1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn lịch sử của học sinh qua bài “các quốc gia ấn và văn hóa truyền thống ấn độ

19 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 128 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước sự quan tâm ấy, chúng tôi – những giáo viên dạy môn lịch sử luôn trăn trở về việc dạy của mình, làm sao để nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử, làm sao để các em học sinh yêu thích

Trang 1

MỤC LỤC

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu áp dụng 4

7.1.3 Vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn vào bài dạy 6

8 Những thông tin cần được bảo mật (nếu có) 11

9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 12

10 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến 12

10.1 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý

10.2 Đánh giá lợi ích thu được thu được do áp dụng sáng kiến

11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

Trong những năm gần đây, chất lượng dạy và học Lịch sử đang thu hút sự quan tâm chú ý của ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung Trước sự quan tâm ấy, chúng tôi – những giáo viên dạy môn lịch sử luôn trăn trở

về việc dạy của mình, làm sao để nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử, làm sao

để các em học sinh yêu thích môn học này…

Một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học Lịch

sử được áp dụng gần đây chính là việc vận dụng kiến thức liên môn vào giảng dạy để nâng cao hứng thú học tập của học sinh, từ đó nâng cao chất lượng dạy

và học

Dạy học liên môn trong môn Lịch sử là hình thức liên kết những kiến thức giao thoa với môn Lịch sử như Ngữ văn, Địa lí, Tin học, Giáo dục công dân, Rèn luyện kĩ năng sống, Giáo dục bảo vệ di sản văn hóa địa phương… để học sinh tiếp thu kiến thức, biết vận dụng kiến thức lịch sử vào cuộc sống và ngược lại

từ cuộc sống để giải quyết các vấn đề liên quan đến lịch sử…

Nghiên cứu, tìm hiểu về phương pháp dạy học liên môn trong giảng dạy Lịch sử đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu và tìm hiểu Tiêu biểu:

- Tác giả E-LTơn trong cuốn “Lịch sử là gì” đã bàn đến vai trò, ảnh hưởng của Lịch sử đối với các môn khoa học khác

- GS.TS Phan Ngọc Liên trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”-NXB Giáo dục, 2005 đã khẳng định “Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạy học ở trường phổ thông nói chung và môn lịch sử nói riêng”

- Tác giả Phạm Thanh Bình, trong bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học ở trường phổ thông- yêu cầu cấp bách của sự nghiệp giáo dục hiện nay” cũng đã đề cập đến vai trò của phương pháp dạy học liên môn nhằm tăng hiệu quả giảng dạy

- Tác giả Trần Văn Cường trong bài “Vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông”- Tạp chí nghiên cứu giáo dục, tháng 7 năm 1997 đã khẳng định dạy học liên môn có ý nghĩa lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học

Trang 3

- Tác giả Trần Viết Thụ trong bài “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy các vấn đề văn hóa trong sách giáo khoa lịch sử THPT”- tạp chí nghiên cứu giáo dục, tháng 12 năm 1997 đã đưa ra mối quan hệ trong các môn học như Lịch sử-Văn học, Lịch sử- Địa lí, Lịch sử - Triết học và mối quan hệ với các môn khoa học khác

Như vậy, việc sử dụng phương pháp dạy học liên môn trong dạy học lịch

sử đã được nhiều tác giả đề cập đến ở nhiều cuốn sách, nhiều bài viết và nhiều công trình nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một tác giả nào đi sâu vào vấn đề sử dụng nguyên tắc dạy học liên môn trong một bài, một chương cụ thể ở lớp 10 - chương trình cơ bản với tư cách là sự khảo nghiệm thực tế Vì vậy, tôi muốn có một nghiên cứu cụ thể hơn và đánh giá được hiệu quả của việc vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn làm nâng cao hiệu quả bài học Qua nguồn cung cấp thông tin sinh động đó, học sinh tự tìm hiểu nội dung kiến thức, từ đó truyền cho các em sự hứng thú, niềm yêu thích đối với môn Lịch sử

Trong quá trình giảng dạy và khảo nghiệm thực tế bộ môn, đặc biệt khi

dạy chương IV “Ấn Độ thời phong kiến” chương trình Lịch sử lớp 10- ban cơ

bản – tôi nhận thấy học sinh còn chưa hứng thú, phát huy tính tích cực đối với nội dung học và kết quả kiểm tra chưa cao Thực trạng đó xuất phát từ một số nguyên nhân như: học sinh coi môn Lịch sử là môn phụ nên không chú trọng việc chuẩn bị kiến thức và sưu tầm tài liệu liên quan ở nhà; Lịch sử Ấn Độ cổ đại và phong kiến đã diễn ra xa với nhiều kiến thức trừu tượng, liên quan đến nhiều lĩnh vực cần tìm hiểu nên khó học; sách giáo khoa viết ngắn gọn, ít tranh ảnh, sự kiện minh họa; giáo viên chưa biết kết hợp các phương pháp dạy học linh hoạt để thu hút học sinh, đặc biệt vận dụng nguyên tắc liên môn trong giảng dạy bài này

Để thay đổi hiện trạng trên, tôi chọn giải pháp: “Vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn Lịch sử của học sinh qua bài “Các quốc gia Ấn và văn hóa truyền thống Ấn Độ” – Chương trình

Lịch sử 10 - Ban cơ bản.

2 Tên sáng kiến: Vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn nhằm nâng cao

hiệu quả học tập môn Lịch sử của học sinh qua bài “Các quốc gia Ấn và văn hóa truyền thống Ấn Độ” – Chương trình Lịch sử 10 - Ban cơ bản

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Nguyễn Thị Minh Phương

- Địa chỉ: Trường THPT Quang Hà - Bình Xuyên - Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0975.854.815

Trang 4

- E_mail: Nguyenthiminhphuong.gvquangha@vinhphuc.edu.vn

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Minh Phương – Trường

THPT Quang Hà – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Lịch sử 10 – Ban cơ bản

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử, (ghi ngày nào sớm hơn): vào tháng 9/2018.

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

7.1 Về nội dung của sáng kiến

Ở bài này, giáo viên có thể vận dụng nguyên tắc liên môn với các môn như Địa Lí, Văn học, Triết học, Tôn giáo, nghệ thuật - kiến trúc

7.1.1 Xác định mục tiêu cần đạt

7.1.1.1 Kiến thức:

* Môn Địa Lí: Học sinh biết được vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Ấn

Độ

* Môn Lịch Sử

Hiểu những nét chính về sự hình thành và phát triển của quốc gia phong kiến Ấn Độ: Ấn Độ dưới thời kì vương triều Gúp-ta

Học sinh hiểu và nêu được những thành tựu chính về văn hóa Ấn Độ dưới thời kì vương triều Gúp-ta và ảnh hưởng của nó đến văn hóa của các nước trong khu vực Đông Nam Á và Việt Nam

* Nghệ Thuật - Kiến trúc - Tôn giáo: Có những hiểu biết về các công trình

kiến trúc của Ấn Độ (kiến trúc chùa Hang, kiến trúc Phật giáo, kiến trúc Hinđu giáo…)

* Môn ngữ văn:

- Học sinh hiểu biết về ngôn ngữ, văn tự, những tác phẩm văn học tiêu biểu của Ấn Độ thời cổ đại Nhờ có chữ viết, văn hóa Ấn Độ được truyền bá rộng rãi ra bên ngoài

* Môn giáo dục công dân:

- Giáo dục học sinh có thái độ tự hào, đồng thời trân trọng và giữ gìn những di sản văn hóa nhân loại

* Môn tin học:

- Biết cách tìm kiếm thông tin trên mạng Internet

- Biết cách làm một bài thuyết trình powerpoint

Trang 5

7.1.1.2 Kĩ năng

* Môn lịch sử:

- Học sinh được rèn luyện các kĩ năng phân tích tổng hợp các sự kiện lịch

sử của Ấn Độ qua các thời kì lịch sử; kĩ năng so sánh và liên hệ các sự kiện lịch

sử Ấn Độ với khu vực Đông Nam Á và Việt Nam

- Rèn kỹ năng khai thác tranh ảnh: Thông qua hình ảnh của các công trình kiến trúc, điêu khắc của Ấn Độ, các em khai thác và làm nổi bật vẻ đẹp của nghệ thuật Ấn Độ thời kì này

* Môn địa lí: Biết xác định vị trí và phương pháp sử dụng bản đồ.

* Môn tin học:

- Kỹ năng tìm kiếm thông tin trên mạng

- Kỹ năng quay video

- Kỹ năng tạo lập bài thuyết trình bằng Powerroint

* Các bộ môn khác: Phân tích, tổng hợp vấn đề.

* Liên quan tới Kỹ năng sống: Kỹ năng lập kế hoạch Kỹ năng làm việc

nhóm Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng đồng cảm, lắng nghe

7.1.1.3 Thái độ:

* Môn lịch sử

- Văn hóa Ấn Độ có ảnh hưởng trực tiếp đến Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, tạo nên mối liên hệ về kinh tế và văn hóa mật thiết giữa 2 nước Đó là cơ sở để tăng cường hiểu biết, quan hệ thân tình, tôn trọng lẫn nhau giữa 2 nước Đồng thời thông qua những hiểu biết về văn hóa Ấn Độ, giáo dục cho học sinh thái độ trận trọng trước những tinh hoa văn hóa nhân loại

* Liên môn: Học sinh có ý thức học tập tích cực, hiểu biết toàn diện về nội

dung kiến thức phổ thông; tích cực và say mê học tập

7.1.2 Chuẩn bị

- Phương tiện, đồ dùng dạy học: Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến bài dạy như: Cuốn “Lịch sử thế giới cổ, trung đại”, “Lịch sử văn hóa thế giới”, “Tư liệu lịch sử lớp 10”, “Một số công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử”, “Lịch sử các tôn giáo lớn trên thế giới”, Văn học Ấn Độ

+ Các tranh ảnh lịch sử về các vị vua: A-sô-ca; cột đồng A-sô-ca, Thích

ca mâu ni, các vị thần trong đạo Hin-đu; tranh ảnh về chùa hang A-gian-ta, các tháp Hin-đu

+ Phim tư liệu về “Văn hóa Ấn Độ thời trung đại”, “Thánh địa Mĩ Sơn”

Trang 6

+ Chuẩn bị soạn, dạy bằng giáo án điện tử, máy tính, máy chiếu.

- Phương pháp: Kết hợp các phương pháp nêu vấn đề, dạy học liên môn, trao đổi đàm thoại kết hợp với thuyết trình

2.2 Học sinh

- Yêu cầu và hướng dẫn học sinh đọc trước sách giáo khoa, chuẩn bị trả lời các câu hỏi có trong sách giáo khoa

- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm đọc một số tài liệu liên quan đến bài học qua sách, tạp chí và hướng dẫn học sinh khai thác tìm hiểu trên mạng Internet

7.1.3 Vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn vào bài dạy

Phần dẫn dắt vào bài mới: tôi kết hợp nguyên tắc liên môn Lịch

sử-Địa lí bằng việc: giáo viên trình chiếu lược đồ Ấn Độ thời cổ đại, dựa vào vào những kiến thức về địa lí giáo viên có thể phân tích kĩ hơn về vị trí địa lí, điều

kiện tự nhiên của Ấn Độ “Ấn Độ là một quốc gia nằm ở phía Nam châu Á Ấn

Độ có hình dạng giống như một tam giác khổng lồ, phía Tây, Đông và Nam được bao bọc bởi Ấn Độ dương và phía Bắc, Đông Bắc được áng ngữ bởi dãy núi Hi-ma-lay-a hùng vĩ, tạo sự cách biệt giữa Ấn Độ với châu Á Ấn Độ có hệ thống sông ngòi dày đặc, đặc biệt là hai con sông lớn- sông Ấn và sông Hằng Khí hậu nhiệt đới ẩm chia thành 2 vùng miền rõ rệt đã làm đa dạng hệ thống thực, động vật với những cánh rừng rậm nhiệt đới hoang sơ Với trí tưởng tượng phong phú của mình, người dân Ấn Độ hình dung đất nước họ như một nàng tiên cá xinh đẹp có mái tóc bạch kim dài tung bay trong mây trời Himalaya và có cái đuôi vùng vẫy trong Ấn Độ dương xanh thẳm Chính đặc điểm điều kiện tự nhiên và vị trí địa lí đó đã tạo nên nét đặc trưng riêng về lịch

sử và văn hóa Ấn Độ ” Vậy cụ thể lịch sử và văn hóa Ấn Độ có đặc điểm gì

nổi bật, tại sao lại gọi là văn hóa truyền thống Ấn Độ và nó có ảnh hưởng gì đến khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Các em cùng theo dõi vào bài học hôm nay để trả lời cho câu hỏi đó

Mục 1: Thời kì các quốc gia đầu tiên (đọc thêm)

Mục 2 Thời kì vương triều Gúp ta và sự phát triển văn hóa truyền thống Ấn Độ

Ở mục này, học sinh cần hiểu và nắm được các kiến thức cơ bản sau:

* Vương triều Gupta

- Quá trình hình thành: Đầu công nguyên, miền Bắc Ấn Độ được thống

nhất dưới thời vương triều Gúp - ta (319 - 467), Hậu Gúp-ta (467-606), Vương triều Hác-sa (606-647)

Trang 7

- Vai trò:

+ Gúp-ta đã thống nhất miền Bắc và làm chủ gần như toàn bộ miền trung

Ấn Độ

+ Là thời kì định hình và phát triển của văn hóa truyền thống Ấn Độ

* Văn hoá truyền thống Ấn Độ

- Đạo Phật:

+ Ra đời vào thế kỉ VI TCN, do Thích Ca Mâu Ni sáng lập

+ Được truyền bá mạnh mẽ dưới triều Asôca, tiếp tục dưới các triều đại Gup ta, Hác-sa, đến thế kỉ VII

- Kiến trúc Phật giáo: phát triển (chùa Hang, tượng phật bằng đá).

- Ấn Độ giáo (Hin-đu giáo)

+ Bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa của người Ấn Độ (đạo Bàlamôn)

+ Thờ 4 vị thần chính: Thần Brama (Sáng tạo), Thần Siva (hủy diệt), Thần Visnu (bảo hộ), Thần Indra (Sấm sét)

- Kiến trúc Hinđu giáo: Các công trình kiến trúc thờ thần cũng được xây

dựng: đền đá…

- Chữ viết :

- Người Ấn Độ có chữ viết từ rất sớm và dần hoàn thiện chữ viết cổ của mình : từ chữ viết cổ Brahmi đã sáng tạo và hoàn chỉnh hệ chữ sankrit

- Tác dụng : viết văn bia, sáng tác văn học, là điều kiện để chuyển tải và truyền bá văn hóa Ấn Độ ra bên ngoài Chữ Pali dùng để viết kinh Phật

- Văn học

+ Bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta, Ramayana là hai bộ sử thi bằng tiếng Phạn nổi tiếng thứ hai của Ấn Độ cổ đại

* Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ra bên ngoài.

- Người Ấn Độ đã mang văn hoá, đặc biệt là văn hoá truyền thống truyền

bá ra bên ngoài mà ĐNA là khu vực ảnh hưởng rõ nét nhất

- Việt Nam cũng ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ (tháp Chàm, đạo Phật, đạo Hin-đu, chữ Chăm cổ)

 Thời Gúp-ta đã định hình văn hoá truyền thống Ấn Độ với những tôn giáo lớn và những công trình kiến trúc, tượng, những tác phẩm văn học tuyệt vời, làm nền cho văn hoá Ấn Độ có giá trị văn hoá vĩnh cửu

Trang 8

* Để giúp học sinh nắm chắc và hiểu được những nội dung kiến

thức trên, giáo viên cần vận dụng nguyên tắc liên môn: Lịch sử với các môn địa

lí, văn học, triết học, nghệ thuật kiến trúc, cùng đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin để làm tăng hiệu quả Cụ thể, giáo viên tổ chức dạy và học như sau:

Giáo viên chia cả lớp thành 4 nhóm:

+ Nhóm 1:Tìm hiểu, thảo luận về quá trình hình thành vương triều

Gúp-ta, thời gian tồn tại và vai trò của vương tiều này về mặt chính trị

+ Nhóm 2: Tìm hiểu những nét đặc sắc về tôn giáo và kiến trúc Ấn Độ thời kì này

+ Nhóm 3: Tìm hiểu những thành tựu về chữ viết và văn học Ấn Độ + Nhóm 4: Thảo luận những yếu tố nào của văn hóa Ấn Độ có ảnh hưởng

ra bên ngoài, ảnh hưởng đến nơi nào? Việt Nam ảnh hưởng gì từ văn hóa Ấn Độ?

- Trên cơ sở học sinh đã chuẩn bị bài ở nhà, sưu tầm, tìm hiểu những tư liệu về lịch sử và văn hóa Ấn Độ, yêu cầu học sinh thảo luận trong thời gian 3 phút, sau đó giáo viên gọi đại diện từng nhóm lên trả lời, các nhóm khác nghe và bổ sung

+ GV gọi đại diện nhóm 1 lên trả lời, gọi học sinh khác bổ sung, giáo viên chốt ý Giáo viên hỏi học sinh: Tại sao lại gọi là “thời kì vương triều Gúp-ta” mà không gọi là “Vương triều Gúp-Gúp-ta” Sau khi học sinh trả lời, giáo viên phân tích thêm: Vương triều Gúp-ta trải qua 9 đời vua, tồn tại 150 năm vẫn giữ được sự phát triển và nét đặc sắc, cả dưới thời hậu Gúp-ta và vương triều Hác-sa tiếp theo với nét nổi bật là định hình và phát triển văn hóa truyền thống Ấn Độ

Để học sinh hiểu rõ hơn về đặc điểm của lịch sử Ấn Độ và có thể dẫn dắt học sinh tìm hiểu đơn vị kiến thức tiếp theo, giáo viên có thể đặt câu hỏi để

học sinh suy nghĩa trả lời “ Qua những kiến thức đã tìm hiểu về lịch sử Ấn Độ,

em thấy có điểm gì khác với lịch sử Trung Quốc?” Học sinh trả lời và giáo viên nhấn mạnh: Đặc điểm của lịch sử Ấn Độ đó là luôn hình thành xu thế thống nhất, khác với lịch sử Trung Quốc là quá trình bành trướng Chính vì luôn hình thành xu thế thống nhất nên tạo ra nét văn hóa riêng của người Ấn- hướng về cái nội tâm (Yếu tố tôn giáo).

+ Sau khi nhóm 2 trả lời, giáo viên chốt ý và giải thích rõ cho học sinh hiểu khái niệm “Định hình” và khái niệm “văn hóa truyền thống”

Trong quá trình tổng kết lại, giáo viên kết hợp phân tích với việc trình chiếu một số tranh ảnh lịch sử để miêu tả Đặc biệt, giáo viên kết hợp nguyên tắc liên môn triết học- lịch sử, nghệ thuật kiến trúc- lịch sử để tạo nên sự hứng thú cho học sinh Giáo viên trình chiếu hình ảnh “Phật tổ dưới gốc cây bồ đề” và

Trang 9

nhấn mạnh về sự ra đời của đạo phật với những giáo lí của đạo Phật: Trên màn hình các em đang theo dõi là bức tranh vẽ Phật tổ bên gốc cây bồ đề Người sáng lập ra đạo Phật là Thích ca Mâu ni- nguyên tên là Tat-đạt-đa, sinh vào khoảng thế kỉ VI TCN Ông vốn là hoàng tử con vua nước Ka-pi-la Sinh ra vào giữa lúc Ấn Độ ở trong tình trạng phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, chứng kiến nỗi khổ của con người, thấy người đời có những nỗi khổ vì sinh, lão, bệnh, tử, ông đã từ biệt cha mẹ, vợ con, từ bỏ sự giàu sang chốn cung đình vào Tuyết sơn

đi tu và đếnnăm 35 tuổi thì được chính giác, nghĩa là thành Phật ở bên gốc cây

bồ đề trên bờ sông Vi-liên-thiền (người đời sau gọi đó là cây bồ đề đạo trường) Giáo lí của Phật giáo được thể hiện trong thuyết “Tứ diệu đế” và “Bát chính đạo”, với mong muốn đi tìm con đường giải thoát nỗi khổ Thích ca mâu ni quan niệm “Không thể có đẳng cấp trong dòng máu những con người cùng đỏ như nhau, không thể có đẳng cấp trong giọt nước mắt con người cùng mặn như nhau”, và khuyên con người sống từ bi hỉ xả, cứu khổ, cứu nạn Với giáo lí tình thương như vậy nên đạo phật đã nhanh chóng đi vào quần chúng, được nhân dân ủng hộ Dưới thời vua A-sô-ca, đạo Phật được coi là quốc giáo, đạo phật tiếp tục phát triển và được truyền bá mạnh mẽ dưới thời kì vương triều Gúp-ta.

Giáo viên có thể hỏi học sinh về hiểu biết về đạo Phật ở Việt Nam, sau đó giáo viên bổ sung: Đạo Phật vào nước ta đầu công nguyên với tư cách là

xứ giả của tình thương, được nhân dân ta đón nhận và nhanh chóng phát triển trong nhân dân

Cùng với sự phát triển của đạo Phật, hàng loạt các ngôi chùa được mọc lên, tiêu biểu nhất là chùa hang A-gian-ta Giáo viên trình chiếu ảnh chùa

hang chụp ở một số góc cạnh và miêu tả: Chùa hng A-gian-ta được xây dựng từ thế kỉ II TCN đến thế kỉ VII sau công nguyên Đây là một công trình kiến trúc, nghệ thuật thể hiện sự sáng tạo tuyệt vời của bàn tay và khối óc con người Chùa được xây dựng bằng phương pháp khoét sâu vào núi đá Những hàng cột

đá to đồ sộ với nhiều bức tượng phật bằng đá trông uy nghiêm và sống động Trên các vách là những công trình trạm khắc, thuật lại từng giai đoạn trong đời sống của Phật Nghệ thuật tài tình của những nhà điêu khắc là ở chỗ khi ánh đèn chiếu thẳng vào mặt Phật thì những nét mặt rất nghiêm nghị, có vẻ tầm tư, mặc tưởng Nhưng khi ánh đèn chiếu về một bên thì những bóng tối ở môi và ở cằm của tượng làm nở ra trên mặt Phật một nụ cười kín đáo và hiền từ Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và hội họa đã kết hợp với nhau chặt chẽ Những bức họa trên trần và trên vách trong động tuy cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng phần nhiều vẫn chưa phai nhạt đi máy Nét họa rất điêu luyện, đầy sức hiện thực sâu sắc.

Trang 10

Khi dẫn dắt học sinh tìm hiểu về Hin-đu giáo, giáo viên trình chiếu cho học sinh xem hình ảnh biểu tượng của 3 vị thần Bra-ma (Sáng tạo), Silva

(Hủy diệt) và thần Vi-snu (bảo hộ) và giảng giải: Đạo Hin-đu ra đời trên cơ sở tín ngưỡng Bà-la-môn cổ xưa, thờ 4 vị thần chính: Brama, Silva, Visnu và thần Indra Nếu như đạo Phật ra đời ở Ấn Độ nhưng không ăn sâu, bám rễ lâu bền ở

Ấn Độ thì Hin đu giáo lại là chất keo cố kết người dân Ấn Độ Người Ấn Độ thường nói: đạo Hin-đu còn thì người Ấn Độ còn, đạo Hin-đu mất thì người Ấn

Độ cũng mất Cùng với sự ra đời và phát triển của đạo Hin đu, các công trình kiến trúc thờ thần cũng được xây dựng với phong cách nghệ thuật độc đáo.

Giáo viên cho học sinh xem phim tư liệu về văn hóa Ấn Độ thời trung đại, yêu cầu học sinh theo dõi, quan sát và trình chiếu một số công trình kiến

trúc Hin đu Giáo viên có thể phát vấn học sinh “Em hãy rút ra nét nổi bật của kiến trúc đu” Giáo viên chốt ý và phân tích: nét nổi bật của kiến trúc

Hin-đu là các tháp cao, bằng đá khỏe khoắn, vững chắc được trạm khắc với những tác phẩm điêu khắc hoàn mĩ

+ Nhóm 3 trả lời về thành tựu chữ viết và văn học sau khi học sinh trả lời song, giáo viên bổ sung và chốt lại thành tựu chữ viết bằng việc cho học sinh quan sát bảng chữ Phạn và chữ Saxkit, chữ viết cổ nhất của Ấn Độ Nhờ viết ra đời sớm mà Ấn Độ sớm có một nền văn học phát triển

Giáo viên giải thích “văn học cổ điển” là muốn nói tới nền văn học sớm mang đậm bản sắc Ấn Độ, mở đầu cho văn học truyền thống Ấn Độ, do đó thấm được tinh thần Hin-đu giáo

Vì học sinh đã được học phần văn học Ấn Độ ở lớp 10 và qua tham khảo tài liệu nên giáo viên có thể yêu cầu học sinh kể tên tác phẩm văn học Ấn

Độ đã học và trình bày ngắn gọn về giá trị nôi dung và giá trị nghệ thuật

Sau đó, giáo viên bổ sung thêm: Bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta là bộ sử thi vĩ đại nhất thế giới với 220.000 dòng thơ, dài gấp 7 lần tổng số câu thơ của 2 bộ

sử thi nổi tiếng Ô-đi-xê và I-li-at, giống như một cuốn đại bách khoa về văn hóa truyền thống, về các thể chế chính trị- xã hội của Ấn Độ cổ xưa, đúng như câu ngạn ngữ cổ “Cái gì không thấy được ở trong Ma-ha-bha-ra-ta thì cũng không thể nào thấy được trong Ấn Độ”.

Tác phẩm Sơ-kun-tơ-ra của Ka-li-đa-sa có thể coi là một viên ngọc quý của Ka-li-đa-sa Gớt, đại văn hào Đức sau khi dịch tác phẩm đã phải thốt lên:

“Những hương thơm của mùa xuân, những quả chín của mùa thu, tất cả những

gì làm lòng người náo nức mê say, những gì làm cường tráng và nuôi dưỡng tâm hồn con người, đất trời rộng bao la đã thu tóm lại trong một tiếng duy nhất:

đó là Sơ-kun-tơ-ra”

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w