Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ thực trạng về nhân thân người phạm tội, đi sâu vào nghiên cứu phân tích các nguyên nhân hình thành đặc điểm nhân thân xấu của những người phạm tội, luận văn hướng đến mục đích đề xuất các giải pháp tăng cường tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ góc độ nhân thân người phạm tội từ năm 2014 đến năm 2018.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN NGOAN
NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN NGOAN
NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong luận văn là những kiến thức của bản thân tôi có được trong quá trình học tập, tham khảo, nghiên cứu tài liệu và thực tiễn công tác dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Hữu Tráng Những nội dung của các tác giả khác đã được trích dẫn, ghi chú theo đúng quy định Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Ngoan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội 9 1.2 Quá trình hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực ở người phạm tội 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 28
2.1 Tình hình tội phạm ở thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu giai đoạn
từ năm 2014 – 2018 28 2.2 Đặc điểm nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tình
Bà Rịa – Vũng Tàu 32 2.3 Các yếu tố tác động góp phần hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực
ở người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa 39
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM Ở THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU TỪ GÓC ĐỘ NHÂN THÂN 56
3.1 Quan điểm phòng ngừa tội phạm của Đảng và Nhà nước cũng như của thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 56 3.2 Tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm ở thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu từ góc độ nhân thân 59
KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT : An ninh trật tự BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
TAND : Tòa án nhân dân TNHS : Trách nhiệm hình sự TTATXH : Trật tự an toàn xã hội TTXH : Trật tự xã hội
UBND : Ủy ban nhân dân VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Bà Rịa là trung tâm hành chính của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện đang là đô thị loại II có diện tích 91.46 km² với dân số đến năm 2017 khoảng 150.319 người, gồm 11 đơn vị hành chính cấp xã trong đó bao gồm 8 phường: Phước Trung, Phước Hiệp, Phước Nguyên, Phước Hưng, Long Toàn, Long Tâm, Kim Dinh, Long Hương, và 3 xã: Hòa Long, Long Phước, Tân Hưng
Thành phố Bà Rịa là một đầu mối giao thông của các tuyến quốc lộ 51,
52, 56 và tỉnh lộ 52, thuận lợi cho giao thông buôn bán, có đường ống khí đất chạy qua, có điều kiện phát triển thương mại và những ngành công nghiệp sử dụng khí đốt làm nguyên liệu và nhiên liệu Ngoài ra còn là đô thị hành chính
và dịch vụ thương mại giữ vai trò trọng yếu để thực hiện kết nối vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và khu vực, cũng như hành lang phát triển công nghiệp của tuyến quốc lộ 51, với tiềm năng phát triển dầu khí, khí đốt, du lịch, dịch
vụ đã và đang tạo nên chuyển biến khởi sắc về kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân thành phố
Bên cạnh những mặt tích cực góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội thì trong những năm gần đây, tình hình an ninh chính trị, TTATXH trên địa bàn thành phố vẫn còn những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ mất an toàn Trong 06 tháng đầu năm 2018 trên địa bàn thành phố xảy ra 35 vụ phạm pháp hình sự, giảm 18 vụ so với cùng kỳ năm 2017 Công an thành phố đã điều tra phá được 25 vụ, bắt 33 đối tượng, đạt tỷ lệ phá án trên 71,4%, riêng đối với án đặc biệt nghiêm trọng đạt 100% Đối với tội phạm ma tuý, công an thành phố đã triệt phá 13 vụ gồm 16 đối tượng mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý Lập hồ sơ khởi tố 12 vụ mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy gồm 11 bị can, xử phạt hành chính 142 đối tượng sử dụng trái phép chất ma
Trang 7túy; đưa 34 đối tượng vào trung tâm giáo dục, lao động dạy nghề tỉnh, áp dụng nghị định 111 của chính phủ giáo dục tại địa phương 40 đối tượng
Theo số liệu thống kê của tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa trong 05 năm 2014 – 2018, tòa án đã đưa ra xét xử là 499 vụ với 758 bị cáo Vấn đề được chính quyền thành phố Bà Rịa đặt ra trong thời gian sắp tới là tiếp tục kiềm chế và giảm các vụ vi phạm pháp luật về TTATXH nhất là tội trộm cắp tài sản, tội đánh bạc, cố ý gây thương tích, tội phạm về ma túy, giảm các loại tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng trên địa bàn Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác điều tra khám phá tội phạm, giải quyết tin báo tố giác tội phạm; Tăng cường các biện pháp đấu tranh, trấn áp tội phạm, vi phạm pháp luật về ma túy, nhanh chóng phát hiện và triệt phá đối tượng mua bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy hoạt động trên địa bàn thành phố; rà soát, xóa các tụ điểm ma túy, tệ nạn xã hội trên địa bàn; tăng cường công tác phối hợp quản lý người nghiện, quản lý sau cai nghiện tại cộng đồng dân cư
Để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với các loại tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa thì một vấn đề quan trọng là cần nhận thức đúng đắn về
ý nghĩa, đặc điểm của nhân thân người phạm tội, bởi nhân thân người phạm tội giữ vai trò quan trọng trong cơ chế thực hiện hành vi phạm tội Ý thức được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của nhân thân người phạm tội trong
cơ chế thực hiện hành vi phạm tội nên chính quyền thành phố Bà Rịa đã rất chú trọng đến vấn đề nhân thân người phạm tội trong quá trình giải quyết các
vụ án hình sự Bắt đầu từ giai đoạn nhận đơn tố giác, thu thập, khai thác thông tin, điều tra, truy tố đến xét xử, thì các cơ quan tiến hành tố tụng luôn nghiên cứu làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội làm căn cứ để tìm ra nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm; để định tội danh, định khung, quyết định hình phạt một cách chính xác, phòng ngừa tình hình tội phạm cũng như để đưa ra các biện pháp giáo dục, cải tạo người phạm tội có hiệu quả nhất
Trang 8Tuy nhiên, trước đây việc nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội
ở thành phố Bà Rịa mới chỉ dừng lại ở mức độ cá nhân, yêu cầu mục đích của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đòi hỏi việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội không chỉ dừng ở mức độ cá nhân mà phải khái quát ở mức độ nhóm và cao hơn là mức độ tình hình tội phạm để nhận thức đúng đắn nguyên nhân của tình hình tội phạm và đề xuất được các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm một cách hiệu quả nhất Xuất phát từ lí do đó, cũng như xuất phát từ yêu cầu của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cấp chính quyền ở thành phố Bà Rịa, tác giả đã lựa chọn đề tài:
"Nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu" làm đề tài luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Có thể chia các công trình nghiên cứu nhân thân người phạm tội thành hai nhóm như sau:
* Nhóm các công trình nghiên cứu làm rõ lý luận về nhân thân người phạm tội
Thuộc về nhóm này có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
- Giáo trình tội phạm học, do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Đại học
Huế - Trung tâm đào tạo từ xa, năm 2011;
- Giáo trình tội phạm học của tập thể tác giả, Trường Đại hoc Luật Hà
Nội, năm 2012, tái bản năm 2013, 2015;
- Giáo trình tội phạm học của Học viện Cảnh sát nhân dân,
Nxb.CAND, 2002, 2013;
- Tội phạm học Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của Tập
thể tác giả, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, năm 2000;
- Một số vấn đề tội phạm học Việt Nam, do GS.TS Nguyễn Văn Cảnh
và PGS.TS Phạm Văn Tỉnh chủ biên, Học viện cảnh sát nhân dân, năm 2013;
Trang 9- Các bài viết về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, về nhân thân người phạm tội, về phòng ngừa tội phạm được đăng tải trên tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, tạp chí nhà nước và pháp luật, tạp chí Cảnh sát nhân dân, tạp chí Kiểm sát, tạp chí TAND, CAND trong những năm gần đây
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung về nhân thân người phạm tội như: Khái niệm nhân thân người phạm tội, phân biệt khái niệm nhân thân người phạm tội với một số khái niệm có liên quan, ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội, các đặc điểm của nhân thân người phạm tội… tác giả sẽ tiếp thu và kế
thừa những quan điểm trên
* Những công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài
Thuộc nhóm này có các công trình nghiên cứu như:
- Phạm Uyên Thy (2015) “Nhân thân người phạm tội trên địa bàn Quận
7, TP Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội
- Cao Văn Thiên (2018) “Nhân thân người phạm tội trên địa bàn Quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội
- Nguyễn Thị Cẩm (2017) “Nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc
sĩ, Học viện Khoa học xã hội
- Nguyễn Văn Tùng (2018) “Nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội
- Lê Đình Toàn (2017) “Nhân thân người phạm tội cướp tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội
Các tác giả trong các công trình nghiên cứu trên đã phân tích làm rõ vai trò của nhân thân người phạm tội trong quyết định hình phạt, trong định tội danh và trong quy định liên quan đến các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình
sự, một số tác giả đã tập trung đi sâu phân tích đặc điểm nhân thân người
Trang 10phạm tội gắn với một số loại tội phạm cụ thể, như tội giết người, tội cố ý gây thương tích, tội trộm cắp tài sản, tội cướp giật tài sản, các tội phạm về ma tuý…Những kết quả của các công trình nghiên cứu này cũng là những tri thức, hiểu biết quan trọng mà tác giả có thể kế thừa trong quá trình nghiên cứu làm đề tài của mình
Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
vì vậy trên cơ sở kế thừa những tri thức lý luận nền tảng về nhân thân người phạm tội cũng như những tri thức nghiên cứu về nhân thân người phạm tội trong các loại tội, nhóm tội ở các địa phương nhất định trong các công trình của các tác giả kể trên, tác giả sẽ vận dụng đi sâu nghiên cứu về nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa Từ nền tảng lý luận về nhân thân vận dụng vào thực tiễn tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa giai đoạn 2014 - 2018, tác giả sẽ đi sâu phân tích làm rõ thực tiễn về nhân thân người phạm tội gắn với đặc điểm tình hình kinh tế, văn hoá, đạo đức, truyền thống của người dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Từ
đó kiến nghị các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ góc độ nhân thân người phạm tội, đây chính là hướng nghiên cứu của luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ thực trạng về nhân thân người phạm tội, đi sâu vào nghiên cứu phân tích các nguyên nhân hình thành đặc điểm nhân thân xấu của những người phạm tội, luận văn hướng đến mục đích đề xuất các giải pháp tăng cường tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ góc độ nhân thân người phạm tội từ năm 2014 đến năm 2018
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội bao gồm: tìm, thu thập, nghiên cứu những tài liệu về tội phạm học, về pháp luật hình sự
Thứ hai, nghiên cứu thực tiễn, bao gồm tìm kiếm, thu thập, xử lý, phân tích so sánh những số liệu thống kê thường xuyên xét xử sơ thẩm hình sự từ năm 2014 - 2018 của Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Thứ ba, kiến nghị các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ góc độ nhân thân người phạm tội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Để nghiên cứu được nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố
Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đề tài dựa trên các số liệu thống kê của các
cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2014 – 2018 cũng như trên cơ sở kết quả nghiên cứu 100 bản
án xét xử sơ thẩm với 150 bị cáo của TAND thành phố Bà Rịa giai đoạn 2014
- 2018 được sưu tầm một cách ngẫu nhiên
Trang 12thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2014 - 2018 cũng như trên cơ sở kết quả nghiên cứu 100 bản án với 150 bị cáo xét xử sơ thẩm của TAND thành phố Bà Rịa giai đoạn 2014 - 2018 được sưu tầm một cách ngẫu nhiên Theo quy định tại Điều 268 BLTTHS năm 2015 hiện hành thì có một
số vụ án xảy ra ở thành phố Bà Rịa nhưng thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hoặc tuy thuộc thẩm quyền của TAND thành phố Bà Rịa nhưng TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thấy cần thiết lấy lên để xét
xử Luận văn sẽ không nghiên cứu những vụ án tuy xảy ra ở thành phố Bà Rịa
nhưng được TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước ta trong lĩnh vực phòng
ngừa tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của tội phạm học phù hợp với từng nội dung nghiên cứu, cụ thể:
- Phương pháp biện chứng, mô tả, tổng hợp, nghiên cứu lý luận, tài liệu, tiếp thu thông tin… để làm rõ lý luận nhân thân người phạm tội
- Phương pháp phân tích, so sánh, quy nạp, diễn dịch, suy luận logic, nghiên cứu bản án, nghiên cứu điển hình, thống kê…được sử dụng để làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phân tích, suy luận logic…được
sử dụng để nhằm đưa ra các giải pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm dưới góc độ nhân thân người phạm tội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trang 13Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn
2014 - 2018 Dựa trên sự phân tích lý luận và ứng dụng vào thực tiễn tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa, luận văn đưa ra những luận giải, những căn cứ khoa học, để từ đó đưa ra kết luận, kiến nghị có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn trong công tác phòng, chống tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa từ góc độ nhân thân người phạm tội Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận tội phạm học nói chung
và lí luận phòng, chống tội phạm nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những giải pháp được đề xuất trong đề tài sẽ là cơ sở để nghiên cứu và vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng, chống tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa
Kết quả nghiên cứu cũng là những tài liệu tham khảo sử dụng trong các
cơ sở đào tạo luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về nhân thân người phạm tội
Chương 2: Thực trạng nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố
Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Chương 3: Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm ở thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ góc độ nhân thân
Trang 14CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội
1.1.1 Khái niệm nhân thân người phạm tội
Khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từ khái niệm
“nhân thân” và khái niệm “người phạm tội” [28, tr.147], Do vậy trước khi
nghiên cứu khái niệm nhân thân người phạm tội chúng ta cần phải tìm hiểu khái niệm của xã hội học về nhân thân con người, theo từ điển tiếng Việt nhân thân con người được định nghĩa là “Tổng hợp các đặc điểm về nhân thế, tính
cách và cuộc sống của cá nhân một con người về mặt thi hành pháp luật” [47, tr.45] Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin nhân thân con người là
một phạm trù lịch sử - xã hội, nó là sản phẩm của một thời đại nhất định, được quy định bởi những điều kiện lịch sử cụ thể của hiện thực xã hội, mỗi thời đại khác nhau sản sinh ra những mẫu người không giống nhau, song dù ở thời đại nào thì bản chất con người luôn luôn là “tổng hòa những mối quan hệ
xã hội” [6, tr.150].Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong
lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người, yếu tố xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người Vì vậy nhân thân của một con người là sự thống nhất giữa các yếu tố xã hội và yếu tố sinh học, trong đó yếu tố xã hội mang tính chất quyết định hoặc có thể hiểu nhân thân con người
là tất cả các đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội có liên quan đến một con người, thể hiện bản chất riêng của họ
Hiện nay, có nhiều ngành khoa học pháp lý khác nhau định nghĩa về
Trang 15nhân thân người phạm tội như luật hình sự, luật tố tụng hình sự, tội phạm học,
xã hội học… mỗi ngành sẽ có cách nghiên cứu, tiếp cận ở mỗi khía cạnh khác nhau và có những ý nghĩa khác nhau, tiếp cận dưới góc độ luật hình sự thì nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội đối với giải quyết đúng đắn vấn đề trách
nhiệm hình sự của người đó [26, tr.127] Trong tội phạm học nghiên cứu
nhân thân người phạm tội là tổng hòa các yếu tố, các đặc điểm riêng biệt của người phạm tội ở địa bàn hành chính - lãnh thổ nhất định trong một khoảng thời gian nhất định về các mặt tâm- sinh lý- xã hội, nhân khẩu, nhân chủng học và pháp lý, những cái có ý nghĩa, có giá trị thiết thực cho việc xác định nguyên nhân, điều kiện của tội phạm để có giải pháp phòng ngừa tội phạm
phù hợp [12, tr.348]
Khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội chính là nghiên cứu con người phạm tội cụ thể “Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là con người phạm tội chứ không phải là con người nói chung, người phạm tội là người thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [28, tr.149] Tuy con người được sinh ra không phải để trở thành người phạm tội,
nhưng con người có khả năng để trở thành người phạm tội, khi mà trong quá trình sinh sống trong xã hội của người đó gặp phải những điều kiện hoàn cảnh không thuận lợi, từ đó hình thành các đăc điểm nhân thân tiêu cực và khi gặp những tình huống bên ngoài thuận lợi sẽ dễ làm phát sinh hành vi phạm tội
Những dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội bao gồm tất
cả các đặc điểm, dấu hiệu riêng biệt của người phạm tội mà luật hình sự quy định là chủ thể của tội phạm, như vậy khái niệm nhân thân người phạm tội là:
“Tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” [40, tr.131]
Trang 161.1.2 Các đặc điểm của nhân thân người phạm tội
Trong lý luận tội phạm học, các đặc điểm nhân thân người phạm tội được chia thành ba nhóm: Nhóm đặc điểm sinh học, nhóm đặc điểm tâm lý và
nhóm đặc điểm xã hội [17, tr.150] Sau đây, chúng ta sẽ làm rõ các nhóm đặc
điểm nhân thân người phạm tội:
1.1.2.1 Nhóm đặc điểm sinh học
Khi nghiên cứu các đặc điểm sinh học của người phạm tội chính là việc chúng ta nghiên cứu về độ tuổi, giới tính, dân tộc, quốc tịch của người phạm
tội [17, tr.152], nghiên cứu đặc điểm giới tính người phạm tội, tội phạm học
tập trung xác định hai nội dung: thứ nhất là tỉ lệ phạm tội của nam giới và nữ giới thực hiện, thứ hai là đặc trưng của giới tính có ảnh hưởng như thế nào đến cơ chế hành vi phạm tội
Thực tế qua nghiên cứu tình hình tội phạm ở nước ta cho thấy số lượng giữa nam giới và nữ giới phạm tội có khác nhau, việc nam giới phạm tội nhiều hơn nữ giới ở đây có thể hiểu là do những điều kiện hình thành nên phẩm chất cá nhân và sự tiếp nhận về mặt giáo dục, xã hội của nam giới có những đặc điểm khác với nữ giới, nam giới và nữ giới đều bình đẳng như nhau trong việc tiếp nhận giáo dục, đồng thời họ cùng có khả năng nhận thức như nhau, tuy nhiên trong gia đình người Việt từ xưa vẫn luôn coi trọng nam giới hơn nữ giới, mong muốn sinh cho được con trai vẫn trong nếp nghĩ của nhiều gia đình, vì vậy nam giới sẽ được nuông chiều hơn, trong khi khả năng kiểm soát và kiềm chế hành vi của nam kém hơn nữ nên dễ bị tác động bởi các yếu tố từ môi trường sống, dễ phát sinh tâm lý tiêu cực hơn nữ giới, dễ bị ảnh hưởng bởi các thói hư, tật xấu, dễ bị tiêm nhiễm bởi các tệ nạn xã hội
Độ tuổi ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách trong đặc điểm nhân thân người phạm tội Yếu tố lứa tuổi của người phạm tội ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm cũng xuất phát từ các đặc điểm thể chất, tâm lý, xã hội của mỗi lứa tuổi khác nhau Trong đó, vai trò vị
Trang 17trí xã hội của mỗi độ tuổi luôn ảnh hưởng quyết định đến việc lựa chọn phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm Dấu hiệu về độ tuổi của người phạm tội cho phép nói lên các đặc điểm xử sự trái pháp luật của những người
ở những độ tuổi khác nhau, cũng như tính chất riêng biệt của cơ cấu về độ tuổi của các nhóm người phạm tội khác nhau
Độ tuổi của người phạm tội thường được chia thành 04 nhóm: nhóm người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi; nhóm người từ 18 đến 30 tuổi; nhóm người
từ 30 đến 45 tuổi; nhóm người trên 45 tuổi Theo cách phân nhóm này, những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi là những người có khả năng nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, chưa có sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý, chưa nhận thức hết hành vi nguy hiểm của mình và phần lớn đều là dân nhập
cư, bỏ học sớm, bị gia đình bỏ rơi những người trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi là những người đã hoàn thiện về tâm sinh lý Tuy nhiên, lứa tuổi này đang trong giai đoạn học tập, định hướng nghề nghiệp, cuộc sống chưa ổn định, muốn khẳng định mình, nên diễn biến tâm lí không ổn định và cũng dễ
bị tác động của môi trường xã hội xung quanh Lứa tuổi từ 30 tuổi đến 45 tuổi
là lứa tuổi chín chắn, có suy nghĩ và hành động cẩn trọng, ở độ tuổi này, con người thường đã ổn định về gia đình, nghề nghiệp, tích lũy được kinh nghiệm sống, khả năng tự kiềm chế cao nên ít chịu ảnh hưởng của môi trường sống hơn các nhóm lứa tuổi khác Lứa tuổi trên 45 là lứa tuổi đã hạn chế trong suy nghĩ và hành động, con người trong độ tuổi này thường bằng lòng với cuộc sống hiện tại, ngại thay đổi, thậm chí càng già, những đặc điểm tâm lý lại biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, như bảo thủ, không tuân theo ý kiến của ai
Sự khác nhau trong cơ cấu tội phạm do những người phạm tội ở độ tuổi khác nhau thực hiện có sự ảnh hưởng nhất định trong quá trình tồn tại của con người, sự hình thành nhân cách trong từng giai đoạn phát triển của mỗi cá nhân và nhiệm vụ của tội phạm học cần phải nghiên cứu tác động của từng nhóm lứa tuổi trong việc hình thành các đặc điểm nhân thân xấu, có vai trò
Trang 18quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội
đi kèm với trình độ nhận thức và hiểu biết về pháp luật kém nên khả năng kiềm chế và kiểm soát được hành vi của mình trong những tình huống cụ thể kém Nhiều vụ án xảy ra do người phạm tội thiếu hiểu biết về pháp luật, nhận thức về xã hội còn hạn chế
Nhu cầu là động lực phát triển của mỗi con người, nhu cầu của con người đa dạng và vô cùng bao gồm nhiều mặt như nhu cầu về kinh tế, về văn hóa, chính trị, danh vọng, dục vọng… Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng, nó thúc đẩy con người hoạt động, nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối hành vi của con người càng cao Đối với đặc điểm về nhu cầu của nhân thân người phạm tội, tội phạm học tập trung làm rõ sự ảnh hưởng của nhu cầu đối với việc làm phát sinh động
cơ và ảnh hưởng của nhu cầu lên hành vi, lên cách xử sự của con người khi nó không được thỏa mãn, mỗi cá nhân trong xã hội có sự khác biệt nhau bởi tính chất, nội dung của nhu cầu cũng như các biện pháp để thỏa mãn nhu cầu
Chúng ta thấy rằng động cơ phạm tội là động lực bên trong con người thúc đẩy họ phạm tội, được hình thành trên cơ sở nhu cầu của con người, khi
Trang 19nhu cầu của con người đã được nhận thức đầy đủ và có khả năng thực hiện thì
nó sẽ trở thành động cơ…Mục đích phạm tội là yêu cầu cần đạt được và
mong muốn đạt được khi một người thực hiện hành vi phạm tội [6, tr.180]
Khi thực hiện hành vi phạm tội, nếu động cơ phạm tội càng mãnh liệt, mục đích phạm tội càng rõ ràng thì tính chất của tội phạm càng nguy hiểm và hậu quả của tội phạm càng nghiêm trọng Vì vậy, nghiên cứu động cơ, mục đích phạm tội vừa góp phần làm rõ nguyên nhân thực hiện tội phạm, đồng thời cũng giúp cho việc đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, từ đó giúp cho việc tìm ra những biện pháp tác động tích cực nhằm loại trừ động cơ phạm tội, ngăn cản mục đích tội phạm, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả mà người phạm tội có thể gây ra cho xã hội, những người phạm tội đại đa số xuất phát từ động cơ vụ lợi, với mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích cá nhân, hẹp hòi, ích kỉ, thích hưởng thụ
1.1.2.3 Nhóm đặc điểm xã hội
Nhóm các đặc điểm xã hội của nhân thân người phạm tội gồm các yếu
tố như: hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp, nơi cư trú [17, tr.125]
Hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành những phẩm chất tâm lý tiêu cực của con người, nếu hoàn cảnh gia đình không thuận lợi thì nó sẽ tác động đến cá nhân để dần hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực trái với các chuẩn mực giá trị đạo đức Chính gia đình giữ vai trò kiểm soát, giám sát hành vi của những thành viên trong gia đình, hạn chế đến mức tối đa sự hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực phát sinh trong mỗi con người, nghiên cứu các khiếm khuyết trong gia đình vì thế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định các nguyên nhân hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực của người phạm tội
Nghề nghiệp của người phạm tội có vị trí quan trọng khi phân tích đặc điểm nhân thân của người phạm tội, địa vị xã hội cao và nghề nghiệp ổn định
sẽ tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển nhân cách con người, đồng
Trang 20thời bảo đảm cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết các mâu thuẫn
xã hội mà trực tiếp là kinh tế khi cần thiết Đa số những người phạm tội là những người không có nghề nghiệp ổn định, không có địa vị trong xã hội, thuộc thành phần lười lao động, lười học tập, chỉ muốn sống dựa dẫm vào người khác, ăn bám vào người khác, mong muốn giàu có nhưng không có thực lực, họ chỉ mong và bằng mọi cách kiếm ra tiền nhanh nhất mà không cần phải lao động Tuy nhiên, cũng phải kể đến các trường hợp có việc làm ổn định, có địa vị trong xã hội rồi nhưng vẫn phạm tội chỉ vì nhận thức lệch lạc,
bị thoái hóa, biến chất, vụ lợi muốn thu vén của cải cho bản thân và gia đình,
ví dụ như những quan chức có điạ vị cao vì mưu cầu lợi ích cá nhân nên vẫn phạm các tội tham nhũng
Nơi cư trú, nơi sinh sống có ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng phạm tội nói chung và tội phạm cụ thể nói riêng, bản chất nơi cư trú đã chứa đựng các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa, truyền thống đặc thù, những yếu tố này phần nào tác động đến quá trình hình thành nhân cách người phạm tội Được sống ở một nơi mà môi trường yên bình, trật tự an ninh tốt, tình làng nghĩa xóm luôn được nêu cao, lối sống văn hóa của mỗi thành viên lành mạnh thì động cơ, mục đích phạm tội rất thấp và ngược lại nếu sống ở trong một cộng đồng toàn những người phạm pháp, tệ nạn xã hội thì nguy cơ phạm tội cũng tăng cao
1.1.2.4 Các đặc điểm pháp lý hình sự của người phạm tội
Nghiên cứu nhân thân người phạm tội là nghiên cứu nhân thân của con người đã từng ít nhất một lần phạm tội, hành vi phạm tội của người đã có tiền
án, tiền sự thực hiện khi nào cũng có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn nhiều so với người mới phạm tội lần đầu, ở họ đã có nhiều cách thức đối phó với các cơ quan bảo vệ pháp luật, cho nên trách nhiệm hình sự mà họ phải chịu cũng phải nặng hơn người mới phạm tội lần đầu Tiền án, tiền sự, tái phạm, tái phạm nguy hiểm là những dấu hiệu thể hiện tâm lý chống đối xã
Trang 21hội, coi thường luật pháp, cố ý xâm hại lợi ích của nhà nước, của tập thể và của cá nhân Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm tái phạm, tái phạm nguy hiểm không chỉ giúp nhận thức đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà còn giúp hiểu rõ nguyên nhân phát sinh tội phạm cũng như có cơ
sở trong việc đề ra các giải pháp phòng ngừa hữu hiệu, một số đặc điểm pháp
lý hình sự trong nhân thân người phạm tội như động cơ, mục đích phạm tội, thể hiện ý thức phạm tội của người phạm tội, Vì vậy nghiên cứu các đặc điểm này giúp hiểu rõ được ý thức phạm tội của người phạm tội và nguyên nhân phát sinh tội phạm, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp phòng ngừa hữu hiệu
1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các đặc điểm nhân thân người phạm tội
Thứ nhất: Nghiên cứu nhân thân người phạm tội giúp làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm
Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm là những đặc điểm cá nhân của người phạm tội và những tình huống khách quan bên ngoài trong sự tác động lẫn nhau của chúng dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội Việc phân tích các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể chỉ ra rằng không thể nhận thức, hiểu biết được các nguyên nhân và điều kiện đó nếu thiếu việc cân nhắc
nhân thân người phạm tội [40, tr.127]
Chính vì vậy, nghiên cứu nhân thân người phạm tội sẽ cho thấy rõ những điều kiện, hoàn cảnh tiêu cực từ môi trường tác động thế nào đến sự hình thành nhân cách, đạo đức, đến quá trình động cơ hóa hành vi phạm tội, nói cách khác nghiên cứu nhân thân người phạm tội sẽ cho phép xác định được nguyên nhân phát sinh tội phạm
Thứ hai: Nghiên cứu nhân thân người phạm tội giúp cho việc định tội, định khung và quyết định hình phạt chính xác
Quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự diễn ra đa dạng và phức tạp, được thể hiện ở ba giai đoạn: định tội danh, định khung hình phạt và
Trang 22quyết định hình phạt Trong đó định tội danh là một giai đoạn quan trọng nhất trong ba giai đoạn trên của toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật hình sự, bởi vì định tội danh được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng hình
sự từ giai đoạn khởi tố đến giai đoạn thi hành án Đây là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội nào trong số các tội đã được quy định trong bộ luật hình sự Theo khoa học luật hình sự: “nhân thân người phạm tội không phải là yếu tố bắt buộc cấu thành tội phạm nhưng trong quá trình đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và xác định trách nhiệm pháp lý của người phạm tội đó thì cần phải xem xét những đặc điểm, dấu hiệu về nhân thân của người phạm tội được cân nhắc để giải quyết những vấn đề của trách nhiệm hình sự (cá thể hóa hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn và giảm hình phạt)”
[39, tr.245]
Ngoài ý nghĩa định tội, định khung hình phạt, các dấu hiệu nhân thân của người phạm tội còn phản ánh mức độ nguy hiểm khác nhau của các trường hợp cụ thể nhất là trong khung hình phạt; phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội và qua đó phản ánh mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội Do vậy, các dấu hiệu nhân thân người phạm tội được bộ luật hình sự quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự được quy định tại điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 Những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy
định tại điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015: cố tình thực hiện tội phạm đến
cùng; (Tình tiết này có thể được hiểu là người phạm tội ngoan cố thực hiện hành vi phạm tội đến cùng mặc dù đã được ngăn cản, khuyên ngăn); Phạm tội
02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, thông qua các tình tiết này giúp chúng ta có thể nhận thức đúng đắn về nhân thân người phạm tội Tuy nhiên nếu các tình tiết trên đã được Bộ luật hình sự năm 2015 quy định là dấu
Trang 23hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng Khi bị cáo có các tình tiết tăng nặng hình phạt được nêu ở trên Hội đồng xét xử có thể quyết định hình phạt ở mức cao nhất của khung hình phạt
Thứ ba: Nghiên cứu nhân thân người phạm tội giúp xây dựng biện pháp giáo dục, cải tạo người phạm tội
Nghiên cứu các đặc điểm nhân thân người phạm tội để có hình thức, phương pháp giáo dục, quản lý người phạm tội một cách hợp lý và hiệu quả, cần phải dựa vào các đặc điểm nhân thân người phạm tội để phân loại người phạm tội nhằm áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo phù hợp với từng nhóm người có các đặc điểm nhân thân khác nhau, nhằm cải thiện hoặc loại trừ các nhân thân tiêu cực có vai trò quan trọng đối với việc phát sinh tội phạm, từ đó có thể giáo dục họ trở thành người tốt, không tái phạm tội
Thứ tư: Nghiên cứu nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa tội phạm
Trong hoạt động phòng ngừa tội phạm, những kết quả nghiên cứu nhân thân người phạm tội sẽ cho chúng ta cơ sở để áp dụng các biện pháp phòng ngừa thích hợp như phát động quần chúng xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác và đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn xã hội, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật sử dụng đồng bộ các biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn, trấn áp kịp thời và kiên quyết đối với các loại tội phạm nguy hiểm như: tội phạm có tổ chức, tội phạm tham nhũng, buôn lậu, tội phạm giết người, cướp tài sản, tội phạm xâm hại trẻ em
1.2 Quá trình hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực ở người phạm tội
GS.TS Võ Khánh Vinh đã khẳng định: “Nhân thân người phạm tội là một bộ phận cấu thành tất yếu và rất quan trọng của cơ chế hành vi phạm tội”
[40, tr.127]
Trang 24Trong những tình huống tiêu cực thuận lợi kết hợp với các đặc điểm nhân thân xấu của con người sẽ dễ phát sinh hành vi phạm tội và ngược lại những người có đặc điểm nhân thân tốt thì dù rơi vào những hoàn cảnh tiêu cực thuận lợi đến đâu chăng nữa, họ vẫn có những lựa chọn và xử sự tích cực, khả năng kiểm soát và kiềm chế hành vi cao nên dễ dàng tránh được hành vi
phạm tội [40, tr.130]
1.2.1 Vai trò của các yếu tố khách quan
1.2.1.1 Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường gia đình
Có thể nói trong các yếu tố từ môi trường sống thì gia đình là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân trong thời
kì thơ ấu, bởi kể từ khi mới sinh ra gia đình là môi trường đầu tiên mà những đứa trẻ sinh sống, nhận thức của chúng mới bước đầu dần được hình thành,
do đó, những đứa trẻ sẽ học hỏi, bắt chước những hành vi của những người xung quanh nó, bao gồm cả những hành vi tốt hay không tốt
Thông thường, quá trình học hỏi, bắt chước hành vi xấu của trẻ diễn ra nhanh hơn, dễ dàng hơn so với bắt chước hành vi tốt Càng lớn, đứa trẻ càng khao khát khám phá thế giới xung quanh, vì vậy quá trình nhận thức cũng như học hỏi, bắt chước dần mở rộng phạm vi không còn dừng lại ở các thành viên trong gia đình nữa mà bắt đầu vươn ra thế giới bên ngoài, tuy nhiên nhận thức, lối sống của trẻ vẫn mang dấu ấn của việc ảnh hưởng từ các thành viên trong gia đình Do đó, nếu như đứa trẻ sống trong môi trường gia đình an toàn, lành mạnh, luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách cho trẻ, hướng trẻ sống thiện, trung thực, nhân hậu, vươn lên trong học tập, công việc thì sẽ hạn chế hiệu quả việc hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân Ngược lại, sống trong môi trường gia đình không an toàn, không lành mạnh thì có thể tác động, ảnh hưởng, dẫn đến việc hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân Những yếu tố tiêu cực, hạn chế trong môi trường gia đình có các biểu hiện cụ thể như sau:
Trang 25Thứ nhất, do gia đình khuyết thiếu: Đối với trẻ sống trong một gia đình
như vậy luôn có những áp lực tâm lý tiêu cực gây cho trẻ các tâm trạng như luôn cảm thấy thiếu thốn tình cảm, cô đơn, tự ti, chán nản, thiếu hụt… Nếu trẻ
có bản lĩnh thì dù rất đau khổ vì sự mất mát đó thì vẫn có thể vượt qua sau một thời gian, nhưng phần lớn trẻ bị tổn thương nặng nề về tâm lý, nhất là những đứa trẻ sống trong cảnh gia đình nghèo túng, vì tương lai của các em mình, trẻ đi kiếm tiền, lúc đầu là lương thiện nhưng dần dần nếu không có sự giúp đỡ của gia đình, xã hội, trẻ dễ hành động liều lĩnh dẫn tới phạm pháp Với những trẻ bị bỏ rơi, không người chăm sóc, không nơi nương tựa, đây là những đứa trẻ đã mang sẵn trong suy nghĩ sự “bị vứt bỏ” Hậu quả tất yếu xảy
ra đối với những đứa trẻ bất hạnh là sự đau khổ, sự dồn nén, sự bất cần đời, chúng muốn đập phá, muốn trả thù đời theo cách riêng của mình Cũng chính
vì thế mà không ít trẻ bỏ nhà đi lang thang, bụi đời, xoá nỗi đau bằng cách tham gia các nhóm, băng đảng phạm pháp, lao vào cờ bạc, rượu chè, tiêm chính và cuối cùng là phạm tội
Thứ hai, gia đình không hạnh phúc, thường xuyên cãi, chửi, đánh nhau: Chính cách xử sự này của bố mẹ đã gây ra cho trẻ những khủng hoảng
về mặt tâm lý như trẻ trở nên thiếu tự tin, rụt rè, khó hoà nhập với công đồng, một số khác thì trở nên lỳ lợm, hung hăn, bướng bỉnh, chán nản bất cần đời, dẫn tới việc bỏ nhà sống lang thang bụi đời, kết thành băng nhóm quậy phá,
sa chân vào nghiện ngập rồi trượt dài theo con đường phạm tội là điều không thể tránh khỏi
Thứ ba, gia đình thiếu sự quan tâm chăm sóc, giáo dục con cái, quá nuông chiều con cái: Cha mẹ buông lỏng việc giáo dục con cái, để mặc con
cái phát triển tự nhiên hoặc phó thác việc giáo dục trẻ con cho nhà trường và
xã hội Khi phát hiện trẻ có những biểu hiện sai trái đã không uốn nắn kịp thời
mà vẫn thờ ơ, không quan tâm, thậm chí còn dung túng Sự quá nuông chiều, thỏa mãn mọi nhu cầu của bố mẹ sẽ tạo nên thói quen đòi gì được nấy Bên
Trang 26cạnh sự nuông chiều, cha mẹ bao bọc mọi việc khiến con trẻ hình thành tính ỷ lại, dựa dẫm, sống ích kỷ, lười nhác, không ý thức về trách nhiệm, luôn đòi hỏi được phục vụ, được hưởng thụ Đến một lúc nào đó, khi gia đình không thỏa mãn những yêu sách hoặc không có điều kiện phục vụ thì con cái trở nên
bất mãn, thậm chí thù ghét bố mẹ
Thứ tư, gia đình có người thân vi phạm pháp luật hoặc phạm tội Cha
mẹ không gương mẫu trong lối sống như có hành vi phạm tội, sa đà vào tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, mại dâm hoặc có lối sống quá thực dụng chỉ biết coi trọng đồng tiền mà coi nhẹ giá trị đạo đức; hoặc đứa trẻ lớn lên trong gia đình mà bạo lực gia đình luôn tồn tại Sự buông lỏng quản lý, giám sát của gia đình, nhà trường và xã hội cùng với những tình huống cụ thể thuận
lợi họ sẽ dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội
1.2.1.2 Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường giáo dục trong trường học
Nếu như gia đình là nền tảng, tạo nên cơ sở đầu tiên cho sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân ngay từ khi còn bé, thì khi đến một độ tuổi nhất định, giáo dục – môi trường trường học chính là nơi rèn luyện tri thức, nền tảng đạo đức, giúp uốn nắn nhân cách của mỗi con người Do đó, nếu trong môi trường trường học tồn tại nhiều nhân tố không lành mạnh thì những nhân
tố này cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách lệch lạc của cá nhân Những nhân tố này có thể kể đến như:
Thứ nhất, việc quản lý học sinh sinh viên còn lỏng lẻo, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục trẻ em Kỉ
luật nhà trường còn lỏng lẻo, không nghiêm, việc xử lí những biểu hiện sai trái trong học sinh còn chưa triệt để dẫn đến những hiện tượng tiêu cực trong nhà trường có nguy cơ lan rộng Điều này có thể ảnh hưởng, dẫn đến việc suy giảm, thậm chí mất hết niềm tin vào sự công bằng trong nhà trường của các
em làm cho một số em chán nản, sa sút học hành, dễ bị lôi kéo tham gia vào
Trang 27các hoạt động tiêu cực, không lành mạnh Tại đây các em kết bạn, giao du với bạn bè xấu (những đối tượng lười học, ham ăn chơi, đua đòi, hay bỏ học, hỗn láo với thầy cô giáo và bố mẹ, sa đà vào các tệ nạn xã hội…) Do kết bạn, giao tiếp thường xuyên với đối tượng này, những đứa trẻ dần dần ảnh hưởng
và có thể bị tiêm nhiễm và bắt chước những hành vi xấu của những đối tượng này như thường xuyên bỏ học, tụ tập ăn chơi, về nhà hỗn láo với bố mẹ, bỏ nhà đi hoang… và dần dần đi vào con đường phạm tội Một số ít cán bộ, giáo viên trong nhà trường không gương mẫu trong lối sống, thiếu đạo đức trong hành xử với học sinh thậm chí lôi kéo các em vào lối sống không lành mạnh hoặc vào con đường phạm tội
Thứ hai, nhà trường chưa chú trọng giáo dục đạo đức nhân cách, hiểu biết pháp luật và các kỹ năng sống Một trong những mực tiêu quan trọng của
giáo dục là giáo dục nhân cách, giáo dục làm người, nhưng thực tế hiện nay không ít các trường học mới chỉ chú trọng dạy những kiến thức cơ bản theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà xem nhẹ việc giáo dục đạo đức, kiến thức pháp luật và kỹ năng sống cho các em Dưới tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, nhiều nền văn hóa đã du nhập vào nước ta, trong đó có những loại văn hóa lai căng không phù hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, những yếu tố văn hóa độc hại này chưa được các cơ quan chức năng quản lý kiểm soát chặt chẽ đã xâm nhập vào một bộ phận thanh, thiếu niên trên địa bàn Cùng với sự gia tăng của các loại tệ nạn xã hội thì các em đang phải đối mặt với sự lựa chọn những giá trị phù hợp với truyền thống đạo đức, pháp luật Nếu nhà trường có phương pháp giáo dục đúng đắn, nội dung giáo dục phù hợp, coi giáo dục đạo đức, pháp luật và kỹ năng sống cho các
em là một nội dung quan trọng thì sẽ tạo nên một thế hệ học sinh có tư tưởng, đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh, có hoài bão trong cuộc sống và ngược lại nếu nhà trường có những tiêu cực trong giáo dục, không thường xuyên giáo dục tư tưởng đạo đức, pháp luật cho các em thì khi gặp những
Trang 28hoàn cảnh thuận lợi tiêu cực sẽ dẫn đến việc các em phạm tội
Thứ ba, sự gia tăng tình trạng bạo lực học đường và quấy rối tình dục
Tình trạng bạo lực học đường hiện nay ở nước ta là một hiện tượng báo động, bạo lực học đường đang có những diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số vụ phạm tội lẫn tính chất nguy hiểm cho xã hội, một điều đáng báo động nữa là bạo lực không chỉ xảy ra đối với các em học sinh nam và tỷ
lệ các em học sinh nữ cũng đang có xu hướng gia tăng mạnh mẽ Nhiều em cho rằng việc sử dụng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn là thể hiện bản lĩnh, thể hiện vai trò quan trọng của mình, hay sử dụng bạo lực để lấy lại danh
dự cá nhân khi bị xúc phạm, bạo lực học đường là một vấn đề đáng lo ngại của không ít các em học sinh, của phụ huynh, nhà trường và xã hội, nó trực tiếp tác động đến quá trình phát triển về thể chất và tình thần của các em, đến khả năng rèn luyện, học tập của các em, nguy hiểm hơn những học sinh cá biệt chơi với nhau, tạo thành yếu tố băng nhóm, khi có băng nhóm thì yếu tố bạo lực cũng tăng lên rất nhiều vì hành động nhân danh nhóm, ít sợ hãi
1.2.1.3 Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường xã hội
Trong thời đại mới - thời đại văn minh, khoa học, nhất là sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin nó đã làm cho cuộc sống con người ngày được nâng cao Đáng tiếc thay giá trị đạo đức đang bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, duy vật chất, kéo theo đó là cả một hệ lụy, giới trẻ ngày nay chạy theo lối sống hưởng thụ, họ cho là hợp thời, sành điệu; họ bỏ qua những giá trị đạo đức là nền tảng cốt yếu của con người Do lối sống thiếu ý thức, sống buông thả, đua đòi, đặc biệt là các bạn lạm dụng tự do để làm những chuyện phi đạo đức Từ quan niệm như vậy người ta hướng tới việc kiếm tiền bằng mọi cách kể cả việc phải trà đạp lên những giá trị đạo đức và khuôn khổ pháp luật, vì đồng tiền mà một số người sẵn sàng thực hiện các hành vi vô đạo đức như con giết cha, anh giết em; trẻ vị thành niên cũng gây ra nhiều vụ án mạng Đáng báo động hơn nữa, hiện tượng sinh viên, học sinh đánh giáo viên
Trang 29cũng gia tăng, có những giáo viên đang giảng bài, bất ngờ bị học trò lấy mã tấu trong cặp xông lên bục giảng chém trọng thương chỉ vì thù tức vì bị nhắc nói chuyện trong lớp
Bên cạnh những thành tựu mà nền kinh tế thị trường mang lại thì hệ lụy của nó tác động đến xã hội cũng không hề nhỏ, các tệ nạn xã hội, các loại hình văn hóa đa màu sắc du nhập vào và được giới trẻ đón nhận mà chưa được sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan chức năng đã tác động xấu đến nhận thức và hành động của một bộ phận thanh, thiếu niên Khi có dự án xây dựng
mở đường, hình thành các khu đô thị một bộ phận dân cư có thu nhập thấp, mức sống trung bình bỗng nhận được khoản tiền lớn từ đền bù, giải tỏa, đất ra mặt đường tăng giá hàng trăm, ngàn lần Có tiền, nhiều người đã dùng khoản tiền này để tiêu xài phung phí, học đòi theo lối sống gấp, chơi bời, cờ bạc rượu chè rồi tất yếu dẫn đến hành vi phạm tội
1.2.1.4 Những hạn chế, yếu kém trong quản lý kinh tế, văn hóa
* Những hạn chế, bất cập trong quản lý kinh tế
Thời gian qua nước ta đã vượt qua được nhiều thách thức, có những bước phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, những dịch vụ và điều kiện sống của người dân không ngừng được nâng cao, tuy nhiên những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận dân cư: đó là việc làm, thu nhập và đời sống nhân dân, nhất là hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người có thu nhập thấp vẫn rất khó khăn; quá trình tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng tiến triển chậm; tình trạng khiếu kiện, nhất là khiếu kiện đông người về đất đai còn diễn biến phức tạp, một số vụ việc xử lý chưa tốt, gây bức xúc, bị kẻ xấu lợi dụng; năng lực, phẩm chất của một số cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là thái độ ứng xử cửa quyền, vô cảm; kỉ cương, kỉ luật hành chính còn chưa nghiêm, kết quả phát hiện xử lý tham nhũng còn hạn chế… Những yếu tố tiêu cực trên đã ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách
Trang 30của người phạm tội, dẫn đến việc hình thành một số đặc điểm nhân thân tiêu cực, như sự chán nản, bế tắc, thất vọng, sự bức xúc, tư tưởng chống đối xã hội… Những đặc điểm này đặt trong những hoàn cảnh nhất định sẽ làm phát sinh hành vi phạm tội
* Những hạn chế, bất cập trong quản lý văn hóa
Khi nói đến văn hóa, là nói đến tất cả các phương diện của đời sống, chính trị cũng là văn hóa, kinh tế cũng là văn hóa, quân sự bảo vệ tổ quốc cũng là văn hóa…như vậy văn hóa chính là phương thức để thúc đẩy sự phát triển của xã hội và là thước đo chuẩn mực cho sự phát triển, chuẩn mực của văn hóa hiện nay đó chính là đạo đức vì đạo đức là phẩm chất của con người,
là sự tổng hòa những yếu tố văn hóa trong con người trong đó có cả sự tích tụ của lịch sử Trong giai đoạn hiện nay, một số giá trị truyền thống đang bị coi nhẹ, thậm chí bị lãng quên, trong khi văn hóa bạo lực, văn hóa tình dục đang ngày càng phát triển trên internet tạo ra những nguy cơ tác động để hình thành nhiều đặc điểm nhân thân xấu, như thói quen ưu bạo lực, ưa sử dụng bạo lực
để giải quyết mâu thuẫn, sự ám ảnh bởi phim ảnh sex…sẽ dễ dẫn đến sự phát sinh hành vi phạm tội
1.2.2 Những yếu tố thuộc mặt chủ quan
1.2.2.1 Sai lệch về sở thích
Những người có những sở thích tham gia các hoạt động lành mạnh kết hợp với các yếu tố tích cực khác sẽ hình thành ở người đó nhân cách đúng đắn
và có được quá trình phát triển nhân cách toàn diện Ngược lại, những người
có thói quen, sở thích không lành mạnh, tiêu cực như thường xuyên tụ tập ăn nhậu, nghiện rượu, nghiện games online, nghiện ma túy, có những sở thích xem cái loại băng đĩa có nội dung bạo lực, đồi trụy,… sẽ hình thành ở cá nhân
đó nhân cách lệch lạc như lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, hưởng thụ, sống buông thả, không có hoài bão, ích kỉ, coi thường các giá trị đạo đức, coi thường pháp luật những sở thích tiêu cực như trên khi gặp những hoàn cảnh,
Trang 31tình huống thuận lợi tiêu cực cụ thể họ sẽ bị kích thích, hưng phấn mất kiểm soát, không kiềm chế được hành vi của mình dễ dấn đến hành vi phạm tội
1.2.2.2 Những hạn chế thuộc về ý thức pháp luật cá nhân
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm, tình cảm của con người thể hiện thái độ, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong cách xử sự của con người, trong hoạt động của các cơ
quan Nhà nước và các tổ chức xã hội [29, tr.421]
+ Một là: Không hiểu biết hoặc hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đây là
sự ngộ nhận về nhận thức hoặc hiểu biết kém do chưa có tri thức pháp luật, đưa đến hành vi phạm tội mà không biết mình phạm tội
+ Hai là: Không tuân thủ pháp luật Tuân theo (tuân thủ) pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm, những quy phạm pháp luật cấm trong luật hình sự, luật hành chính được thực hiện dưới hình
thức này [16, tr.298]
Cùng với sự không hiểu biết pháp luật dẫn đến xem thường các nghĩa
vụ, trong họ luôn tiềm ẩn khuynh hướng tìm mọi cách để lẩn tránh luật pháp, thực tế có những trường hợp chủ thể không tuân thủ pháp luật chỉ nhằm để thoả mãn trạng thái tâm lý là “thể hiện mình” trước đám đông, đây cũng coi là biểu hiện của sự chống đối pháp luật
Trang 32Tiểu kết Chương 1
Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội là rất quan trọng và cần thiết Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả phân tích làm rõ khái niệm nhân thân người phạm tội, theo đó nhân thân người phạm tội là:
“Tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó”
Trên cơ sở khái niệm nhân thân người phạm tội, tác giả rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội, làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội như đặc điểm sinh học, đặc điểm tâm lý, đặc điểm xã hội, để nhìn ra mối quan hệ nhân quả hay quy luật của quá trình phạm tội, từ
đó có biện pháp ngăn chăn, phòng ngừa hiệu quả
Trên cơ sở đặc điểm về nhân thân người phạm tội, tác giả xác định những hiện tượng tiêu cực nào tác động hình thành đặc điểm nhân thân người phạm tội và thúc đẩy họ thực hiện hành vi phạm tội, đó là nhóm các hiện tượng chủ quan và khách quan thuộc về môi trường sống và thuộc về cá nhân người phạm tội
Những phân tích, kết luận ở chương 1 sẽ là cơ sở để đánh giá được thực tiễn nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa sẽ có những đặc điểm, yếu tố đặc trưng nào, tìm hiểu về nguyên nhân hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực của người phạm tội ở thành phố Bà Rịa, tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu ở chương 2 của luận văn Đây là cơ sở khoa học để tác giả có thể đề xuất các biện pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm từ góc độ nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa ở chương 3 của luận văn
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Trong những năm qua, thành phố Bà Rịa đã thu hút được nhiều khách
du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng…; là địa điểm được chọn để tổ chức nhiều sự kiện, hội nghị, hội thảo mang tầm quốc
tế như: Hội thi thả Diều quốc tế, Hội thi cờ vua quốc tế, Hội nghị Hiệp hội Cảng biển ASEAN, Hội thảo khoa học quốc tế về Biển đông… mở ra nhiều tiềm năng phát triển du lịch, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Bà Rịa lần thứ
VI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã xác định Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, là một trong những lĩnh vực trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Bên cạnh những điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển du lịch, có những yếu tố làm nảy sinh những phức tạp về an ninh trật tự trên địa bàn Lợi dụng địa bàn du lịch, các thế lực thù địch đưa người xâm nhập, cài cắm, móc nối, câu kết với các đối tượng phản động, chống đối chính trị trên địa bàn để thu thập tin tức; tụ tập đông người gây rối, phá hoại, khủng bố; gia tăng hoạt động của các loại tội phạm, tai tệ nạn, ma túy, môi trường, vi phạm pháp luật giao thông Nếu không đảm bảo an ninh, an toàn tính mạng, tài sản cho du khách sẽ tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường du lịch, lòng tin của
du khách, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh ngành Du lịch nói riêng và cả
lĩnh vực kinh tế - xã hội của thành phố nói chung
2.1 Tình hình tội phạm ở thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu giai đoạn từ năm 2014 – 2018
Tình hình tội phạm được nhận thức thông qua bốn thông số là thực trạng của tình hình tội phạm, diễn biến của tình hình tội phạm, cơ cấu và tính
Trang 3431/12 của năm
Theo quy định tại Điều 268 và Điều 269 BLTTHS năm 2015, TAND thành phố Bà Rịa chỉ có thẩm quyền xét xử các vụ án về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng thuộc thẩm quyền của mình và không bị TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lấy lên để xét xử, vì vậy số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của TAND thành phố Bà Rịa có thể phản ánh chưa đầy đủ tình hình tội phạm đã xảy ra ở thành phố Bà Rịa Tuy nhiên, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu tình hình tội phạm theo số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của TAND thành phố Bà Rịa
Theo số liệu thống kê tại bảng 2.1.1, từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2018, trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xảy ra 499
vụ án, với 758 bị cáo Trong đó năm 2014 xảy ra nhiều nhất là 121 vụ và 213
bị cáo, năm 2018 xảy ra ít nhất là 76 vụ, có 96 bị cáo, trung bình 98,8 vụ/năm
và 151,6 bị cáo/năm
Bên cạnh số liệu tội phạm đã được phát hiện và xử lý thì trên địa bàn
Trang 35thành phố Bà Rịa vẫn còn một số lượng tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng chưa được phát hiện và xử lí, đây được gọi là tội phạm ẩn Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nhân thân người phạm tội đã được phát hiện và xử lí nên không đề cập đến tội phạm ẩn trên địa bàn thành phố
Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Để nhận thức rõ hơn về tình hình tội phạm, có thể xem xét hệ số tội phạm trên địa bàn thành phố Bà Rịa, hệ số tội phạm được tính bằng số người phạm tội (số bị cáo) bình quân trong 10.000 người dân trong độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Như vậy, theo số liệu ở bảng 2.2, thì giai đoạn 2014 – 2018, bình quân trong 10.000 người dân có độ tuổi từ 14 trở lên, có hơn 10,2 người phạm tội Đây là một hệ số khá cao
2.1.2 Khái quát diễn biến của tình hình tội phạm thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2014 – 2018
Theo số liệu tại biểu đồ 2.1.2 diễn biến tình hình tội phạm của 05 năm (2014-2018) trên địa bàn thành phố Bà Rịa tội phạm gia tăng theo chiều hướng đi lên của từng năm (năm sau cao hơn năm trước số lượng vụ án thụ lý giải quyết cũng như số bị cáo đưa ra xét xử cũng tăng), tuy nhiên đến năm
2018 tình hình có chuyển biến giảm về số vụ án cũng như số bị cáo, đây là kết quả của các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm mà chính quyền địa
phương quyết liệt đề ra trong những năm gần đây
Tình hình thụ lý, xét xử án hình sự trên địa bàn thành phố Bà Rịa như sau:
- Năm 2014, thụ lý 121 vụ, với 213 bị cáo, gồm các loại tội: Trộm cắp tài sản: 58 vụ, Ma túy: 13 vụ, Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ: 8 vụ, Cố ý gây thương tích: 6 vụ, Đánh bạc: 28 vụ, Cướp tài sản: 9
vụ và số còn lại rải rác ở các loại tội phạm khác
- Năm 2015, thụ lý 93 vụ, với 145 bị cáo, gồm các loại tội: Trộm cắp
Trang 36tài sản: 34 vụ, Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ: 6 vụ,
Ma túy: 19 vụ, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: 6 vụ, Đánh bạc: 10 vụ
và số còn lại rải rác ở các loại tội phạm khác
- Năm 2016, thụ lý 104 vụ, với 136 bị cáo, gồm các lọai tội: Trộm cắp tài sản: 32 vụ, Ma túy: 22 vụ, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: 35 vụ, Cướp giật tài sản: 5 vụ, Cố ý gây thương tích: 11 vụ và số còn lại rải rác ở các loại tội phạm khác
- Năm 2017, thụ lý 105 vụ, với 168 bị cáo, tập trung nhiều nhất là loại tội: Trộm cắp tài sản: 30 vụ, Ma túy: 25 vụ, Cố ý gây thương tích: 12 vụ, Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ: 6 vụ, Đánh bạc: 6 vụ, và
số còn lại rải rác ở các loại tội phạm khác
- Năm 2018, thụ lý 76 vụ, với 96 bị cáo, gồm các loại tội phạm: Trộm cắp tài sản 22 vụ, Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ: 4
vụ, Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy: 22 vụ, Đánh bạc; 3 vụ, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: 9 vụ, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: 5 vụ, và số còn lại rải rác ở các loại tội phạm khác
2.1.3 Khái quát cơ cấu của tình hình tội phạm thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn từ năm 2014 - 2018
Để có thể nhận thức một cách toàn diện tình hình tội phạm thành phố
Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cần phải nghiên cứu một số cơ cấu cơ bản của tình hình tội phạm Phần này tác giả trình bày một số cơ cấu cơ bản để có thể nhận diện một cách đầy đủ hơn về tình hình tội phạm thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2014 – 2018
2.1.3.1 Cơ cấu theo tội danh
Qua 499 hồ sơ với 758 bị cáo thụ lý giai đoạn năm 2014 - 2018, theo thống kê tình hình tội phạm theo bảng 2.3, các tội xâm phạm về quyền sở hữu như tội trộm cắp tài sản, Tội cố ý gây thương tích và tội phạm về ma túy là
Trang 37các loại tội có cơ cấu lớn nhất, còn các loại tội xâm phạm nhân thân con người cũng ít, điều này nói lên được sự suy thoái đạo đức trong một số bộ phận dân cư, Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy xảy ra 01 vụ nhưng đã có sức ảnh hưởng lớn đến dư luận xã hội trong một thời gian dài
2.1.3.2 Cơ cấu theo loại tội
Phân tích 499 hồ sơ thụ lý từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn thành phố Bà Rịa có 193 vụ phạm tội nghiêm trọng, tỷ lệ 39,3% và 306 vụ phạm tội phạm ít nghiêm trọng, tỷ lệ 60,7%, cho thấy tình hình tội phạm ở thành phố Bà Rịa là khá nghiêm trọng
2.1.3.3 Cơ cấu theo phương thức thực hiện tội phạm
Theo thống kê, những vụ án có tính chất đồng phạm chiếm 30%, đặc biệt là các tội cướp tài sản, cố ý gây thương tích, trộm cắp, đánh bạc có tỉ lệ đồng phạm lên đến hơn 60% Điều này cho thấy tình hình tội phạm ở thành phố Bà Rịa có tính chất, mức độ nguy hiểm khá cao bởi thông thường, những
vụ phạm tội có đồng phạm sẽ có tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn nhiều
so với những trường hợp phạm tội đơn lẻ
2.2 Đặc điểm nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà Rịa, tình Bà Rịa – Vũng Tàu
Các đặc điểm nhân thân là những nét đặc trưng, riêng biệt của mỗi người phạm tội Nghiên cứu các đặc điểm của người phạm tội giúp chúng ta xác định được nguyên nhân của tội phạm, làm rõ các đặc điểm chủ yếu của chủ thể và hoàn cảnh thực hiện tội phạm [27, tr.189]
Các đặc điểm nhân thân của người phạm tội trên địa bàn thành phố Bà
Rịa được nghiên cứu trong phạm vi luận văn bao gồm: Nhóm đặc điểm sinh học; đặc điểm nhận thức, tâm lý; nhóm đặc điểm xã hội; nhóm đặc điểm pháp
lý hình sự
2.2.1 Nhóm đặc điểm sinh học
Độ tuổi có ảnh hưởng rất lớn đến tính chất, mức độ, loại tội phạm, đến
Trang 38việc thực hiện các loại tội phạm khác nhau ở những người có độ tuổi khác
nhau
Phân tích số liệu bảng 2.5 của tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa thì nhóm những người phạm tội ở độ tuổi từ 18 đến dưới 30 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (37,3%), sau đó là nhóm người phạm tội ở lứa tuổi từ 30 trở lên (29,8%)
và nhóm những người phạm tội chưa thành niên (từ 14 – 16 tuổi) có tỷ lệ là 8,2%, cuối cùng là những người từ 16 đến dưới 18 tuổi (24,7%), ở lứa tuổi
này phạm tội tương đối cao
Đặc điểm này cho thấy, đặc trưng về độ tuổi của tình hình tội phạm trên thành phố Bà Rịa phổ biến lớn nhất ở nhóm người phạm tội có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi, đây là lứa tuổi đua đòi thích thể hiện mình nên dễ phạm tội
và có xu hướng gia tăng và trẻ hóa trong những năm gần đây Ở độ tuổi 18 đến dưới 30 tuổi, ở họ đã tích lũy được kinh nghiệm sống phong phú, ở độ tuổi này tội phạm thực hiện hành vi phạm tội tinh vi, xảo quyệt và khó phát hiện hơn ở nhóm tuổi khác, còn những người ở độ tuổi từ 30 trở lên, do có khả năng tự kiềm chế cao, có vị trí tương đối ổn định trong xã hội, nên mức
độ phạm tội ít hơn
Qua phân tích báo cáo tổng hợp của TAND thành phố Bà Rịa thì trong tổng số 758 người phạm tội có 669 đối tượng là nam, chiếm tỉ lệ 88,3% và 89 đối tượng là nữ, chiếm tỉ lệ 11,7%, qua đó thấy tỉ lệ nam giới phạm tội chiếm
tỉ lệ cao hơn nhiều so với người phạm tội là nữ giới Thời gian gần đây các loại tội phạm do nữ giới thực hiện ngày càng đa dạng có những hình thức phạm tội mới nguy hiểm hơn, chủ yếu là phạm tội nhiều ở các tội danh không đòi hỏi phải dùng sức mạnh, sử dụng sự tinh ranh, sự tin tưởng của người chủ
sở hữu thực hiện việc lừa đảo hoặc trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội ở các tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản chiếm và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điển hình như vụ án của Lê Thị Mai; sinh năm 1983, không có việc làm, vào khoảng 13h30 phút 01/10/2016, Lê Thị Mai đi bán vé
Trang 39số dạo tại tổ 12, khu phố 3, phường Phước Hưng, thành phố Bà Rịa Khi đi ngang qua phòng trọ của bà Nguyễn Thị Lệ, Mai phát hiện phòng trọ không khóa cửa, có 02 người đang ngủ và có 02 chiếc điện thoại đang sạc pin nên Mai nảy sinh ý định trộm cắp Mai vào phòng trọ lấy 02 chiếc điện thoại và giấu vào túi áo rồi quay ra, lúc này bà Lệ đang ở bên nhà hàng xóm phát hiện tri hô thì cán bộ dân quân phường Phước Hưng đi tuần tra ngang qua đã bắt giữ Mai đưa về trụ sở Công an phường lập biên bản phạm tội quả tang Vì tham lam, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để hưởng thụ nên bị cáo
đã cố ý thực hiện, Tòa tuyên bị cáo Lê Thị Mai phạm tội “Trộm cắp tài sản”
phạt 6 tháng tù (Trích Bản án số 02/2017/HSST ngày 06/01/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa)
Nữ giới khi phạm tội thường có đồng phạm (đối tượng nam giới cùng thực hiện tội phạm), Điển hình như vụ Phan Thanh Hải, sinh năm 1989, Trú tại: ấp An Hòa, xã An Ngãi, huyện Long Điền và Nguyễn Thị Thanh Hằng, sinh năm 1992, Trú tại: số 177Đ, khu phố Long Tâm, huyện Long Điền Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 21/12/2016 tại số nhà 5/5B tổ 18, khu phố 3, phường Long Toàn, thành phố Bà Rịa, phòng Cảnh sát ma túy phối hợp với cơ quan điều tra thành phố Bà Rịa bắt quả tang Hải và Hằng có hành vi mua bán trái phép chất ma túy Các bị cáo khai nhận như sau: Hải thường mua ma túy của một người tên Tú (không rõ nhân thân lai lịch) với giá từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng để về bán cho các con nghiện khác, Hải bán được 5 lần, mỗi lần từ 300.000 đồng đến 6.000.000 đồng Ngoài lần phạm tội quả tang thì Hằng đã giúp Hải bán ma túy cho các con nghiện khác Trong những lần đó,
Hằng được Hải cho tiền hoặc ma túy để sử dụng (Trích bản án số 35/2017/HSST ngày 23/05/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa)
Theo báo cáo thống kê tại bảng phụ lục 2.4 về đặc điểm nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Bà Rịa của 758 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố
Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử giai đoạn 2014 – 2018, có 30,7% là lao
Trang 40động phổ thông, 20,6% là lao động tự do, 19,6% nghề khác và 30,3% không
có nghề nghiệp, tình trạng thất nghiệp làm nảy sinh trực tiếp đến nhiều tệ nạn trong xã hội, phải kể đến như phạm tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản thì mới có tiền sinh sống Các đối tượng không có nghề nghiệp chiếm tỉ lệ phạm tội nhiều nhất (30,3%) và nghề nghiệp không ổn định chiếm
tỉ lệ ít nhất (19,6%) Chính vì người lao động không có nghề nghiệp ổn định,
có thu nhập thấp, không đủ trang trải cho cuộc sống của bản thân hoặc của gia đình nên dễ bị lôi kéo hoặc chọn con đường phạm tội
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng: tội phạm trên địa bàn thành phố
Bà Rịa chủ yếu là những người sống trong gia đình không hòa thuận thường xuyên cãi vã, hay mắng chửi nhau và không nhận được sự giáo dục chăm sóc của ba mẹ nên dễ dẫn đến hành vi phạm tội
*Qua bảng phụ lục 2.5 thể hiện, trình độ học vấn của các bị cáo đưa ra xét xử tại địa bàn thành phố Bà Rịa trong giai đoạn 2014 – 2018, cho thấy:
- Dưới lớp 5 và không biết chữ: với 295 bị cáo chiếm tỉ lệ 38,9%;