1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyên đề một số GIẢI PHÁP PHỤ đạo học SINH yếu kém môn SINH học 8

18 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 44,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những thực tế trên, ngay từ đầu năm học, các tổ chuyên môn của trường chúng tôi luôn chú ý quan tâm đến việc tìm “giải pháp để khắc phục học sinh yếu, kém”, luôn tìm ra những biện ph

Trang 1

Họ và tên : Nguyễn Thị Tuyết

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị: Trường THCS Hoàng Hoa

Tên chuyên đề:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM

MÔN SINH HỌC 8

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề học sinh yếu kém hiện nay luôn được xã hội quan tâm và tìm giải pháp khắc phục Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì người giáo viên không những chỉ biết dạy mà còn phải biết nghiên cứu những phương pháp tối

ưu nhất, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém

Giúp học sinh yếu, kém củng cố kiến thức cơ bản, bổ trợ những kiến thức học sinh bị hỏng từ các lớp dưới

Đồng thời giúp các em có thói quen độc lâp suy nghĩ, tự giác trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hạn chế học sinh lưu ban Thực hiện tốt “Nói không với học sinh ngồi nhầm lớp”

Với những thực tế trên, ngay từ đầu năm học, các tổ chuyên môn của trường chúng tôi luôn chú ý quan tâm đến việc tìm “giải pháp để khắc phục học sinh yếu, kém”, luôn tìm ra những biện pháp nhằm dẫn dắt các em học tốt hơn,… Đây sẽ là nền tảng, là động lực thúc đẩy các em tiếp thu bài đầy đủ, trau dồi tri thức và tiếp tục vươn xa trên con đường học vấn của mình Tạo điều kiện tốt cho việc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực

Đó chính là lý do mà trường chúng tôi muốn trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp,… để tìm ra giải pháp tốt nhất giúp đỡ học sinh yếu, kém để nâng dần chất lượng

III Đối tượng:- Học sinh lớp 8.

- Số tiết dạy: 18 tiết

IV Thực trạng chất lượng môn sinh học 8 của nhà trường năm học 2018 – 2019.

Năm học 2018-2019, tôi được phân công dạy môn Sinh học khối 8 Qua kết quả khảo sát đầu năm có đến 21,1% học sinh yếu-kém

Số HS

Trang 2

lượng đầu

năm

V Những vấn đề khó khăn học sinh yếu kém thường gặp trong chương trình Sinh 8.

1 Đặc điểm Sinh 8.

Cấu trúc trong SGK hiện nay, nội dung dành cho nghiên cứu lí thuyết là chủ yếu, kiến thức vận dụng vào thực tiễn còn hạn chế nên khả năng tiếp thu của học sinh còn yếu Đặc biệt với môn Sinh học lớp 8, là môn khoa học tự nhiên nghiên cứu về cơ thể người với kiến thức trừu tượng, khó hình dung đã làm cho học sinh gặp khó khăn đối với môn học này

2 Đặc điểm học sinh.

Ở độ tuổi này, học sinh đang bước vào giai đoạn dậy thì, giai đoạn quá độ chuyển từ thiếu niên sang thanh niên nên cơ thể phát triển mạnh về kích thước và thể lực, đồng thời có những chuyển biến mạnh mẽ về mặt sinh lí Chính những chuyển đổi đó ở các em là những vấn đề kích thích nhu cầu tìm hiểu về bản thân mình Đồng thời, sự phát triển cơ bắp khiến các em ham thích được hoạt động, tính năng động cao Tuy nhiên, mức độ phát triển của hệ thần kinh chưa đạt đến sự hoàn thiện, do đó các em chóng mệt mỏi, dễ hưng phấn song cũng dễ chuyển sang trạng thái ức chế khi phải tiếp thu bài một cách thụ động, kém hào hứng, khi sử dụng những phương pháp không đòi hỏi phải hoạt động não và hoạt động học tập tích cực, với hình thức học tập đơn điệu

3 Cơ sở vật chất:

Đồ dùng, dụng cụ: Mô hình, tranh vẽ, đã cũ, hỏng hóc nhiều và còn thiếu nhiều nên chưa đáp úng được cho công tác giảng dạy của giáo viên

4 Về gia đình:

Đa số các gia đình phụ huynh có hoàn cảnh khó khăn và trình độ nhận thức của phụ huynh còn hạn chế nên phần lớn phụ huynh chỉ quan tâm theo cách riêng của mình như tạo điều kiện cho con em mình đến lớp Nhưng chưa có biện pháp theo dõi quá trình đi học, chưa có biện pháp giúp con học ở nhà, chưa kiểm tra được khả năng tiếp thu của con em ở trường học cũng như chưa kiểm tra thời gian học hành của con em tại nhà Dẫn đến chất lượng học tập không cao Đây là những nguyên nhân không nhỏ trong việc giảng dạy của giáo viên ở nhà trường

Với sự đổi mới về chương trình thay SGK hiện nay và sự nhận thức của phụ huynh còn có giới hạn nên không nắm được kịp thời về việc học tập của con em mình Từ đó chấp nhận thực tế chăm sóc con mình theo một phía, còn lại là giao hẳn cho thầy, cô giáo

VI Các giải pháp đã thực hiện nhằm nâng cao chất lượng học sinh yếu, kém.

1 Về học sinh.

Trang 3

+ Khách quan:

- Giáo viên giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học sinh

sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn

+ Giá trị kiến thức môn sinh học:

- Giáo viên chỉ cho học sinh thấy giá trị đích thực của môn sinh học nó làm cơ sở giúp và hỗ trợ rất nhiều cho các môn học khoa học xã hội, khoa học tự nhiên khác như: Sử, Hóa, Địa,

- Giúp chúng ta rất nhiều trong việc áp dụng trong thực tế, đời sống hàng ngày

+ Tích cực chủ động trong học tập:

- Chuẩn bị tốt dụng cụ, kiến thức và xem kiến thức mới ở nhà trước khi lên lớp

- Giáo viên giới thiệu chuẩn bị kiến thức mới ở nhà và phân chia thời gian học tập

cụ thể Bên cạnh đó cần tổ chức thảo luận nhóm, trai đổi cùng các bạn ở gần nhà

để có điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

- Ở lớp biết tổ chức nhóm thảo luận trao đổi, giúp đỡ nhau, em khá kèm em yếu đẻ cùng nhau tiến bộ và chiếm lĩnh tri thức

2 Giáo viên.

Để dạy tốt phụ đạo học sinh yếu kém trong lớp học đại trà giáo viên cần định hướng nội dung, kỹ năng và phương pháp cụ thể

+ Chuẩn bị:

- Giáo viên cho học sinh chuẩn bị tốt các dụng cụ, thiết bị, kiến thức bài cũ làm nền tảng vận dụng tìm ra kiến thức mới

- Giáo viên phân bố học sinh khá giỏi nhận nhiệm vụ cụ thể hỗ trợ, giúp đỡ dạy kèm thêm cho học sinh yếu kém và ngồi gần để trong quá trình thảo luận nhóm trao đổi và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ Đặc biệt, khi gọi một em trong nhóm nên ưu tiên gọi những em học sinh yếu kém, đồng thời gợi mở những câu hỏi nhẹ nhàng, khi học sinh đó trả lời được tuyên dương em đó và tuyên dương cả nhóm nhằm gây được sự khích lệ học tập của các em đó Đồng thời, thúc đẩy được tính đoàn kết hỗ trợ giúp nhau trong học tập

- Giáo viên phải nắm được tâm lý học sinh yếu kém, vì kiến thức bị hổng không theo kịp kiến thức của các bạn dẫn đến ngày càng chán nản, buông thả Từ nguyên nhân đó, giáo viên phải có một tâm lý nhẹ nhàng, phóng khoáng, không gò bó, không áp đặt, mọi tình huống luôn gợi mở Đồng thời, ưu tiên các bài tập dễ hoặc câu hỏi dễ cho các em học sinh yếu kém làm hoặc trả lời và luôn gợi mở, nhắc lại kiến thức đó dẫn đến làm được bài tập hoặc trả lời được các câu hỏi Đặc biệt, khi trả lời cần được tuyên dương trước lớp nhằm khích ngọn lửa học tập trong lòng các

em, đồng thời đẩy mạnh tư tưởng phấn đấu trong em

Trang 4

- Giáo viên tạo ra các nhóm học tập dạy kèm nhau ở nhà (phân bố các em ở nhà gần nhau), đồng thời đưa ra thi đua ở các nhóm và tổng kết tuyên dương nhóm lớp

đó sau tiết học Đây là một động lực mạnh thúc đẩy nhằm tạo được sự hòa nhã nhằm giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ

+ Tiến hành dạy:

Trước khi tiến hành giảng dạy bài mới giáo viên kiểm tra lại kiến thức cũ các

em yếu kém của các nhóm đã chuẩn bị ở nhà (kiến thức dặn dò ở tiết trước) để nhận xét, so sánh và tuyên dương gây được hưng phấn khi bước vào tiết học mới

- Trong tiết dạy giáo viên chuẩn bị các dụng cụ, tranh ảnh, hệ thống câu hỏi gợi mở sinh động, dễ hiểu cho từng đối tượng học sinh

- Giáo viên phải phân bố được thời gian và định hướng trước tình huống học sinh trả lời để có hướng chủ động giải quyết, chỉ ra những sai sót, nhầm lẫn của học sinh Đặc biệt, cần tạo ra được tình huống nhẹ nhàng, gợi mở, gây kích thích, hưng phấn trong học tập

- Khi tổ chức các nhóm phải có đủ các đối tượng như khá, giỏi, yếu, kém để có điều kiện trao đổi, hỗ trợ nhau cùng tiến bộ

- Giáo viên khắc sâu kiến thức trọng tâm và cách học và lưu nhớ kiến thức dưới dạng tổng quát cơ bản làm nền tảng cho việc vận dụng học tập và làm bài tập ở nhà

Để thực hiện dạy phụ đạo tốt và đạt hiệu quả cao thì người giáo viên phải chịu khó đầu tư, nghiên cứu từ nhiều vấn đề

- Chọn lựa, sử dụng các phương pháp, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập và phát huy khả năng tự học Hoạt động hóa việc học bằng những phương pháp dẫn dắt cho học sinh tự thân trải nghiệm chiếm lĩnh tri thức, tận dụng ưu thế của từng phương pháp dạy học tích cực, chú trọng phương pháp dạy học Phát hiện và giải quyết vấn đề thiết thực, trọng tâm cơ bản cần truyền đạt

- Tìm hiểu về đối tượng học sinh, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình để có biện pháp hỗ trợ

+ Củng cố:

- Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi để khẳng định sự nhận thức, lĩnh hội kiến thức của học sinh hoặc dưới dạng bài tập trắc nghiệm khách quan

- Hệ thống hóa kiến thức dưới dạng các câu hỏi, sơ đồ tư duy

- Hướng dẫn về nhà

Đây cũng là một mục tiêu quan trọng giúp học sinh định hướng được việc học ở nhà và chuẩn bị bài trước ở nhà

3 Nhà trường.

- Luôn có kế hoạch cụ thể cho công tác phụ đạo học sinh yếu, kém

- Quan tâm sát sao tới công tác phụ đạo học sinh

- Cùng giáo viên có biện pháp giáo dục với những học sinh có ý thức học kém

Trang 5

- Có kế hoạch dự giờ thăm lớp rút kinh nghiệm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ kịp thời

4 Gia đình

- Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình

- Cần thường xuyên quan tâm việc học tập ở trường và bố trí thời gian học ở nhà của con em mình

- Đi họp phụ huynh theo định kỳ, theo dõi sổ liên lạc để trao đổi với giáo viên

và nắm bắt kịp thời việc học tập của con em mình

- Cung cấp các dụng cụ sách vở đầy đủ để các em học tốt

5 Cách tổ chức thực hiện thực hiện phụ đạo học sinh yếu kém.

5.1.Lập danh sách, tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém.

Tiến hành lập danh sách học sinh yếu ở các lớp và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém như sau:Lười học bài, chăm học bài nhưng mau quên; chữ viết cẩu thả, khó đọc

5.2 Xây dựng kế hoạch phụ đạo phù hợp

- Sau khi tìm hiểu được nguyên nhân học sinh yếu kém của lớp, căn cứ vào định hướng phụ đạo của tổ, vào cấu trúc đề kiểm tra, thi học kì của Sở GD&ĐT cấu trúc

đề thi thời khóa biểu của lớp, giáo viên tiến hành xây dựng kế hoạch phụ đạo (trái buổi, ít nhất 1 tiết/tuần)

- Xác định rõ những trọng tâm của các chương trong chương trình Sinh hoc 8, điều tra những phần học sinh còn hổng kiến thức, hiểu sơ sài để ôn tập

- Kế hoạch dạy phụ đạo giúp học sinh yếu được lãnh đạo chuyên môn kí duyệt và

sẽ thực hiện xuyên suốt hết học kì

5.3.Tổ chức các tiết dạy phụ đạo có hiệu quả

Phụ đạo với số lượng học sinh vừa phải, quản lí học sinh chặt chẽ, thay đổi phương pháp để tạo sự hấp dẫn Theo sự thống nhất, tiết dạy phụ đạo thường tiến hành theo các bước sau:

5.3.1.Ôn tập với chủ đề.

Bước 1: Phát vấn học sinh ôn tập kiến thức trọng tâm bằng sơ đồ tư duy, đoạn clip…

Bước 2: Học sinh tái hiện lại kiến thức (bằng cách lên ghi bảng, ghi vào phiếu học tập hoặc đọc…) theo yêu cầu của giáo viên

Bước 3: Nhận xét, rút kinh nghiệm về những nội dung chưa đạt của học sinh

5.3.2 Ôn tập kiến thức kết hợp với đối thoại thực hành.

Khi ôn giáo viên tung ra các vấn đề sau đó cùng tranh luận, giải đáp với học sinh Thầy nêu trò trả lời Trò đặt vấn đề, thầy giải đáp thắc mắc, sau đó cho học sinh thực hành bài ở phần đã ôn tập Ôn tập thực hành đối thoại học sinh cảm thấy rất thoải mái như đang tham gia trò chơi tìm hiểu kiến thức Sinh học, giúp các em

Trang 6

nắm bắt kiến thức, có khả năng nhận xét đánh giá, tăng khả năng nhận xét, so sánh

5.3.3.Một số dạng câu hỏi thực hành trong ôn tập.

Để các phương pháp ôn tập trên đạt hiệu quả cao đòi hỏi người dạy phải tăng khả năng thực hành cho học sinh bằng cách trả lời trực tiếp hoặc viết bài Khi soạn câu hỏi phải đảm sự phù hợp với đối tượng học sinh và đạt các mức độ yêu cầu như nhận biết, thông hiểu, vận dụng

Sau đây là một số dạng câu hỏi phổ biến để quá trình ôn tập của học sinh đạt kết quả cao

5.3.3.1.Câu hỏi trắc nghiệm

Đây là loại câu hỏi học sinh chỉ cần điền Đ, S hoặc Khoanh tròn đáp án em cho là đúng, sắp xếp theo trình tự đúng

6 Ví dụ minh họa

Chương 2: VẬN ĐỘNG I.Mục tiêu

-Nêu được các bộ phận chính của xương,chức năng của bộ xương.Nêu đặc điểm cấu tạo chức năngcác loại khớp

-Nêu được sự dài ra và to ra của xương,phân biệt xương ngắn xương dài

-Cấu tạo bắp cơ và tế bào cơ.So sánh sự khác nhau giữa bộ xương người so bộ xương thú

-Vận dụng làm bài tập

II Chuẩn bị tài liệu thiết bị dạy học:

SGK,SGV sinh học 8,ôntập sinh học 8,để học tốt sinh học8

III Các nội dung cơ bản:

BỘ XƯƠNG

I Các phần chính của bộ xương:

Bộ xương gồm: Xương đầu, xương thân, xương chi

1, Xương đầu:gồm xương sọ và xương mặt

a, Xương sọ:gồm 8 xương dẹt, cong khớp với nhau bằng khớp bất động (khớp

răng cưa), tạo khoang chứa não

b, Xương mặt:gồm 6 đôi xương chẵn kết hợp với nhau thành một khối 3 xương lẻ

trong đó có xương hàm dưới cử động được

2, Xương thân:gồm cột sống và lồng ngực.

a, Cột sống:gồm 33 – 34 đốt xếp chồng lên nhau, ở giữa có lỗ tủy chứa tủy sống,

giữa 2 đốt sống có đĩa sụn giúp cột sống cử động dễ dàng (khớp bán động), hai bên chỗ tiết giáp 2 đốt sống có lỗ gian đốt để dây thần kinh và mạch máu đi qua

Cột sống có hình chữ S, gồm 5 đoạn ( đoạn cổ có 7 đốt, đoạn ngực có 12 đốt, đoạn thắt lưng có 5 đốt, đoạn cùng có 5 đốt dính nhau, đoạn ngực có 3 - 4 đốt dính nhau, cột sống có 4 chỗ cong làm trọng tâm cơ thể dồn về 2 chân giúp cho cơ thể đứng thẳng

b, Lồng ngực:cấu tạo bởi 12 đốt sống ngực mỗi đốt khớp với một đôi xương

sườn Có 10 đôi xương sườn trên đi từ sau ra trước nối với xương ức tạo nên lồng ngực Còn 2 đôi xương sườn dưới không nối với xương ức (xương sườn cụt) Nhờ

Trang 7

đó khi hô hấp lồng ngực có thể nâng lên, hạ xuống dễ dàng Do con người có dáng đứng thẳng nên lồng ngực không bị kẹp giữa 2 chi trước nên lồng ngưc phát triển

nở rộng ra hai bên

3, Xương chi:gồm xương chi trên và xương chi dưới có các phần tương tự nhau,

nhưng cũng có những phần khác nhau để phù hợp chức năng lao động và đứng thẳng

a, Xương chi trên: gắn với cột sống nhờ xương đai vai.

- Xương đai vai: gồm xương bả vai và xương đòn

- Xương tay: gồm xương cánh tay, xương cẳng tay (có xương trụ và xương quay), các xương cổ tay, các xương bàn tay và các xương ngón tay

b, Xương chi dưới:gắn với cột sống nhờ xương đai hông.

- Xương đai hông gồm 3 đôi là xương chậu, xương hang, xương ngồi gắn với xương cùng và gắn với nhau tạo thành xương chậu vững chắc

- Xương chân: gồm xương đùi, xương bánh chè, xương cẳng chân (có xương chày

và xương mác), các xương cổ chân ( có xương gót lớn, phát triển về phía sau), các xương bàn chân và các xương ngón chân

II Khớp xương.

Khớp xươnglà nơi tiếp giáp giữa các đầu xương

- Có 3 loại khớp xương: khớp động, khớp bán động, khớp bất động

1,

Khớp động: Cử động dễ dàng, linh hoạt Ví dụ : Khớp ở tay, chân như: Khớp

đầu gối, khớp ở cổ tay, cổ chân, … Khớp động có cấu tạo: gồm hai đầu xương, mặt khớp mỗi đầu xương có sụn trơn nhẵn, đàn hồi để giảm ma sát, có dây chằng nối hai đầu xương với nhau Giữa khớp có bao hoạt dịch (bao chứa dịch khớp) ngăn đôi hai xương và tiết ra chất dịch nhờn (giảm ma sát) giúp hai đầu xương chuyển động dễ dàng Ví dụ:Khớp đầu gối, khớp khủy tay, khớp cổ tay…

2, Khớp bán động:gồm hai đầu xương, mặt khớp mỗi đầu xương có sụn trơn nhẵn,

đàn hồi, giữa khớp có đĩa sụn làm hạn chế cử động của khớp Ví dụ:Khớp cột sống

ở trẻ em đĩa sụn đàn hồi tốt nên cột sống mềm mại, dễ uốn người già đĩa sụn dẹp lại nên cột sống cử động khó khăn

3, khớp bất động:là các khớp ở xương sọ, xương mặt Các khớp cố định nhờ các

răng cưa nhỏ hoặc mép xương lợp vẩy cá nên không cử động được

4, Ý nghĩa của các loại khớp với hoạt động của cơ thể.

Sự hình thành các loại khớp khác nhau ở các phần cơ thể thể hiện sự thích nghi giữa cấu tạo và chức năng hoạt động của cơ thể

a, Phần xương đầu:trừ xương hàm dưới duy nhât cử động nhờ khớp động, giúp

nhai, nghiền thức ăn và phát âm Các xương còn lại là khớp bất động thích nghi với các chức năng:

- Tạo hộp sọ vững chắc để chứa và bảo vệ não

- Xương mặt khớp bất động để giữ khôn mặt và nét mặt

b, Phần xương thân:gồm cột sống và lồng ngực Các xương này chủ yếu khớp

bán động, cử động hạn chế giúp thực hiện 2 chức năng:

- Bảo vệ tủy sống và các nội quan

- Hỗ trợ cử động của cơ thể như cử động hô hấp, xoay, cúi, ngửa người…

Trang 8

c, Phần xương chi:các xương khớp động với nhau cử động linh hoạt, giúp chi

dưới vừa thực hiện chức năng nâng đỡ, vừa thực hiện chức năng vận động giúp

chi trên cầm nắm, chế tạo và sử dụng công cụ lao động

CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CỦA XƯƠNG

I Cấu tạo của xương

1 Cấu tạo của xương dài

+ Hai đầu xương không có cấu tạo hình ống, mặt ngoài là lớp mô xương cứng

mỏng trong là mô xương xốp có các nan xương xếp theo hướng chịu lực và chứa

nhiều tủy đỏ Bọc hai đầu xương là lớp sụn

+ Thân xương hình ống có:

- Ngoài cùng là màng xương: là mô liên kết sinh ra mô xương để làm cho xương

phát triển

- Phần giữa là xương, mô xương cứng,

- Trong là khoang xương chứa tủy xương, ở trẻ em chứa tủy đỏ (là mô liên kết có

khả năng sinh hồng cầu), ở người già được thau bằng mô mỡ (tủy vàng)

2 Chức năng của xương dài:

Các phần của

xương

Đầu xương - Sụn bọc đầu xương

- Mô xương xốp gồm các nan xương

- Giảm ma sát trong khớp xương

- Phân tán lực tác động

- Tạo các ô chứa tủy đỏ xương Thân xương - Màng xương

- Mô xương cứng

- Khoang xương

- Giúp xương phát triển to về bề ngang

- Chiu lực, đảm bảo vững chắc

- Chứa tuỷ đỏ ở trẻ em, sinh hồng cầu; chứa tuỷ vàng ở người lớn

3 Cấu tạo xương ngắn và xương dẹt

- Ngoài là mô xương cứng

- Trong là mô xương xốp gồm nhiều nan xương chứa tủy đỏ

II Sự to ra và dài ra của xương

1, Sự to ra của xương

Xương to thêm về bề ngang là nhờ sự phân chia của các tế bào ở màng xương tạo

ra các tế bào mới đẩy vào trong và hóa xương

2, Sự dài ra của xương:

Giữa thân xương và đầu xương có một phần sáng hơn là sụn tăng trưởng để tìm

hiểu vai trò sụn tăng trưởng người ta làm thí nghiệm sau:

* Thí nghiệm: Ở bê 1 tháng tuổi: đóng 4 đinh thép vào 4 vị trí A, B, C, D ở 2 bên

sụn tăng trưởng của xương đùi bê Khi bê được 3 tháng tuổi chụp X quang, thấy

kết quả như hình trên

* Nhận xét:

+ Bê 3 tháng tuổi:

- Khoảng cách BC không thay đổi

- Khoảng cách AB và CD dài hơn của bê 1 tháng tuổi

Trang 9

* Giải thích: do giữa 2 điểm A và B, C và D có lớp sụn tăng trưởng Các tế bào

sụn tăng trưởng phân chia làm xương dài ra

* Kết luận: Xương dài ra do sự phân chia các tế bào ở lớp sụn tăng trưởng

III Thành phần hóa học và tính chất của xương

Xương có hai tính chất cơ bản là mềm dẻo (đàn hồi) và rắn chắc Để xác định thành phần hóa học và tính chất của xương, người ta tiến hành 2 thí nghiệm sau:

* Thí nghiệm 1:ngâm xương trong dung dịch HCl 10% sau 15 phút lấy ra uốn thử

thấy xương mềm

Giải thích TN1:Khi ngâm xương trong HCl 10% trong 10 – 15 phút, chất vô cơ

(Muối Can xi) tác dụng với HCl 10% tạo nên muối CaCl2 dễ tan trong nước, vì vậy trong xương chỉ còn chất hữu cơ nên xương mềm dẻo

* Thí nghiệm 2:Đốt một xương khác trên ngọn lửa đèn cồn cho đến khi không

cháy nữa,không còn thấy khói bay lên Bóp nhẹ phần xương đã đốt thấy xương tan vụn

* Giải thích TN2:khi đốt xương trên ngọn lửa đèn cồn thì chất hữu cơ bị cháy hết,

chỉ còn lại chất vô cơ, làm xương giòn, dễ gãy

* Kết luận:

+ Thành phần hóa học của xương gồm

- Chất vô cơ: Muối canxi, phốt pho chiếm 2/3 khối lượng xương

- Chất hữu cơ (cốt giao) chiếm 1/3 khối lượng xương

+ Tính chất của xương: sự kết hợp giữa chất hữu cơ và chất vô cơ làm xương rắn chắc và mềm dẻo (đàn hồi)

* Khả năng gãy xương liên quan đến lứa tuổi vì:

- Ở tuổi thiếu niên, tỉ lệ chất cốt giao (hữu cơ) nhiều hơn vô cơ (muối khoáng) nên xương mềm dẻo khó gãy Sụn tăng trưởng còn hoạt động manh mẽ nên khi xương

bị gãy thì khả năng phục hồi xương gãy nhanh

- Ở người già xương bị phân hủy nhanh hơn sự tạo thành, tỉ lệ chất cốt giao (hữu cơ) giảm, nên xương xốp, giòn dễ gãy Sụn tăng trưởng không còn hoạt động nên khi xương bị gãy thì khả năng phục hồi xương gãy diễn ra chậm, không chắc chắn

CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CỦA CƠ

I Cấu tạo bắp cơ và tế bào cơ

1, Bắp cơ:

- Bao ngoài là màng liên kết

- Ở trong gồm nhiều bó cơ, mỗi bó cơ gồm nhiều sợi cơ (tế bào cơ) được bọc trong màng liên kết

- Hai đầu bắp cơ có gân bám vào các xương qua khớp, phần giữa phình to là bụng cơ

2, Tế bào cơ (sợi cơ):gồm nhiều tơ cơ Tơ cơ gồm 2 loại là tơ cơ dày và tơ cơ

mảnh xếp xen kẽ nhau Tơ cơ mảnh thì trơn, tơ cơ dày có mấu sinh chất Tơ cơ dày

và tơ cơ mảnh xếp xen kẽ nhau tạo nên các vân sáng, tối

II Các loại cơ trong cơ thể:

Trong cơ thể gồm có 3 loại cơ là cơ vân, cơ trơn và cơ tim Các cơ này có đặc điểm khác nhau

III Tính chất của cơ.

Trang 10

* Tính chất của cơ:là co và dãn.Cơ co khi có kích thích từ môi trường và chịu sự

điều khiển của hệ thần kinh

+ Cơ chế sự co cơ:Khi có kích thích vào cơ quan thụ cảm sẽ xuất hiện xung thần

kinh theo nơron hướng tâm về trung ương thần kinh rồi theo nơron li tâm tới cơ quan phản ứng (cơ) để trả lời kích thích (co cơ).

* Ý nghĩa của hoạt động co cơ

Cơ thường bám vào xương qua khớp, khi cơ co làm xương cử động dẫn đến sự vận động của cơ thể.

HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ

I Công cơ

Khi cơ co đã tạo ra 1 lực tác động vào vật, làm vật di chuyển, tức là cơ đã sinh ra công Công của cơ được sử dụng vào các thao tác vận động và lao động.

Cách tính công của cơ:

Nếu có một lực F tác động vào vật làm vật dịch chuyển một quãng đường s theo phương của lực thì sản sinh ra một công A

A = F s

Trong đó:

- Đơn vị tính lực là niutơn,

- Độ dài s là mét,

- Công A là jun; 1J = 1 Nm)

* Hoạt động của cơ chịu ảnh hưởng của:

- Trạng thái thần kinh: tinh thần sảng khoái, ý thức cố gắng thì cơ co tốt hơn, năng suất lao động cao.

- Nhịp độ lao động: lao động với nhịp độ vừa phải thì thời gian lao động lâu hơn, lâu bị mỏi mệt.

- Khối lượng của vật di chuyển hợp lí sẽ làm việc lâu bị mỏi mệt.

- thể tích của cơ: bắp cơ lớn thì khả năng co cơ mạnh hơn.

II Sự mỏi cơ

Khi cơ được cung cấp đầy đủ oxy thì không xảy ra sự tích tụ axit láctic Khi thiếu oxy cơ vẫn co, duỗi được nhưng có sự tích tụ axit láctic và dẫn đến mỏi cơ

+ Mỏi cơ là hiện tượng cơ không đáp ứng lại khi cơ bị kích thích mà trước đó

nó đã từng đáp ứng.

Hiện tượng mỏi cơ xảy ra sau một đợt làm việc nặng nhọc kéo dài Triệu chứng mỏi cơ gây ra là cơ thể mệt nhọc, buồn ngủ, nhức đầu

1, Nguyên nhân của sự mỏi cơ

+ Nguyên nhân sự mỏi cơ: do cơ thể không được cung cấp đủ oxy nên tích tụ axit láctíc trong cơ, gây đầu độc cơ, làm cơ mỏi mệt.

- Nguyên nhân thần kinh: do tế bào thần kinh điều khiển cơ bị giảm khả năng hoạt động sau một thời gian điều khiển cơ co rút kéo dài

- Nguyên nhân do cơ: các chất dinh dưỡng có trong cơ bị huy động để tạo ra năng lượng cho co cơ bị giảm dần và một số chất thải như axit láctíc, CO2 ứ đọng trong

cơ gây mỏi cơ

2, Biện pháp chống mỏi cơ

+ Khi bị mỏi cơ cần:

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w