Nhằm khảo sát thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú, để góp phần nâng cao hiệu quả hơn nữa việc sử dụng thuốc trong khám và điều trị cho người bệnh tại bệnh viện, chúng tôi tiến hành thực hi
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
HÀ THỊ THU HÀ
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN
THUỐC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN SẢN - NHI TỈNH VĨNH PHÚC
NĂM 2018
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2019
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
-
HÀ THỊ THU HÀ
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN
THUỐC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN SẢN - NHI TỈNH VĨNH PHÚC
NĂM 2018
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: TS Lã Thị Quỳnh Liên
Thời gian thực hiện: Từ 08/07/2018 đến 08/11/2018
HÀ NỘI 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên với tất cả sự kính trọng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu
sắc tới TS Lã Thị Quỳnh Liên đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban giám hiệu, phòng đào tạo sau
đại học, các thầy, các cô trong bộ môn Quản Lý Kinh Tế Dược trường đại
học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ban giám đốc bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Vĩnh Phúc, anh (chị), cô (chú) trong khoa Dược bệnh viện Đặc biệt,
tôi xin gửi lời cảm ơn tới Dược sỹ chuyên khoa I, Phạm Thị Lan Hạnh –
Trưởng khoa Dược bệnh viện, đã tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu trong quá trình thực hiện đề tài tại bệnh viện
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Vĩnh Phúc , ngày 18 tháng 10 năm 2018
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về quy định kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú 3
1.1.1 Nguyên tắc kê đơn thuốc: 3
1.1.2 Quy định về hình thức kê đơn thuốc: 4
1.1.3 Quy định về nội dung kê đơn thuốc 4
1.1.4 Một số chỉ số kê đơn 6
1.2 Thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú 7
1.2.1.Tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại một số nước trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại Việt Nam 9
1.3 Một vài nét về Bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc 15
1.3.1 Quy mô bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc 15
1.3.2 Một vài nét về khoa Dược bệnh viện Sản-Nhi tỉnh Vĩnh Phúc 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.1.3.Phạm vi nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.2 Các biến số trong nghiên cứu 21
2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu và cách lấy mẫu 27
2.3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu 27
2.3.2 Cách thức lấy mẫu: 27
2.4 Phương pháp thu nhập, xử lý và phân tích số liệu 27
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú 29
3.1.1 Thực hiện tuân thủ một số quy định về thủ tục hành chính 29
3.1.2 Thực hiện quy dịnh ghi thông tin thuốc kê đơn và hướng dẫn sử dụng thuốc 30
3.2 Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc BHYT trong điều trị ngoại trú 32
3.2.1 Thuốc được kê theo nguồn gốc xuất xứ 32
Trang 53.2.2 Số thuốc có trong đơn 32
3.2.3 Số thuốc trung bình/đơn 33
3.2.4 Thuốc kê theo tên generic 34
3.2.5 Đơn thuốc có kê kháng sinh 34
3.2.6 Đơn thuốc có kê vitamin, corticoid, thuốc tiêm hoặc chế phẩm y học cổ truyền 36
Chương 4 BÀN LUẬN 38
4.1 Về thực trạng tuân thủ quy định kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện 38
4.1.1 Việc thực hiện quy định về thủ tục hành chính 38
4.1.2 Chỉ tiêu về thông tin thuốc kê đơn và hướng dẫn sử dụng thuốc 39
4.2 Một số chỉ số kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú 40
4.2.1 Phân tích thuốc được kê theo nguồn gốc xuất xứ 40
4.2.2 Số thuốc có trong đơn 40
4.2.3 Số thuốc trung bình trong một đơn 41
4.2.4 Thuốc kê theo tên Generic 41
4.2.5 Kê đơn thuốc kháng sinh 42
4.2.6 Kê đơn thuốc có vitamin, corticoid hoặc chế phẩm y học cổ truyền 43
KẾT LUẬN 45
1 Thực trạng tuân thủ quy định kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú 45
2 Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú 45
KIẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
ADR Phản ứng có hại của thuốc
DMT Danh mục thuốc
(Phân loại bệnh tật quốc tế)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các chỉ số kê đơn WHO 6
Bảng 1.2: Giá trị khuyến cáo chỉ số kê đơn WHO 8
Bảng 2.1 Biến số trong thực hiện quy định kê đơn thuốc ngoại trú 22
Bảng 2.2 Các biến số về chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú 25
Bảng 3.1 Thực hiện quy định về thủ tục hành chính 29
Bảng 3.2 Ghi đơn thuốc cho trẻ em dưới 72 tháng tuổi 30
Bảng 3.3 Ghi hướng dẫn sử dụng theo lượt thuốc 31
Bảng 3.4 Ghi hướng dẫn sử dụng theo đơn thuốc 31
Bảng 3.5 Tỷ lệ thuốc theo nguồn gốc 32
Bảng 3.6 Tỷ lệ số khoản thuốc có trong đơn 33
Bảng 3.7 Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc theo chuyên khoa và nhóm bệnh lý 33
Bảng 3.8 Tỷ lệ thuốc được kê theo thành phần và tên generic 34
Bảng 3.9 Tỷ lệ % đơn thuốc có kê kháng sinh theo nhóm bệnh lý 35
Bảng 3.10 Tỷ lệ % các nhóm kháng sinh được kê 35
Bảng 3.11 Tỷ lệ % đơn thuốc có phối hợp kháng sinh 36
Bảng 3.12 Tỷ lệ đơn thuốc có kê vitamin, corticoid và chế phẩm y học cổ truyền 36
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc đóng vai trò quyết định trong công tác chăm sóc, bảo vệ, duy trì
và phục hồi sức khỏe người dân Việc quyết định lựa chọn thuốc, đường dùng, cách dùng, liều dùng, thời điểm dùng phụ thuộc vào người thầy thuốc người trực tiếp thăm khám và chẩn đoán bệnh và cũng không thể thiếu được việc tuân thủ của bệnh nhân là người thực hiện đầy đủ và đúng theo phác đồ điều trị của thầy thuốc
Để chỉ định sử dụng thuốc cho bệnh nhân an toàn, hợp lý và có hiệu quả, vai trò của người thầy thuốc là hết sức quan trọng Ngoài trình độ chuyên môn giỏi, vững vàng và phải có đạo đức nghề nghiệp Tuy nhiên trước tác động của cơ chế thị trường việc sử dụng thuốc chưa hiệu quả và không hợp lý đang là vấn đề cần báo động Cùng với sự xuất hiện của hàng loạt các loại thuốc mới và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống y - dược tư nhân đã làm cho việc quản lý kê đơn và sử dụng thuốc ngày càng trở nên khó khăn hơn
Tình trạng chưa tuân thủ đầy đủ quy định kê đơn thuốc ngoại trú đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước đang phát triển Nghiên cứu của Sanchez (2013) ở Tây Ban Nha cho thấy có tới 1.127 lỗi kê đơn đã xảy ra trong tổng số 42.000 đơn thuốc, trong đó phổ biến nhất là lỗi đơn không đọc được (26,2%)
Tại Việt Nam, thực trạng kê đơn điều trị ngoại trú, cũng lạm dụng rất nhiều vào các thuốc kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin, kê quá nhiều thuốc cho một đơn thuốc Trung bình một đơn thuốc ngoại trú tại cơ sở y tế từ bệnh viện Trung ương đến trạm y tế xã dao động từ 3,8-4,3 thuốc Tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh là 49,2% và có sự dao động khá lớn giữa các tuyến Tại tuyến xã huyện có tới 60% đơn thuốc có kê kháng sinh trong khi tại tuyến tỉnh là 40%
và tuyến trung ương là 30% [4]
Trang 9Ở bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Vĩnh Phúc việc sử dụng thuốc an toàn hợp
lý, tiết kiệm cho người bệnh là một trong những nội dung quản lý quan trọng hiện nay
Trong những năm gần đây bệnh viện Sản-nhi tỉnh Vĩnh Phúc thường xuyên có những hoạt động kiểm tra giám sát việc kê đơn, sử dụng thuốc hợp lý- an toàn- hiệu quả- kinh tế Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về kê đơn thuốc ngoại trú cũng như thực hiện triển khai thông tư 52/2017/TT-BYT quy định về kê đơn trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện
Nhằm khảo sát thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú, để góp phần nâng cao hiệu quả hơn nữa việc sử dụng thuốc trong khám và điều trị cho người bệnh
tại bệnh viện, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát thực trạng kê
đơn thuốc trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Vĩnh Phúc
năm 2018” được thực hiện với hai mục tiêu sau:
ngoại trú tại bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018
viện Sản - Nhi tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kê đơn thuốc tại bệnh viện
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về quy định kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú
1.1.1 Nguyên tắc kê đơn thuốc:
Việc kê đơn thuốc phải thực hiện đúng quy định kê đơn và dựa trên những nguyên tắc sau đây [5]:
Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh
Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh
Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả
Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic
Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây: a) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hoặc hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS do Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận; Hướng dẫn chẩn đoán
và điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh
b) Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đi kèm với thuốc đã được phép lưu hành c) Dược thư quốc gia của Việt Nam;
Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hoặc đủ sử dụng nhưng tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày trừ một
số trường hợp đặc biệt
Đối với người bệnh phải khám từ 3 chuyên khoa trở lên trong ngày thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người được người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ủy quyền (trưởng khoa khám bệnh, trưởng khoa lâm sàng) hoặc người phụ trách chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau khi xem xét kết quả khám bệnh của các chuyên khoa trực tiếp kê đơn hoặc phân công bác sỹ có chuyên khoa phù hợp để kê đơn thuốc cho người bệnh
Bác sỹ, y sỹ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến 4 được khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và kê đơn thuốc điều trị của tất cả chuyên khoa thuộc danh
Trang 11mục kỹ thuật ở tuyến 4 (danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt)
Trường hợp cấp cứu người bệnh, bác sĩ, y sĩ kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu, phù hợp với tình trạng của người bệnh
Không được kê vào đơn:
a) Các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh;
b) Các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam,
c) Thực phẩm chức năng;
d) Mỹ phẩm
1.1.2 Quy định về hình thức kê đơn thuốc:
Kê đơn thuốc đối với người bệnh điều trị ngoại trú:
Người kê đơn thuốc ra chỉ định điều trị bằng thuốc vào bệnh án điều trị ngoại trú của người bệnh đồng thời kê đơn vào Sổ khám bệnh, đơn thuốc của người bệnh
Kê đơn thuốc đối với người bệnh tiếp tục phải Điều trị ngoại trú ngay sau khi kết thúc việc Điều trị nội trú:
a) Trường hợp người kê đơn thuốc tiên lượng người bệnh chỉ cần tiếp tục sử dụng thuốc từ 01 (một) đến 07 (bảy) ngày thì kê đơn thuốc (chỉ định điều trị) tiếp vào Bệnh án điều trị nội trú đồng thời kê đơn (sao chỉ định điều trị) vào sổ khám bệnh hoặc sổ điều trị bệnh cần chữa trị dài ngày của người bệnh
b) Trường hợp người kê đơn thuốc tiên lượng người bệnh cần tiếp tục điều trị trên 07 (bảy) ngày thì phải chuyển sang điều trị ngoại trú (làm bệnh án điều trị ngoại trú) ngay sau ngày kết thúc điều trị nội trú
1.1.3 Quy định về nội dung kê đơn thuốc
Trên thế giới không có một tiêu chuẩn thống nhất nào về nội dung kê đơn thuốc và mỗi quốc gia có quy định riêng phù hợp với điều kiện của đất nước mình Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng nhất đó là đơn thuốc phải rõ ràng
Trang 12Đơn thuốc phải có tính hợp lệ và chỉ định chính xác thuốc phải sử dụng Theo khuyến cáo của WHO thì một đơn thuốc đầy đủ bao gồm các nội dung sau:
1 Tên, địa chỉ của người kê đơn
2 Ngày, tháng kê đơn
3 Tên gốc của thuốc, hàm lượng
4 Dạng thuốc, tổng lượng thuốc
5 Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo
6 Tên, tuổi, địa chỉ của bệnh nhân
7 Chữ ký của người kê đơn Theo điều 6, Thông tư 52/2017/TT-BYT ngày 29/12/ 2017 quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú và Khoản 1, Điều 1 Thông tư 18/2018/TT-BYT ngày 22/8/2018 của Bộ Y tế sửa đổi một số nội dung trong Thông tư 52/2017/TT-BYT yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc như sau [5, 6]:
1 Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong Đơn thuốc hoặc trong
sổ khám bệnh của người bệnh
2 Ghi địa chỉ nơi người bệnh thường trú hoặc tạm trú: số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn/ấp/bản, xã/phường/thị trấn, quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh, tỉnh/thành phố
3 Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi ghi số tháng tuổi, cân nặng, tên bố hoặc mẹ của trẻ hoặc người đưa trẻ đến khám bệnh, chữa bệnh
4 Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế (INN, generic) trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất Trường hợp ghi thêm tên thuốc theo tên thương mại phải ghi tên thương mại trong ngoặc đơn sau tên chung quốc tế
Ví dụ: đối với thuốc Paracetamol
- Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế: Paracetamol 500mg
- Trường hợp ghi tên thuốc theo tên thương mại: Paracetamol 500mg (Hapacol hoặc Biragan hoặc Efferalgan hoặc Panadol, )
Trang 135 Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc
6 Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa
7 Số lượng thuốc: viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10)
8 Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên cạnh nội dung sửa
9 Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía trên chữ ký của người kê đơn; ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người
các thuốc được kê
theo tên generic
Để đo lường xu hướng kê đơn theo tên generic
5
Tỷ lệ phần trăm của
các thuốc được kê
thuộc danh mục thuốc
thiết yếu hoặc danh
mục thuốc chủ yếu
Để đo mức độ thực hành phù hợp với chính sách thuốc quốc gia, bằng việc chỉ
ra việc thực hiện kê đơn từ danh sách thuốc chủ yếu đối với từng loại hình cơ sở khảo sát
Trang 14Ngoài ra, Thông tư 21/2013/ TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện [3] BYT đưa ra các chỉ
số kê đơn thuốc hoặc sử dụng thuốc như sau:
*Các chỉ số kê đơn BYT:
- Số thuốc kê trung bình trong một đơn
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê theo tên chung quốc tế (INN)
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong Danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế ban hành
*Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc;
- Chi phí cho thuốc trung bình của mỗi đơn;
- Tỷ lệ % chi phí thuốc dành cho kháng sinh;
- Tỷ lệ % chi phí thuốc dành cho thuốc tiêm;
- Tỷ lệ % chi phí thuốc dành cho vitamin;
- Tỷ lệ % đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị;
- Tỷ lệ % người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe;
1.2 Thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú
1.2.1.Tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại một số nước trên thế giới
Trên toàn thế giới hơn 50% của tất cả các loại thuốc được kê đơn, cấp phát, hoặc bán không phù hợp, trong khi 50% bệnh nhân không sử dụng chúng đúng cách Phổ biến của việc sử dụng thuốc không hợp lý bao gồm: Sử dụng quá nhiều loại thuốc cho một bệnh nhân; sử dụng kháng sinh không hợp
lí, thường ở liều lượng không đủ, các bệnh nhiễm trùng không do vi khuẩn;
sử dụng quá nhiều thuốc tiêm khi thuốc uống sẽ thích hợp hơn; kê đơn không theo hướng dẫn điều trị; tự điều trị không phù hợp, tự sử dụng thuốc phải kê
Trang 15đơn [28]
Việc sử dụng thuốc không hợp lí gây ra nhiều hậu quả như: bệnh nghiêm trọng thậm chí tử vong, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và một số bệnh mạn tính, kháng kháng sinh, sử dụng không hiệu quả nguồn lực làm vượt quá khả năng chi trả của bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân nghèo, làm mất lòng tin ở bệnh nhân
Tổ chức Y tế thế giới ở khu vực Đông và Nam Á (WHO/SEARO) đã thực hiện các chiến lược khu vực để thúc đẩy sử dụng thuốc hợp lý (RUM), cập nhật tại các cuộc họp vào tháng 7 năm 2010, đề nghị thực hiện phân tích tình hình sử dụng thuốc tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe nhằm đưa ra kế hoạch phối hợp để cải thiện tình hình sử dụng thuốc, sử dụng một công cụ được thiết kế sẵn Tổ chức y tế thế giới đã đưa ra các giá trị khuyến cáo đối với các chỉ số kê đơn [28]
Bảng 1.2: Giá trị khuyến cáo chỉ số kê đơn WHO
1 Số thuốc trung bình/đơn 1,6 - 1,8
2 Tỷ lệ đơn kê kháng sinh 20,0 - 26,8
3 Tỷ lệ đơn kê thuốc tiêm 13,4 - 24,1
4 Tỷ lệ thuốc được kê tên generic 100,0
5 Tỷ lệ thuốc được kê nằm trong danh mục thuốc
Dựa trên chỉ số đánh giá này của WHO một số cơ sở y tế trên thế giới
đã có những nghiên cứu đánh giá thực trạng kê đơn thuốc và tình trạng sự dụng một số thuốc như kháng sinh, thuốc tiêm… cụ thể:
Trong một nghiên cứu đánh giá sử dụng thuốc hợp lý tại Pakistan năm
2014 tại 4 cơ sở y tế: Bệnh viện quận Chakwal (cơ sở 1), Holy Family Hospital-Rawalpindi (cơ sở 2), Allied Hospital-Faisalabad (cơ sở 3) và Bệnh
Trang 16viện quận Sargodha (cơ sở 4) về các chỉ số kê đơn cho thấy có sự khác biệt lớn về các chỉ số giữa các cơ sở y tế: số thuốc trung bình của cơ sở 1 là 4,7 trong khi đó cơ sở 2 chỉ có 2,76 Tỷ lệ đơn kê kháng sinh tại cơ sở 1 và cơ sở
4 lên tới 90% tại cơ sở 3 là 83,3%, tỷ lệ đơn kê thuốc tiêm tại cơ sở 1 lên tới 90% điều này cho thấy cho thấy sự lạm dụng kháng sinh và thuốc tiêm tại đây, trong khi đó tỷ lệ thuốc kê generic lại rất thấp so với giá trị tiêu chuẩn [25]
Một nghiên cứu tại Ethiopia thực hiện tại bệnh viện từ năm 2007 đến
2009 khảo sát 1290 đơn thuốc với tổng số 2451 lượt thuốc đã được kê đơn, kết quả một số chỉ số như sau: số thuốc trung bình trên một đơn thuốc là 1,9 tương đối phù hợp với chỉ số khuyến cáo của WHO (1,6-1,8) Tỷ lệ các thuốc nằm trong Danh mục thuốc thiết yếu của quốc gia (DEL) là 96,6% thấp hơn so với giá trị khuyến cáo của WHO là 100% Tỷ lệ thuốc được kê theo tên generic là 98,7%, thấp hơn so với giá trị tiêu chuẩn của WHO là 100% Tỷ lệ đơn có kê đơn thuốc tiêm là 38,1% cao hơn so với giá trị khuyến cáo của WHO (13,4% – 24,1%) Các kháng sinh được kê đơn nhiều nhất là Amoxicillin (21,4%) và Cloxacillin (13,4%) [26]
Thuốc là “con dao hai lưỡi” vì có thể gây ra những phản ứng có hại ở nhiều mức độ, thậm chí tử vong kể cả dùng đúng liều, đúng quy định, các phản ứng như vậy gọi là phản ứng bất lợi Điều trị nhiều thuốc thì tần suất ADR tăng lên theo cấp số nhân với số lượng thuốc có trong 1 lần điều trị Vì vậy cần thiết có một chương trình giáo dục y tế để hợp lý việc kê đơn
1.2.2 Tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại Việt Nam
Kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam cũng vận động theo xu thế chung của thế giới, đó là tình trạng kê đơn và sử dụng thuốc không hợp lý, lạm dụng thuốc kháng sinh, vitamin và kê quá nhiều thuốc cho một đơn Tình trạng này
đã và đang tồn tại gây ra nhiều bất cập trong sử dụng thuốc, đòi hỏi BYT phải
có các quy định chặt chẽ nhằm tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả trong
kê đơn và sử dụng thuốc hướng tới sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Bộ Y tế
Trang 17yêu cầu nghiêm ngặt đối với thầy thuốc về việc kê đơn thuốc Thế nhưng trên thực tế, một trong những lỗi thường gặp nhất của thầy thuốc lại vẫn liên quan đến kê đơn thuốc Kê đơn thuốc không đúng với yêu cầu chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp là một hiện tượng không hiếm gặp ở một số thầy thuốc Những lỗi thường gặp của thầy thuốc khi kê đơn đó là viết nhầm tên thuốc, thiếu hiểu biết về thuốc, nhầm lẫn về liều lượng, đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng, nhầm lẫn về tần suất dùng thuốc trong ngày, viết chữ quá khó đọc, không thận trọng khi dùng chữ viết tắt, không chú ý đến tương tác, không chú ý điều chỉnh liều lượng, không quan tâm đến tiền sử bệnh của người dùng thuốc
Hiện nay, có một số lỗi phổ biến do kê đơn trong điều trị ngoại trú ở Việt Nam, chủ yếu là kê nhiều loại thuốc, lạm dụng thuốc kháng sinh thế hệ cao hoặc lạm dụng vitamin, thực phẩm chức năng Có tới 80 - 90% thầy thuốc nghĩ rằng mỗi triệu chứng ở bệnh nhân cần phải điều trị bằng một loại thuốc riêng biệt nên
đã kê đơn nhiều loại thuốc Đôi khi thầy thuốc kê đơn chịu áp lực của cả bệnh nhân lẫn gia đình họ muốn dùng nhiều thuốc để chóng khỏi bệnh Ngoài ra, người thầy thuốc còn lạm dụng thuốc vì lợi ích, áp lực kinh tế, sự tác động của trình dược, các công ty dược phẩm giàu quyền lực Khi uống thuốc, ngoài tác dụng chữa bệnh, thuốc còn có khả năng gây ra những phản ứng làm xáo trộn cơ thể, đây là những tác dụng không mong muốn hay còn gọi là tác dụng phụ của thuốc Vì thế vấn đề an toàn sử dụng thuốc là trách nhiệm đặt ra cho cả bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, cơ quan quản lý dược, hãng bào chế và bản thân người bệnh
Trong một nghiên cứu đánh giá chất lượng kê đơn trong điều trị tại khoa tiêu hóa của một bệnh viện tuyến thành phố cho thấy: số thuốc ít nhất được kê trong một đơn là 3, số thuốc nhiều nhất trong một đơn là 8, đơn có số tương tác lớn nhất là 3 [7] Thuốc là “con dao hai lưỡi” vì có thể gây ra những phản ứng có hại ở nhiều mức độ, thậm chí tử vong kể cả dùng đúng liều, đúng quy định, các
Trang 18phản ứng như vậy gọi là phản ứng bất lợi Điều trị nhiều thuốc thì tần suất ADR tăng theo cấp số nhân với số lượng thuốc trong một lần điều trị Do đó, có thể nói rằng số tương tác tăng theo cấp số nhân so với số thuốc kê Mặc dù bác sĩ kê đơn là nhằm mục đích chăm sóc điều trị bệnh nhân nhưng thực tế không có loại thuốc nào khi cho dùng lại không có rủi ro của nó Thách thức chủ yếu của công tác an toàn sử dụng thuốc là làm sao giảm thiểu đến mức tối đa những tác dụng đối nghịch của thuốc
Kết quả khảo sát của Cục Quản lý khám chữa bệnh – BYT tại một số bệnh viện trong những năm gần đây cho thấy: mỗi bệnh nhân trong một đợt điều trị đã được sử dụng từ 0-10 thuốc, trung bình là 3,63±1,45 thuốc
Vitamin cũng là hoạt chất thường được sử dụng và có nguy cơ lạm dụng cao Kết quả phân tích tại 38 bệnh viện trong cả nước năm 2009 cho thấy Vitamin nằm trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất tại tất cả các bệnh viện từ tuyến Huyện, tuyến Tỉnh đến tuyến Trung ương Kê vitamin có thể đã thành thói quen của bác sỹ, hoặc đôi khi bệnh nhân đòi hỏi các bác sỹ kê đơn trong khi thực chất bệnh nhân không cần dùng tới thuốc Tại bệnh viện Nhi Thanh hóa, số đơn kê vitamin chiếm tỷ lệ 42,8% [9] Tại bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa 93% đơn ngoại trú BHYT có kê vitamin [16]
Việc chấp hành thực hiện quy chế chuyên môn về kê đơn và bán thuốc theo đơn vẫn chưa nghiêm túc Ghi đơn thuốc theo tên biệt dược, không ghi theo tên gốc, kê các thuốc đắt tiền, hoặc kê các thuốc được tiếp thị còn tồn tại trong một số bộ phận thầy thuốc Năm 2012, chỉ có 24% số thuốc đơn thành phần trong đơn kê tại bệnh viện Nhi Thanh Hóa được ghi bằng tên gốc [16] Theo nghiên cứu ở bệnh viện đa khoa Vĩnh Phúc vào năm 2011 chỉ 8,5% số thuốc được ghi bằng tên gốc, còn lại hầu hết thuốc được kê bằng tên biệt dược [8] Theo nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang năm 2015: 100% đơn thuốc BHYT chấp hành tốt các quy định về ghi đầy đủ tên, tuổi, giới tính, ghi chẩn đoán, ngày kê đơn Không có đơn thuốc BHYT nào thực hiện đúng
Trang 19quy định ghi địa chỉ bệnh nhân Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc là 14,7% 100% đơn thuốc BHYT ghi hàm lượng, số lượng, liều dùng, đường dùng thuốc Tỷ
lệ đơn thuốc ghi thời điểm dùng là 22,7% Số thuốc trung bình trong 1 đơn BHYT là 3,2 Tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh là 42,7% Tỷ lệ đơn thuốc kê Vitamin là 23,3% Không có đơn thuốc BHYT nào kê thuốc tiêm Tỷ lệ đơn thuốc BHYT ngoại trú có tương tác là 18,70%[19]
Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Nhân dân 115 hoạt động kê đơn thuốc vẫn còn nhiều sai sót trước can thiệp như sai sót về tên thuốc chiếm 42%, sai sót về liều dùng 21%, đường dùng 26%, sai sót nồng độ, hàm lượng 50%, khoảng cách dùng thuốc 55%, thời gian sử dụng thuốc 30%[23]
Nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2011 cho thấy: Đối với đơn thuốc ngoại trú: số thuốc trung bình trong 1 đơn là 1,6; tỷ lệ đơn có kháng sinh là 37%, tỷ lệ đơn có vitamin và khoáng chất là 55%, chi phí trung bình trong 1 đơn thuốc là 175,379 đồng, và vẫn còn 12,3% đơn viết sai tên thuốc, nồng độ, hàm lượng [10]
Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2011 cho thấy: Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc kê cho điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai nằm trong giới hạn an toàn theo khuyến cáo của WHO (4,7 thuốc với đơn kê cho đối tượng không có BHYT và 4,2 thuốc với đơn kê cho bệnh nhân BHYT); tỷ lệ sử dụng kháng sinh chung là 32,3%, các Betalactam là nhóm kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất (77,3% với các đơn không có BHYT
và 55,5% với các đơn BHYT); kê đơn kết hợp kháng sinh trong đơn thuốc khá phổ biến (45,9% với các đơn không có BHYT và 37,67% với các đơn BHYT Sử dụng kết hợp 2 kháng sinh là chủ yếu (73,47% với các đơn không
có BHYT và 96,36% với các đơn BHYT – tính theo tổng số đơn kết hợp kháng sinh); tỷ lệ kê đơn sử dụng thuốc tiêm cho bệnh nhân ngoại trú không cao (10,7%); tỷ lệ sử dụng các loại dịch truyền thấp (4% với các đơn không
có BHYT và không có đơn thuốc BHYT nào kê cho bệnh nhân sử dụng dịch
Trang 20truyền); tỷ lệ sử dụng các loại vitamin tương đối cao (30,1% với các đơn không có BHYT và 19,2% với các đơn BHYT) [18]
Một nghiên cứu tại bệnh viện Tim Hà Nội giai đoạn 2008 – 2010 chỉ ra rằng số thuốc trung bình trong một đơn thuốc là 4,36, số đơn thuốc có kê vitamin chiếm 35%, thời gian phát thuốc trung bình cho bệnh nhân là 132 giây Nghiên cứu này cũng chỉ ra chỉ có 56% người bệnh biết cách dùng của tất cả các thuốc có trong đơn, có đến 20% bệnh nhân không biết cách dùng của bất kỳ loại thuốc nào trong đơn [13]
Bên cạnh đó các thuốc có tác dụng bổ trợ, hiệu quả điều trị chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng phổ biến ở hầu hết các bệnh viện trong cả nước Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long cho thấy: Số thuốc trung bình trong 1 đơn thuốc điều trị ngọai trú là 3.6 thuốc (thấp nhất: 01 thuốc, cao nhất: 09 thuốc) Tỷ lệ sử dụng kháng sinh chung 47,27 % Tỷ lệ đơn thuốc có sử dụng kết hợp 2 KS cho bệnh nhân ngoại trú không cao (5,45%) Tỷ lệ đơn thuốc có sử dụng các loại Vitamin – Khoáng chất tương đối cao (36,14%) 100% các đơn thuốc khảo sát đúng mẫu qui định: có đầy đủ tên, địa chỉ, dấu phòng khám của BV, chữ ký của bác sĩ 100% các đơn thuốc khảo sát còn phần chưa hợp lệ gồm: Về mặt hành chính: Thiếu thông tin địa chỉ người bệnh (số nhà, đường phố, thôn/ xã) và thiếu cộng số khoản và gạch chéo phần đơn còn giấy trắng Về mặt chuyên môn: Chưa ghi rõ chú ý khi sử dụng từng loại thuốc, những điều kiêng cử Chưa ghi đầy đủ, đúng thời gian, thời điểm dùng của mỗi thuốc Tỷ lệ đơn thuốc có tương tác (đối với đơn thuốc có từ 5 thuốc trở lên): 101/440 đơn chiếm 22,96% Trong đó: Tương tác phối hợp nguy hiểm - nghiêm trọng: 7/101 đơn chiếm tỉ lệ 6,93 %; Tương tác phối hợp mức độ trung bình - cần theo dõi khi sử dụng: 55/101 đơn chiếm
tỉ lệ 54,46%; Tương tác phối hợp mức độ nhẹ, chưa có ý nghĩa thống kê 39/101 đơn chiếm tỉ lệ 38,61%; Không có đơn thuốc kê đơn thực phẩm chức năng [14]
Trang 21Theo một cuộc khảo sát ở thành phố Huế, với 300 đơn thuốc đã được kê, chỉ có 120 đơn thuốc có mẫu đúng qui chế lệ chiếm 37,3%, còn số đơn được
kê trên các loại mẫu mã, kiểu cách không đúng qui định mà phần lớn là các tờ quảng cáo của các hãng dược phẩm [20] Cần phải lên tiếng báo động về tình trạng lạm dụng thuốc biệt dược làm ảnh hưởng đến kinh tế bệnh nhân và gia đình Không những thế còn gây ra một thị hiếu dùng thuốc không đúng, dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh, thuốc corticoid, thuốc vitamin vẫn tiếp tục diễn ra Trong số 873 báo cáo, số lượng ADR nhiều nhất vẫn là kháng sinh (449), đặc biệt là kháng sinh nhóm betalactam (25), sau đến nhóm hạ sốt giảm đau chống viêm (110), thuốc chống lao (99), thuốc thần kinh tâm thần (42), dịch truyền (33), thuốc tê-mê (16), corticoid và vitamin (11), thuốc giãn
cơ (10), vaccin (9), thuốc đông y (27) [12] Trong một nghiên cứu về cung ứng steroid tại các nhà thuốc ở Hà Nội, 98% nhà thuốc nghiên cứu đều bán hoặc là prednisolon hoặc là dexamethaxon và chỉ có duy nhất một lần khách hàng được hỏi về đơn thuốc
Trên thực tế, tình trạng kháng thuốc có thể còn trầm trọng hơn so với một số số liệu khảo sát Có những điều ai cũng biết, cũng vi phạm mà không
ai xử lý Một trong những vi phạm đó là quy định kê đơn không được tuân thủ Hiện nay, nhiều bệnh viện đã ứng dụng phần mềm trong kê đơn nên đã thực hiện tốt hơn quy chế kê đơn ngoại trú Một nghiên cứu can thiệp tại BV Nhân dân 115 cho thấy việc áp dụng kê đơn điện tử đã cải thiện rõ rệt chất lượng kê đơn thuốc tại khoa khám bệnh Số đơn ghi thiếu thông tin về bệnh nhân đã giảm từ 98% xuống còn 33,6%, các thông tin về họ, tên, tuổi, giới tính, giảm từ 96,25 đến không còn (0%) Các sai sót về ghi chỉ định, tên hoạt chất và tên thuốc đã được hạn chế tối đa (0%) khi áp dụng kê đơn điện tử Tỷ
lệ đơn ghi thiếu thông tin về thời điểm dùng thuốc giảm từ 54% xuống còn 33,5% [24]
Trang 221.3 Một vài nét về Bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc
1.3.1 Quy mô bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc
Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập theo Quyết định số 2708/QĐ-UBND ngày 19/8/2009 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc ngày 20/10/2011 Bệnh viện chính thức đi vào hoạt động với qui mô 150 giường bệnh và 120 biên chế, nằm tại phường Khai Quang – Thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc
Hiện tại Bệnh viện hoạt động với mô hình bệnh viện hạng II với quy mô
300 giường và 185 biên chế, là bệnh viện tuyến đầu trong lĩnh vực sản, nhi của tỉnh Vĩnh Phúc Bệnh viện được tiếp nhận cơ sở hạ tầng của Trung tâm Phòng chống các bệnh xã hội, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh với diện tích đất là 5310m2
Bệnh viện đã cải tạo, sửa chữa lại cơ sở hạ tầng hiện có và xây thêm 6 dãy nhà cấp 4, tổng số được trên 100 phòng phục vụ công tác chuyên môn Bệnh viện được Bộ Y tế chọn là một trong 5 bệnh viện vệ tinh tuyến tỉnh chuyên ngành phụ sản và chuyên ngành nhi, nhằm giảm quá tải cho Bệnh viện Phụ sản và Bệnh viện Nhi tuyến Trung ương
Kê đơn bằng phần mềm máy tính có ưu điểm nỗi bật đó là đã giảm thiểu được tỷ lệ sai sót xuống mức thấp Hiện nay bệnh viên Sản – Nhi tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện kê đơn bằng phần mềm tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều sai sót cần thiết phải khắc phục, để giảm thiểu đến mức thấp nhất hậu quả không mong muốn có thể xảy ra Hơn nữa,việc kê đơn bằng máy tính bên cạnh những ưu điểm cũng tồn tại nhược điểm đó là thiếu sự linh hoạt cho từng đối tượng người bệnh nên có thể gây đến các ADR hoặc các tương tác không đáng có phát sinh Hoạt động kê đơn tại bệnh viện đang diễn ra dưới hình thức, bác sỹ sẽ khám và đọc thuốc cho một y tá thực hiện đánh đơn bằng máy tính, như vậy đa phần các trường hợp khi bệnh nhân đông thì bác sỹ sẽ không có thời gian để kiểm tra, tổng quát lại đơn thuốc trước khi phát cho bệnh nhân, đây cũng là nguyên nhân gây ra các ADR hoặc tương tác không đáng có
Trang 23Sơ đồ tổ chức của bệnh viện Sản – Nhi Vĩnh Phúc
1.3.2 Một vài nét về khoa Dược bệnh viện Sản-Nhi tỉnh Vĩnh Phúc
* Chức năng :
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
* Nhiệm vụ khoa Dược Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Vĩnh Phúc
+ Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa)
+ Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị
và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
+ Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị
Các khoa lâm sàng- CLS Các phòng ban chức năng
4 Khoa Truyền nhiễm
5 Khoa ngoại 3 chuyên khoa
6 Khoa Sản
7 Khoa dược
8 Phòng khám khu vực
Trang 24+ Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc” + Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc
+ Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện
+ Nghiên cứu khoa học và đào tạo, là cơ sở thực hành của các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học về dược
+ Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đặc biệt là sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện
+ Tham gia chỉ đạo tuyến
+ Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
+ Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
+ Quản lý hoạt động của quầy thuốc bệnh viện theo đúng quy định
+ Thực hiện nhiệm vụ cung ứng, theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra, báo cáo về vật tư y tế tiêu hao (bông, băng, cồn, gạc) khí y tế đối với các cơ
sở y tế chưa có phòng Vật tư - trang thiết bị y tế và được người đứng đầu các
cơ sở đó giao nhiệm vụ
* Biên chế tổ chức và cơ sở vật chất khoa Dược – Bệnh viện Sản- Nhi tỉnh Vĩnh Phúc
Biên chế có 06 cán bộ, nhân viên trong đó :
+ Dược sỹ Đại học và trên Đại học: 02 cán bộ
+ Dược sỹ Trung học: 04 cán bộ Tổ chức của khoa:
+ 01 chủ nhiệm khoa
+ 01 phó chủ nhiệm khoa
+ 01 dược sỹ giữ kho chính và cấp phát thuốc nội trú
+ 01 dược sỹ cấp phát thuốc ngoại trú
+ 01 dược sỹ giữ kho vật tư y tế
+ 01 dược sỹ đang theo học lớp dược sỹ đại học
Trang 2521
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đơn thuốc của bệnh nhân điều trị ngoại trú được kê tại Bệnh viện từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/06/2018
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01/6/2018 đến ngày 30/10/2018
- Địa điểm: Khoa Dược - Quầy phát thuốc BHYT ngoại trú - Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu
- Toàn bộ đơn thuốc được kê cho bệnh nhân nhi BHYT điều trị ngoại trú tại bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Vĩnh Phúc từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/06/2018
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Tiêu chuẩn loại trừ: Các đơn thuốc của các trường hợp cần chuyển lên tuyến trên sau khi khám chữa bệnh tại bệnh viện
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp mô tả cắt ngang, sử dụng kỹ thuật hồi cứu
2.2.2 Các biến số trong nghiên cứu
Mục tiêu 1: Một số quy định kê đơn thuốc ngoại trú
Trang 2622
Bảng 2.1 Biến số trong thực hiện quy định kê đơn thuốc ngoại trú
Biến nhị phân
Phụ lục 1
3
Ghi giới
tính bệnh nhân
Có: Đơn ghi giới tính của bệnh nhân
Không: đơn không ghi giới tính bệnh nhân
Biến nhị phân
Không: đơn chỉ ghi tuổi
mà không ghi tháng
Biến nhị phân
Biến nhị phân
Phụ lục 1
Trang 27Không: đơn ghi địa chỉ bệnh nhân không chi tiết hoặc không ghi
Biến nhị phân
Biến nhị phân
Biến nhị phân
Phụ lục 1
10 Ghi ngày kê đơn
Có: Đơn thuốc có ghi ngày kê đơn
Không: Đơn thuốc không ghi ngày kê đơn
Biến nhị phân
Phụ lục 1
11 BS kê đơn ký
tên
Có: Bác sỹ kê đơn có ký tên vào đơn
Không: Bác sỹ kê đơn không ký tên vào đơn
Biến nhị phân
Phụ lục 1
12 Họ tên người
kê đơn
Có: Bác sỹ có ghi/đánh máy hoặc đóng dấu họ tên vào đơn
Không: Bác sỹ không ghi/đánh máy/đóng dấu họ tên vào đơn
Biến nhị phân
Không: tên thuốc
Biến nhị phân
Phụ lục 3
Trang 2824
thu thập
có/không có hàm lượng, không kèm số lượng
Không: thuốc không ghi không ghi liều dùng 1 lần hoặc liều dùng
24h
Biến nhị phân
Biến nhị phân
Biến nhị phân
Biến nhị phân
Phụ lục 3