1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIẢI PHÁP GIẢM tỉ lệ học SINH yếu, kém của bộ môn LỊCH sử bậc THCS

29 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nhưng ngược lại,giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên mộtphong cách và phương pháp dạy học hi

Trang 1

Tác giả chuyên đề: Lê Tiến Dũng

người có ích cho xã hội.

Đối với học sinh bậc THCS, các em là những đối tượng người học nhạy cảmviệc đưa phương pháp dạy học theo hướng đổi mới là cần thiết và thiết thực Vậylàm gì để khơi dậy và kích thích nhu cầu tư duy, khả năng tư duy tích cực, chủđộng, độc lập, sáng tạo phù hợp với đặc điểm của môn học đem lại niềm vui hứngthú học tập cho học sinh?

Trước vấn đề đó người giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi khám phá,khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạyhọc trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh,xây dựng cho học sinh một hướng tư duy chủ động, sáng tạo Bên cạnh đó, vấn đềhọc sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắcphục tình trạng này, để đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện thìngười giáo viên không chỉ phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tíchcực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém

Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nhưng ngược lại,giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên mộtphong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho học sinh có hướng tư duymới trong việc lĩnh hội kiến thức Là một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử, bảnthân đã nhiều đêm trăn trở và suy nghĩ Làm sao để học sinh thuộc diện yếu kém cóthể học tốt Phải chăng những học sinh yếu là do không được quan tâm một cáchthích đáng, do hoàn cảnh gia đình hay do các em lêu lỏng dẫn đến mất gốc, chánnản, không thích học…

Vì vậy trong phạm vi chuyên đề : “Một số giải pháp giảm tỉ lệ học sinh yếu kém của bộ môn Lịch sử bậc THCS” tôi xin phân tích một số nguyên nhân dẫn đến

tình trạng học sinh yếu kém và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượnggiảng dạy, giảm tỉ lệ học sinh yếu kém của bộ môn

Trang 2

II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CỦA NHÀ TRƯỜNG SO VỚI TOÀN HUYỆN, TỈNH NĂM HỌC 2018 – 2019

1 Chất lượng chung của toàn trường.

Trong năm học qua nhà trường đã thực hiện nghiêm túc Quyết định số 2086/QĐ-UBND ngày 25/7/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thờigian từ năm học 2017-2018 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáodục thường xuyên tỉnh Vĩnh Phúc; Công văn số: 526/HD-GDĐT ngày 18/9/2018 vềhướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục THCS năm học 2018-2019 của PhòngGD&ĐT Vĩnh Tường

Triển khai đồng bộ và hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đuacủa ngành phát động Thực hiện giảng dạy theo đúng chương trình, nội dung theohướng tinh giảm, đáp ứng mục tiêu giáo dục, chú trọng lồng ghép, tích hợp giáo dụcđạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sốngcho học sinh qua các môn học và các hoạt động giáo dục Tăng cường vận động vàyêu cầu GV thực hiện đổi mới PPDH, ứng dụng CNTT trong dạy học…

Kết quả đạt được trong năm qua được đánh giá qua bảng thống kê sau:

2019 có 98/115 HS dự thi đạt 85,2%) Kết quả thi ở từng môn cụ thể như sau:

+ Môn Toán: Kết quả thi đạt ĐTB là 4,8 điểm, xếp thứ 26 trong huyện, thứ

82 toàn tỉnh So với năm học 2018-2019 thì ĐTB giảm 0,04 điểm, giảm 6 bậc tronghuyện, giảm 12 bậc so với toàn tỉnh ĐTB môn thi so sánh với ĐTB toàn huyện thìkém 0,83 điểm; So với ĐTB toàn tỉnh thì kém 0,26 điểm

+ Môn Ngữ Văn: Kết quả thi đạt ĐTB là 5,8 điểm, xếp thứ 24 trong huyện,

Trang 3

thứ 78 toàn tỉnh So với năm học 2018-2019 thì ĐTB tăng 0,81 điểm, giảm 5 bậctrong huyện, giảm 24 bậc so với toàn tỉnh.

ĐTB môn thi so sánh với ĐTB toàn huyện thì kém 0,35 điểm; So với ĐTBtoàn tỉnh thì kém 0,06 điểm

+ Môn Tiếng Anh: Kết quả thi đạt ĐTB là 5,0 điểm, xếp thứ 16 trong huyện,

thứ 86 toàn tỉnh So với năm học 2018-2019 thì ĐTB giảm 0,36 điểm, tăng 5 bậctrong huyện, tăng 17 bậc so với toàn tỉnh

ĐTB môn thi so sánh với ĐTB toàn huyện thì kém 0,22 điểm; So với ĐTBtoàn tỉnh thì cao hơn 0,2 điểm

+ Môn Vật lý: Kết quả thi đạt ĐTB là 6,9 điểm, xếp thứ 15 trong huyện, thứ

52 toàn tỉnh So với năm học 2018-2019 (môn Sinh học) thì ĐTB tăng 0,24 điểm,giảm 6 bậc trong huyện, giảm 15 bậc so với toàn tỉnh

ĐTB môn thi so sánh với ĐTB toàn huyện thì kém 0,29 điểm; So với ĐTBtoàn tỉnh thì cao hơn 0,27 điểm

+ Môn Lịch sử: Kết quả thi đạt ĐTB là 6,8 điểm, xếp thứ 6/30 trường trong

huyện, thứ 15/142 trường trong toàn tỉnh So với năm học 2018-2019 thì ĐTB tăng0,82 điểm, giảm 3 bậc trong huyện, giảm 8 bậc so với toàn tỉnh

ĐTB môn thi so sánh với ĐTB toàn huyện thì cao hơn 0,67 điểm; So vớiĐTB toàn tỉnh thì cao hơn 1,06 điểm

Tổng hợp 5 môn: Kết quả thi đạt ĐTB là 5,9 điểm, xếp thứ 15 trong huyện,

thứ 40 toàn tỉnh So với năm học 2018-2019 thì ĐTB tăng 0,33 điểm, giảm 5 bậctrong huyện, giảm 10 bậc so với toàn tỉnh

ĐTB 5 môn thi so sánh với ĐTB toàn huyện thì kém 0,17 điểm; so sánh vớiĐTB toàn tỉnh thì cao hơn 0,28 điểm

3 Kết quả học tập bộ môn Lịch sử ở trường THCS Tân Tiến.

Qua quá trình tổng hợp kết quả học tập bộ môn Lịch sử của học sinh trong 2năm học 2017-2018 và 2018-2019 kết quả thu được là

Trang 4

4 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém.

Để nâng dần chất lượng học sinh không phải là chuyện một sớm một chiều

mà nó đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên

Phụ đạo học sinh yếu kém phải được giáo viên quan tâm nhất là trong tìnhhình học tập hiện nay của học sinh, nhưng phụ đạo như thế nào, phương pháp ra saothì đó cũng là một vấn đề đòi hỏi giáo viên cần phải không ngừng tìm hiểu

4.1 Về phía học sinh.

Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân

học sinh yếu kém có thể kể đến là do :

- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, nhận thấy rằng các em học

sinh yếu đa số là những học sinh cá biệt, trong lớp không chịu chú ý chuyên tâmvào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, không làm bài tập, cứđến giờ học thì cắp sách đến trường Còn một bộ phận nhỏ thì các em chưa xác địnhđược mục đích của việc học Các em chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảngbài rồi ghi vào những nội dung đã học để sau đó về nhà lấy ra “học vẹt” mà khônghiểu được nội dung đó nói lên điều gì Chưa có phương pháp và động cơ họctập đúng đắn

- Cách tư duy của học sinh: Môn Lịch sử được xem là một môn học

cần nhiều yếu tố để học tốt như: cách tư duy tinh tế, sự tỉ mỉ, cách n ắm các sựkiện cơ bản, hiểu được mối quan hệ móc xích giữa các sự kiện Lịch sử, sự tác độngqua lại của các sự kiện lịch sử, mối quan hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử ViệtNam Vì vậy khi học sinh không có tư duy Lịch sử đúng đắn sẽ dẫn tới việcmột số em dần mất đi hứng thú học và dẫn đến tình trạng học yếu, kém

- Học sinh bị hỏng kiến thức từ lớp dưới: Đây là một điều không thể phủ

nhận với chương trình học tập hiện nay Nguyên nhân này có thể nói đến bản thântừng học sinh và cách đánh giá của giáo viên chưa hợp lí, chính xác

4.2 Về phía giáo viên.

Trang 5

Nguyên nhân học sinh học yếu không phải hoàn toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên:

- Còn một số giáo viên chưa thực sự chú ý đúng mức đến đối tượng học sinhyếu Chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút của học sinh

- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho học sinhyếu không theo kịp

- Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, tâm huyết với nghề, chưa thật sựgiúp đỡ các em thoát khỏi yếu kém, như gần gũi, tìm hiểu hoàn cảnh để động viên,hoặc khuyến khích các em khi các em có chút tiến bộ trong học tập như là khenthưởng các em Từ đó các em cam chịu, dần dần chấp nhận với sự yếu kém củachính mình và nhụt chí không tự vươn lên

- Một số giáo viên ở các nhà trường khi tiến hành giảng dạy còn chưa đổi mớiphương pháp dạy học, vẫn hay sử dụng phương pháp “đọc – chép” khiến học sinhkhông hiểu bài, không có hứng thú học tập Các em bị “hổng” kiến thức và lỗ

“hổng” đó càng ngày càng rộng khiến các em trượt dài trên con đường mất kiếnthức Điều đó làm cho học sinh không nắm được bài và từ đó dẫn tới giờ học các emkhông còn chú ý đến việc học tập, kết quả cuối cùng là học sinh trở thành học sinhyếu, kém

- Hiện nay, việc các nhà trường đang thiếu giáo viên giảng dạy còn phổ biếnnhất là môn Lịch sử Nhiều giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử không phải là giáoviên chính ban mà chỉ là giáo viên bộ môn khác kiêm nhiệm Hoặc cũng có thể làgiáo viên chính ban nhưng tham gia giảng dạy nhiều môn Cả hai yếu tố trên ảnhhưởng không nhỏ tới chất lượng bộ môn, tới việc giảm sút hứng thú học tập của cácem

- Trong nhà trường, một số CB, GV cũng chưa có sự nhận thức đúng đắn vềvai trò và vị trí của môn Lịch sử Họ cũng coi môn Lịch sử là môn học phụ, ít cóảnh hưởng đến tổng quan chung của nhà trường kể cả khi tham gia vào kì thi tuyểnsinh THPT Do đó, ít nhiều cũng ảnh hưởng tới tâm lí của HS, HS cũng có nhậnthức sai lệch về bộ môn Từ đó các em ít dành sự quan tâm tới Lịch sử và hậu quả

đó là chất lượng bộ môn bị ảnh hưởng nói chung và nhất là các em có nhận thứcchậm lại càng yếu hơn

- Về phía nhà trường: Tỉ lệ học sinh yếu kém tại trường THCS Tân Tiến mộtphần do cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu, chưa đủ để phục vụ cho nhu cầuđổi mới phương pháp dạy học như phòng học bộ môn chưa có, giáo viên khi tiếnhành sử dụng công nghệ thông tin còn gặp khó khăn phải mượn phòng học bộ môn.Việc tiến hành các phương pháp mới như dạy học theo dự án, dạy học tại thực địa

Trang 6

khó có khả năng áp dụng Điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng tới chất lượng giảngdạy của bộ môn

- Cha mẹ học sinh và xã hội còn coi nhẹ và xem môn Lịch sử là môn phụ nêndành ít thời gian và sự quan tâm đầu tư đúng mức đối với phân môn Nhận thức của

xã hội về bộ môn cũng chưa chuẩn nhất là trong bối cảnh thực tế hiện nay khi cáctrường ĐH thi tuyển sinh các ngành nghề có liên quan đến môn Lịch sử ít, nếu cóthì lại là những ngành nghề mang lại thu nhập thấp, khó xin việc làm Nên kết quả

bộ môn ngày càng sa sút, yếu kém trên phạm vi rộng, tỉ lệ HS yếu cũng tăng nên vànguy hiểm hơn việc các thế hệ trẻ không có kiến thức lịch sử dân tộc ngày càngnhiều Đây là điều nguy hại tới sự tồn vong của quốc gia khi mà trẻ không có kiếnthức về lịch sử dân tộc

Trên đây chỉ là một số nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng họcsinh yếu mà bản thân trong quá trình giảng dạy nhận thấy

III ĐỐI TƯỢNG CHUYÊN ĐỀ ÁP DỤNG.

- Đó là học sinh yếu kém ở khối 9 Vì đây là lớp cuối cấp, lượng kiến thứcnhiều, đa dạng, phức tạp Yêu cầu về việc nắm kiến thức và vận dụng vào bài làmcao đặc biệt là khối 9 khi Lịch sử là môn học tham gia vào kì thi tuyển sinh THPT

Do đó việc giúp học sinh nhất là học sinh yếu kém nắm được kiến thức, vận dụngvào bài làm càng cao hơn

- Về số tiết dạy: Có thể áp dụng với tất cả các bài ở các khối lớp 9

IV HỆ THỐNG CÁC DẠNG BÀI TẬP ĐẶC TRƯNG TRONG PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM.

- Câu hỏi đúng/sai.

Ví dụ: Hãy ghi chữ Đ (đúng) hoặc chữ S (sai) vào cuối phương án mà em lựa chọn

là đúng hoặc sai cho các câu dưới đây

A Năm 1949 Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ Phương Đông

Trang 7

B Ngày 8/8/1967 Hiệp hội các nước Đông Nam Á được thành lập tại BăngCốc (Thái Lan).

C Nhật Bản là quốc gia khởi đầu cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần hai

D Sau khi trật tự Ian ta sụp đổ thế giới đang dần tiến tới xác lập trật tự đa cựcnhiều trung tâm

- Câu hỏi điền khuyết/điền thế.

Cho đoạn thông tin sau

Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) Tại đây, Người thành lập ……… , mà nòng cốt là tổ chức Cộng sản đoàn (6 - 1925)

Chọn một đáp án đúng để điền vào chỗ trống hoàn thiện đoạn thông tin trên

A Hội Phụ nữ cứu quốc

B Hội thanh niên phản đ ế Đông Dương

C Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên

D Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa

- Câu hỏi ghép đôi.

Ví dụ: Hãy nối các ý ở cột A với các ý ở cột B sao cho đúng

- Câu hỏi làm việc với đồ dùng trực quan.

Trang 8

Câu hỏi: Quan sát hình ảnh và cho biết đây là việc quân đội ta đang chuẩn bị cho

việc mở chiến dịch nào?

A Trung Du B Biên Giới C Hoà Bình D Điện Biên Phủ

- Câu hỏi nhiều lựa chọn

Câu hỏi Sự kiện nào đánh dấu Nguyễn Ái Quốc bước đầu tìm thấy con đường cứu

nước đúng đắn?

A Đưa Bản yêu sách đến Hội nghị Vécxai (1919)

B Đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc thuộc địa (1920)

C Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp (1920)

D Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa ở Pari (1921)

Tuy nhiên, hiện nay xu thế chủ yếu trong dạy học và kiểm tra đánh giá họcsinh là dùng câu hỏi nhiều lựa chọn với đầy đủ các mức độ khác nhau Đối với côngtác phụ đạo HS yếu, kém thì việc dùng câu hỏi đa lựa chọn là phù hợp hơn cả Đây

là cách thức vừa để học sinh tự ôn luyện, vừa là phương thức chiếm lĩnh kiến thứccho học sinh thông qua việc làm bài tập lịch sử

V HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐẶC TRƯNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY GIẢM TỈ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM MÔN LỊCH SỬ.

1 Nhóm các biện pháp trước và sau khi tiến hành dạy học trên lớp

1.1 Xây dựng môi trường học tập thân thiện

- Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quảcao Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảmgiác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trongcuộc sống của bản thân mình

- Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, khôngmắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợgiáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình

- Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tíchcực Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việclàm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi, hoặc cho điểm cao đểkhuyến khích các em

1.2 Phân loại đối tượng học sinh

- Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặcđiểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung

và riêng của từng em Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém,khả năng tiếp thu bài, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…

Trang 9

- Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề ranhằm tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù hợp.

- Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dànhcho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện chocác em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị tríđích thực của mình trong tập thể

- Ngoài ra, giáo viên tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biệnpháp giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao Có thể tổ chức phụ đạo 1 buổitrong một tuần Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo có thể kết hợp với hình thức vuichơi nhằm lôi cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề

1.3 Giáo dục ý thức học tập cho học sinh

- Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh tạo cho học sinh sựhứng thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên Trong mỗitiết dạy, giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứngdụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn Từ đây, các em sẽ ham thích

và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức

- Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnhgia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các tròchơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lêntrong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học Đồng thời, giáoviên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh Do hiện nay, cómột số phụ huynh luôn gò ép việc học của con em mình, sự áp đặt và quá tải sẽ dẫnđến chất lượng không cao Bản thân giáo viên cần phân tích để các bậc phụ huynhthể hiện sự quan tâm đúng mức Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy cô sẽ tạođộng lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên

- Phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho các em học tập, đôn đốc thực hiện

kế hoạch học tập ở trường và ở nhà

1.5 Tăng cường kiểm tra việc chuẩn bị học tập và việc học bài của HS.

Trang 10

Đây là biện pháp giúp học sinh bị thôi thúc bởi việc làm của giáo viên qua đóbuộc HS phải làm việc một cách tích cực để có thể hoàn thành nhiệm vụ môn học.Tuy nhiên để biện pháp này thực hiện có hiệu quả, yêu cầu GV phải kết hợp giữakiểm tra với động viên khuyến khích học sinh kịp thời, thậm chí là khen thưởng HS.Qua đó kích thích thái độ học tập của HS.

Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào

quá trình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dụcpháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụngnăng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông

Việc áp dụng dạy học theo Phương pháp dạy học tích hợp có ưu điểm đó là các chủ

đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, có

ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ đề tíchhợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giảiquyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc

Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phảihọc lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gâyquá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năngứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn

Qua việc áp dụng phuong pháp dạy học này học sinh sẽ có hứng thú học tập

và các em có thể nắm được kiến thức nhanh chóng do đó chất lượng bộ môn cũngtăng lên

2.2 Sử dụng phương pháp hệ thống hoá kiến thức qua sơ đồ, bảng biểu trong dạy học lịch sử.

2.2.1 Hệ thống hoá kiến thức theo sơ đồ :

Việc sử dụng hệ thống hoá kiến thức theo sơ đồ này giáo viên có thể thựchiện trong quá trình dạy hoặc thực hiện sau khi đã học xong , tuỳ vào lượng kiếnthức cũng như thời lượng học tập và phải phù hợp với đối tượng học sinh Vớiphương pháp này giúp học sinh có thể hệ thống được lượng kiến thức trọng tâm

Trang 11

trong từng mục, từng bài, hoặc từng chương ,biết cách khái quát kiến thức.Từ đógiúp các em hạn chế được tình trạng nhầm lẫn kiến thức giữa các bài, cácchương Mặt khác, qua đó còn giúp các em có thể phát huy được tính tư duy, logicvấn đề, phân tích được sự kiện, hiểu rõ được bản chất của vấn đề, mối quan hệ kiếnthức trong bài, trong chương Từ đó giúp các em hứng thú hơn trong học tập mônlịch sử.Tuy nhiên với phương pháp này, giáo viên phải lưu ý với học sinh chỉ được

sử dụng trong vở ghi hoặc trong quá trình học, tuyệt đối không được sử dụng trongbài kiểm tra hoặc thi khi đề không yêu cầu

*Cách thức thực hiện :

Trong dạy học lịch sử, đặc biệt trong phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945) có nhiều sự kiện và nội dung kiến thức nên nhiều học sinh không thể nhớ hếtđược, thậm chí hay nhầm lẫn Vậy việc sử dụng phương pháp này sẽ giúp các emtránh được tình trạng trên, đồng thời phát huy tích tích cực và tư duy logíc của họcsinh Qua sơ đồ học sinh có biểu tượng để nắm được kiến thức trọng tâm, trên cơ sở

(1919-đó phân tích được từng sự kiện lịch sử Phương pháp sơ đồ hoá kiến thức này có thểvận dụng trong từng mục, từng bài hoặc từng chương

Ví dụ 1: Khi dạy mục III: Xã hội Việt Nam phân hoá bài lịch 14 Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất Lịch sử 9 Giáo viên sau khi trình bày

xong, hoặc trong quá trình dạy có thể hệ thống hoá kiến thức qua sơ đồ sau:

Trang 12

Qua sơ đồ này học sinh có biểu tượng để tự minh hoạ được những nộidung kiến thức đã học trong mục Từ đó hiểu được bản chất của vấn đề Cụ thể nhưsau: Khi Pháp chưa xâm lược Việt Nam, xã hội Việt Nam là xã hội phong kiến vớihai giai cấp cơ bản, nhưng khi Pháp xâm lược và đẩy mạnh chính sách khai thácthuộc địa lần hai thì xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến trở thành xã hộithuộc địa nửa phong kiến, điều đó làm cho xã hội Việt Nam bị phân hoá sâu sắc,bên cạnh hai giai cấp cơ bản vẫn còn tồn tại đã xuất hiện thêm một số tấng lớp, giaicấp mới Cũng qua sơ đồ này học sinh có thể thấy được quyền lợi, địa vị của từnggiai cấp và khả nămg làm cách mạng của các giai cấp trong xã hội Việt Nam lúcnày Từ đó hiểu được quy luật phát triển của lịch sử là chính từ sự phân hoá xã hộinày đã dẫn đến phong trào cách mạng Việt Nam phát triển mạnh theo hai khuynhhướng dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sản sau chiến tranh thế giới thứ nhất.Đặc biệt khi làm bài học sinh hiểu được bản chất của sự kiện thì chỉ cần nhớ lại sơ

đồ sẽ trình bày được khối lượng kiến thức lớn Cách học này rất dễ nhớ và nhớ lâu

2.2.2.Hệ thống hoá kiến thức theo bảng biểu:

Phương pháp này thường được áp dụng cho những bài ôn tập, tổng kết, hoặcnhững nội dung mang tính chất so sánh, liệt kê các sự kiện Phương pháp hệ thốngnày giúp các em liệt kê được các sự kiện chính trong từng mục, từng bài hoặc từng

XHPK

XH thuộc địa nửa PK

và nhỏ -

có tinh thần dân tộc

Lực lượng

CM đông đảo

và chủ yếu

TS mại bản->

đối tượng của CMVN

TS dân tộc ->

ít nhiều

có tinh thần dân tộc

Lực lượng

CM hăng hái và quan trọng nhất

Có đặc điểm riêng-

>vươn lên nắm quyền lãnh đạo CMVN

Trang 13

chương hoặc giúp các em có thể so sánh, đối chiếu giữa nội dung này với nội dungkia, giai đoạn này, giai đoạn khác đặc biệt với phương pháp này sẽ giúp các emkhắc phục được tình trạng nhầm lẫn kiến thức giữa nội dung sự kiện này với nộidung sự kiện khác, kiến thức trọng tâm giai đoạn lịch sử này với giai đoạn lịch sửkhác…Từ đó giúp các em hiểu sâu được bản chất của lịch sử, quy luật phát triển củalịch sử và nhất là hiểu được ý nghĩa của việc học môn lịch sử và dần yêu thích mônlịch sử hơn.Với phương pháp này giáo viên cũng có thể lưu ý với học sinh có thể sửdụng vào bài kiểm tra, bài thi khi đề bài yêu cầu.

Phương pháp này giáo viên có thể hướng dẫn các em trong những bài tổngkết, ôn tập, liệt kê sự kiện, hoặc những nội dung khác nhau để so sánh Với phươngpháp này giúp học sinh liệt kê được toàn bộ những sự kiện chính trong bài theo cácmốc thời gian, hoặc có thể so sánh nội dung này với nội dung kia, từ đó tránh đượctình trạng nhầm kiến thức hoặc thiếu các sự kiện

Ví dụ 1: Bài 16 Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài trong những năm 1919-1925 Sau khi trình bày xong quá trình hoạt động của Người từ 1919-1925

trên lược đồ, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh hệ thống lại toàn bộ kiến thứcgiáo viên trình bày theo bảng sau:

1911 Người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước

1917 CMT10 thành công, Người quay trở lại Pháp

1919 Gửi bản yêu sách 8 điểm tới hội nghị Véc xai

7/1920 Người đọc bản sơ thảo lần thứ nhất luận cương của Lê nin về

vấn đề dân tộc và thuộc địa 12/1920 Người dự ĐH toàn quốc của Đảng XH Pháp tại thành phố Tua,

gia nhập QTCS, thành lập ĐCS Pháp -> người cộng sản đầu tiên ở VN

1921 Thành lập ra Hội liên hiệp các dân tộc và thuộc địa

1922 Ra báo người cùng khổ ,viết nhiều bài đăngtrên các báo vạch

trần c/s đàn áp bóc lột dã man của CNĐQ 6/1923 Người về Liên Xô dự HNQT nông dân, ĐHQTCS

11/1924 Người về Quảng Châu –TQ mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ

và tuyên truyền giáo dục lý luận 6/1925 Thành lập tổ chức Hội VNCM Thanh Niên

Trang 14

Với bảng hệ thống này trước hết giúp học sinh có thể nhớ và liệt kêđược các sự kiện hoạt động của Người Từ đó rút ra được vai trò của Người đối vớiCMVN trong giai đoạn này.

Ví dụ 2: Khi dạy xong bài 19 phong trào CM trong những năm 1930-1935 và bài 20 cuộc vận động dân chủ trong những năm 1936-1939, giáo viên có thể yêu

cầu học sinh hệ thống hoá kiến thức những vấn đề cơ bản của 2 bài theo bảng sau:

giành độc lập cho dân tộc

và RĐ cho dân cày

Chống phát xít ,chống chiến tranh ,chống bọn phản động thuộc tay sai ,đòi tự do dân chủ

Mặt trận Chưa thành lập thành lập MT nhân dân phản

đế ĐD-> MTDCDDHình thức,phương

pháp CM

Bí mật bất hợp pháp ,bạo động vũ trang

Hợp pháp công khai ,bán công khai

Thông qua bảng hệ thống này học sinh sẽ biết rõ được kẻ thù, nhiệm vụ CMcủa từng giai đoạn lịch sử Từ đó xác định được nhiệm vụ trọng tâm và hình thức

CM cụ thể trong từng giai đoạn Mặt khác còn giúp học sinh có thể lí giải được tạisao lại có sự thay đổi sách lược chủ truơng của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử

2.3 Dạy học Lịch sử bằng sơ đồ tư duy.

a Sơ đồ tư duy là gì ?

*Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map)

- Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ýtưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề… bằngcách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết…Đặc biệt đây làmột sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ là theo mạch tư duy của mỗi người

- Việc ghi chép thông thường theo từng hàng chữ khiến chúng ta khó hìnhdung tổng thể vấn đề, dẫn đến hiện tượng đọc sót ý, nhầm ý Còn sơ đồ tư duy tậptrung rèn luyện cách xác định chủ đề rõ ràng, sau đó phát triển ý chính, ý phụ mộtcách logic

b Sơ đồ tư duy có ưu điểm:

Dễ nhìn, dễ viết

• Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh

• Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w