1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyên đề tổ chức phụ đạo học sinh yếu kém lớp 9 ôn thi THPT môn anh

15 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 222,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ:- Nhiệm vụ trọng tâm của các trường học là: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém là mục tiêu cơ bản hàng đầu, là mối qua

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ

TỔ CHỨC PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU, KÉM LỚP 9 ÔN THI THPT MÔN ANH

Người viết: Nguyễn Thanh Phương Tổ: KHXH

Trường THCS Thanh Vân

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TAM DƯƠNG

TRƯỜNG THCS THANH VÂN

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

- Nhiệm vụ trọng tâm của các trường học là: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém là mục tiêu cơ bản hàng đầu, là mối qua tâm lớn đối với sự nghiệp giáo dục Có thể nói vấn đề học sinh yếu kém hiện nay đang được các nhà trường quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này Muốn vậy giáo viên không chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ

lệ học sinh yếu kém

- Việc phụ đạo học sinh yếu kém bộ môn mình phụ trách là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp bách , cần thiết nhất là môn tiếng anh lớp 9 Các em đã mất căn bản

từ các lớp dưới Để giúp các em phần nào nhớ lại những kiến thức cũ và ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi PTTH.Vì vậy trong phạm vi chuyên đề : “ Tổ chức phụ đạo học sinh yếu kém lớp 9 ôn thi THPT môn Anh ” tôi xin phân tích một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc phục khó khăn

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.Thực trạng vấn đề

a) Thuận lợi:

- Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao, chặt chẽ của BGH nhà trường

- Giáo viên nhiệt tình, tận tụy với học sinh

- Có đủ phòng học, có thời gian để bồi dưỡng và phụ đạo cho các em học sinh

- Học sinh ngoan ngoãn, lễ phép

b) Khó khăn:

* Đối với phụ huynh

- Hầu hết các em ở khu vực nông thôn, 90% hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên điều kiện học tập của con em chưa tốt

- Đa số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em, Còn khoán trắng cho nhà trường

* Đối với giáo viên

- Do mặt bằng số tiết của giáo viên cao ảnh hưởng phần nào đến chất lượng giờ dạy

- Sĩ số lớp đông, giáo viên không thể bao quát hết từng đối tượng họ sinh

- Nội dung chương trình sách giáo khoa một số bài kiến thức quá tải nên để truyền tải hết nội dung của một bài học theo PPCT thì không thể đi sâu kĩ cũng như không có nhiều thời gian nhắc lại kiến thức cũ HS mà đã quên

* Đối với học sinh:

- Hiện nay, đa số HS chưa xác định được động cơ học tập đúng đắn, chưa có ý thức học tập như:

+ Thường xuyên không mang sách vở khi đến lớp

+ Không tập trung trong giờ học, nói chuyện với bạn gây ồn

+ Đa số HS không học bài cũ, không nghiên cứu bài mới trước khi đến lớp làm giảm khả năng tư duy

2 Nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém

- Để nâng dần chất lượng học sinh không phải một sớm một chiều mà nó đòi hỏi phải có lòng kiên nhẫn và quyết tâm của người giáo viên

Trang 3

- Phụ đào yếu kém phải được giáo viên quan tâm nhất là trong tình hình học tập hiện nay của học sinh, nhưng phụ đạo thế nào, phương pháp ra sao thì đó cũng

là một vấn đề đòi hỏi giáo viên cần phải không ngừng tìm hiểu

2.1 Về phía học sinh

- Học sinh là người học, là người lĩnh hội tri thức thì nguyên nhân học sinh yếu kém là do:

+ Học sinh lười học:

+ Kiến thức cũ yếu, các em không theo kịp bài học nên các em thiếu tự tin tham gia xây dựng bài dần dần các em quên đi việc phát biểu xây dựng bài hoặc đôi lúc hiểu bài muốn phát biểu nhưng cứ ngại nói rồi các em bỏ qua việc phát biểu luôn Điều này kiềm hãm tính thích thú đối với việc học của các em

+ Thường hay ỷ lại, dựa dẫm vào bạn bè trong kiểm tra, thi cử

+ Nhiều học sinh không biết cách phân chia thời gian biểu học bài tại nhà cho hợp lí thường tập trung môn này thì bỏ học môn kia…Thầy cô yêu cầu học gì thì học nấy, không chủ động tìm tòi học thêm

+ Suy nghĩ chủ quan: thầy cô dò bài rồi nên không cần học nữa, vô tình từng ngày các em tạo ra lỗ hổng kiến thức rất lớn

2.2 Về phía giáo viên

Nguyên nhân học sinh yếu không phải hoàn toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên

- Giáo viên chưa thực sự chú ý đúng mức đến đối tượng học sinh yếu Chưa theo dõi sát sao và xử lí kịp thời các biểu hiện sa sút của học sinh

- Giáo viên chưa gần gũi, tìm hiểu hoàn cảnh để động viên, khuyến khích các

em kịp thời Từ đó các em dần chấp nhận sự yếu kém của mình và nhụt trí không tự vươn lên…

2.3 Về phía phụ huynh

- Một số phụ huynh HS chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em

do hoàn cảnh, do suy nghĩ lệch lạc… Bên cạnh đó, có nhiều phụ huynh HS rất quan tâm đến việc học tập của con em nhưng kiến thức bậc THCS khó hơn nhiều, nên cha mẹ khó giám sát cách học của con em tại nhà, mà chỉ quan tâm ở mức độ bảo ban, nhắc nhở qua loa như con cố gắng nhé; con thuộc bài chưa? Đôi lúc các em chưa thuộc bài nhưng trả lời con học thuộc rồi thì cha

mẹ đâu biết được vì không biết kiểm tra ra sao

Trên đay chỉ là một số nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng học sinh yếu mà bản thân trong quá trình giảng dạy nhận thấy

Qua việc phân tích những nguyên nhân đó, tôi xin mạnh dạn đưa ra một

số giải phápđể giáo dục, phụ đạo học sinh yếu kém như sau:

3 Một số giải pháp phụ đạo học sinh yếu,kém

3.1 Giải pháp chung

+ Nắm đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh.

Lứa tuổi học sinh lớp 9 THCS là lứa tuổi hết sức nhạy cảm thuộc vào giai đoạn giữa trẻ em và người lớn, không còn là trẻ em nhưng cũng chưa phải là người lớn Tôi nắm bắt được điểm này ở các em đặc biệt là những em yếu -kém Do đó tôi đã thay đổi phương pháp học cho các em,vừa học vừa chơi, tạo cho các em không khí nhẹ nhàng thoải mái trong giờ học Khuyến khích và động

Trang 4

viên các em vươn lên trong học tập Thực sự cảm thông, chia sẻ với các em, luôn sẵn lòng giúp đỡ “ Tất cả vì học sinh thân yêu”

+ Dạy phụ đạo theo lịch của nhà trường:

*các nguyên tắc mà tôi đó áp dụng để có tiết dạy phụ đạo tốt

-Giáo viên luôn soạn giáo án chu đáo, chuẩn bị đồ dùng kỹ lưỡng và phù hợp với nội dung bài soạn

- Tạo sự tự do, thoải mái cho học sinh

(Đây là những buổi học mà học sinh yếu kém cảm thấy tự do trong khuôn phép, thoải mái nhất bởi xung quanh không còn đối tượng để mặc cảm Do đó tôi đã vận dụng điểm này để cho các em luyện tập nội dung bài học một cách nhẹ nhàng)

- Củng cố kiến thức cơ bản các em đã được học ở các tiết trước hoặc kiến thức của lớp dưới mà các em bị hổng

- Đơn giản hoá đưa ra những dấu hiệu nhận biết trong bài tập và nâng độ khó từ

từ một cách phù hợp với trình độ của các em

- Luôn kiểm tra để chắc chắn về kiến thức mà các em còn nhớ được

- Bầu một cán sự bộ môn của lớp học phụ đạo (HS này là trợ lý đắc lực giúp tôi thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc làm bài tập ở nhà của các em, kiểm tra những nhiệm vụ mà giáo viên đã giao ở tiết trước Kiểm tra việc chuẩn bị bài

vở, SGK, SBT và cả việc ghi chép ở trên lớp)

- Khôn khéo, mềm dẻo nhưng cứng rắn

+Giáo dục ý thức cho học sinh

- Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập cho học sinh, tạo sự hứng thú trong học tập giúp các em có ý thức vươn lên

- Liên hệ thực tế giúp học sinh hiểu được tầm qua trong của bộ môn trong thực tiễn cuộc sống

- Tìm hiểu hoàn cảnh, khuyên nhủ về thái độ học hành, phối hợp với gia đình cùng giáo dục con em mình tiến bộ

3.2 Giải pháp cụ thể

3.2.1 Lập danh sách học sinh yếu kém

- Thông qua bài khảo sát đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém để nắm rõ đói tượng học sinh để chú ý đến đối tượng này trong từng tiết dạy

- Thường xuyên gọi các em trả lời những câu hỏi phù hợp giúp các em tự tin hơn khi minh có thể trả lời

3.2.2 Điểm danh học sinh mỗi buổi học

- Ghi nhận và báo cho giáo viên chủ nhiệm những trường hợp học sinh bỏ học phụ đào để có biện pháp khắc phục

3.2.3 Xác định kiến thức cơ bản, trọng tâm và các dấu hiệu nhận biết

- Nhằm củng cố, bổ sung, hệ thống kiến thức bị “hổng ”cho một số học sinh có nhận thức chậm và lực học Yếu, Kém của bộ môn

- Giáo viên phụ đạo học sinh Yếu, Kém cần xây dựng bài soạn đầy đủ với kiến thức cơ bản, cần thiết theo nhu cầu của học sinh Đảm bảo yêu cầu và phù hợp với nhận thức của học sinh

Trang 5

- Cần đảm bảo tính hệ thống, chú trọng phát triển tư duy và kỹ năng học tập, phương pháp nhận thức của môn học

- Phụ đạo bình thường thực hiện song song vừa bổ xung kiến thức cơ sở dùng

để phục vụ ngay bài học của chương trình cũng như chương trình thi THPT

III TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Chất lượng khảo sát đầu năm bộ môn Anhkhối 9 năm học 2019-2020

* Sau khi có chất lượng khảo sát bộ môn, chất lượng tương đối thấp vì thế tổ có

kế hoạch phụ đạo học sinhyếu kém để cuối học kì, cuối năm học chất lượng được nâng lên, và đặc biệt là học sinh lớp 9 ôn thi vào THPT

+ Phân loại học sinh

2.Giáo viên lên kế hoạch cụ thể phụ đạo

+ Thực hiện nghiêm túc chương trình, kế hoạch phụ đạo đã được thống nhất ở

tổ chuyên môn và kế hoạchcủa nhà trường Có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình giúp đỡ học sinh yếu kém tiến bộ, giúp các em đạt chuẩnkiến thức, kỹ năng môn học

+ Thông báo thường xuyên về tình hình phấn đấu, học tập của học sinh cho GVCN để có biện pháp giáodục, duy trì sĩ số học phụ đạo

- Nâng cao chất lượng giáo dục học sinh, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém bộ môn,và đạt chất lượng tốt hơn trong kì thi THPT

IV PHẦN NỘI DUNG

IV.1 Thực trạng chất lượng giáo dục của đơn vi năm học 2018-2019.

* Sơ lược về trường

a Kết quả năm học trước2018-2019:

*)VềchấtlượngGDtoàndiện:

- Hạnh kiểm:

+ Tốt: đạt 91,7%

+ Khá: đạt 7,91%

+ Trung bình: 0,29%

- Học lực:

+ Giỏi: đạt 7,3 % + Khá: 37,82%

+ Trung bình: là 51,31% + Yếu: còn 2,51%

b Chất lượng bộ môn thi THPT năm học 2018-2019

TS HS dự thi Điểm thi trung bình Huyện Tỉnh

c Khảo sát đầu năm

- Sau khi cho thấy kết quả như trên tôi đã quyết định thực hiện các dự kiến của mình vào các trường hợp cụ thể, đặc biệt giành thời gian trong các phần luyện tập, đặc biệt là các giờ học phụ đạo

Trang 6

d Dự kiến số buổi phụ đạo

- Kỳ 1: 10 buổi

- Kỳ 2 : 10 buổi

IV ÁP DỤNG TRONG GIẢNG DẠY

IV.1Áp dụng trong các bài giảng

IV.2.1 Vocabulary and phonetics :

Trong quá trình phụ đạo học sinh yếu kém lỗ hổng từ vựng của các em là một vấn đề khó khăn lớn trong quá trình dạy và học Vậy nên để khắc phục được phần nào khó khăn này chúng tôi có một số giải pháp như sau :

Sau mỗi một tiết học giao cho các em học 5 từ, nhớ cách viết, nhớ cách phát âm

và nghĩa của từ Chúng tôi kiểm tra vào tiết kế tiếp Do đó vốn từ vựng của các

em dần được cải thiện Nếu vốn từ vựng của các em được cải thiện thì quá trình làm bài tập vận dụng ngữ pháp của các em cũng được khắc phục phần nào Để

áp dụng vào việc ôn thi THPT ngoài việc đưa ra từ để yêu cầu các em học tôi chỉ chú trọng vào dạng bài phát âm đuôi s/es/ed sau khi đưa ra cách phát âm

1 Cách đọc đuôi (s/es )

- Phát âm là /s/ Khi từ có tận cùng bằng các phụ âm vô thanh: /θ/, /p/, /k/, /f/, /t/.

Chúng ta cứ tạm dịch là “Thời phong kiến phương Tây” cho dễ nhớ

Eg: books, wants, …

- Phát âm là /iz/ – Khi từ có tận cùng là các âm: /s/, /z/, /ʃ/, /tʃ/, /ʒ/, /dʒ/ .

Eg: watches, classes…

- Phát âm là /z/ Khi các từ có tận cùng là nguyên âm và các phụ âm hữu thanh còn lại

Eg: plays, knows

Câu 1 chọn đáp án B vì 3 từ còn lại có tận cùng là các âm:/k/, /t/, /p/

Câu 2 chọn đáp án A vì 3 từ còn lại có tận cùng là các âm:/f/,/k/, /t/

2 Cách đọc đuôi (ed )

* Cách đọc động từ quá khứ đơn với “ed”.

-“ed” được đọc là /t/ khi những động từ nguyên mẫu có âm tận cùng là /f/, /k/, /p/, /∫ /, /s/, /t∫/ /

Ví dụ: laughed, asked, helped, washed, pushed, dressed………

-“ed” được đọc là /Id/ khi những động từ nguyên mẫu có âm tận cùng là /d/ và /t/

Ví dụ: needed, wanted, waited, added…………

-“ed” được đọc là /d/ khi những động từ nguyên mẫu tận cùng là các âm còn lại

Ví dụ: enjoyed, saved, arrived, filled…………

Mẹo nhỏ ghi nhớ: Giống như cách ghi nhớ các trường hợp phát âm

của s và es, để ghi nhớ dễ dàng quy tắc phát âm ed – /t/ ta nên ghép các

âm thành một câu hoặc một cụm từ hài hước, quen thuộcnhư gợi ý tham khảo như sau:

Thôi không (k) phì (p) phò (f) sợ (/s) sẽ (/∫/) chết (/t∫/).

Trang 7

1 A looked B moved C gained Dprepared

Câu 1 chọn đáp án A vì 3 từ còn lại có tận cùng là các âm:/v/, /n/, /r/

Câu 2 chọn đáp án C vì 3 từ còn lại có tận cùng là các âm:/k/,/t∫ /, /p/

Với lực học của các e tôi chỉ đưa 2 phần này vào dạng ôn luyện chủ yếu còn trong đề thi có các loại âm khác thì hướng dẫn cho các em

IV.2.2 Tenses

* Học sinh phải nắm vững 7 đại từ nhân xưng, đại từ tân ngữ và tính từ sở hữu tương ứng

Đại từ chủ từ Đại từ túc từ Tính từ sở hữu

* Nắm vững Tobe: Hiện tại: am/is/are

Quá khứ: was / were

Quá khứ phân từ: been

* Với học sinh yếu kém GV ngoài việc phải đưa ra công thức rõ ràng thì việc đưa ra những dấu hiệu nhận biết giúp học sinh phân biệt từng thì là rất quan trọng

Ví dụ:

1 Simple present (Thì hiện tại đơn)

* Cách dùng:

Diễn tả việc thường xuyên xảy ra, diễn tả thói quen, sở thích, sự thật hiển nhiên, thời gian biều…

Form

* to be: S + is/am/are +

* Ordinary verbs: (+) S + V/ Vs/es +

(-) S + don’t/ doesn’t + V + ……

(?) Do/ Does + s + V+… ?

* Trong câu thường có Adverbs: everyday, every morning , always, usually,

often, sometimes, never…

2.Past simple tense:

* Cấu tạo:

a Động từ có quy tắc: S + V(ed)

b Động từ bất quy tắc: S + V (cột II)

* Cách dùng:

Trang 8

Thì quá khứ đơn diễn tả một hành động đó xảy ra và kết thúc tại một điểm thời gian hoặc khoảng thời gian xác định trong quá khứ

Ví dụ: He arrived here yesterday

My father worked in Ha Noi from 1995 to 1998

* Lưu ý: -Động từ chia ở thì quá khứ đơn có 2 dạng: Nếu là động từ có quy tắc

ta thêm “ed” vào động từ nguyên mẫu Nếu là động từ bất quy tắc phải xem và học thuộc lòng ở cột thứ 2 của bảng động từ bất quy tắc

Ví dụ: learned studied went sent

* Cách thêm “ed ” sau động từ:

- Các động từ kết thúc bằng đuôi “e”,ta chỉ việc thêm “d”

e.g: live - lived

-Khi động từ được kết thúc bằng một phụ âm + “y”, ta phải chuyển “y” thành “i” rồi thêm “ed”

e.g: study – studied

try - tried

-Nhưng trước “y” là nguyên âm thì không đổi

e.g: play – played

obey - obeyed

* Cấu trúc:

Khẳng định: S + V(ed/ cột II)

Phủ định: S + didn’t + bare –infi

Nghi vấn: Did + S + bare –infi?

* Thì quá khứ đơn thường được dùng với các cụm từ chỉ thời gian xác định ở

quá khứ như: last week/ month/ year…………,a week/ two days/ five months/

three years ago, yesterday, yesterday morning/ evening, in + năm, from 1945 to

1950, for + two days/ months…………, sau When và Since.

Ví dụ: I was born in 1990

She visited Da Lat last summer

- Trợ động từ “do” chia ở quá khứ là “did”

3.Present progressive tense (Thì Hiện tại tiếp diễn)

* Form

(+) S + am/ is/ are + V-ing ………

Eg: Mai is reading a book

(-) S + am/ is/ are NOT + V-ing ………

Eg: Mai is not reading a book

(?) Am/ Is/ Are + S + V-ing …… ?

Eg: Is Mai reading a book?

* Use: Diễn tả hành động đang diễn ra ở hiện tại

*Trong câu thường có các trạng từ sau: now, at the moment, at present, at once,

at this time, Mệnh đề sau Look !, Listen …

4 Past continuous

a Use:

Thì quá khứ tiếp diễn được dùng để:

- chỉ một hành động đang xảy ra ở một thời điểm trong quá khứ

Ex: They were watching TV at 7p.m last night

Trang 9

- Chỉ 1 hành động đang xảy ra trong quá khứ thì 1 hành động khác đan xen vào làm gián đoạn

Ex: I was listening to music when she came

- Chỉ hai hay nhiều hành động xảy ra đồng thời trong quá khứ

Ex: I was watching TV while my mother was cooking

- Chỉ 1 việc hoặc 1 hành động ttiếp diễn trong quá khứ vào thời gian không xác định

Ex: They were doing exercises

b Form

(+) S +was/ were + V-ing

Ex: She was playing the piano at 10 o’clock yesterday

(-) S + wasn’t/ weren’t + V-ing

Ex: They weren’t watching TV at 8 o’clck yesterday

(?) Was/ were + S + V-ing…?

Ex: Was she eating?

Yes, S + was / were

No, S + wasn’t /weren’t (?) Wh-Q + was/ were + S + V-ing?

5 Present perfect tense:

* Form

(+) S + has / have (just) + PP + O

(-) S+ hasn’t/ haven’t + PP+ O

(?) Has/ have + S + PP+ O?

* Có các trạng từ: Just, recently, lately,already,before,never, since, for(dùng trong câu khẳng định) Yet, Ever (dùng trong câu hỏi và câu phủ định).

Since ( từ) chỉ mốc thời gian

For: ( khoảng) chỉ khoảng thời gian.

Eg.+ I have bought a new bike

He has just gone to Ha Noi

They have planted that tree

- I have not bought a new bike

He hasn’t just gone to Ha Noi

They haven’t planted that tree

? Have you bought a new bike ?

Yes, I have

No, I haven’t

6 Thì Tương lai ( Simple future)

* Form

(+) S + will + V-inf

(-) S + won’t + V-inf

( ?) Will + S + V …?

*Usage

- Diễn tả hành động , sự việc sẽ xảy ra trong tương lai

* Trong câu thường có các dấu hiệu thường gặp: tomorrow, next, in the future…

Trang 10

Áp dụng vào các dạng bài

*Chọn đáp án đúng nhất

1 We ……… him since we left school

2 They ………….a football match last night

A watch B watched C to watch D watching

Câu 1 có dấu hiệu nhận biết là since đó là dấu hiệu thì hiện tại hoàn thành

Nên ta chọn đáp án B

Câu 2 có dấu hiệu là last night đó là dấu hiệu của thì quá khứ đơn nên đáp án là

B

*Dạng bài tập chia động từ trong ngoặc

1 He (go) …… to the zoo yesterday

2 Lan (go) …… to school every day.

3 They (have) … a party tonight.

4 The students (visit) …… their old teacher next week?

5 She (not eat) …… bread for breakfast now.

6 My mother (read) …… books after dinner

? Thời động từ nào được dùng ở câu 1- hiện tại đơn, quá khứ đơn

-Các câu trả lời trên các em suy nghĩ và xác định bằng kiến thức mà các em nhớ được Tuy nhiên giáo viên có thể khẳng định “quá khứ đơn” để tiếp tục gợi mở hướng các em tới câu trả lời đúng

? Tại sao em biết dó là thì quá khứ đơn

-HS nhận ra được là có dấu hiệu nhận biết “yesterday” ở trong câu

? Thế thì hiện tại đơn có đúng không?” (GV vừa đưa ra các dấu hiệu cụm thời gian của hiện tại đơn: always, often, … every day, every time …)

-HS sẽ thấy được đáp án đúng là quá khứ đơn

? Em hãy chia động từ “go” -went

-He went to the zoo yesterday

IV.2.3 Dạng động từ theo sau V-ing

- Vì đối tượng là học sinh chưa đạt chuẩn lớp 9 đang ôn thi THPT nên tôi chỉ đưa ra những dạng cơ bản thường gặp trong cấu trúc đề các năm gần đây ví dụ như:

Sau các giới từ như: in, on, at, of, before, after… là V-ing

Sau 1 số động từ: suggest, practice, …

Verb of liking + V–ING

We often use the –ING form after verbs of liking and not liking These verbs are

adore, love, like, enjoy, fancy, don’t mind, dislike, don't like, hate, detest,

Example:

- I like swimming

- My grandpa loves reading newspaper

- My brother enjoys playing football

Verbs of liking +to-infinitives / V-ing

- love, like, prefer , hate …

Ví dụ

Dạng bài chọn đáp án đúng nhất

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w