1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyên đề rèn kĩ NĂNG GIẢI bài tập TÍNH THEO PTHH CHO học SINH yếu kém ở lớp 9 THCS

25 411 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 121,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy học Hóa học không những HS học lý thuyết mà còn đòi hỏi HS vận dụng lýthuyết đã được học vào giải quyết các bài tập lý thuyết, thực tiễn và thực hành thí nghiệm.Bài tập hóa học ở

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO LẬP THẠCH

TRƯỜNG THCS VĂN QUÁN

TÊN CHUYÊN ĐỀ:

RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TẬP TÍNH THEO PTHH CHO HỌC SINH

YẾU KÉM Ở LỚP 9 THCS

Họ và tên: Hoàng Thị Hoa

Đơn vị: Trường THCS Văn Quán

SĐT: 0912.738.629

Email: hoangthihoa.gvc2xuanloi@vinhphuc.edu.vn

Văn Quán tháng 10 năm 2019

Trang 2

MỤC LỤC

Tác giả chuyên đề

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

I.Lí do chọn đề tài

II.Mục đích nghiên cứu

III.Phương pháp nghiên cứu

PHẦN II: NỘI DUNG I Thực trạng chất lượng trường THCS Văn Quán II.Kết quả khảo sát đầu năm

III.Kế hoạch phụ đạo IV.Một số giải pháp nâng cao hiệu quả học sinh yếu kém V.NỘI DUNG THỰC HIỆN

1 Các bước giải bài toán tính theo PTHH

2 Một số kĩ năng giúp HS yếu kém làm bài tập tính theo PTHH

2.1 Giúp HS lập được PTHH

2.1.1: Rèn cho HS cách lập CTHH

2.1.2.Rèn kĩ năng viết PTHH

2.2.Tính số mol các chất bài cho

2.3.Rèn cho học sinh kĩ năng tóm tắt đề bài

2.4.Kĩ năng tìm mối liên hệ giữa số mol chất cần tìm với số mol chất bài cho 2.5 Rèn kĩ năng thực hiện yêu cầu đề bài

VI.Khả năng áp dụng

PHẦN III Kết luận

3 3 4 5 5 5 5 7 8 8 8 8 8 9 9 12 13 14 16 20 22

Trang 3

Như vậy học Hóa học không những HS học lý thuyết mà còn đòi hỏi HS vận dụng lýthuyết đã được học vào giải quyết các bài tập lý thuyết, thực tiễn và thực hành thí nghiệm.Bài tập hóa học ở cấp THCS rất đa dạng, trong đó dạng bài tập tính theo PTHH là một trongnhững kiến thức trọng tâm, xuyên suốt chương trình hóa học THCS và cả trung học phổthông sau này Vì thế, chỉ có nắm vững phương pháp và thực hành thành thạo việc tính theoPTHH mới có thể giải quyết được những bài tập hóa học về PTHH – loại bài tập cơ bản của

bộ môn hóa học

Với những ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, chúng ta nhận thấy việc

HS phải giải được các bài tập về tính theo PTHH là một yêu cầu bắt buộc và cấp thiết trong

Trang 4

quá trình giảng dạy hóa học ở cấp THCS Có nắm vững được phương pháp và hình thànhnhững kỉ năng để giải được bài tập tính theo PTHH thì các em mới có thể học tốt hóa học ởchương trình trung học phổ thông, đáp ứng được những nhiệm vụ của việc giảng dạy hóahọc ở trường phổ thông, đáp ứng những yêu cầu mà xã hội đặt ra cho giáo dục

b.Cơ sở thực tiễn:

Trong quá trình giảng dạy hóa học ở trường bản thân tôi nhận thấy còn nhiều HS, đặc biệt là

HS lớp 9, rất lúng túng khi giải loại bài tập tính theo PTHH: Đa số HS không tự giải quyếtđược loại bài tập này; một số HS chỉ biết cách làm theo các bước hướng dẫn của giáo viên(GV) một cách máy móc mà không hiểu được bản chất của vấn đề

Với những lý do nêu trên, bản thân tôi nhận thấy cần phải cải tiến phương pháp giảng dạy,lựa chọn nội dung phù hợp, đặc biệt chú ý đến các tiết ôn tập, luyện tập hoặc dạy tự chọn,dạy phụ đạo cho HS yếu kém để cho HS nắm vững phương pháp và rèn luyện kỉ năng giải

bài tập tính theo phương trình hóa học Vì thế, tôi quyết định chọn đề tài: “RÈN KĨ NĂNG

GIẢI BÀI TẬP TÍNH THEO PTHH CHO HỌC SINH YẾU KÉM Ở LỚP 9 THCS

”với mục đích tổng kết một vài kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy Hóa học của mình,đồng thời giúp cho các đồng nghiệp có thêm những tư liệu tham khảo nho nhỏ cho quá trìnhgiảng dạy, nhằm phần nào khắc phục tình trạng yếu kém nói trên của học sinh trong nhàtrường

II Mục đích nghiên cứu

Tôi quyết định chọn chuyên đề: “RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TẬP TÍNH THEO PTHH

CHO HỌC SINH YẾU KÉM Ở LỚP 9 THCS” với mong muốn tìm ra những giải pháp

tốt nhất giúp cho GV và HS có thể dạy và học môn Hóa học đạt hiệu quả cao, góp phầnnâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học trong trường THCS

III Đối tượng – phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng:Học sinh yếu kém môn Hóa học lớp 9 THCS

- Phạm vi: HS trường THCS Văn Quán, năm học 2018 – 2019

IV Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp tổng hợp tài liệu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trang 5

- Phương pháp trò chuyện, quan sát

PHẦN II: NỘI DUNG

I.Thực trạng chất lượng giáo dục của trường THCS Văn Quán năm học 2018 – 2019 1.Chất lượng giáo dục của trường THCS Văn Quán năm học 2018 – 2019:

Trong quá trình thực hiện chuyên đề, qua nghiên cứu thực tiễn tình hình dạy học của

GV và HS tôi nhận thấy thực tế như sau:

Dạng bài toán tính theo phương trình hóa học (PTHH) là một dạng bài tập quan trọng,

xuyên suốt chương trình hóa học phổ thông nhưng rất nhiều học sinh (HS) không làm đượcbài tập tính theo PTHH, không nhận biết được bài tập thuộc dạng nào, cách giải ra sao?Thậm trí đọc đến dạng bài tập này là bỏ qua luôn

+ Đa phần học sinh yếu học trước quên sau, có khi dạy xong một bài các em chẳng nắmđược gì, cũng không nhớ,

+ Không biết vận dụng vào giải bài tập

Nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém:

* Về phía học sinh:

- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, nhận thấy rằng các em học sinh yếu đa số lànhững học sinh cá biệt, trong lớp không chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì khôngxem bài, không chuẩn bị bài, không làm bài tập, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường

- Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp dưới: Đây là một điều không thể phủ nhận với chương

Trang 6

trình học tập hiện nay Kỹ năng tính toán chậm

- Có nhiều học sinh lớp 9 đã đến tuổi dậy thì, sớm bước vào thế giới tình cảm khác giới, yêuđương sớm Do đó làm cho các em ngày càng xa rời việc học tập Phần lớn những học sinhnhư vậy đều bị giảm kết quả học tập, nếu không ngăn chặn kịp thời thì dần dần các em sẽtrở thành học sinh yếu kém

- Nhiều HS cũng như PHHS coi đây là môn phụ chỉ chú trong đến 3 môn học Toán – Văn –T.Anh để thi vào THPT Khi thi được rồi tính tiếp

* Do môi trường xã hội:

- Hiện nay trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thôngtin, các trò chơi trên mạng internet rất đa dạng đã lôi cuốn các em học sinh dẫn đến tìnhtrạng học sinh sao nhãng việc học, bỏ học vì ham mê game online ngày càng phổ biến,những học sinh như vậy đều dẫn đến kết quả học tập yếu kém

II Kết quả khảo sát đầu năm môn Hóa học năm học 2018 – 2019

Trang 7

III.Kế hoạch phụ đạo

PTHH

- Rèn cách lập CTHH-Rèn cho học sinhcách Lập PTHH

12

1

IV Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phụ đạo học sinh yếu, kém môn Hóa học lớp 9

ở trường THCS Văn Quán.

1 Phân loại đối tượng học sinh:

- Qua theo dõi, quan sát, khảo sát chất lượng, kiểm tra vở ghi giáo viên phân loại họcsinh, chọn ra những em yếu, kém để có biện pháp giáo dục phù hợp

- Ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém bộ môn mình, quaphần kiểm tra khảo sát đầu năm hoặc ở năm học trước để nắm rõ các đối tượng họcsinh, lập danh sách học sinh yếu kém và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinhnày.Trong mỗi tiết học như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời, khen ngợi khi các

em trả lời đúng…

2 Lập kế hoạch bồi dưỡng, thiết kế nội dung, phương pháp dạy học phù hợp:

- Trong quá trình thiết kế bài học cũng như khi lên lớp, giáo viên bố trí nội dung và sử dụngcác phương pháp dạy học phù hợp với mức độ nhận thức của các em Giáo án cần chi tiết,thiết kế tăng cường các câu hỏi gợi mở, câu hỏi dễ để học sinh có thể dễ dàng trả lời câuhỏi Tăng cường các bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia trình bàytrước lớp, từng bước giúp các em tìm được hứng thú học tập

3 Kèm cặp học sinh yếu kém:

- Phân công cho học sinh khá, giỏi thường xuyên giúp đỡ các bạn yếu, kém về cách học tập,

Trang 8

về phương pháp vận dụng kiến thức

- Ngoài ra, giáo viên tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biện pháp giúp đỡtrên lớp chưa mang lại hiệu quả cao Có thể tổ chức phụ đạo 01 buổi trong một tuần hoặcnhiều hơn Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo có thể kết hợp với hình thức vui chơi nhằm lôicuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề

V.NỘI DUNG THỰC HIỆN

1.CÁC BƯỚC GIẢI BÀI TOÁN TÍNH THEO PHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC

Để giải một bài toán tính theo PTHH chúng ta cần thực hiện theo các bước:

-b1: Viết phương trình hóa học

- b2: Chuyển đổi giả thiết (khối lượng, thể tích chất khí, nồng độ của chất) đềbài đã cho thành số mol chất

2.1 Giúp học sinh lập được phương trình hóa học (PTHH) (3 tiết)

Muốn HS yếu kém ở lớp 9 lập được PTHH cần hướng dẫn các em ôn lại:

2.1.1.Rèn cho học sinh cách Lập CTHH ( ôn trong 1 tiết)

a.Thực trạng :

Xuất phát từ tình hình học tập cuả các em những năm trước đây Bản thântôi nhận thấy kĩ năng lập công thức hoá học của các em rất yếu còn nhiều chỗsai sót Cụ thể:

- Viết sai kí hiệu

Trang 9

- Chưa hiểu rõ quy tắc hoá trị

- Nhóm nguyên tử chỉ số 2 không cho vào ngoặc đơn hoặc chỉ số 1 đóngngoặc đơn

- Chỉ số viết ngang bằng với kí hiệu

- Hoá trị của hai nguyên tố hoặc hợp phần bằng nhau ghi chỉ số

b Nội dung cần giải quyết

Giới thiệu các dạng bài tập lập công thức hoá học theo trình tự từ dễ đến khó Hướng dẫn lại cách viết đúng công thức hóa học: Công thức hóa học dạngchung: Aa xBb y Trong đó: A, B là KHHH của nguyên tố ( B có thể là nhómnguyên tử) a, b là hóa trị của A,B; x, y là chỉ số của A, B

Trường hợp : a = b  x= y= 1 ( chỉ số 1 không ghi trong CTHH)

Cách nhanh để lập CTHH : Hóa trị của nguyên tố này là chỉ số của nguyên tốkia( trừ một số trường hợp ngoại lệ)

VD1: Lập công thức hoá học tạo bởi: K(I) và Cl(I)

+ Gọi CTHH là K x Cl y

+ Tìm chỉ số: ta thấy hóa trị của K và Cl bằng nhau nên: x = y =1 + Vậy CTHH của hợp chất là KCl

Bài tập 1: Lập công thức hoá học của Oxi với các nguyên tố sau :

Na(I) , Ba (II) , Al (III)

Bài tập 2: Lập công thức hoá học H với gốc axít sau :

Cl (I) , NO3 (I) , SO4(II) , PO4 (III)

Bài tập 3: Lập công thức hoá học của các nguyên tố kim loại sau Với nhóm

OH

Trang 10

K(I) , Zn(II) , Fe (III)

Bài tập 4: Lập công thức hoá học tạo bởi các kim loại và các gốc axít

tử của nhóm nguyên tử đặt ngoài ngoặc

2.1.2 RÈN KỸ NĂNG VIẾT PTHH ( 2 tiết)

1.Thực trạng :

Hóa học 9 cần đến nhiều kỹ năng trong hóa học nhưng đối với hs yếu kém gặpnhiều khó khăn trong việc lập phương trình hóa học, cân bằng phương trình hóahọc, khó khăn trong việc xác định những chất sản phẩm, khó khăn trong việcphân loại các chất vô cơ

2 Nội dung cần giải quyết

- Để viết được một phương trình hóa học đòi hỏi phải có những kiến thức sau:+ HS phải viết đúng CTHH của các chất trong PTHH)

+ Các chất đó thuộc đơn chất hay hợp chất

+ Công thức của đơn chất hay hợp chất viết như thế nào

Ví dụ : đơn chất là Kim Loại thì KHHH chính lầ CTHH: Như Fe , Al ,Cu,Zn…

Đơn chất phi Kim Thường Viết 2 nguyên tử : các đơn chất phi kimthường dùng như H2 , O2 ; Cl2 ; N2 ; ngoại trừ C ; P ; S; Si

Trang 11

Viết các phương trình phản ứng sau

a Canxi oxit + Nước  Canxi hidroxit

b Sắt (III) oxit + axit clohidric  Muối sắt (III) clorua + Nước

Trang 12

c Bari oxit + Cacbon đioxit  Baricacbonat

Hướng dẫn Hs thay phương trình chữ bằng phương trình hóa học

2.2 Rèn kĩ năng tính số mol các chất bài cho (1 tiêt)

Để tính được số mol bài cho học sinh phải nắm vững các công thức tính:

a Thực trạng:

Có rất nhiều em học sinh không biết sử dụng các công thức khi tính toán hóahọc Có 2 lý do để lý giải điều này: thứ nhất là các em không thuộc các côngthức tính toán trong hóa học, thứ hai là các em không nhận biết được các đạilượng trong công thức nên áp dụng sai

b Giải pháp:

Sau đây là một số công thức tính toán hóa học mà HS phải nắm vững:

+ Tính số mol khi biết khối lượng chất: n =M m

Trong đó: n là số mol chất (mol); m là khối lượng chất (gam); M là khối lượngmol của chất (gam/mol)

+ Tính thể tích chất khí ở điều kiện tiêu chuẩn (đktc): V = n.22,4

Trong đó: n là số mol chất khí(mol); V là thể tích chất khí ở đktc (lít)

Trang 13

+ Tính nồng độ mol của dung dịch: CM = V n

Trong đó: n là số mol chất tan(mol); V là thể tích dung dịch (lít); CM là nồng độmol của dung dịch (mol/lít hoặc M)

+ Tính khối lượng riêng của dung dịch: D = m V

2.3 Rèn cho học sinh kĩ năng tóm tắt đề bài: ( 1 tiết)

tế, với các em học sinh khá, giỏi khi đứng trước các bài tập ở mức độ đơn giảnthì việc này có thể bỏ qua nhưng với các em học sinh từ trung bình trở xuống thìđây là mấu chốt của vấn đề, nó quyết định đến việc các em có giải quyết đượcbài tập hay không Hơn nữa, việc tóm tắt đề bài trên thực tế không chiếm hếtbao nhiêu thời gian cả, HS càng giỏi thì thời gian dành cho công việc này càng

ít nhưng tác dụng nó đem lại rất lớn, đó là rèn luyện cho các em tính cẩn thận,

kĩ năng làm việc khoa học trong học tập và nghiên cứu Đặc biệt là nó giúp HSđịnh hướng lại vấn đề khi gặp trục trặc trong bài giải: mình đã sử dụng hết giảthiết chưa? Đề bài yêu cầu mình tính toán điều gì? Có mối liên hệ gì giữa giảthiết và kết luận? Do vậy, theo tôi, việc tóm tắt đề bài là một công việc bắtbuộc khi dạy bài tập hóa học ở trường THCS, cần biến nó trở thành một kĩ năng

ở HS

Trang 14

a) Viết phương trình hóa học

b) Tính nồng độ mol của dung dịch Ba(OH)2

c) Tính khối lượng chất kết tủa thu được

VCO2= 2,24 (l)

Cho biết Vdd Ba(OH )2 = 200 (ml) = 0,2 (l)

Tính - CM Ba(OH )2= ?(M)

- mBaCO3= ?(g)

2.4 Rèn kĩ năng tìm mối liên hệ giữa số mol chất cần tìm với số mol chất

đã biết theo phương trình hóa học ( 1 tiết)

hướng dẫn thêm bước tìm số mol chất chưa biết dựa theo qui tắc tam suất:

“nhân chéo, chia ngang”

* Ví dụ 1: cho 2,8 g Fe tác dụng hết với 300ml dd HCl a M

a Viết PTHH xảy ra

b Tính a = ?

Trang 15

* Ví dụ 2: Cho Al tác dụng với 3,36 lít khí O2 ở (đktc) Tính khối lượng Al2O3

thu được sau phản ứng

Vậy 0,15 mol O2 tham gia phản ứng sẽ thu được 0,1mol Al2O3

*Ví dụ 3: Cho CaO tác dụng với V(l) dd HCl 1M, thu được 11,1 g CaCl2 TínhV

Số mol CaCl2 = 0,1 mol

Trang 16

b) Tính nồng độ mol của dung dịch Ba(OH)2

c) Tính khối lượng chất kết tủa thu được

+ GV đặt câu hỏi: Muốn tính nồng độ mol ta áp dụng công thức nào? HS nêucông thức: CM = V n

=> GV viết bên phải của bảng: CM (BaOH) 2 = V n+ GV hỏi tiếp: đối chiếu với giả thiết đề bài cho, ta đã có những đại lượng nàotrong công thức này?

HS sẽ nêu được Vdd Ba(OH) 2 = 0,2 (l)

Trang 17

?Vậy số mol Ba(OH)2 tính như thế nào?

HD cho HS tìm số mol CO2 dựa vào công thức: V = n.22,4)

HS nêu công thức: mBaCO 3 = M BaCO 3 n BaCO 3

=> GV viết bên phải của bảng: mBaCO 3 = M BaCO 3 n BaCO

3

+ Để tìm được mBaCO 3 cần phải tính đại lượng nào trước? HS: n BaCO 3

=> GV viết tiếp vào bên trái của công thức tính mBaCO 3 :

n BaCO 3 mBaCO 3 = M BaCO 3

n BaCO 3

+ Để tìm được số mol BaCO3 cần dựa vào đâu? HS: PTHH, từ số mol chất đãbiết là CO2

Theo PTHH: số mol BaCO3 = số mol CO2 = 0,1 mol

Vậy khối lượng BaCO3 là:

mBaCO 3 = M BaCO 3 n BaCO 3 = 0,1 197 = 19,7 g

Trang 18

Chú ý: Giáo viên có thể hd học sinh ngắn gọn như sau: vì hệ số của các chất là 1nên giảm số bước tính toán: Theo PT: nBa(OH)2 = nBaCO3 = nCO2 = 0,1 Rồitính mkt và CM

Ví dụ 2: (Bài tập 6 – trang 19, SGK Hóa học 9) Cho một khối lượng mạt sắt dưvào 50ml dung dịch HCl Phản ứng xong, thu được 3,36 lít khí (đktc)

a) Viết các PTHH;

b) Tính khối lượng mạt sắt đã tham gia phản ứng;

c) Tìm nồng độ mol của dung dịch HCl đã dùng

=> GV viết bên phải của bảng: mFe = MFe.nFe

+ Vậy để tìm được mFe cần phải tính đại lượng nào trước? HS: nFe

=> GV viết tiếp vào bên trái của công thức tính mFe:

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w