Xuất phát từ những vấn đề có tính lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi quyết định chọn chuyên đề: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn cấp THCS” làm đối t
Trang 1TRƯỜNG THCS TIÊN LỮ -
Đơn vị công tác: Trường THCS Tiên LữNăm học: 2019 - 2020
Trang 2Đơn vị công tác: Trường THCS Tiên LữNăm học: 2019 - 2020
MỤC LỤC
Trang 3PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài 4
II Mục đích nghiên cứu 5
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
IV Phương pháp nghiên cứu 5
PHẦN II: NỘI DUNG Chương 1: Thực trạng chất lượng giáo dục của trường THCS Tiên Lữ năm học 2018-2019 I Chất lượng giáo dục của trường THCS Tiên Lữ năm học 2018-2019 1 Xếp loại hai mặt chất lượng 7
2 Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn ở trường THCS Tiên Lữ …… 7
II Kết quả KSCL đầu năm 2019-2020 và kết quả KSCL giữa kì 1………… 9
III Kế hoạch phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn tại trường THCS Tiên Lữ…10 Chương 2:Một số giải pháp nâng cao chất lượng phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn ở trường THCS Tiên Lữ I Các biểu hiện của HS yếu kém môn Ngữ văn 11
II.Nguyên nhân dẫn đến HS yếu kém 1 Về phía giáo viên……… 11
2 Về phía HS……… 12
3 Về phía phụ huynh học sinh……… 12
III Các giải pháp nâng cao chất lượng phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn cấp THCS 1 Các giải pháp chung 1.1 Đối với giáo viên ……… 13
1.2 Đối với HS……… 16
1.3 Đối với phụ huynh học sinh ……… 17
1.4 Đối với Ban Giám hiệu nhà trường……… 17
2 Kế hoạch cụ thể 2.1 Chương trình phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn……… 18
2.2.Hệ thống các ví dụ, bài tập cụ thể cùng lời giải minh họa ……… 19
PHẦN III KẾT LUẬN 38
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG CHUYÊN ĐỀ
Trang 5I Lí do chọn đề tài
1 Cơ sở lí luận.
Tri thức nhân loại vô cùng phong phú và không ngừng biến đổi theo thời gian,nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học công nghệ thông tin Khi khoahọc đang có những bước tiến nhảy vọt thì kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi trội
Vì vậy không có con đường nào khác ngoài học tập Lê-nin từng nói: “Học, học nữa, học mãi” Học không chỉ trên tài liệu mà phải còn học ngay cả trong đời sống hàng
ngày Trong báo cáo của Đại hội Đảng lần thứ IX, phần nói về giáo dục đào tạo thì tầm
quan trọng của việc tự học cũng được nêu lên như sau: “Phát huy tư duy khoa học sáng tạo, năng lực tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên để nâng cao năng lực tự học,
tự hoàn thiện học vấn tay nghề…” Đây là một yêu cầu mà rất nhiều giáo viên tâm
huyết luôn trăn trở và quan tâm
Trong quá trình giáo dục và đào tạo tri thức cho học sinh qua từng cấp bậc, thìviệc nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém làmục tiêu cơ bản hàng đầu, là mối quan tâm lớn đối với sự nghiệp giáo dục Có thể nói,vấn đề học sinh yếu kém hiện nay đang được nhà trường quan tâm và tìm giải pháp đểkhắc phục tình trạng này Muốn vậy, người giáo viên không chỉ biết dạy mà còn phảibiết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệhọc sinh yếu kém
Việc phụ đạo học sinh yếu kém bộ môn là một trong những vấn đề rấtquan trọng, cấp bách, cần thiết và không thể thiếu trong mỗi môn học ở các cấphọc nói chung và ở cấp THCS nói riêng Đối với bộ môn Ngữ văn, việc phụ đạocho một số học sinh bị mất gốc từ lớp dưới là rất cần thiết Bên cạnh đó cũng cầntạo hứng thú học tập môn Ngữ văn cho học sinh để các em tự mình khám phá trithức, vận dụng được kiến thức, kĩ năng vào các bài học có liên quan
2 Cơ sở thực tiễn
Vấn đề học sinh yếu kém hiện nay luôn được xã hội quan tâm và tìm giải phápkhắc phục Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì người giáo viênkhông những chỉ biết dạy mà còn phải biết nghiên cứu những phương pháp tối ưu nhất,nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém
Giúp học sinh yếu kém củng cố kiến thức cơ bản, bổ trợ những kiến thức họcsinh bị hổng từ các lớp dưới Đồng thời, giúp các em có thói quen độc lập suy nghĩ, tựgiác trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hạn chế học sinh lưuban Thực hiện tốt “Nói không với học sinh ngồi nhầm lớp”
Mặt khác, nếu chúng ta quan tâm hơn đến việc giúp đỡ học sinh yếu kém thì sẽlàm cho các em tự tin hơn khi đến lớp, công tác duy trì sĩ số mới được đảm bảo, gópphần nâng cao chất lượng giáo dục ở cấp Trung học cơ sở nói chung
Qua việc giảng dạy hằng ngày trên lớp, qua việc kiểm tra đánh giá thường
Trang 6nhận thấy tỉ lệ HS yếu trong môn Ngữ văn là tương đối nhiều Trong đó, các em HSyếu có những biểu hiện như : trong giờ học chưa chú ý tập trung nghe giảng, còn làmviệc riêng, nói chuyện; ghi chép bài học không kịp hoặc vừa chép vừa bỏ bài; hầu nhưkhông thuộc bài cũ; không có kĩ năng viết bài, khi làm bài kiểm tra chỉ làm chống đối,chiếu lệ hoặc chỉ làm phần trắc nghiệm mà không viết bài Tập làm văn
Với những thực tế trên, ngay từ đầu năm học, Tổ chuyên môn của trường chúngtôi luôn chú ý quan tâm đến việc tìm “giải pháp để khắc phục học sinh yếu, kém”, luôntìm ra những biện pháp nhằm hướng dẫn các em học tốt hơn Đây sẽ là nền tảng, làđộng lực thúc đẩy các em tiếp thu bài đầy đủ, trau dồi tri thức Tạo điều kiện tốt choviệc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
Xuất phát từ những vấn đề có tính lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi quyết định
chọn chuyên đề: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn cấp THCS” làm đối tượng nghiên cứu với hy vọng trao đổi, chia sẻ, học hỏi
kinh nghiệm từ các đồng nghiệp trường bạn để tìm ra giải pháp tốt nhất giúp đỡ họcsinh yếu kém nhằm nâng cao chất lượng môn Ngữ văn THCS nói riêng, góp phần nângcao chất lượng giáo dục đại trà nói chung
II Mục đích nghiên cứu.
Tôi quyết định chọn chuyên đề: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn cấp THCS” với mong muốn tìm ra được những giải
pháp tốt nhất giúp giáo viên và học sinh có thể dạy và học môn Ngữ văn đạt hiệu quả,góp phần nâng cao chất lượng dạy học Văn nói chung trong trường THCS
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1 Đối tượng: Học sinh yếu kém môn Ngữ văn cấp THCS
2 Phạm vi: Học sinh Trường THCS Tiên Lữ, năm học 2019-2020
IV Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện chuyên đề này, tôi đã vận dụng và phối hợp nhiềuphương pháp trong đó có các phương pháp cơ bản sau:
1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Đọc các tài liệu, giáo trình có liên quan
2 Phương pháp điều tra, quan sát:
Thông qua việc dự giờ thăm lớp, qua thực tế dạy học
3 Phương pháp tổng kết và đúc rút kinh nghiệm
Tìm hiểu thực trạng việc dạy- học của giáo viên và học sinh qua các giờhọc Ngữ văn trong chương trình THCS
4 Phương pháp đàm thoại:
Trao đổi với giáo viên trong tổ KHXH Trường THCS Tiên Lữ về vấn đềdạy Ngữ văn nói chung và dạy HS yếu nói riêng
5 Phương pháp thực nghiệm:
Trang 7Tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi và xác định tác dụngcủa các ý kiến đóng góp về vấn đề tiếp cận đối tượng HS yếu, để có nhữngđiều chỉnh cho hợp lý hơn
Trang 8PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CỦA TRƯỜNG THCS TIÊN LỮ NĂM HỌC 2018-2019.
I Chất lượng giáo dục của trường THCS Tiên Lữ năm học 2018-2019:
1 Xếp loại hai mặt chất lượng
2 Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn ở trường THCS Tiên Lữ năm học 2018-2019.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, qua nghiên cứu thực tiễn tình hình học của GV và HS, tôi nhận thấy thực tế như sau:
dạy-2.1.Về phía học sinh:
- Nhiều HS tỏ ra ngại học Ngữ văn, không hứng thú khi học đến các tiết họcnày Các em chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học, còn thờ ơ, lãnhđạm với tác phẩm văn chương Đối với nhiều em, việc học văn là vô cùng khó khăn
- Học sinh không yêu thích các tác phẩm văn chương, lười đọc tác phẩm, soạnlấy lệ, chống đối
- Học sinh chưa có ý thức tìm hiểu kĩ các vấn đề liên quan đến tác phẩm
- Chính vì thế, các em có soạn bài nhưng làm một cách qua loa đối phó, một số
em có đọc trước bài nhưng chưa nắm được mạch, thậm chí một số em còn chưa soạn
bài trước khi đến lớp
- Thực trạng trên dẫn đến học sinh mất hứng thú khi học Văn và kéo theo chấtlượng học Văn ngày càng sa sút
Trang 9Cụ thể, kết quả dạy học môn Ngữ văn của trường THCS Tiên Lữ năm
2018-2019 như sau :
STT Lớp
Điểm trung bình môn học cả năm
Sĩ số
2.2.Về phía giáo viên:
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành tích tương đối trong giảngdạy nhưng việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn của nhà trường THCS Tiên Lữ còn cónhững hạn chế sau:
- Một vài tiết học vẫn còn rơi vào tình trạng đọc chép khiến giờ học trở nênnhàm chán, buồn tẻ và có tính áp đặt làm cho học sinh trở nên thụ động, thiếu tư duy
- Chưa thực sự quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong lớp mà chỉ chútrọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động viên khéo léo kịpthời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ
- GV chưa khơi gợi được sự hứng thú của HS dẫn đến thực trạng HS chán học,kết quả học tập giảm sút
- Chưa tổ chức được các buổi ngoại khóa, những hoạt động ngoài giờ lên lớpcho học sinh tham gia tích cực hỗ trợ hiệu quả cho việc học tập bộ môn
Chính vì vậy, nhiều HS thường coi nhẹ môn Ngữ văn, dẫn đến còn nhiều đốitượng HS yếu kém
2.3 Các nhân tố khác:
- Thế kỉ 21 là thế kỷ hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế xã hội phát triển, nhữngmôn học mang tính ứng dụng (Toán, Lý, Hoá, Tin học, Ngoại ngữ…) quan trọng hơnbao giờ hết thì văn chương vốn ít tính ứng dụng, tương lai người học không được đảm
Trang 10- Đặc biệt, một thực tại mà giáo viên nào cũng nhận thấy: Sách tham khảo, sáchhướng dẫn để học tốt, những bài văn mẫu… quá nhiều đã làm cho học sinh bỏ rơi sáchgiáo khoa Nhiều học sinh tỏ ra biết đầy đủ nội dung tác phẩm văn chương, soạn bàiđầy đủ nhưng thực ra chưa một lần đọc văn bản trong sách giáo khoa vì các em dựa tất
cả vào sách tham khảo Như vậy, vô hình chung, sách tham khảo quá nhiều lại phảntác dụng đối với một bộ phận học sinh
- Đối tượng học sinh yếu có những khác biệt về cách nhận thức, đa phần là dohoàn cảnh kinh tế gia đình, do các em lười học hoặc thiếu sự quan tâm của cha mẹ, Những điều này đã ảnh hưởng nhiều đến vấn đề học tập của học sinh, từ đó dẫn đếncác em chán nản việc học, hổng kiến thức
- Đặc điểm của trường là ở nông thôn, điều kiện học tập của một số học sinh cònkhó khăn
II Kết quả KSCL đầu năm học 2019-2020 và kết quả KSCL giữa kì I
BẢNG THỐNG KÊ ĐIỂM KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM
B NG TH NG KÊ I M KI M TRA CH T LẢNG THỐNG KÊ ĐIỂM KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG GIỮA HỌC KÌ I ỐNG KÊ ĐIỂM KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG GIỮA HỌC KÌ I ĐIỂM KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG GIỮA HỌC KÌ I ỂM KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG GIỮA HỌC KÌ I ỂM KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG GIỮA HỌC KÌ I ẤT LƯỢNG GIỮA HỌC KÌ I ƯỢNG GIỮA HỌC KÌ ING GI A H C KÌ IỮA HỌC KÌ I ỌC KÌ I
Trang 11tỉ lệ bài thi HS yếu kém môn Văn của trường còn tăng lên so với đầu năm (chiếm62,8%).) (So với toàn huyện, môn Văn 9 đứng thứ 14/21; môn Văn 6 đứng thứ 9/21).Thực trạng trên là một bài toán nan giải đặt ra cho Ban giám hiệu và mỗi giáo viênđứng lớp Vậy khắc phục tình trạng HS yếu kém như thế nào cho có hiệu quả? Đó vẫnluôn là câu hỏi khiến bản thân tôi và các đồng nghiệp vô cùng trăn trở.
III Kế hoạch phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn tại trường THCS Tiên Lữ năm học 2019-2020
Từ thực trạng trên, nhóm Ngữ văn thống nhất với BGH nhà trường xây dựngthời gian và kế hoạch phụ đạo HS yếu như sau:
- Thời gian thực hiện: Từ 15/09/2018 đến 15/04/2019
Sốbuổi
Sốlớp
SốHS
S
Số buổi
Sốlớp
SốHS
Sốbuổi
Sốlớp
em học sinh
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỤ ĐẠO HS
YẾU KÉM MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS TIÊN LỮ
Trang 12I Các biểu hiện của HS yếu kém môn Ngữ văn
Trong quá trình giảng dạy trên lớp và theo dõi HS, tôi và các đồng nghiệp đã liệt
kê một số biểu hiện của HS yếu kém môn Ngữ văn tại trường THCS Tiên Lữ như sau:
- Vở viết không đủ nội dung; nhiều em còn ghi chép lẫn lộn môn Ngữ văn vớicác môn học khác; chữ viết cẩu thả; trình bày vở không khoa học; chữ viết thiếu nét,thậm chí chưa viết thành từ, thành câu
- Qua các bài kiểm tra và việc học tập trên lớp hằng ngày, học sinh yếu kémthường mắc các lỗi về cả kiến thức và kĩ năng:
+ Về kiến thức: Đa phần học sinh yếu kém học trước quên sau, có khi dạy xongmột bài các em chẳng nắm được gì, ngay cả tên văn bản, tác giả, hoàn cảnh ra đời củatác phẩm, thể loại, phương thức biểu đạt cũng không nhớ; chưa hiểu được nội dung vànghệ thuật của các văn bản; chưa xác định rõ được ngôi kể; sắp xếp các sự việc khôngtheo trình tự hợp lí
+ Về kỹ năng: Kĩ năng đọc, viết: Tình trạng “chưa đọc thông, viết thạo” (đọcchưa thạo, đọc ngọng, vừa đọc vừa đánh vần ), không biết đọc diễn cảm ; Về chínhtả: vở viết và bài kiểm tra còn sai chính tả nhiều (lỗi khi phân biệt d,r và gi; x và s; chvới tr ); Về kĩ năng diễn đạt: các em còn yếu về việc nhận diện từ, câu, chưa biết vậndụng câu từ trong khi nói và viết, cấu trúc bài văn chưa mạch lạc, chưa rõ ràng (trongmột bài văn không biết tách phần mở bài, thân bài và kết bài)
- Ngoài ra, trong giờ học trên lớp, các em HS yếu kém thường không có hứngthú học tập: uể oải, không tập trung chú ý, không quan tâm việc học, hay làm việcriêng, trêu chọc các bạn
Nhìn chung, HS yếu kém thường có nhiều biểu hiện chán nản, bất cần, không có
ý chí phấn đấu vươn lên trong học tập Nếu không có những giải pháp khắc phục tìnhtrạng trên, những HS ấy sẽ không tiến bộ, có khi còn lôi kéo thêm những em HS khác,làm giảm chất lượng học tập bộ môn Ngữ văn nói riêng và chất lượng giáo dục củanhà trường nói chung
II Nguyên nhân dẫn đến HS yếu kém
Sau khi nghiên cứu kĩ thực trạng dạy và học của GV và HS, nhất là đi sâu vàotìm hiểu hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm sinh lí của từng đối tượng HS ở các lớp,nhóm GV Ngữ văn chúng tôi rút ra một số nguyên nhân sau:
1 Về phía giáo viên
- Việc đổi mới phương pháp dạy – học chưa đồng bộ, một số giáo viên chưa
tích cực trong việc đổi mới phương pháp
- Sự thiếu thốn về phương tiện, thiết bị dạy – học bộ môn
- Số lượng công việc của giáo viên Ngữ văn ở trường THCS còn nhiều, vìvậy ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tự học, tự nghiên cứu để phục vụ cho giờdạy Giáo viên Ngữ văn ở trường THCS phải nghiên cứu quá nhiều các nội dung
Trang 13về kiến thức bộ môn mới có thể thực hiện đảm bảo những quy định về chươngtrình dạy – học bộ môn Thực tế, giáo viên ngữ văn THCS phải cáng đáng một sốlượng công việc rất lớn về chuyên môn, phải dành không ít thời gian vào việcchấm, chữa bài cho học sinh, làm hồ sơ sổ sách theo quy định, làm công tác phổcập giáo dục và những công việc chuyên môn khác của nhà trường như công tácbồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu.
- Đời sống của giáo viên Ngữ văn nói riêng và đội ngũ nhà giáo nói chungcòn gặp nhiều khó khăn do chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ chưa cao Vì vậy,nhiều thầy cô giáo chưa thật sự chuyên tâm vào công tác dạy – học
2 Về phía học sinh
Để dẫn đến chất lượng môn Ngữ văn chưa cao và đặc biệt là còn một bộphận học sinh yếu kém, bên cạnh nguyên nhân từ phía người dạy thì trong quátrình giảng dạy và bằng các hình thức kiểm tra tôi thấy có những tồn tại từ phíahọc sinh như sau:
- Một bộ phận học sinh ham chơi, lười biếng, chưa ham thích học tập Tronggiờ học, các em còn thụ động, chưa mạnh dạn trao đổi, hỏi han do chưa hiểu sâu,chưa nắm được kiến thức, thiếu tự tin, thiếu tư duy trước những câu hỏi, nhữngvấn đề mà giáo viên đặt ra mà chủ yếu trông chờ vào bài giảng của thầy cô
- Ở lớp, học sinh không tập trung vào việc học; ở nhà, không chủ động làm bàitập, không chuẩn bị bài, chưa có phương pháp và động cơ học tập đúng đắn nênthường học vẹt để đối phó mà không hiểu cặn kẽ bài học
- Do tâm lí chung của một bộ phận học sinh và phụ huynh bị ảnh hưởng bởi
xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại nên chỉ hướng con cái của mình vào việchọc một số môn Khoa học tự nhiên, Ngoại ngữ, Tin học để có lợi cho công việc,cho việc chọn nghề sau này mà ít hoặc không chú trọng đến môn Ngữ văn
- Học sinh bị hổng kiến thức từ những lớp dưới Vì nguyên nhân nào đó làm chohọc sinh một vài giai đoạn không chuyên tâm vào việc học làm kiến thức bị gián đoạn
- Học sinh chưa có phương pháp tự học Các em chưa biết chủ động sắp xếp thờigian, chưa biết sử dụng tài liệu tham khảo hợp lí Tình trạng tài liệu tham khảo tràn lantrên thị trường và rất nhiều tài liệu trong quá trình xuất bản nội dung bị sai, và học sinhcẩu thả dẫn đến những sai sót quá nhiều trong bài kiểm tra và bài thi
- Một số ít HS khó khăn về nhận thức, có vấn đề về trí nhớ
3 Về phía phụ huynh học sinh
Trang 14- Một số phụ huynh học sinh thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em.Một số gia đình phụ huynh mải đi làm ăn xa, con cái sống với ông bà, việc học của cáccon phó mặc cho nhà trường và thầy cô…
- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học sinhlười học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, đi du lịch, giả bệnh, ) cha mẹ cũngđồng ý cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mấtdần căn bản và rồi yếu kém
- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm (cha
mẹ li hôn, li thân, mâu thuẫn…) khiến HS không chú tâm vào học tập
- Một số gia đình hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn
III Các giải pháp nâng cao chất lượng phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn cấp THCS
Từ thực trạng việc dạy và học bộ môn Ngữ văn và đặc biệt là thực trạng họcsinh yếu kém môn Ngữ văn của trường THCS Tiên Lữ, tôi thấy cần có những giảipháp cụ thể đối với việc dạy các em học sinh yếu kém để góp phần nâng cao chấtlượng học sinh đại trà nói chung và chất lượng học sinh yếu kém môn Ngữ văn nóiriêng Một số giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém như sau:
1 CÁC GIẢI PHÁP CHUNG
1.1.Đối với giáo viên:
a Đối với những giờ học trên lớp:
* Tạo động cơ, gây lòng tin, hứng thú say mê, yêu thích học tập bộ môn cho học sinh.
Giáo viên cần cho học sinh thấy được vai trò, tầm quan trọng của bộ môn Ngữvăn tạo cho học sinh có nhu cầu nâng cao tri thức môn học Nắm vững tâm lí lứa tuổicủa các em học sinh tạo động cơ quyết tâm phấn đấu vươn lên để tự khẳng định mìnhbởi lẽ “Động cơ học tập không có sẵn, không thể áp đặt, phải hình thành dần dần trongquá trình học sinh chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và điều khiển củathầy”
Vậy phải làm gì để gây lòng tin, tạo hứng thú, sự say mê, yêu thích bộ môn Ngữvăn?
Tạo hứng thú, yêu thích bộ môn qua việc cho học sinh thấy được vai trò, tầmquan trọng của môn Ngữ văn trong chương trình THCS; vai trò, tầm quan trọng củamôn Ngữ văn trong đời sống, giao tiếp, ứng xử, trong hình thành và phát triển nhâncách mỗi con người vì “học văn là học cách làm người”
Tạo cho học sinh hứng thú bằng sự thay đổi phương pháp, hình thức dạy học.Linh hoạt đa dạng trong mỗi giờ, mỗi phần, chú ý hoạt động đặc trưng bộ môn
* Thường xuyên gần gũi chăm lo, động viên học sinh:
Trang 15Giáo viên cần chỉ dẫn, kèm cặp học sinh trong quá trình thực hiện Tránh sựnóng vội, buông trôi, phó mặc Việc quan tâm sát sao giúp giáo viên không chỉ xácđịnh chính xác mức độ kiến thức của học sinh mà còn nắm bắt được tâm lí, tìnhcảm, sự thiếu hụt của các em về kiến thức Giáo viên cần gần gũi, chăm lo và độngviên và cả kiểm tra việc học tập của học sinh đặc biệt là những em có học lực yếukém, học sinh cá biệt.
Kiểm tra việc chuẩn bị bài của các em về số lượng và chất lượng thông qua cáchình thức, có thể thông qua truy bài của ban cán sự lớp, hay của các thành viên tronglớp, qua hình thức kiểm tra trực tiếp của giáo viên bằng cách trình bày bài giải lênbảng, sau đó cho cả lớp nhận xét bài làm của bạn, phát hiện chỗ sai, chỗ thiếu để sữachữa bổ sung làm cho bài làm hoàn chỉnh, giúp cho các em học yếu thấy được chỗmình hay mắc sai lầm, chỗ mình còn thiếu- yếu để rút kinh nghiệm
Động viên đúng mức đối với học sinh chưa hoặc không làm bài tập, cho các emphải làm dù sai, trên cơ sở đó giáo viên có thể chỉ ra chỗ sai, chỗ thiếu cho từng họcsinh, phải tạo cho các em có thói quen làm bài tập ở nhà, biết được chỗ thiếu-yếu củamình Bên cạnh đó khen ngợi, khích lệ kịp thời đối với từng tiến các em bộ của các em
dù là một tiến bộ nhỏ, giúp các em có lòng tin vào bản thân mình
Thông qua hoạt động của ban cán sợ lớp, việc truy bài thường xuyên đối với cácbạn học yếu cũng là một cách để các bạn đó phải làm bài tập, tạo ra phong trào thi đuatheo bàn học, theo nhóm học hay theo từng tổ, nêu ra cách thưởng phạt công minh đểcác thành viên trong tổ thực hiện
* Đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS theo hướng pháthuy tính tích cực, sáng tạo, chủ động học tập của học sinh Việc đổi mới cần gắn vớikhai thác, sử dụng thiết bị giáo dục trên cơ sở bám sát nội dung sách giáo khoa, yêucầu bộ môn về chuẩn kiến thức kĩ năng
Đổi mới phương pháp dạy học, phải đổi mới từ khâu soạn giảng, quá trình lênlớp, đến kiểm tra đánh giá Bài soạn thực sự là bản thiết kế để giáo viên thực hiệntrong giờ học, kèm theo bản thiết kế là sự chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết chogiờ học Ở mỗi bài học cần:
- Xác định đúng, đủ mục tiêu bài học theo đặc điểm từng thể loại
- Cải tiến hình thức tổ chức hoạt động để phát huy tính tích cực, sáng tạo củahọc sinh
- Hệ thống kiến thức phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trênchuẩn kiến thức, cần giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài
Trang 16- Mỗi bài học cần xây dựng một số câu hỏi then chốt nhằm khai thác những kiếnthức trọng tâm của bài
- Tăng cường sử dụng dồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quảtiết dạy
- Trong giờ học sinh phải được làm việc tham gia chiếm lĩnh kiến thức mới Đểthực hiện tốt vấn đề này giáo viên cần quan tâm tới các đối tượng học sinh, đặc biệtvới học sinh yếu kém Dạy học sinh cách học trong đó có phương pháp tự học là yêucầu bắt buộc luôn phải đặt ra trong mỗi giờ lên lớp
, Không dạy – học theo lối đọc – chép Dưới sự tổ chức, gợi mở, dẫn dắt của giáoviên, học sinh tự mình chiếm lĩnh kiến thưc, tự rút ra những kết luận, những bài họccần thiết cho mình với sự chủ động tối đa Làm cho “Học” là một quá trình kiến tạo ;học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, …muốnvậy cần có những biện pháp yêu cầu học sinh “động não”
* Hướng dẫn học sinh cách học (trên lớp và ở nhà)
Khi tiếp nhận lớp cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép sao cho đúng, đủ, khoahọc, dễ học Học sinh rất tiết kiệm, thường để lề rất ít hoặc không để lề, vì vậy giáoviên phải kiểm tra nhắc nhở học sinh phải để lề đủ lớn (2,5-3,0 cm) giúp dễ theo dõibài học Nếu cần bổ sung thì ghi vào lề cho tiện Phần số tiết, tên bài, các đề mục cũngcần phải ghi làm sao cho nổi bật dễ nhận thấy Sau mỗi tiết học cần có thói quen kẻ hếtbài để dễ học, dễ kiểm tra
Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh xác định nội dung học tập của từngphần trong phân môn
Đối với phần văn bản, giáo viên cần cho học sinh đọc, tóm tắt lại văn bản trướckhi học Đối với văn bản là tác phẩm thơ phải học thuộc, là văn xuôi phải tóm tắt đượcnội dung văn bản, học thuộc dẫn chứng
Với những tác phẩm có tác giả cần nắm chắc được về tiểu sử tác giả, sự nghiệpvăn chương của tác giả đó, hiểu được hoàn cảnh sáng tác tác phẩm
Nắm chắc được giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm (tìm hiểuphần nội dung cần đạt, phần ghi nhớ)
Biết phân tích, cảm thụ một số chi tiết (câu, đoạn) được cho là đặc sắc
Đối với phần Tiếng Việt:
- Học thuộc các khái niệm, vận dụng làm tốt các bài tập từ dễ đến khó (Từ nhậnbiết đến thông hiểu, vận dụng ở mức độ thấp, vận dụng ở mức độ cao)
- Với các biện pháp tu từ biết phát hiện đúng, nêu được tác dụng của phép tu từ
Trang 17- Sau khi đọc đề bài, phải biết tìm hiểu đề, tìm ý; biết cách lập dàn ý; biết viếtcác đoạn để hoàn chỉnh bài viết.
* Thường xuyên đổi mới việc kiểm tra đánh giá học sinh
Trong kiểm tra đánh giá cần:
- Ra đề theo hướng phát triển năng lực, đòi hỏi người học phải hiểu bài, vận
dụng kiến thức, hạn chế học vẹt, ghi nhớ máy móc nhưng phải phù hợp với đốitượng
- Thực hiện nghiêm túc qui trình kiểm tra, trả bài kiểm tra và thời hạn trả bài
kiểm tra cho học sinh
- Kiểm tra là thước đo sự chuyển biến vừa là sự nhắc nhở, động viên trong
quá trình học tập
- Kiểm tra thường xuyên với nhiều dạng bài, nhiều hình thức khác nhau: Bài
tập trắc nghiệm khách quan, tự luận, kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết, kiểm tra việcghi chép, kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà, kiểm tra trong giờ dạy lí thuyết, kiểm tratrong giờ thực hành Đổi mới hình thức và nội dung kiểm tra theo tinh thần của
Bộ GD & ĐT, “Kiểm tra theo hướng đòi hỏi người học phải hiểu bài, vận dụngkiến thức, hạn chế lối học vẹt, ghi nhớ máy móc”
- Kiểm tra đánh giá sự tiến bộ của từng học sinh, lấy sự chuyển biến của học
sinh để động viên khích lệ học sinh nỗ nực phấn đấu vươn lên trong học tập Quantrọng hơn là kiểm tra những sai xót, những lỗi mắc phải của học sinh để tìm ranguyên nhân dẫn đến sai sót và biện pháp khắc phục, bài học kinh nghiệm rút ra từsai lầm đó (Lưu ý khi học sinh mắc lỗi, kết quả không như mong muốn, tuyệt đốikhông biểu hiện bi quan, thất vọng hoặc dùng kết quả để lăng mạ, chỉ trích, mỉamai học sinh)
b.Công tác phụ đạo học sinh yếu kém:
- Lập danh sách học sinh yếu kém:
+ Ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém bộ mônmình Qua kết quả khảo sát đầu năm, kết quả học tập từ năm trước, các biểu hiệntrên lớp để nắm rõ các đối tượng học sinh, lập danh sách học sinh yếu kém
+ Phân loại đối tượng HS yếu kém để có những giải pháp phù hợp Những
em yếu do học lệch, những em yếu tất cả các môn để có kế hoạch phụ đạo hợp lí
và hệ thống bài tập vừa sức với từng đối tượng
- Điểm danh học sinh mỗi buổi học Ghi nhận và báo với giáo viên chủ nhiệm
Trang 18- Bù lấp kiến thức cho HS yếu kém bằng một chương trình phụ đạo riêng với hệthống kiến thức và bài tập vừa sức, từ những vấn đề cơ bản, tập trung vào những phần
HS bị thiếu hụt từ lớp dưới để nâng dần lên, giúp các em hòa nhập vào các giờ học trênlớp
- Lập hồ sơ cho từng em HS yếu kém, theo dõi chặt chẽ từng biểu hiện của các
em, động viên sự tiến bộ kịp thời và nhắc nhở khi các em có biểu hiện lơ là Hàngtuần, hàng tháng thầy cô giáo đều phải ghi chép những biểu hiện của các em về điểm
số, chữ viết, kĩ năng đọc, dùng từ, đặt câu để điều chỉnh kế hoạch sao cho sát đốitượng
1.2 Đối với học sinh:
Để kết quả học tập của bản thân có những tiến bộ thì các em học sinh, nhất làcác em yếu kém cần phải:
- Nêu cao ý thức tự giác trong học tập, cả ở trên lớp và ở nhà
- Biết vận dụng phương pháp học tập khoa học, hiệu quả, thiết thực
- Ghi chép bài đầy đủ, có đầy đủ sách giáo khoa, tài liệu tham khảo phù hợpphục vụ cho môn học
- Tự đánh giá được mức độ nhận thức của bản thân từ đó điều chỉnh phươngpháp học tập phù hợp
- Những bài kiểm tra bị điểm yếu phải kiên trì, không chán nản, rút kinh nghiệm
và tự mình làm lại để giáo viên kiểm tra đánh giá
- Luôn rèn kĩ năng nghe, đọc, nói, viết Đặc biệt phải luôn chú ý rèn chữ và sửacác lỗi về chính tả, diễn đạt, dùng từ, sắp xếp ý trong bài văn
- Tạo tâm lí thoải mái, chủ động, không ngại khó hay rụt rè tự ti trước tập thể.Tích cực phát biểu, hỏi thầy cô những vướng mắc gặp phải trong khi học tập bộ môn
1.3 Đối với phụ huynh học sinh
Các bậc phụ huynh cần xác định rõ mục đích cho con đi học: Tạo cho con
một nền móng vững chắc để bước vào đời, để lập nghiệp, để con em mình hoànhập được với xu thế phát triển của xã hội và hơn thế là để con em mình có đủ khảnăng để tự tách ra khỏi vòng tay của bố mẹ để tạo dựng một sự nghiệp vững chắc
và có một gia đình độc lập
Các bậc phụ huynh phải quan tâm quản lý nghiêm giờ giấc học tập của con
em mình, thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn để tìmhiểu việc học tập của con em mình
Phụ huynh cần giúp các con vượt qua khó khăn để lấy lại kiến thức đã mất, độngviên con khi bị điểm kém thì cũng không nên quá chán nản, mà nên tìm ra nguyênnhân để lần sau cố gắng làm bài tốt hơn
Trang 19Phụ huynh nên tạo điều kiện tốt để cho để con em mình đến trường (bảo đảmthời gian đến trường, sắm dụng cụ học tập, giúp con học ở nhà, cùng vui chơi học tậpvới con em mình, nhắc nhở con cái giờ học…), khi giáo dục con em nên nhẹ nhàng,cần cho các em hiểu việc đó đúng sai thay vì la mắng trừng phạt
Giáo viên và phụ huynh học sinh cần giúp HS vượt qua khó khăn để lấy lại kiến thức đã mất, động viên con khi bị điểm kém thì cũng không nên quá chán nản, mà nên tìm ra nguyên nhân để lần sau cố gắng làm bài tốt hơn Giáo viên thường xuyên thông tin cho phụ huynh có con em học yếu kém
để phụ huynh biết
1.4 Đối với Ban Giám hiệu nhà trường
Nhà trường cần triển khai đầy đủ, kịp thời các văn bản chỉ đạo, các hướng dẫn
cụ thể của ngành cấp trên đối với công tác phụ đạo, giúp đỡ học sinh yếu kém, ngănngừa tình trạng học sinh bỏ học cho tất cả cán bộ, giáo viên, học sinh và cha mẹ họcsinh thực hiện ngay từ đầu năm học, đặc biệt là sau khi khảo sát chất lượng học sinhđầu năm học và ở Hội nghị viên chức
Căn cứ kết quả xếp loại học lực cuối năm học qua, so sánh với kết quả khảo sátchất lượng học sinh đầu năm học này để tiến hành thống kê số liệu, xác định và phânloại số học sinh yếu kém ở từng lớp, từng khối lớp
Xây dựng kế hoạch cụ thể về công tác bồi dưỡng học sinh yếu kém, triển khai,
hướng dẫn trước hội đồng sư phạm của nhà trường Phân công trách nhiệm cụ thểcho từng thành viên trong bảng phân công chuyên môn của các tổ chuyên môn
Yêu cầu giáo viên phụ trách công tác bồi dưỡng HS yếu kém phải có kế hoạch
về chương trình dạy, nội dung dạy và kế hoạch kiểm tra báo cáo lên Ban Giám hiệu.Khi có sự điều chỉnh về nội dung, chương trình, số lượng HS tham gia cần báo choPhó Hiệu trưởng phụ trách
Hằng tháng yêu cầu giáo viên phụ trách bộ môn có học sinh yếu kém báo cáovới Ban Giám hiệu về các vấn đề liên quan đến chương trình, tài liệu hoặc các vấn đềliên quan đến việc nâng cao chất lượng học sinh yếu kém
2 KẾ HOẠCH CỤ THỂ.
2.1 Chương trình phụ đạo HS yếu kém môn Ngữ văn:
- L p 6ớp 6
Trang 20Buổi Nội dung
1,2 Luyện tập đọc viết
3,4,5 Chữa lỗi chính tả, dùng từ, lỗi diễn đạt
6,7,8 Ôn tập các truyện dân gian- Kiểm tra
9,10,11 Ôn tập kiến thức và bước đầu rèn kỹ năng làm bài văn tự sự
12,13 Ôn tập kiến thức Tiếng Việt
14,15 Ôn tập và rèn kĩ năng làm văn miêu tả
- L p 7ớp 6
1,2 Chữa lỗi chính tả, dùng từ, lỗi diễn đạt
3,4 Ôn tập ca dao, dân ca
5,6 Ôn tập kiến thức chung về tạo lập văn bản
7,8 Ôn tập Tiếng Việt- Kiểm tra
9,10 Ôn tập thơ trữ tình trung đại Việt Nam
11,12 Ôn tập và rèn kĩ năng làm văn biểu cảm
13 Ôn tập thơ hiện đại
14 Ôn tập Tiếng Việt
- L p 8ớp 6
1 Chữa lỗi chính tả, dùng từ, lỗi diễn đạt
2,3 Ôn tập các văn bản truyện kí
4,5 Ôn tập kiến thức chung về tạo lập văn bản
6,7 Ôn tập Tiếng Việt – Kiểm tra
8,9 Ôn tập văn học nước ngoài
10,11 Ôn tập và rèn kĩ năng làm văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm12,13 Ôn tập văn bản nhật dụng
14,15 Ôn tập văn thuyết minh
- L p 9ớp 6
1 Chữa lỗi chính tả, dùng từ, lỗi diễn đạt
2,3 Ôn tập các văn bản nhật dụng
4,5 Ôn tập và rèn kĩ năng làm văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm6,7 Ôn tập Tiếng Việt- Kiểm tra
8,9 Ôn tập văn học trung đại
10,11,12 Ôn tập các văn bản thơ hiện đại
13,14 Ôn tập văn bản truyện hiện đại
15 Ôn tập – kiểm tra