 5:
Trong tác phẩm “Người lái đò Sông Đà”, có đoạn Nguyễn Tuân viết: “Đá
ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”
Lại có đoạn: “Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm
của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.
Anh (chị) hãy phân tích 2 đoạn văn trên, từ đó lí giải điểm khác biệt trong cách miêu tả con sông Đà của nhà văn.