1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông khu vực miền núi tỉnh vĩnh phúc

52 33 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 335,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo giáo trình Giáo dục họctập I Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội năm 2009 thì hoạt động học của họcsinh “là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt độn

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ

- -BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

TÊN SÁNG KIẾN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KHU VỰC MIỀN

NÚI TỈNH VĨNH PHÚC

Tác giả sáng kiến: Hà Trọng Bình

Mã sáng kiến: 15.68.02

Trang 2

1 LỜI GIỚI THIỆU Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ đã khẳngđịnh: “Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dụcvùng khó để đạt được mặt bằng chung, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương

và cơ sở giáo dục có điều kiện bứt phá nhanh, đi trước một bước đạt trình độ ngangbằng với các nước có nền giáo dục phát triển.”

Những chủ trương, đường lối của đảng, chính sách của nhà nước đều quantâm đến giáo dục và đào tạo coi trọng giáo dục và đào tạo

Ngoài ra ta phải kể đến các công trình nghiên cứu của các nhà khoa họctrong nước như: Phạm Khắc Chương - Lý luận quản lý giáo dục đại cương, Giáotrình cho học viên cao học quản lý giáo dục; Phạm Minh Hạc - Giáo dục Việt Namtrước ngưỡng cửa thế kỷ XXI – NXB chính trị quốc gia Hà Nội 2002; Trần Kiểm -Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục - NXB Đại học sư phạm 2012,Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục - NXB Đại học sư phạm 2010; Đặng BáLãm – Quản lý nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn - NXB Chính trị quốcgia Hà Nội 2005; Phan Trọng Ngọ - Dạy học và phương pháp dạy học trong nhàtrường – NXB Đại học sư phạm Hà Nội 2005; Phạm Viết Vượng – Giáo dục học –NXB Hà Nội 2008… Đây là những công trình lớn, có giá trị về khoa học quản lýgiáo dục, các công trình này đã đem lại những thành tựu lớn lao trong quản lý giáodục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng

Trước mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam cáccông trình nghiên cứu của những nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề đổimới nội dung dạy học theo hướng nâng cao hiệu quả, gắn khoa học với thực tiễn,lấy học sinh làm trung tâm hoạt động dạy học Tuy nhiên những công trình nghiêncứu của các nhà khoa học trong nước chủ yếu tập trung nghiên cứu về hoạt độngdạy của giáo viên mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về hoạt động học

của học sinh thì đó là một thiếu sót Đặc biệt đối với biện pháp quản lý hoạt động

học của học sinh THPT khu vực miền núi tỉnh Vĩnh Phúc thì đây là đề tài hoàn toàn mới.

Trang 3

4 CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN

Hà Trọng Bình – Phó Hiệu trưởng Trường THPT Triệu Thái

Quản lý tiếng Anh là: management có nghĩa là điều khiển và dẫn hướng tất

cả các bộ phận của một tổ chức

Xét về các góc độ khác nhau của xã hội khái niệm quản lý lại được đánh giákhác nhau:

Theo quan niệm truyền thống: Quản lý là quá trình tác động có ý thức của

chủ thể vào một bộ máy (hay còn gọi là đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định.

Trang 4

Theo quan điểm hiện nay: Quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm

định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu.

Theo góc độ chính trị xã hội: Quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức

với lao động Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp, cơ chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển, cơ chế sai thì xã hội phát triển chậm lại hoặc rối ren.

Theo góc độ hành động, Quản lý được hiểu là: Chỉ huy, điều khiển, điều

hành hay Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.

Ngoài ra trên thế giới cũng như ở trong nước còn có một số khái niệm vềquản lý được nhiều người chấp nhận:

Theo F W Taylor (1956-1915) người Mỹ dưới góc độ của một nhà kinh tế

ông quan niệm: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và

sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất.”

Theo bách khoa toàn thư Liên Xô, 1977: Quản lý là chức năng của những hệ

thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (Xã hội, sinh vật, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình mục đích hoạt động.

Theo Harold Konntz: “Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự nỗ lực của

cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.”

Theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của

nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu xã hội.” hay “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.”

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể

những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình hoạt động.”

Trang 5

Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ

thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan.”

Theo từ điển tiếng Việt (2000), NXB Đà Nẵng, quản lý có hai nghĩa:

- Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định;

- Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định

Như vậy các định nghĩa trên đều có những quan điểm chung xét về các góc

độ khác nhau thì quản lý có các ý nghĩa như sau:

Xét về đối tượng: Quản lý có hai đối tượng là chủ thể quản lý (người quảnlý) và đối tượng bị quản lý trong một tổ chức, đơn vị hay nhóm xã hội

Xét về mục đích: Quản lý bao giờ cũng phải đạt được kết quả, mục tiêu nhấtđịnh của người quản lý

Xét về phương thức: Quản lý là một quá trình điều khiển, phối hợp, tác độnggiữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu

Xét về điều kiện quản lý: Quản lý được tiến hành trong một hoàn cảnh, thờigian với các nguồn lực trong và ngoài tổ chức

Như vậy quản lý là sự điều khiển, phối hợp, tác động của chủ thể quản lý tớiđối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong điều kiện hoàn cảnh, thờigian nhất định

7.1.2 Biện pháp quản lý

Trong đời sống thực tiễn chúng ta thường gặp từ biện pháp đứng đầu củacụm từ gắn với một công việc nào đó như: Biện pháp bảo vệ môi trường, biện phápđảm bảo tật tự an toàn giao thông, biện pháp giáo dục học sinh cá biệt… Trongquản lý nhà nước ta thường gặp từ biện pháp đứng trước từ quản lý và sau đó là mộtlĩnh vực nào đó

Theo từ điển Tiếng Việt thì biện pháp là: Cách làm, cách thức tiến hành giảiquyết một vấn đề cụ thể Trong các văn bản của Đảng, nhà nước, các chiến lượcphát triển của các tổ chức, kế hoạch hoạt động của các tổ chức, cá nhân… phải cócác biện pháp thực hiện

Trang 6

Từ khái niệm biện pháp nêu trên chúng ta có thể thấy từ biện pháp được sửdụng trong những hoàn cảnh cụ thể và có những ý nghĩa như sau:

- Biện pháp xuất hiện khi có một vấn đề cần giải quyết hoặc đã giải quyếtnhưng chưa triệt để, chưa đem lại hiệu quả như ta mong muốn

- Biện pháp là căn cứ để đưa ra cách thức tổ chức, hoạt động nhằm thực hiệnmột vấn đề đặt ra

- Biện pháp là cách thức mà người đề ra và người thực hiện buộc phải tuântheo (tính khả thi)

7.1.3 Học sinh trung học phổ thông

Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta có chia ra làm bốn bậc: Giáodục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học CấpTHPT là cấp học cao nhất của bậc Giáo dục phổ thông, đây là cấp học mà học sinhdần dần hoàn thiện về thể chất và tính cách Cấp THPT hiện nay gồm ba lớp từ lớp

10 đến lớp 12 Theo Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông vàtrường phổ thông có nhiều cấp học quy định: “tuổi của học sinh vào lớp 10 là 15tuổi” và “Học sinh là người dân tộc thiểu số, học học sinh khuyết tật, học sinh cóhoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh người nước ngoài về nước có thể vào cấp học

ở tuổi cao hơn 3 tuổi so với tuổi quy định” Như vậy đại đa số học sinh THPT là ởtrong khoảng từ 15 đến 18 tuổi, cá biệt mới có học sinh lớn hơn độ tuổi nói trênhoặc học sinh đặc biệt được xét vượt lớp thì nhỏ hơn độ tuổi quy định

7.1.4 Khu vực miền núi

Theo quy định của Ủy ban dân tộc và miền núi về khái niệm, tiêu chuẩn củahuyện miền núi thì huyện Lập Thạch đủ các tiêu chuẩn của huyện miền núi và đãđược Chính phủ công nhận là huyện miền núi “Huyện miền núi là huyện có 2/3diện tích đất đai tự nhiên là miền núi Đại bộ phận đất đai là đồi núi cao dốc, có nơirất dốc và cao nguyên, địa hình đa dạng phức tạp, có nhiều sông suối tạo thành độchia cắt lớn, là nơi sinh sống chủ yếu của các dân tộc thiểu số.” tiêu chuẩn củahuyện thuộc khu vực miền núi gồm: Hai phần ba diện tích đất đai của đơn vị có độdốc từ 250 trở lên (là rừng và đất rừng) Kinh tế - xã hội chậm phát triển so vớiđồng bằng, đất đai sản xuất vừa có ruộng nước (thung lũng bằng, bậc thang) vừa có

Trang 7

sản xuất trên đất dốc Đời sống có nhiều khó khăn, giao thông đi lại không thuận lợinhư đồng bằng Cư dân là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số sống xen ghép hoặc cácdân tộc thiểu số sống xen ghép nhau hoặc sống riêng từng dân tộc trên một địa bànmiền núi [8;13] Theo Thông tư 09/2012/TT-BGDĐT Ban hành Quy chế tuyển sinhĐại học, cao đẳng hệ chính quy thì huyện Lập Thạch thuộc khu vực I gồm: Các địaphương thuộc Miền núi, vùng cao, vùng sâu, hải đảo, trong đó có các xã thuộc vùng

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính Phủ

7.2 Lý thuyết về hoạt động học tập

Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng hai thành tố cơ bản là hoạtđộng dạy và hoạt động học, chúng có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời nhau,nếu thiếu một trong hai hoạt động thì quá trình dạy học không thể diễn ra Chẳnghạn nếu thiếu hoạt động dạy của giáo viên thì quá trình đó sẽ chuyển thành quá trình

tự học của người học, còn thiếu hoạt động học thì hoạt động dạy không thể diễn ra

Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài này chúng tôi đi sâu nghiên cứu hoạtđộng học của học sinh để chỉ ra những biện pháp quản lý hoạt động học nhằm nângcao chất lượng học tập của học sinh THPT Để tìm hiểu hoạt động học trước hết taphải đi vào tìm hiểu các khái niệm về hoạt động học Theo giáo trình Giáo dục họctập I Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội năm 2009 thì hoạt động học của họcsinh “là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt độngnhận thức, học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoàithành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổi mình và làmphong phú những giá trị của mình.” [31;135]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Học là quá trình nhận thức, tìm tòi, thấu hiểu,ghi nhớ và vận dụng kiến thức vào cuộc sống.” [ 43,56]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Học là quá trình làm cho chủ thể (người học) tựbiến đổi làm phong phú tri thức và đời sống tinh thần bằng cách chiếm lĩnh thôngtin trong môi trường sống” [24;273]

Như vậy hoạt động học của học sinh là quá trình chủ động, tích cực, tự tổchức quá trình nhận thức, tìm tòi, thấu hiểu những kiến thức có sẵn từ bên ngoàinhằm biến nó thành kiến thức của bản thân và vận dụng vào thực tiễn

Trang 8

Trong cuộc sống đời thường con người luôn có quá trình tiếp thu, tích lũy

những kinh nghiệm sống Trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm

cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa học ở trong nhà trường Đó chính là việc học,

là cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày, giống như con người từkhi sinh ra đến khi chết học ăn, học nói, học gói, học mở đi một ngày đàng học mộtsàng khôn

Trên thực tế chỉ có một phương thức đặc thù - phương thức nhà trường mới

có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học,qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòihỏi của thực tiễn và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái niệm chínhđược dùng để chỉ hoạt động học diễn ra theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnhtri thức, kĩ năng, kĩ xảo

Từ những khái niệm như trên có thể thấy hoạt động học là quá trình nhậnthức, ghi nhớ, tìm tòi, nắm vững và vận dụng kiến thức vào thực tiễn Học tập baogồm việc học và việc tập Học là quá trình nhận thức, tiếp thu những kiến thức tựnhiên, xã hội Tập là rèn luyện những kiến thức đã được tiếp thu, có kĩ năng vậndụng những kiến thức tự nhiên, xã hội vào đời sống thực tiễn

Hoạt động học tập của học sinh: Là hoạt động tự giác, chủ động, tích cực tự

tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – hoạt động học tập của mình nhằm tiếpthu, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó ngườihọc thể hiện mình, biến đổi mình để tự làm phong phú những giá trị của mình Nhưvậy hoạt động học chính là quá trình người học tự giác chủ động tích cực, tự tổchức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của bản thân nhằm tiếp thu những tri thức

có sẵn, biến những tri thức của nhân loại thành vốn tri thức, hiểu biết của bản thân

về thế giới tự nhiên và xã hội, vận dụng tri thức vào đời sống

- Theo thuyết nhận thức

Hoạt động học tập là quá trình nhận thức linh hoạt, tính linh hoạt của nhậnthức là khả năng người học cấu trúc lại một cách tự nhiên những tri thức của mìnhbằng nhiều cách khác nhau nhằm đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của tình huốngđang thay đổi một cách căn bản

Trang 9

Theo thuyết nhận thức thì nội dung học tập là cái mà người học phải chiếmlĩnh và biến nó thành tri thức của bản thân Nội dung học tập tồn tại khách quan vớingười học và là cái mà nhờ đó người học có thể đạt được các mục tiêu học tập,nhưng không phải tất cả các mục tiêu học tập là mục tiêu bên trong của người họckhiến người học khát khao đạt đến chỉ những yếu tố nào của mục tiêu do người họcthiết kế trở thành đối tượng hoạt động học tập thì mới thực sự trở thành mục tiêubên trong của người học.

Để thực hiện được quá trình nhận thức, biến tri thức có sẵn của nhân loạithành tri thức của bản thân thì người học phải phát huy những giác quan của mình

và từ thực tiễn cuộc sống

Nhận thức bằng thị giác: Trước hết để nhận thức được một vấn đề người họcphải dùng thị giác (quan sát bằng mắt); mắt dùng để quan sát; nhìn; đọc… Trongquá trình quan sát bằng mắt người học có thể phân biệt được màu sắc; đường nét;hình khối từ đó phân biệt được sự giống và khác nhau giữa sự vật hiện tượng nàyvới sự vật hiện tượng khác Quá trình quan sát bằng mắt cùng với các giác quankhác cũng giúp cho người học nhận thức nhanh nhất

Nhận thức bằng thính giác: Tai giúp con người nghe được âm thanh y học đãchứng minh những người bị điếc bẩm sinh sẽ dẫn đến câm vì trong họ không ngheđược bất kỳ âm thanh nào nên trong họ không thể hình thành trường ngôn ngữ Taigiúp cho người học nghe được những âm thanh, lời nói làm cho người học nắm bắtđược sự vật hiện tượng đúng với bản chất của nó

Ngoài thị giác; thính giác là hai cơ quan cảm giác giữ vai trò quan trọng nhấttrong quá trình nhận thức bằng các giác quan thì khứu giác; vị giác; xúc giác cũnggiúp cho quá trình nhận thức sự vật hiện tượng đúng với bản chất của nó Tuy nhiênmột người khiếm thị; khiếm thính vẫn có thể có khả năng nhận thức bằng việc dùnggiác quan khác để thay thế hai giác quan này bằng cách dùng chữ nổi Brai, haydùng ngôn ngữ động hình (cử chỉ điệu bộ) Tuy nhiên dùng chữ nổi Brai hay ngônngữ động hình chỉ giúp cho người học có khả năng nhận thức những vấn đề đơngiản, còn những vấn đề trìu tượng thì không thể nhận thức được hoặc đôi khi ngay

cả những vấn đề đơn giản cũng có thể hiểu sai bản chất vấn đề

Trang 10

Nhận thức qua trao đổi: Để hình thành hệ thống tri thức người học cần trao

đổi bởi vì quá trình dạy học không thể diễn ra một chiều vì: “Quá trình dạy học là

một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học

tự giác, tích cực chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học.” [31;139] Từ khái niệm này ta thấy

trong quá trình dạy học, hoạt động dạy và hoạt động học liên hệ mật thiết với nhau,diễn ra đồng thời và phối hợp chặt chẽ, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy vàhoạt động học, từ đó tạo nên hiệu quả cho quá trình dạy học Học trước hết là nhậnthức, để nhận thức được vấn đề người học cần trao đổi với thầy cô; bạn bè để hiểuđúng bản chất vấn đề Trong quá trình dạy học người thầy cần thông tin ngược từphía học trò như đặt câu hỏi phát vấn, kiểm tra Người học phải trả lời các câu hỏi;trình bày vấn đề; quá trình này giúp cho người dạy đánh giá được mức độ nhận thứccủa học sinh Trong quá trình dạy học, người học chủ động đặt câu hỏi trao đổi vớingười dạy từ đó giúp người học hiểu bản chất vấn đề nhận thức đúng vấn đề

Nhận thức được thể hiện trong việc trao giữa người học với nhau qua cácphương thức như học nhóm hoặc hai người trao đổi về một vấn đề Trường hợp nàythường diễn ra khi người học chưa hiểu hoặc hiểu chưa đầy đủ, người học có thểtrao đổi với bạn giỏi hơn mình, tranh luận vấn đề với bạn học, những người bạn đó

có thể giảng giải lại cho mình giúp người học nhận thức đúng vấn đề

Để nhận thức người học cần phải có tư duy suy luận đó là cách suy nghĩđúng đắn trong việc theo đuổi với tri thức thích hợp, tin cậy của nhân loại Tư duysuy luận giúp cho học sinh có khả năng thu thập thông tin liên quan Qua phân loạimột cách hiệu quả và sáng tạo những thông tin này; rồi từ đó suy luận có lô gíc để

đi đến những kết luận đáng tin cậy Tư duy suy luận giúp học sinh có thể giải quyếtnhững vấn đề tương tự (từ một công thức có thể áp dụng để giải nhiều bài tập khácnhau)

Như vậy tư duy suy luận giúp người học nhận thức vấn đề để nhận thức đầy

đủ hiểu bản chất vấn đề người học cần phải ứng dụng vào đời sống thực tiễn Việcứng dụng vào thực tiễn và thông qua thực tiễn giúp cho người học kiểm chứng líthuyết, chứng minh lí thuyết là hoàn toàn đúng Trong quá trình nhận thức nhiều khi

Trang 11

người học được hướng dẫn đi ngược lại vấn đề đó là từ thực tiễn để đi đến lí thuyếtchung Như vậy nhận thức chỉ có được ở người học khi được áp dụng vào đời sốngthực tiễn và từ thực tiễn để đi đến nhận thức.

- Theo thuyết kiến tạo

Học tập là quá trình kiến tạo hệ thống tri thức, thuyết kiến tạo của J.Bruner là

lý thuyết về sự nhận thức được bắt nguồn từ tư tưởng của J.Piaget Tư tưởng cốt lõi

của thuyết kiến tạo là: “Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức

và tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình, tri thức mang tính chủ quan.” Với

việc nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức trong việc giải thích và kiến tạo tri thức,thuyết kiến tạo thuộc lý thuyết chủ thể Cần tổ chức sự tương tác giữa người học vàđối tượng học tập, để giúp người học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duycủa chính mình đã được chủ thể điều chỉnh Học không chỉ là khám phá mà còn là

sự giải thích cấu trúc mới tri thức

Từ đó thuyết kiến tạo đề ra các nguyên tắc mà theo J.Bruner là : Không cókiến thức khách quan tuyệt đối Kiến thức là một quá trình và là sản phẩm đượckiến tạo theo từng cá nhân (tương tác giữa đối tượng học tập và người học); về mặtnội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gầnvới cuộc sống và nghề nghiệp, được khảo sát một cách tổng thể ; Việc học tập chỉ

có thể được thực hiện trong một quá trình tích cực, vì chỉ từ những kinh nghiệm vàkiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi và cá nhân hóa những kiến thức

và khả năng đã có: Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng góp phần cho ngườihọc tự điều chỉnh học tập của bản thân mình; Các lĩnh vực học tập cần định hướngvào hứng thú người học, vì có thể học hỏi dễ nhất từ kinh nghiệm mà người ta thấyhứng thú hoặc có tính thách thức

Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn những khía cạnh nhận thức của việc dạyhọc Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có lý trí màcòn phát triển cả về mặt tình cảm, giao tiếp Mục đích học tập là xây dựng kiến thứccủa bản thân nên khi đánh giá các kết quả học tập không định hướng theo các sảnphẩm học tập, mà cần kiểm tra những tiến bộ trong quá trình học tập và trong nhữngtình huống học tập phức tạp

Trang 12

Như vậy theo thuyết kiến tạo thì thông qua việc hướng dẫn, điều khiển củagiáo viên, học sinh phải tự khám phá ra tri thức, thực hiện những nhiệm vụ học tập

từ đó kiến tạo tri thức cho bản thân Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởichủ thể nhận thức chứ không phải được tiếp nhận một cách thụ động từ môi trườngbên ngoài

7.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh:

7.3.1 Vai trò của giáo viên bộ môn

Khi nhắc đến hoạt động học tập của học sinh thì không thể tách biệt giữa dạy

và học Để học tập được người học phải cần đến vai trò của giáo viên Theo điều 30Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có

nhiều cấp học quy định: “Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng

dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó

bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh.”[5;17]

Theo quy định như trên thì quan niệm về giáo viên là một khái niệm rộng mà

ở đề tài này chúng tôi chỉ xét vai trò của giáo viên trực tiếp tham gia quản lý hoạtđộng học tập của học sinh gồm giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm

Theo điều 31 mục a Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổthông và trường phổ thông có nhiều cấp học thì giáo viện bộ môn có những nhiệm

vụ như sau: “Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch

dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.”[5;17]

Tại mục e của điều 31 quy định giáo viên bộ môn phải: “Phối hợp với giáo

viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản

Trang 13

Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh.” [5;17]

Khi nói đến vai trò của giáo viên chúng ta phải đặt vào trong quá trình dạyhọc mà quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển củangười giáo viên (ở đây là giáo viên bộ môn) người học tự giác, tích cực, chủ động,

tự tổ chức tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiệnnhững nhiệm vụ dạy học Để tổ chức hoạt động dạy học thì giáo viên bộ môn phảihiểu được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, khả năng nhận thức của học sinh, tính

tự giác tích cực của từng học sinh Thường xuyên kiểm tra đánh giá hoạt động họctập của học sinh thông qua các hình thức kiểm tra như: Kiểm tra thường xuyên,kiểm tra định kỳ Giáo viên bộ môn kết hợp cùng với các giáo viên bộ môn khác vàgiáo viên chủ nhiệm đánh giá chính xác khả năng, thiên hướng của từng học sinhtrong lớp mình dạy để bồi dưỡng, phát huy khả năng, tư vấn và định hướng nghềnghiệp cho học sinh sau này

7.3.2 Vai trò của giáo viên chủ nhiệm

Giáo viên chủ nhiệm trước hết là một giáo viên bộ môn của lớp, có đầy đủcác vai trò nhiệm vụ như một giáo viên bộ môn, ngoài ra giáo viên chủ nhiệm làngười được hiệu trưởng phân công trực tiếp thay mặt hiệu trưởng quản lý điều hànhmọi hoạt động giáo dục của lớp chủ nhiệm, chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng vềkết quả giáo dục học sinh của lớp chủ nhiệm Theo điều 31 mục 2 điều lệ trườngtrung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp họcthì giáo viện chủ nhiệm có những nhiệm vụ như sau:

“Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, với hoàn cảnh và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng học sinh; Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng;

Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh lớp mình chủ nhiệm và góp phần huy động các nguồn lực trong

Trang 14

cộng đồng phát triển nhà trường;Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học; đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh; đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi sổ điểm và học bạ học sinh; Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng.” [5;18]

Từ những nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm đã nêu trên thì người giáo viênchủ nhiệm phải trực tiếp quản lý các hoạt động giáo dục của lớp mình (Trong đó cóhoạt động dạy học), động viên khích lệ học sinh tích cực học tập Giáo viên chủnhiệm là cố vấn tổ chức hoạt động tự quản của tập thể học sinh, bởi vì học sinhTHPT là lứa tuổi cuối thiếu niên, đầu thanh niên, lứa tuổi đang khẳng định mình,giàu mơ ước, bước đầu có kinh nghiệm sống, có khả năng tự quản, tổ chức hoạtđộng tập thể Tuy nhiên vẫn là lứa tuổi mong muốn lớn hơn khả năng, muốn khẳngđịnh nhưng chưa đủ mọi mặt về kinh nghiệm, tri thức Khi có thành công thì dễ tựtin quá mức nhưng khi gặp thất bại thì dễ dao động, lòng tự tin bị giảm sút Xuấtphát từ nhưng đặc điểm đó của tâm lý lứa tuổi, việc giáo viên chủ nhiệm địnhhướng giáo dục cho học sinh là rất cần thiết

Giáo viên chủ nhiệm phải làm cho học sinh xác định rõ động cơ học tập, đểcác em tự giác trong học tập và rèn luyện, tránh để tình trạng học sinh trong lớp đếntrường vì bố, mẹ ép buộc Giáo viên chủ nhiệm phải biết chọn ban cán sự lớp có uytín, trách nhiệm, có năng lực và bản lĩnh, có tính kỷ luật cao, gương mẫu đi đầutrong các hoạt động của lớp, ban cán sự lớp cùng ban cán sự bộ môn có khả nănggiúp đỡ học sinh trong lớp làm các bài tập khó trước mỗi giờ học

Đối với học sinh các lớp cuối cấp THPT thì việc học như thế nào, đầu tưnhiều thời thời gian hơn để học những môn gì, khối nào là rất quan trọng vì nóquyết định đến việc lựa chọn ngành nghề, tương lai của mỗi con người Tuy nhiênkhông để học sinh học lệch, học tủ (chỉ chú trọng các môn thi đại học, cao đẳng) mà

bỏ qua hoặc xem nhẹ các môn học khác Vì vậy giáo viên chủ nhiệm phải phối hợpchặt chẽ với giáo viên bộ môn để biết được khả năng của từng học sinh từ đó tưvấn, định hướng cho học sinh, lựa chọn khối thi, tường thi, ngành nghề phù hợptrong tương lai của mỗi học sinh Giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên liên hệ,phối hợp với phụ huynh học sinh thông qua điện thoại, email, mạng xã hội (nếu có)

Trang 15

để thông báo kịp thời về tình hình học tập và rèn luyện của học sinh Thường xuyênnhắc nhở phụ huynh học sinh quản lý các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí ởngoài trường, nhất là giám sát việc tự học ở nhà của học sinh.

7.3.3 Vai trò của tổ trưởng chuyên môn

Theo điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ

thông có nhiều cấp học thì: “Mỗi tổ chuyên môn có tổ trưởng, từ 1 đến 2 tổ phó chịu

sự quản lý chỉ đạo của Hiệu trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm trên cơ sở giới thiệu của

tổ chuyên môn và giao nhiệm vụ vào đầu năm học.”

Tổ chuyên môn có những nhiệm vụ sau: “Xây dựng và thực hiện kế hoạch

hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường; Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học và các quy định khác hiện hành”.[5;10]

Tổ trưởng chuyên môn giúp hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trực tiếp điều hànhcác hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của nhà trường, thực hiện kế hoạch chươngtrình dạy học Tổ trưởng trực tiếp quản lý giáo viên của tổ theo nhiệm vụ, quyềnhạn đã quy định Tổ chuyên môn là đầu mối để hiệu trưởng quản lý các hoạt độngchuyên môn, nghiệp vụ trong nhà trường (chủ yếu là hoạt động dạy học) Vì vậy tổtrưởng chuyên môn phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch, điều hành tổchức hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của

Bộ giáo dục và đào tạo, chương trình giáo dục địa phương do Sở giáo dục và đàotạo quy định đối với cấp THPT và kế hoạch năm học của nhà trường; tổ chức bồidưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ

Tổ trưởng chuyên môn phải là người nắm chắc hoạt động học tập của học sinhđối với các bộ môn mà tổ chuyên môn phụ trách, thông qua việc dự giờ các giáo viêntrong tổ, nhóm chuyên môn Tổ trưởng chuyên môn phải căn cứ vào kết quả kiểm trathường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra khảo sát chất lượng do nhà trường hoặc Sởgiáo dục và đào tạo tổ chức để đánh giá kết quả học tập của học sinh Trong trườngTHPT mỗi tổ chuyên môn thường là một môn hoặc một số môn học gần nhau đượclập thành một tổ chuyên môn Trường hợp tổ chuyên môn gồm nhiều môn học thì tổ

Trang 16

trưởng chuyên môn phải có các tổ phó chuyên môn hoặc trưởng bộ môn là nhữngngười có năng lực chuyên môn sâu của môn học giúp tổ trưởng phân tích đánh giáchính xác kết quả học tập của từng môn do tổ chuyên môn phụ trách Chỉ ra nguyênnhân của những tồn tại, hạn chế, yếu kém, cũng như nhưng điểm mạnh của từng môn

từ đó đưa ra những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng chuyên môn

7.3.4 Vai trò của hiệu trưởng

Hiệu trưởng là người quản lý cao nhất trong mỗi nhà trường là người chịu

trách nhiệm cao nhất về các hoạt động giáo dục trong nhà trường Theo mục e Điều

19 Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông

có nhiều cấp học thì hiệu trưởng: “Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh

do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh.” [5;11]

Hiệu trưởng quản lý giáo viên thực hiện chương trình dạy học bằng cáchcùng với Phó hiệu trưởng xây dựng các kế hoạch Như kế hoạch thực hiện nhiệm vụnăm học, kế hoạch chuyên môn, kế hoạch hoạt động của các phòng học bộ môn, thưviện, phòng thí nghiệm kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp, kế hoạch giáo dụcnghề phổ thông, kế hoạch học tập của học sinh, xếp thời khóa biểu Thông qua các

kế hoạch để đưa ra thời gian thực hiện, đôn đốc, theo dõi, giám sát giáo viên thựchiện kế hoạch

Hiệu trưởng quản lý hoạt động dạy học của giáo viên thông qua việc dự giờthăm lớp, tổ chức bồi dưỡng giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học, đổi mớiphương pháp kiểm tra đánh giá, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Phátđộng các phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học của giáo viên

và học sinh Tổ chức các kỳ thi do nhà trường tổ chức

Đối với hoạt động học tập của học sinh THPT: Hiệu trưởng quản lý hoạtđộng học tập của học sinh phải thấy rõ vai trò của hoạt động học tập Học tập làmột hoạt động nhận thức chỉ khi học sinh có nhu cầu hiểu biết, nhu cầu khám pháthì học sinh mới tích cực học tập Nhu cầu hiểu biết là động cơ nhận thức của học

Trang 17

sinh trong học tập Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy học.

Vì vậy, quản lý hoạt động học của học sinh là khâu quan trọng góp phần nâng caochất lượng dạy học trong nhà trường Việc quản lý trong hoạt động học tập của họcsinh đặt ra với hiệu trưởng không chỉ ở lĩnh vực khoa học giáo dục mà còn đòi hỏi có

ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của nhà quản lý giáo dục đối với sự nghiệp đào tạothế hệ trẻ

Muốn quản lý tốt hoạt động học tập của học sinh người hiệu trưởng phải xâydựng nội quy học tập của học sinh, phát động phong trào thi đua học tập trong nhàtrường Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, tổ chuyên môn, xây dựng

kế hoạch học tập cho học sinh trong lớp cũng như trong toàn trường

Hiệu trưởng chỉ đạo công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường để quản lýhoạt động học tập của học sinh ở nhà

Hiệu trưởng phối hợp với các lực lượng xã hội, chính quyền địa phương đểquản lý hoạt động học tập của học sinh ở ngoài trường

Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chức kiểm tra đánh giá hoạt động học tập của họcsinh đảm bảo tính công bằng, khách quan, đảm bảo tính toàn diện, thường xuyên, có

hệ thống và đảm bảo tính phát triển của học sinh Đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáodục

Thông qua các kỳ thi khảo sát chất lượng, thi chọn đội tuyển học sinh giỏicủa nhà trường có hình thức động viên khen thưởng, khích lệ những học sinh đạtthành tích cao trong học tập

7.3.5 Vai trò của gia đình

Trên thực tế chúng ta thấy mỗi ngày học sinh chỉ học ở trường khoảng 4-5tiết học Thời gian còn lại chủ yếu các em sinh sống, lao động, sinh hoạt, giải trí,vui chơi ở gia đình hoặc ngoài xã hội Như vậy khoảng thời gian học sinh ở ngoàinhà trường là rất dài và vô cùng quý báu với đối với việc học tập của học sinhTHPT Nếu gia đình quản lý giáo dục không tốt, ý thức tổ chức kỷ luật không caothì khoảng thời gian này sẽ vô cùng lãng phí vô ích với các em học sinh Vì vậy giađình phải có trách nhiệm nhắc nhở, theo dõi, giám sát thường xuyên thời gian họctập của học sinh ở nhà Đây là khoảng thời gian học sinh học bài cũ, làm các bài tập

Trang 18

về nhà mà các thầy cô giáo giao cho và giải quyết các vấn đề liên quan đến bài họctrong khoảng thời gian trên lớp chưa giải quyết được.

Khi nói đến vai trò của gia đình, ở một khía cạnh khác thì khoảng thời gian ởnhà các em còn sử dụng vào việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp Chuẩn bị bài trướckhi lên lớp là khâu không thể thiếu được trong toàn bộ quá trình học tập của họcsinh nó có ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả học tập của học sinh Chuẩn bị bàitrước là quá trình chuẩn bị tốt những kiến thức của bài cũ đồng thời đọc trước bàimới tìm hiểu trước nội dung của bài học ngày hôm sau Khi đã có đầy đủ kiến thứccủa bài cũ và tìm hiểu trước bài mới thì đến lớp sẽ tạo ra hứng khởi, say mê học tậpcủa mỗi học sinh

Như vậy gia đình có vai trò rất quan trọng đối với khoảng thời gian ở nhàcủa học sinh Nếu gia đình biết quan tâm nhắc nhở giám sát chỉ bảo đúng cách thìhọc sinh sẽ tận dụng được tối đa khoảng thời gian đó vào việc học tập Ngược lạinếu gia đình không quan tâm, giám sát được khoảng thời gian ở nhà của mỗi họcsinh thì khoảng thời gian đó trở nên vô nghĩa

7.3.6 Vai trò chủ động của học sinh

Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh, học tập là quá trình tự

tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình Như vậy hoạt động học chỉđạt hiệu quả khi người học tự giác, chủ động, tích cực Trong tâm lý của người họcnói chung thì chỉ khi nào hiểu bài mới ham học, thích học, mới hứng thú học Vìvậy thầy giáo phải biết động viên, kích thích lòng ham học, nhu cầu học tập của họcsinh, thường xuyên giao bài tập cho học sinh từ đó sẽ tạo ra cho học sinh một thóiquen học tập chuyển từ trạng thái bị động sang trạng thái chủ động học tập Chỉ khinào hoạt động học trở thành hoạt động chủ động của học sinh thì quá trình dạy học

mới đạt kết quả

7.4 Điều kiện để học sinh học tập tốt

7.4.1 Điều kiện kinh tế gia đình

Chúng ta không thể phủ nhận vai trò kinh tế gia đình đối với kết quả học tậpcủa học sinh Kinh tế gia đình trở thành điều kiện để học sinh có thể học tập tốt Vaitrò của kinh tế gia đình ở đây được nói đến chủ yếu là cơ sở vật chất Một gia đình

Trang 19

có điều kiện kinh tế sẽ có điều kiện mua sắm trang bị cơ sở vật chất tốt nhất phục vụcho việc học tập của học sinh như mua sắm phương tiện đi lại, hoặc nối mạngInternet để các em có điều kiện truy cập tìm hiểu khám phá kho tàng kiến thứckhổng lồ của nhân loại Ngoài ra những gia đình có điều kiện kinh tế cũng giúp chohọc sinh có một chế độ dinh dưỡng đảm bảo sức khỏe cả về thể lực và trí lực đểphục vụ cho việc học tập Những gia đình có điều kiện kinh tế còn giúp cho các em

có môi trường, không gian học tập riêng

Như vậy, kinh tế gia đình là một điều kiện có ảnh hưởng đến kết quả học tậpcủa các em học sinh

7.4.2 Sự quan tâm của cha mẹ

Khi nói đến điều kiện học tập tốt của các em học sinh không thể không nóiđến trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái Trách nhiệm của cha mẹ đối với concái được quy định rõ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em; Trong Luật Hônnhân và gia đình Luật số 22/2000/QH10 ngày 9/6/2000 tại Điều 34 quy định: “Cha

mẹ có nghĩa vụ và quyền yêu thương, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của con; chăm lo học tập và giáo dục để con phát triển lànhmạnh về thể chất trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình,công dân có ích cho xã hội

Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi; hành hạ; xúcphạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; khôngđược xúi giục; ép buộc con làm những việc trái pháp luật; trái đạo đức xã hội”

Ngoài ra cha mẹ phải có trách nhiệm giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiệncho con học tập

Phương pháp giáo dục đúng đắn của gia đình là phải tạo ra bầu không khí giađình đầm ấm, tạo điều kiện để con cái nói lên chính kiến của mình, phải quan tâmchăm sóc, nuôi dưỡng, chỉ dẫn để các em hình thành và phát triển nhân cách, trí tuệmột cách toàn diện

7.4.3 Thầy giáo, nhà trường

Để có kết quả học tập tốt thì học sinh phải được học tập trong một môi trường tốt.Môi trường học tập tốt ở đây gồm hai điều kiện là thầy giáo và nhà trường

Trang 20

Trong hoạt động dạy học người thầy đóng vai trò tổ chức, điều khiển hoạtđộng học tập của học sinh Dưới sự tổ chức điều khiển hoạt động học tập của ngườidạy người học tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thu nhận,

xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân Qua đó người họcthể hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình Để làm tốtvai trò của người thầy ngoài yêu cầu về trình độ chuyên môn thì người thầy phải cólương tâm nghề nghiệp, hết sức tận tâm, tận lực với học trò Có như vậy người thầymới có thể đem lại kết quả học tập tốt cho học sinh

Nhà trường là môi trường học tập của học sinh, nhà trường phải thực hiệnnhiệm vụ dạy học để đạt mục tiêu dạy học Một nhà trường có bề dày truyền thống

là nhà trường có đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, nhà trường đã đạt được nhiềuthành tích trong dạy học và giáo dục Kết quả của một nhà trường tốt được đo bằngchất lượng đội ngũ, chất lượng học sinh Để có chất lượng tốt trong một nhà trườngthì vai trò của người Hiệu trưởng hết sức quan trọng Người Hiệu tưởng phải xâydựng chiến lược phát triển nhà trường phù hợp với điều kiện thực tiễn khách quan,

đề ra mục tiêu giáo dục đúng đắn, có những biện pháp để nâng cao chất lượng họctập của học sinh Động viên khích lệ giáo viên không ngừng học tập để nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ

Theo Triết học Mác - Lê Nin quá trình nhận thức của con người là: "Từ trựcquan sinh động đến tư duy trìu tượng, từ tư duy trìu tượng đến thực tế, đó là con đườngbiện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan"

Trang 21

Trong quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cáimới cho nhân loại mà chủ yếu là tái tạo những tri thức sẵn có mà nhân loại đã tạora.

Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm.Thử và sai như quá trình nhận thức của loài người nói chung mà diễn ra theo conđường đã được khám phá trước, được những nhà biên soạn chương trình, nội dungdạy học gia công sư phạm Vì vậy trong một khoảng thời gian nhất định học sinh

có thể lĩnh hội được khối lượng tri thức lớn nhất một cách thuận lợi

Để quá trình học diễn ra theo đúng bản chất của nó phụ thuộc vào nhiều yếu

tố khác nhau như: Tâm lý người học, người học có thực sự thích học không, có xácđịnh rõ mục tiêu học tập không, có quan tâm đến việc học tập không, có tận dụnghết thời gian để học tập hay không, có phương pháp học tập hiệu quả không Những yếu tố này xuất phát từ bản thân người học và là điều kiện để đảm bảo choquá trình học tập được diễn ra thuận lợi, thu được kết quả cao nhất

- Động cơ, ý thức: Người học phải xác định hoạt động học tập là hoạt độngcủa bản thân Học cho mình, cho gia đình, cho nhà trường và cho xã hội

- Kiên trì chuyên cần: Quá trình học tập là sự cần mẫn khổ luyện của ngườihọc vì vậy nếu người học không kiên trì không chuyên cần sẽ không có kết quả

- Phương pháp học: Phương pháp học tập đúng đắn sẽ giúp cho quá trình họcđạt kết quả cao nhất bằng thời gian ngắn nhất, phương pháp học tập trên lớp,phương pháp học tập ở nhà, phương pháp tự học

7.4.5 Bạn bè

Bạn bè là một nhân tố có tác động đến bản thân người học và là một yếu tốtrong một môi trường học tập Có những trường học mà ở đó phong trào học tập củahọc sinh rất phát triển nhưng có những trường phong trào học tập của học sinhkhông được đẩy mạnh Điều này cho thấy bạn bè là một yếu tố tạo nên môi trườnghọc tập Trong một nhà trường học sinh có nền nếp, có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, cónền tảng kiến thức cơ bản vững chắc thì đó sẽ là một môi trường học tập tích cựccho học sinh Những học sinh học yếu, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao nếu học tậptrong một môi trường tốt thì buộc học sinh đó phải cố gắng, phấn đấu, nỗ lực để

Trang 22

theo kịp bạn bè Đặc biệt nếu được sự quan tâm của thầy cô, tạo điều kiện để các emhọc khá, giỏi giúp đỡ các em học sinh yếu kém thì chắc chắn sẽ đem lại kết quả họctập tốt Từ đó tạo ra môi trường học tập lý tưởng cho mỗi học sinh.

7.5 Quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT

Quản lý hoạt động học tập của học sinh là công việc của thầy cô giáo, nhàtrường với toàn bộ tiến trình, nội dung hoạt động học tập của học sinh, trong đó cầnchú ý các mặt sau đây:

- Quản lý việc sử dụng quỹ thời gian, sự chuyên cần của học sinh: Để quản

lý hoạt động học tập của học sinh giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm phải phốihợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể trong và ngoài trường quản lý quỹ thời gianhọc tập ở nhà của học sinh Đây là thời gian rất quan trọng để học sinh chuẩn bị bàimới và học tập bài cũ trước khi lên lớp

- Tổ chức truy bài trước giờ học: Là cách thức mà giáo viên chủ nhiệm trựctiếp hoặc thông qua đội ngũ cán sự lớp để nắm bắt được tình hình học tập bài cũ vàchuẩn bị bài mới của học sinh Phát huy tốt giờ truy bài sẽ giúp cho quá trình họctập của học hình thành đạt hiệu quả

- Rèn học sinh thói quen tập trung chú ý trong giờ học: Quá trình học trênlớp hết sức quan trọng nếu học sinh không chú ý học tập, không tập trung trí tuệ vàoviệc học sẽ không thể tiếp thu bài học Vì vậy giáo viên bộ môn phải quản lý tốt giờhọc trên lớp của mình

- Rèn học sinh thói quen tự học: Trong quá trình học tập của học sinh thì tựhọc là yếu tố quan trọng thực tế cho thấy những học sinh có ý thức tự học tốt thìthường có kế quả học tập cao Quá trình tự học của học sinh diễn ra dưới sự hướngdẫn của giáo viên như giao bài tập để học sinh làm, tự tìm hiểu tài liệu tham khảoliên quan đến môn học, bài học và cả quá trình chuẩn bị bài trước khi học bài mới

- Hướng dẫn học sinh phương pháp tự học: Phương pháp học tập là yếu tốquan trọng, giáo viên hướng dẫn học sinh các phương pháp học tập học sinh lựachọn phương pháp học tập hiệu quả nhất để áp dụng cho mình

Trang 23

- Cung cấp tài liệu: Giáo viên bộ môn khi dạy học cung cấp cho học sinh tàiliệu hoặc danh mục tài liệu tham khảo để học sinh tìm đọc sẽ giúp cho quá trình họctập của học sinh đạt kết quả cao hơn.

- Cung cấp đủ phương tiện học tập: Phương tiện là yếu tố cần thiết giúp choquá trình học tập đạt kết quả tốt

- Tạo môi trường thi đua: Học sinh được học tập trong một môi trường tốt sẽ thiđua học tập tốt Vì vậy phải tạo môi trường học tập để học sinh thi đua với nhau tạo ramôi trường học tập tốt, học sinh thích đi học, không sợ học

Quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT là nhiệm vụ của các thànhviên trong nhà trường:

- Giáo viên bộ môn là người trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học của họcsinh, phải nắm được tình hình học tập của từng học sinh, điểm mạnh, điểm yếu củatừng học sinh để từ đó có phương pháp giáo dục phù hợp, phát huy những điểmmạnh của từng học sinh đồng thời khắc phục những điểm yếu cho mỗi học sinh

Giáo viên bộ môn phải hướng dẫn học sinh phương pháp học tập bộ môn củamình, phải thường xuyên kiểm tra đánh giá tình hình học tập của học sinh, độngviên, đôn đốc, nhắc nhở những học sinh chưa thực sự tích cực trong học tập đồngthời cũng phải động viên khuyến khích, khen ngợi những học sinh đã tích cực tronghọc tập

Giáo viên bộ môn phải phối hợp với các giáo viên bộ môn khác, giáo viênchủ nhiệm, các tổ chức trong và ngoài trường để quả lý hoạt động học tập của họcsinh

- Giáo viên chủ nhiệm lớp: Phải nắm chắc tình hình học tập của học sinhtrong lớp, phải phân tích, đánh giá kết quá học tập của lớp, của từng học sinh thôngqua các bài kiểm tra, các kỳ thi do nhà trường do ngành tổ chức Phối hợp với cácgiáo viên bộ môn, các tổ chức, đoàn thể trong và ngoài trường để quản lý hoạt độnghọc tập của học sinh Phải thường xuyên phối hợp với gia đình học sinh để quản lýhoạt động học tập của học sinh ở trên lớp, ở ngoài trường và ở gia đình thông qua sổliên lạc (sổ liên lạc điện tử, Email, điện thoại mạng xã hội nếu có) Phân các nhóm

Trang 24

học tập cho học sinh phù hợp Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch học tập cholớp chủ nhiệm.

- Tổ trưởng chuyên môn: Giúp Hiệu trưởng điều hành các hoạt động chuyênmôn, nghiệp vụ của nhà trường liên quan đến việc dạy và học Là người trực tiếpquản lý giáo viên tổ chuyên môn Là người trực tiếp chịu trách nhiệm trước Hiệutrưởng về chất lượng chuyên môn của tổ chuyên môn Do vậy tổ trưởng chuyênmôn phải là người nắm chắc tình hình học tập của học sinh từ đó có kế hoạch bồidưỡng giáo viên, bồi dưỡng học sinh khá giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém để nângcao chất lượng học tập của học sinh ở những bộ môn mà tổ chuyên môn phụ trách

Tổ trưởng chuyên môn phối hợp với ban chuyên môn nhà trường lựa chọn, phâncông giáo viên bộ môn hướng dẫn học sinh phương pháp học tập

Tổ trưởng tổ chuyên môn phải là người nắm chắc đặc điểm tâm lý, chấtlượng học tập của học sinh ở những môn mà tổ chuyên môn quản lý để kịp thờiđộng viên, khuyến khích, uốn nắn, nhắc nhở giáo viên, sớm đưa ra biện pháp quản

lý hoạt động học tập của học sinh nhằm đạt kết quả cao nhất Xây dựng kế hoạch tổchuyên môn, chỉ đạo thực hiện kế hoạch

- Phó hiệu trưởng: Giúp hiệu trưởng quản lý hoạt động học tập của học sinhtrong và ngoài nhà trường, nắm chắc tình hình học tập, kết quả học tập của học sinhtrong trường thông qua việc tổng hợp kết quả các bài kiểm tra thường xuyên, bàikiểm tra định kỳ, kết quả kiểm tra khảo sát chất lượng học sinh vào đầu năm học,giữa kỳ, cuối học kỳ, cuối năm học Từ số liệu của các kỳ kiểm tra, khảo sát phântích, đánh giá để tham mưu cho hiệu trưởng đưa ra những biện pháp quản lý hoạtđộng học tập của học sinh nhằm đạt kết quả cao Phân công các giáo viên có nănglực chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm dạy học hướng dẫn học sinh phươngpháp học tập Xây dựng các kế hoạch của nhà trường, chỉ đạo kiểm tra việc thựchiện kế hoạch

Vai trò của Hiệu trưởng: Hiệu trưởng là người quản lý cao nhất hoạt độnghọc tập của học sinh trong nhà trường Hiệu trưởng quản lý hoạt động học tập củahọc sinh thông qua các Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên chủnhiệm, giáo viên bộ môn và qua ban đại diện cha mẹ học sinh của nhà trường

- Hiệu trưởng quản lý hoạt động học tập của học sinh thông qua việc xâydựng kế hoạch, triển khai kế hoạch, kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch Hiệu

Trang 25

trưởng quản lý hoạt động học tập của học sinh thông qua việc xây dựng nội quy họctập của nhà trường, phát động các phong trào thi đua: " Dạy tốt - học tốt" Đồng thời cóhình thức động viên khen thưởng đối với những học sinh đạt thành tích cao trong họctập Phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong và ngoài trường, các cấp chính quyền địaphương, ban đại diện cha mẹ học sinh quản lý hoạt động học tập của học sinh.

Qua những nét khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề, các khái niệm cơ bảncủa đề tài, một số đặc trưng chủ yếu quản lý hoạt động học tập của học sinh THPTkhu vực miền núi, trên cơ sở nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động học tập củahiệu trưởng đối với học sinh THPT, mối quan hệ của hiệu trưởng với các thànhphần khác cùng tham gia quản lý hoạt động học tập của học sinh chúng tôi có rút rakết luận bước đầu như sau:

Hoạt động học tập nói riêng cùng với hoạt động giáo dục là hoạt động cơbản, chủ đạo đối với học sinh THPT Để đạt được mục tiêu dạy học người hiệutrưởng cần phải có biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh một cách khoahọc, phù hợp với thực tiễn khách quan

Đối với khu vực miền núi còn có nhiều khó khăn hơn các khu vực khác, vềđiều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, trình độ dân trí, văn hóa thấp Giao thông khôngthuận lợi, sự quan tâm của gia đình đối với con cái còn ít vì vậy người hiệu trưởngcần phải quan tâm sâu sắc tới việc quản lý hoạt động học tập của học sinh

Khu vực miền núi là khu vực có đặc thù riêng về vị trí địa lí, văn hóa, dân trínên hoạt động dạy học, nhất là quản lý hoạt động học tập của học sinh cũng cần cónét đặc thù riêng Các biện pháp quản lý hoạt động học tập của hiệu trưởng sẽ quyếtđịnh đến chất lượng dạy học của nhà trường, kết quả học tập của học sinh

Tuy nhiên các vấn đề trình bày ở trên chỉ là những tri thức lý luận về các biệnpháp quản lý hoạt động học tập phù hợp và khả thi đối với học sinh THPT khu vựcmiền núi Để tìm hiểu sâu sắc về hoạt động học tập của học sinh THPT khu vực miềnnúi chúng tôi sẽ đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh THPTkhu vực Miền núi tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

7.6 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của học sinh THPT khu vực miền núi tỉnh Vĩnh Phúc

Biện pháp 1: Lập kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh

- Mục tiêu biện pháp:

Trang 26

Kế hoạch hóa quản lý hoạt động học tập của học sinh nhằm nâng cao chấtlượng hiệu quả giáo dục toàn diện, phát huy giáo dục mũi nhọn trong các trườngtrung học phổ thông Việc xây dựng kế hoạch sát với thực tiễn nhằm khắc phục tìnhtrạng học tủ, học lệch của học sinh.

Kế hoạch nhiệm vụ năm học của nhà trường là căn cứ để giáo viên chủnhiệm, giáo viên bộ môn xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch chuyên mônnhằm nâng cao chất lượng học tập Đối với học sinh khi xây dựng kế hoạch học tậpcho bản thân là cần thiết nhưng kế hoạch phải linh hoạt, dễ thực hiện, không cứngnhắc

- Nội dung biện pháp:

Hoạt động học tập là của bản thân học sinh nhưng để kế hoạch học tập đạtkết quả trước hết là giáo viên bộ môn phải bám sát nội dung chương trình môn học,cấp học, xây dựng kế hoạch học tập cho bộ môn của mình Trong kế hoạch học tậptùy theo đối tượng học sinh của từng lớp mà đề ra các yêu cầu cụ thể

Đối với những học sinh khá giỏi, giáo viên bộ môn có kế hoạch bồi dưỡng,định hướng riêng; còn đối với những học sinh yếu kém, giáo viên bộ môn cũng phải

có kế hoạch phụ đạo riêng, hướng dẫn học sinh học tập để đạt được mặt bằng kiếnthức cơ bản của cấp học

Tổ trưởng chuyên môn quản lý hoạt động học tập của tổ thông qua các giáoviên bộ môn Tổ trưởng chuyên môn phải xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn trong

đó có mục quản lý nâng cao hoạt động dạy học của bộ môn mà tổ chuyên môn quảnlý

Tổ chuyên môn đánh giá kết quả học tập của học sinh qua điểm các bài kiểm trađịnh kì, các bài kiểm tra khảo sát của nhà trường, qua các kì thi chọn đội tuyển học sinhgiỏi hoặc qua kiểm tra học sinh theo tiêu chuẩn quốc tế Pisa

Hiệu trưởng quản lý hoạt động học tập của học sinh thông qua các kế hoạch.Hiệu trưởng bám sát kế hoạch để kiểm tra đánh giá việc thực hiện của tổ chuyênmôn, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn

Đối với cha mẹ học sinh, phải tạo điều kiện về thời gian để con cái học tập,không bắt con em lao động quá sức dẫn đến tình trạng mệt mỏi không học tập được

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tổng kết năm học của các trường THPT huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc từ năm (2010 – 2013) Khác
2. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, giáo trình cao học QLGD, học viện QLGD, Hà Nội Khác
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Thông tư 29/2009/TT – BGDĐT, Thông tư Ban hành quy định chuẩn hiệu trưởng trường THCS trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học Khác
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư 55/2011/TT – BGDĐT, Điều lệ ban đại diện cha mẹ học sinh Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư 12/2011/TT – BGDĐT, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học Khác
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư 12/2011/TT – BGDĐT, Thông tư Ban hành quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT Khác
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư 12/2011/TT – BGDĐT, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học Khác
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư 09/2012/TT – BGDĐT, Thông tư Ban hành quy chế tuyển sinh đại học cao đẳng hệ chính quy Khác
9. Nguyễn Hữu Châu, (2003), Dạy học toán ở trường phổ thông theo quan điểm kiến tạo, tạp chí giáo dục, số 60 Khác
10. Phạm Khắc Chương (1997), J.A. Comenxki – Ông tổ của nền sư phạm cận đại, Nxb giáo dục. Hà Nội Khác
11.Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1989), Nghị quyết số 44-25 Đại hội đồng liên hợp quốc Khác
12. Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2012), Quyết định 711/QĐ – TTG, Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 Khác
13. Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012) Quyết định 30/2012/QĐ – TTG, Quyết định về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 – 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w