1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh

62 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 4,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thật vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và tiến bộ của thông tin, truy

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

Theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nền giáo dục Việt Nam cũng đang trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện Nếu như trước đây giáo dục nước ta chú trọng mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh và giúp người học hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ thì ngày nay, điều đó vẫn còn đúng, còn cần nhưng chưa đủ

Thật vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và tiến bộ của thông tin, truyền thông, giáo dục cần phải giúp người học hình thành một hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới Hệ thống phẩm chất, năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh lý của người học, phù hợp với đặc điểm môn học và cấp học, lớp học Theo đó, những phát triển của phẩm chất, năng lực người học trong quá trình giáo dục cũng sẽ là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người

Giáo dục học sinh nói chung và giáo dục đạo đức, hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất HS nói riêng là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến HS nhằm hình thành và bồi dưỡng những nét tính cách của con người mới phù hợp mục đích giáo dục Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc rất quan trọng” Giáo dục đạo đức học sinh là công việc vô cùng quan trọng, đặc biệt chú trọng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh (đức, tài) để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới được quan tâm nhấn mạnh Quá trình này cần có sự vào cuộc hành động của cả một hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp, các ngành Trong đó có vai trò to lớn của đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp

Nghị quyết 88 của Quốc hội về đổi mới chương trình, Sách giáo khoa Giáo

dục phổ thông xác định mục tiêu đổi mới là: “Đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh”

Là một giáo viên đang công tác tại trường THPT Anh Sơn 2 với hơn mười năm làm chủ nhiệm lớp, tôi nhận thấy công tác chủ nhiệm có vai trò rất lớn đến chất lượng dạy và học của nhà trường, nhất là đối với nhiệm vụ giáo dục đạo đức, hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cho HS Trong giai đoạn hiện nay, công tác chủ nhiệm lớp càng đỏi hỏi sự dày công của người giáo viên bởi yêu cầu ngày càng cao của xã hội Hơn nữa, trong công tác chủ nhiệm ở trường THPT Anh Sơn 2 nói riêng và cả nước nói chung, GVCN mới chỉ chú trọng đến việc xử lý kỷ luật học sinh, nhắc nhở, bảo ban học sinh và tập trung vào các thủ tục hành chính

mà chưa chú ý đến việc hình thành và phát huy phẩm chất, năng lực cụ thể cho học

Trang 2

sinh lớp mình chủ nhiệm Đứng trước thực trạng đó, tôi thiết nghĩ cần phải có những giải pháp cụ thể để giáo dục, hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực

HS thông qua công tác chủ nhiệm lớp nhằm góp phần giúp cho các em HS có nhận thức và hành động đúng đắn hơn, phát triển toàn diện hơn

Xuất phát từ những lí do trên, trong hai năm học vừa qua chúng tôi đã triển

khai thực hiện đề tài: Một số giải pháp đổi mới công tác chủ nhiệm nhằm góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực “người học sinh mới” tại trường THPT Anh Sơn 2, tỉnh Nghệ An và thu được nhiều kết quả tốt đẹp Qua đề tài, tôi

mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào việc đổi mới phương pháp, cách thức, nội dung trong công tác chủ nhiệm ở trường THPT Anh Sơn 2 nói riêng và

các trường THPT lân cận cũng như trong phạm vi tỉnh nhà nói chung Xin được

trao đổi kinh nghiệm này với các bạn đồng nghiệp và rất mong nhận được sự góp ý

để đề tài được áp dụng rộng rãi, thu được hiệu quả cao hơn

2 Phạm vi áp dụng

Bản thân tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu, tiến hành thể nghiệm về công tác chủ nhiệm ở các lớp tại trường THPT Anh Sơn 2 và một số lớp ở các trường THPT lân cận (Trường THPT Anh Sơn 1, THPT Anh Sơn 3) Trong đó tập trung bắt đầu thể nghiệm ở lớp 11D năm học 2017 – 2018 và 12D năm học 2018 – 2019

mà bản thân tôi chủ nhiệm ở trường THPT Anh Sơn 2

- Thực trạng về vấn đề hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của

“người học sinh mới” thông qua công tác chủ nhiệm tại trường THPT Anh Sơn 2, Nghệ An

- Một vài giải pháp nhằm đổi mới công tác chủ nhiệm góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của “người học sinh mới” tại trường THPT Anh Sơn 2, Nghệ An

- Kết quả đạt được

Trang 3

B NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

1.1 Giáo viên chủ nhiệm

GVCN là nhà quản lí, nhà sư phạm đại diện cho Hiệu trưởng truyền đạt những chủ trương, yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường đến với HS và tập thể học sinh Bằng phương pháp thuyết phục, sự gương mẫu, kinh nghiệm sư phạm

và uy tín của mình, GVCN giúp cho mỗi học sinh và tập thể lớp có trách nhiệm tuân thủ và tự giác thực hiện nghiêm túc những yêu cầu này

GVCN là linh hồn của lớp học, là người góp phần không nhỏ hình thành và

nuôi dưỡng nhân cách học sinh - những chủ nhân tương lai của đất nước Nói

như PGS.TS Đặng Quốc Bảo - Học viện quản lý giáo dục thì: GVCN lớp là nhà

quản lý không có dấu đỏ Ngày nay, với sự nhận thức ngày càng đúng đắn và sâu

sắc về giáo dục, có thể coi GVCN như một nhà quản lý với các vai trò: Người lãnh đạo lớp học; người điều khiển lớp học; người làm công tác phát triển lớp học; người làm công tác tổ chức lớp học; người giúp hiệu trưởng bao quát lớp học; người giúp hiệu trưởng thực hiện việc kiểm tra sự tu dưỡng và rèn luyện của học sinh; người có trách nhiệm phản hồi tình hình lớp Một người GVCN giỏi sẽ góp phần xây dựng nên một tập thể lớp giỏi, nhiều tập thể lớp giỏi sẽ xây dựng nên một nhà trường vững mạnh GVCN là cầu nối giữa nhà trường - gia đình và xã hội Nếu thực hiện thành công công tác chủ nhiệm sẽ góp phần giáo dục học sinh sau này trở thành thế hệ trẻ năng động, sáng tạo và tài năng

Trong công trình nghiên cứu Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT, tác

giả Nguyễn Thanh Bình [3, 6] chỉ ra GVCN ở trường THPT có các chức năng sau:

- GVCN là người quản lí, giáo dục toàn diện học sinh một lớp học

- GVCN là cố vấn cho các hoạt động tự quản của tập thể học sinh

- GVCN là cầu nối giữa tập thể học sinh với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường

- GVCN là người đánh giá khách quan kết quả rèn luyện của mỗi học sinh và phong trào chung của lớp

Để trở thành một GVCN chân chính thì người GV đó cần hội tụ đủ những yếu tố sau: Có hiểu biết rộng về văn hóa chung, có tri thức sâu sắc; vững vàng về môn học phụ trách ở lớp chủ nhiệm; có khả năng sáng tạo trong công tác giáo dục, dạy học; có khả năng thu thập tích lũy tri thức để ngày càng nâng cao hoặc mở rộng tầm hiểu biết của mình; có khả năng kích hoạt, gây hào hứng nhằm khơi dậy

sự hứng thú và động cơ học tập, rèn luyện đạo đức ở học sinh; GVCN cần tự trang

bị cho mình nhiều kĩ năng sư phạm như: giao tiếp sư phạm trước đám đông, biểu lộ

và kiềm chế tình cảm, cảm xúc khi cần thiết, ứng xử các tình huống sư phạm linh hoạt,… Và trên hết, GVCN phải thực sự là một tấm gương sáng cho HS noi theo

Trang 4

Như vậy, GVCN là người đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục để hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh Để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, việc học hỏi và không ngừng trau bản thân là yếu tố tiên quyết của một GVCN

1.2 Giới thuyết về Năng lực

Phạm trù năng lực thường được hiểu theo những cách khác nhau và mỗi cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng: (1) Năng lực (Capacity/Ability) hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng (hoặc tiềm năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định; (2) Năng lực (Compentence) thường gọi là năng lực hành động: là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và sự sẵn sàng hành động

Từ các cách hiểu trên, có nhiều định nghĩa khác nhau về Năng lực Ví dụ: Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002) Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck 1998) Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001)

Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1992), năng lực được giải

thích với hai nghĩa: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có

để thực hiện một loạt hành động nào đó; Năng lực là: Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [7, tr.656]

Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố,

đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng, mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống

Từ định nghĩa này, có ba dấu hiệu quan trọng cần được giáo viên, phụ huynh lưu ý:

- Năng lực của học sinh phổ thông không chỉ là khả năng tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức, kỹ năng học được , mà quan trọng là khả năng hành động,

Trang 5

ứng dụng/vận dụng tri thức, kỹ năng học được để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đang đặt ra với chính các em

- Năng lực của học sinh không chỉ là vốn kiến thức, kỹ năng, thái độ sống phù hợp với lứa tuổi mà là sự kết hợp hài hòa của cả 3 yếu tố này thể hiện ở khả năng hành động (thực hiện) hiệu quả, muốn hành động và sẵn sàng hành động đạt mục đích đề ra (gồm động cơ, ý chí, tự tin, trách nhiệm xã hội )

- Năng lực của học sinh được hình thành, phát triển trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trong lớp học và ngoài lớp học Nhà trường được coi là môi trường giáo dục chính thống giúp học sinh hình thành những năng lực chung, năng lực chuyên biệt phù hợp với lứa tuổi, song đó không phải là nơi duy nhất Những môi trường khác như: gia đình, cộng đồng, cùng góp phần bổ sung và hoàn thiện các năng lực của các em

Người ta chia ra thành hai loại năng lực:

Năng lực chung: là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và

làm việc bình thường trong xã hội Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học Vì thế có nước gọi là năng lực xuyên chương trình Mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho

xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người

Năng lực chuyên biệt: là những năng lực được hình thành và phát triển trên

cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như toán học, âm nhạc, mĩ thuật, thể thao Đó là những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định, bao gồm: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên

và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất,…

1.3 Giới thuyết về Phẩm chất

Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: Phẩm chất là cái làm nên

giá trị của người hay vật [7, 760] Hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành

vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục

1.4 Học sinh THPT

Học sinh THPT ở lứa tuổi khoảng từ 15-18 tuổi, đây là lứa tuổi có nhiều biến

đổi về tâm sinh lí Độ tuổi này tâm lí, tình cảm của các em đa dạng, phong phú và cũng rất phức tạp Điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hoá dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột Nhiều khi do hoạt

Trang 6

động hệ thần kinh không cân bằng, thường thì quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế, đã khiến các em không tự kiềm chế được Học sinh THPT bước vào thời kỳ đầu của tuổi thanh niên về sinh học, cấu trúc não đã phát triển tương đối hoàn thiện, các khả năng tư duy, phân tích, đánh giá, cảm giác, tri giác, cũng dần phát triển Ở lứa tuổi này, các em thích khẳng định cái tôi bản ngã, muốn được đối xử như người lớn, được thoát ra khỏi sự ràng buộc của cha mẹ, thích được độc lập suy nghĩ và hành động Bên cạnh đó, nhiều em cũng có biểu hiện lệch lạc về nhân cách, sống ích kỉ, thiếu đạo đức, bắt chước, đua đòi, sống bất cần,

Việc nắm bắt đầy đủ cả về yếu tố bên trong và yếu tố khách quan là rất cần thiết, điều đó giúp GVCN lựa chọn được giải pháp phù hợp cho việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS

1.5 Chân dung “người học sinh mới”

Đây là một khái niệm mới ra đời trong thời gian gần đây cùng với quá trình xây dựng dự thảo và hoàn thiện, công bố chính thức Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể về đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông Theo

đó, chân dung “người học sinh mới” sẽ hội tụ đầy đủ “5 phẩm chất và 10 năng lực”

do chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu ra (chính thức thông qua ngày 28/7/2018)

5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là: Yêu nước;

Nhân ái (Yêu quý mọi người, tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người ); Chăm chỉ

(Ham học, chăm làm ); Trung thực; Trách nhiệm (Có trách nhiệm với bản thân; Có

trách nhiệm với gia đình; Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội; Có trách nhiệm với môi trường sống)

Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển:

Năng lực tự chủ và tự học: Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu

chính đáng; Tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Tự định hướng; Tự học, tự hoàn thiện

Năng lực giao tiếp và hợp tác: Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và

thái độ giao tiếp; Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn; Xác định mục đích và phương thức hợp tác; Xác định trách nhiệm

và hoạt động của bản thân; Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; Tổ chức và thuyết phục người khác; Đánh giá hoạt động hợp tác; Hội nhập quốc tế

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Nhận ra ý tưởng mới; Phát hiện và

làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp; Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề; Tư duy độc lập

Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định Đó là:

- Năng lực tính toán: Hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản; Biết

cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các

Trang 7

công cụ tính toán và dụng cụ đo,…; đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có ý nghĩa toán học

- Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội: Hiểu biết kiến thức khoa học; Tìm

tòi và khám phá thế giới tự nhiên; Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Nắm được những tri thức cơ bản về đối tượng của các khoa học xã hội; Hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội; Nắm được những tri thức cơ bản về xã hội loài người; Vận dụng được những tri thức về xã hội và văn hóa vào cuộc sống

- Năng lực ngôn ngữ: là khả năng làm một việc gì đó bằng cách sử dụng

ngôn ngữ (sử dụng ngôn ngữ nói và viết, cũng như đọc những gì những khác viết

ra hoặc nghe những gì người khác sẽ nói)

- Năng lực Công nghệ: Thiết kế; Sử dụng; Giao tiếp; Đánh giá

- Năng lực Tin học: Sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ, các hệ

thống tự động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông; Hiểu biết và ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức; Nhận biết và giải quyết vấn đề trong môi trường xã hội và nền kinh

tế tri thức; Học tập, tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; Giao tiếp, hòa nhập, hợp tác phù hợp với thời đại xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức

- Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,

cái chân, cái thiện, cái cao cả); Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; Tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ

- Năng lực thể chất: Sống thích ứng và hài hòa với môi trường; Nhận biết và

có các kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và hình thành các tố chất thể lực cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và tham gia hoạt động thể dục thể thao; Đánh giá hoạt động vận động

Những năng lực này nhằm mục đích xây dựng “chân dung” mới của người học: “Trên cơ sở đó, các em tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân Các em được rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được để phát triển” (GS.Nguyễn Minh Thuyết)

Mặc dù đây là khái niệm mới ra đời nhưng từ hai năm nay trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân chúng tôi đã chú ý, quan tâm đến việc hình thành và phát triển 5 phẩm chất và 10 năng lực như trên Vì thế, một số giải pháp về công tác chủ nhiệm được đề xuất ở phần sau chúng tôi trình bày về vấn đề hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực người học sinh chính là vấn đề liên quan đến hình thành

và phát triển phẩm chất, năng lực của một “người học sinh mới” mà gần đây chúng

ta nhắc đến Nghĩa là ở đề tài này, chúng tôi dùng khái niệm “người học sinh mới”

để thay thế cho khái niệm 5 phẩm chất và 10 năng lực như đã trình bày ở trên

Trang 8

2 Thực trạng về vấn đề hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của

“người học sinh mới” thông qua công tác chủ nhiệm tại trường THPT Anh Sơn 2

2.1 Thực trạng chung về công tác chủ nhiệm ở các trường THPT hiện nay

GVCN có trình đào tạo trên chuẩn, có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình với học sinh Đội ngũ GVCN nhìn chung đã nhận thức được đúng đắn vai trò của người thầy đối với quá trình giáo dục, hình thành nhân cách của HS Họ có khả năng nắm bắt được mục tiêu, kiến thức giáo dục, dạy tốt lớp phụ trách, lập được kế hoạch chủ nhiệm lớp Ban Giám hiệu các trường THPT đã quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp thông qua các việc: Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch chủ nhiệm, duyệt và góp ý cho giáo viên về kế hoạch chủ nhiệm đều đặn, giao chất lượng giáo dục học sinh cho giáo viên, định ra các tiêu chí thi đua cho các lớp và cho giáo viên, khen thưởng cho giáo viên đạt thành tích lao động tiên tiến, lao động xuất sắc, lớp tiên tiến, lớp xuất sắc, học sinh đạt các thành tích trong năm học Đồng thời nhà trường đã luôn chú ý kết hợp với các tổ chức đoàn thể trong trường để tổ chức cho các em tham gia các phong trào do các cấp, các ngành tổ chức cũng như các hoạt động tập thể như quyên góp ủng hộ, làm kế hoạch nhỏ, giúp HS dần hình thành và phát triển nhiều phẩm chất, năng lực tích cực

2.2.2 Hạn chế

Tuy nhiên, một số hiện tượng tiêu cực diễn ra trong ngành giáo dục nước nhà khiến chúng ta phải trăn trở, quan tâm nhiều hơn đối với công việc “trồng người” nhất là trong việc giáo dục đạo đức học sinh, bồi dưỡng cho các em lý tưởng, quan điểm sống đúng đắn Có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan

từ phía gia đình, nhà trường và xã hội khiến cho đôi lúc uy tín người thầy bị sa sút, các giá trị truyền thống "Tôn sư trọng đạo" bị nhìn nhận một cách méo mó, bị vật chất hóa, thực dụng; có trường hợp người thầy không giữ được tư cách đáng kính trọng trong quan hệ thầy trò Đâu đó, còn có những hiện tượng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, thích chạy theo lối sống thực dụng, vô cảm, thờ ơ trước những biến động tâm lý của HS… Điều đó đã có tác động trực tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh, đến an ninh trật tự xã hội Nhiều vụ việc về bạo lực học đường (đâm bạn, lột đồ bạn để đánh đập hay bắt bạn quỳ để dằn mặt,…), xâm hại tình dục, suy đồi đạo đức, lối sống của HS,… diễn ra trong thời gian gần đây ngày càng trầm trọng đã làm cho xã hội nhức nhối, chúng ta đau lòng

và thực sự lo lắng về vấn đề giáo dục đạo đức, phẩm chất và năng lực cho HS

Trang 9

Có nhiều giải pháp đã được đề cập đến trong những sáng kiến trước đây liên quan đến công tác chủ nhiệm bao gồm công tác chủ nhiệm HS lớp chọn, HS bình thường và HS cá biệt Tuy nhiên giải pháp để gắn liền với việc góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh chưa được chú trọng, vẫn còn tản mạn, cảm tính và chưa mang tính xây dựng một cách hệ thống, toàn diện Công tác

tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho các em HS, bản thân GVCN còn hời hợt, còn thờ ơ Bên cạnh đó, nhiều GVCN chưa chú trọng đổi mới cách thức chủ nhiệm một cách hiệu quả, thiết thực Vẫn còn tình trạng GVCN lên lớp một cách miễn cưỡng, chủ yếu tiến hành công tác chủ nhiệm theo lối cũ nhàm chán: chỉ giải quyết thủ tục hành chính và xử lý kỷ luật học sinh GVCN không truyền được động lực, hứng thú học tập, rèn luyện cho các em

Đứng trước thực trạng đó, tôi thiết nghĩ cần phải có những giải pháp để đổi mới công tác chủ nhiệm lớp nhằm góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh THPT hiện nay một cách nghiêm túc, hệ thống toàn diện và mang tính khả thi cao

Trước những thực trạng chung của công tác chủ nhiệm và thấy được tính cấp bách của nó, trong năm học 2016 – 2017, chúng tôi đã điều tra 50 giáo viên của ba trường đó là THPT Anh Sơn 2, THPT Anh Sơn 1, THPT Anh Sơn 3 và 110 học sinh ở ba trường trên địa bàn huyện Anh Sơn ( thuộc các lớp 10C4 ở trường THPT Anh Sơn 3, 10 D1 ở trường THPT Anh Sơn 1 và lớp 10D ở trường THPT Anh Sơn 2) để biết được nhận thức của giáo viên và học sinh THPT về vai trò của công tác chủ nhiệm lớp đối với việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra giáo viên và học sinh với nội dung câu hỏi như sau:

Bảng 1 Câu hỏi dành cho giáo viên

Câu 1: Theo thầy (cô),

Trang 10

Bảng 2 Câu hỏi dành cho học sinh

Theo em, công tác chủ nhiệm lớp có vai trò quan trọng trong việc góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh không?

Trường có khuôn viên rộng với tổng diện tích trên 50.000 m2, có hệ thống tường rào được xây kiên cố, có khu hiệu bộ, các phòng học, phòng chức năng được

bố trí hợp lý, cảnh quan hài hòa, tạo môi trường xanh, sạch, đẹp và thân thiện Hiện tại trường có 27 lớp với gần 1000 học sinh và 31 phòng học đủ tiêu chuẩn, đảm bảo cho học một ca Ngoài các phòng học văn hoá, trường có đủ các phòng thực hành thí nghiệm Vật lý, Hóa học, Sinh học – Công nghệ, sân bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, Năm học 2015 - 2016, trường được công nhận là trường chuẩn quốc gia

Trang 11

* Khó khăn:

Chất lượng học sinh đầu cấp còn thấp, thái độ - ý thức - động cơ học tập và rèn luyện của một bộ phận học sinh chưa cao Gia đình HS cơ bản khó khăn, thiếu thốn về điều kiện vật chất vì hoàn cảnh gia đình các em đều là con nhà nông, gia đình hộ nghèo và cận nghèo Một số giáo viên trẻ có nhiệt tình nhưng thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy và giáo dục, chủ nhiệm học sinh Vẫn còn một số GV có sức ỳ lớn, ít chịu khó học hỏi, đổi mới, chưa bắt nhịp được với yêu cầu của thời đại Cơ sở vật chất, thiết bị chưa đảm bảo cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, giáo dục học sinh Vẫn còn tình trạng học sinh học lực yếu, lưu ban, bỏ học, nhiều HS chưa phát huy tốt khả năng tự học, tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, một số em còn bị bạn bè lôi kéo và sa vào những cám dỗ của mạng xã hội, vấn đề hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực HS chưa thực sự được quan tâm, chú ý nhiều

2.2.2 Những ưu điểm, hạn chế trong việc góp phần hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh thông qua công tác chủ nhiệm tại trường THPT Anh Sơn 2

Bên cạnh những mặt ưu điểm và hạn chế chung về công tác chủ nhiệm trong việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh tại các trường THPT hiện nay trên cả nước như đã trình bày ở trên, công tác này tại trường THPT Anh Sơn 2, Nghệ An hiện nay có những ưu điểm, hạn chế sau:

2.2.2.1 Ưu điểm

Trong những năm qua, Ban giám hiệu nhà trường luôn chú trọng chỉ đạo việc dạy chữ song hành với việc dạy người Đội ngũ GVCN lớp nhiệt tình, tâm huyết, đã chú trọng đến việc giáo dục đạo đức, lối sống, rèn luyện nhiều kỹ năng quan trọng cho học sinh Đặc biệt luôn có sự kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để tổ chức cho HS trải nghiệm, hình thành

và phát triển một số phẩm chất, năng lực quan trọng

2.2.2.2 Hạn chế

Phẩm chất và năng lực của HS được thể hiện qua: hoạt động cá nhân, hoạt động tập thể, mối quan hệ với các thầy cô giáo, cách xử lý các tình huống trong cuộc sống,…Tuy nhiên, trong công tác chủ nhiệm lớp, GVCN chưa thực sự chú trọng việc hình thành năng lực, phẩm chất cho HS một cách hệ thống, đồng bộ, cụ thể và thiết thực Kế hoạch chủ nhiệm còn chung chung Phương pháp chủ nhiệm chưa thực sự đổi mới, cách thức tiến hành công tác chủ nhiệm (điều hành tổ chức lớp học, họp phụ huynh, sinh hoạt giờ chủ nhiệm, cách thức kết hợp với giáo viên

bộ môn, các tổ chuyên môn và các tổ chức trong nhà trường,…) chưa thực sự chặt chẽ, hiệu quả Đôi lúc còn nặng nề tính hình thức và áp lực thành tích, chưa chú ý đến sự khuyến khích, động viên, uốn nắn với những tiến bộ dù rất nhỏ của học sinh trong lớp mình chủ nhiệm Giờ sinh hoạt chỉ một mục đích là để chỉ trích, phê bình, nhắc nhở HS vi phạm Một số GV chỉ dựa vào sổ đầu bài, từ đó chăm chăm

Trang 12

truy tìm lý do, mạt sát, đe dọa HS Đến giờ chủ nhiệm HS chỉ thấy lo sợ, chán ghét, thậm chí còn thấy ức chế, nặng nề

Giáo viênnhận thức chưa toàn diện, đầy đủ về công tác chủ nhiệm Khi được phân công chủ nhiệm lớp thì công việc tìm hiểu nhân cách, tâm lý, hoàn cảnh của học sinh ở một số GV còn xem nhẹ, qua loa chiếu lệ Công tác phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường thiếu đồng bộ, không chặt chẽ Giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục toàn diện học sinh Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các tiết chủ nhiệm lớp, sinh hoạt tập thể chưa được chú trọng đúng mức Một số em còn lười học, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao Một số phụ huynh học sinh còn mang tư tưởng "khoán trắng" cho nhà trường Họ coi việc giáo dục học sinh là trách nhiệm của nhà trường, của các thầy các cô Đa số phụ huynh học sinh không có thời gian quản lý, kiểm tra đôn đốc nhắc nhở việc học hành cho con em Hơn nữa, việc chú trọng để hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh thông qua công tác chủ nhiệm còn hết sức hạn chế hoặc nếu chú

ý thì GVCN còn đang thực hiện một cách cảm tính, mơ hồ, chưa có tính chiến lược, hệ thống và bền vững

Qua khảo sát 180 học sinh, trong đó 60 HS khối 10, 60 HS khối 11, 60 HS khối 12 được lựa chọn ngẫu nhiên của trường THPT Anh Sơn 2 trong năm học

2016 - 2017:

Câu hỏi: Em có hứng thú với các hoạt động của lớp không?

Chưa bao giờ Thỉnh thoảng Thường xuyên

Câu hỏi: Lớp em có nhiều hình thức tổ chức trong giờ chủ nhiệm lớp để bản

thân em được trải nghiệm không?

Trang 13

Riêng ở lớp 10D trong năm học 2016- 2017 mà bản thân tôi chủ nhiệm, tôi cũng tiến hành khảo sát, với số lượng 34 HS thì thu được kết quả như sau:

Câu 1 Chưa bao giờ Thỉnh thoảng Thường xuyên

Đồng thời, bản thân tôi cũng tiến hành khảo sát thêm câu hỏi:

Theo em công tác chủ nhiệm lớp có vai trò quan trọng trong việc góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh không?

rõ nét

Trang 14

3 Một vài giải pháp nhằm đổi mới công tác chủ nhiệm góp phần hình thành

và phát triển phẩm chất, năng lực của “người học sinh mới” tại trường THPT Anh Sơn 2, Nghệ An

3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp

- Phải đáp ứng yêu cầu phát triển nhân cách của học sinh

Phẩm chất và năng lực là hai thành phần chủ yếu cấu thành nhân cách con người Do vậy có thể xem quá trình hình thành và phát triển nhân cách gắn liền với quá trình tích tụ, phát triển các yếu tố của phẩm chất và năng lực Mặt khác, nhân cách được xem là một chỉnh thể thống nhất giữa hai mặt phẩm chất và năng lực (đức và tài) Do vậy, quá trình phát triển phẩm chất và năng lực phải có sự cân đối

và tương thích theo xu hướng đức và tài hài hòa nhau “tài đức vẹn toàn” Đức và tài không cân xứng nhau sẽ cho ra một nhân cách chưa hoàn thiện.Trong quá trình giáo dục, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học là một phương pháp dạy học ưu thế hướng người học tiếp cận gần hơn tới sự phát triển nhân cách của mình Chủ nghĩa Mác-Lênin đã nêu rõ: Con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội, nhưng con người có cá tính riêng Chính vì vậy, trong quá trình lựa chọn các giải pháp GD, chúng tôi nhận thấy cần áp dụng các giải pháp phát huy cao nhất các yếu tố hình thành, phát triển nhân cách của HS, đảm bảo tính tự nhiên trong phát triển con người và nâng cao năng lực tự chủ của mỗi cá nhân

- Đảm bảo quan điểm giáo dục theo phương pháp sư phạm tương tác

Trong quá trình học tập ở trường THPT, mỗi HS không chỉ phải tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng mà còn cần hội tụ đủ khả năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu do thực tiễn xã hội và cách mạng khoa học, công nghệ đặt

ra HS có khả năng tư duy độc lập, có óc phê phán, có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi và tự xây dựng cho mình phương pháp phấn đấu, rèn luyện phù hợp để hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực HS Thông tư số 13/2012/TT-BGDĐT ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường trung học phổ thông có nhiều cấp học, đưa ra tiêu chuẩn về hoạt động giáo dục HS cũng chỉ ra: Giáo dục kỹ năng giao tiếp, kỹ năng

tự nhận thức, kỹ năng ra quyết định, suy xét và giải quyết vấn đề, kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng ứng phó, kiềm chế, kỹ năng hợp tác và kỹ năng làm việc theo nhóm cho HS; Giáo dục, rèn luyện kỹ năng sống cho HS thông qua giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông, cách tự phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác, thông qua việc thực hiện các quy định về cách ứng xử có văn hóa, đoàn kết, thân ái, giúp đỡ lẫn nhau; Giáo dục và tư vấn về sức khỏe, thể chất

và tinh thần, giáo dục về giới tính, tình yêu, hôn nhân, gia đình phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh

Từ quan điểm giáo dục trên, chúng tôi cũng tiến hành hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh trên tinh thần tôn trọng quan điểm, cá tính của học sinh Giáo dục học sinh phải linh hoạt, tạo được sự tương tác, không giáo dục một chiều, máy móc, rập khuôn

Trang 15

- Đảm bảo mục tiêu cụ thể của cấp học THPT, đó là: Thực hiện chương trình hợp lý nhằm đảm bảo cho HS có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy phẩm chất, năng lực của mỗi HS, giúp HS có đầy đủ phẩm chất của một công dân có ích, những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau trung học phổ thông để HS chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp

- Đảm bảo tính hoạt động thực tiễn GD tại trường THPT Anh Sơn 2

Các giải pháp được đề xuất cho việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực HS được thực thi trong thực tiễn hoạt động trải nghiệm tiến hành ở trường THPT Anh Sơn 2 Bởi thế, các giải pháp này phải đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường, giúp HS hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực tương ứng, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề cơ bản của GD ở trường THPT đặt ra Các giải pháp phải phù hợp với điều kiện của nhà trường, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, đảm bảo tính hiện đại, thiết thực, hài hòa, phù hợp về nội dung, phương pháp chủ nhiệm, tạo điều kiện để học sinh hình thành và phát huy nhiều phẩm chất, năng lực quan trọng

3.2.Một vài giải pháp cụ thể đã được áp dụng

GVCN trở thành người trung gian trao đổi thông tin giữa Nhà trường và gia đình, thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội và truyền đạt những chủ trương của Nhà trường đến với gia đình đồng thời thu nhận ý kiến, nguyện vọng của gia đình để báo cáo lại lãnh đạo Nhà trường Qua đó gắn kết được trách nhiệm giữa Nhà trường và gia đình trong việc giáo dục HS Khi chủ nhiệm lớp, người GVCN cần phải nắm vững quyền hạn và trách nhiệm của mình theo Luật giáo dục; Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường THPT có nhiều cấp học Đồng thời người GVCN cần phải xác định được vai trò, vị thế của mình trong nhiệm vụ giáo dục HS lớp mình được phân công làm chủ nhiệm lớp Thực tế, hoạt động của GVCN hết sức phong phú, phức tạp và ôm chứa nhiều hoạt động nhỏ thuộc nhiều lĩnh vực trong đó

Công tác chủ nhiệm là tổng thể hàng loạt những công việc liên quan đến khâu quản lý, tổ chức, điều hành, giám sát, kiểm tra, đưa ra kế hoạch hoạt động cho một tập thể học sinh trong một lớp học nhất định Quy trình giáo dục học sinh

là một quy trình mang tính toàn vẹn và thống nhất từ: Lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá kết quả; là sự kết hợp giữa các tổ chức, cá nhân nhà trường – gia đình và xã hội Tuy rằng mỗi tổ chức, cá nhân có vai trò, chức năng khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, đan xen và bổ sung cho nhau; thực hiện tốt chức năng này sẽ tạo cơ sở, điều kiện cho các chức năng tiếp

theo Thông thường, hoạt động của một GVCN bao gồm:

Một là, tìm hiểu, nắm vững hoàn cảnh cụ thể của từng học sinh lớp mình chủ

nhiệm

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lớp gương mẫu, nhiệt tình, có tinh thần trách

nhiệm cao

Trang 16

Ba là, phân chia tổ và phân công nhiệm vụ cho các em một cách cụ thể, hợp

lý, rõ ràng

Bốn là, xây dựng bộ quy tắc ứng xử và nội quy lớp một cách đầy đủ, chi tiết,

phù hợp để giáo dục tính kỷ luật và cách ứng xử văn hóa cho HS

Năm là, lên kế hoạch hoạt động cụ thể, hợp lý cho lớp chủ nhiệm theo cả năm

học, từng học kỳ, từng tháng và từng tuần

Sáu là, phối hợp với giáo viên bộ môn thường xuyên uốn nắn, giúp đỡ, giáo

dục học sinh cả về kiến thức và đạo đức, lối sống

Bảy là, tổ chức sinh hoạt lớp một cách quy củ, hiệu quả, có tính giáo dục cao Tám là, tổ chức họp phụ huynh theo định kỳ một cách chu đáo, có sự gắn kết

tích cực giữa gia đình – nhà trường – xã hội

Chín là, điều hành, chỉ đạo, quản lý lớp ở mọi lúc mọi nơi một cách nhanh

gọn, hiệu quả, toàn diện

Mười là, phối hợp với các tổ chức trong nhà trường (Đoàn thanh niên, Công

đoàn, các tổ chuyên môn) và ở địa phương để giám sát, giáo dục toàn diện cho HS

Như vậy, trong công tác chủ nhiệm có rất nhiều công việc và nhiều hoạt động quan trọng Họ giống như một người tổng chỉ huy trên mặt trận giáo dục tại lớp mình chủ nhiệm Trên đây chỉ mới là sự liệt kê những công việc cơ bản, phổ biến Có nhiều giải pháp đã được đề cập đến trong những sáng kiến liên quan đến công tác chủ nhiệm Tuy nhiên giải pháp để gắn liền với việc góp phần hình thành

và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh còn chưa được chú trọng và còn tản mạn Đối với bản thân tôi, trong những năm qua (năm học 2017- 2018, 2018 -2019), ngoài những giải pháp liên quan đến 06 vấn đề ở trên (tìm hiểu, nắm vững

hoàn cảnh cụ thể của từng học sinh lớp mình chủ nhiệm; xây dựng đội ngũ cán bộ

lớp gương mẫu, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao; phân chia tổ và phân công nhiệm vụ cho các em một cách cụ thể, hợp lý, rõ ràng; xây dựng bộ quy tắc ứng xử

và nội quy lớp một cách đầy đủ, rõ ràng, phù hợp để giáo dục tính kỷ luật và cách ứng xử văn hóa cho HS; lên kế hoạch hoạt động cụ thể, hợp lý cho lớp chủ nhiệm theo cả năm học, từng học kỳ, từng tháng và từng tuần; phối hợp với giáo viên bộ môn thường xuyên uốn nắn, giúp đỡ, giáo dục học sinh cả về kiến thức và đạo đức, lối sống) thì đã có sự đầu tư, tập trung thực hiện và đạt hiệu quả cao ở một số giải pháp cụ thể mang tính khả thi cao như sau:

3.2.1.Giải pháp 1: Chú trọng đổi mới tiết sinh hoạt lớp

Từ trước đến nay, tiết sinh hoạt lớp diễn ra hàng tuần ở mọi lớp học Đây là

tiết học để GVCN điều hành sinh hoạt lớp Trong tiết học này, lâu nay chủ yếu là GVCN làm việc với HS từ đầu đến cuối tiết, HS chỉ ngồi nghe, lĩnh hội và tuân thủ, chấp hành những việc GVCN giao Vì thế, cả thầy cô giáo và trò đều cảm thấy

áp lực, nhàm chán, mệt mỏi Ở nhiều đơn vị lớp, HS cảm thấy rất sợ tiết sinh hoạt

vì tuần nào nó cũng diễn ra hết sức căng thẳng với cùng một kịch bản Thậm chí sợ luôn, chán luôn cả GVCN Đây là điều tôi luôn trăn trở và tìm cách thay đổi

Trang 17

* Mục đích: Tiết sinh hoạt lớp là thời gian để giáo viên hoặc cán sự lớp tổ

chức, điều hành lớp chủ nhiệm tổng kết, đánh giá, nhận xét về mọi hoạt động trong tuần vừa qua và triển khai, phổ biến kế hoạch tuần tới, tuyên dương những học sinh có nhiều điểm tốt hoặc hoạt động tích cực đồng thời phê bình, xử lí các học sinh vi phạm nội quy trong tuần Qua đó, tiết sinh hoạt lớp góp phần để hình thành

và phát triển nhiều phẩm chất, năng lực quan trọng cho HS

* Thời gian thực hiện: Thông thường giờ sinh hoạt lớp diễn ra vào tiết 5

ngày thứ bảy cuối tuần Trong 45 phút đó, tôi chỉ dành 10 phút đầu giờ để tổng kết, đánh giá và triển khai kế hoạch tuần tới (do Ban cán sự lớp đã chủ động tổng kết, nắm bắt tình hình của lớp vào chiều thứ 6 và do GVCN đã ứng dụng Công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành lớp học nên giảm thời gian cho những công việc

mang tính thủ tục, thông báo, điều này tôi sẽ chia sẻ cụ thể hơn ở mục 3.2.3), còn

35 phút tôi dành cho việc để HS điều hành, tổ chức các hoạt động tập thể nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực quan trọng hoàn thiện nhân cách “người học sinh mới”

* Các bước thực hiện:

- Bước 1: Xây dựng mục tiêu của tiết sinh hoạt lớp:

+ Tổng kết, đánh giá toàn bộ hoạt động của HS trong một tuần học (ưu điểm, hạn chế, có khen thưởng, phê bình, kỷ luật và xếp loại từng HS)

+ Đưa ra kế hoạch cho tuần kế tiếp dựa trên kế hoạch cụ thể của nhà trường

và Đoàn trường

+ Mở rộng nội dung sinh hoạt liên quan đến kiến thức cuộc sống, sức khỏe sinh sản vị thành niên, phổ biến pháp luật, đạo đức, lối sống, kết nối yêu thương giữa HS – Phụ huynh – GVCN

- Bước 2: Lựa chọn cách thức tiến hành:

3.2.1.1 Trao quyền cho học sinh điều hành tiết sinh hoạt lớp

* Mục đích: HS tự nhìn nhận, đánh giá ưu khuyết điểm của tập thể lớp và của

mỗi người cũng như của chính mình trong mỗi tuần để đưa ra kế hoạch, phương

pháp thực hiện cho tuần tới Đẩy mạnh công tác tự phê bình và phê bình đồng thời

tạo niềm tin yêu cho học sinh

* Nội dung và hình thức sinh hoạt: GVCN xem giờ sinh hoạt lớp là một cuộc

họp và người điều hành cuộc họp này chính là HS, là ban cán sự lớp Các thành viên trong ban cán sự lớp có trách nhiệm thống kê, tổng hợp các hoạt động diễn ra trong tuần theo chức vụ đã được phân công Lớp trưởng là người giao việc, các lớp phó và tổ trưởng báo cáo Ban cán sự phải đề xuất được các cá nhân chưa thực hiện tốt cũng như xứng đáng được khen thưởng và đưa ra được phương hướng, mục tiêu của tuần tiếp theo GVCN cho HS thời gian tự nhận lỗi để dạy các em ý thức

tự giác và biết sửa lỗi, sống có trách nhiệm hơn Tôi trao quyền cho HS được nói

và tự đánh giá, nhận xét để đảm bảo sự công bằng và khuyến khích các em phát triển cái tôi của mình theo chiều hướng tích cực Tuyệt đối GVCN không được áp đặt cho HS bất cứ điều gì Trong tiết sinh hoạt này, GVCN chỉ đóng vai là một thư

Trang 18

ký tổng hợp mọi vấn đề và đưa ra quyết định cuối cùng một cách hợp lí nhất Ở đây, sau phần đánh giá của cán bộ lớp, tôi luôn yêu cầu các em viết vào một mẩu giấy nhỏ (giấy note) đã ghi tên của từng thành viên trong lớp, các em bốc thăm ngẫu nhiên mẩu giấy rồi ghi vào đó: ba điểm em yêu quý nhất và ba điều góp ý cho bạn có tên trong mẩu giấy Sau đó, mẩu giấy sẽ được lớp trưởng (hoặc bí thư) chuyển đến cho người có tên trong mẩu giấy ấy Có lúc tôi cho các em ghi lại cảm

nhận của mình về lớp học trong tuần qua và dán lại trên giấy A0 Buổi sinh hoạt

diễn ra trong không khí dân chủ, thoải mái nhưng nghiêm túc và đầy yêu thương, đoàn kết

* Kết quả đạt được:

- HS được hình thành và phát triển phẩm chất: nhân ái (các em tôn trọng sự khác biệt của các bạn, yêu quý và giúp đỡ bạn hoàn thiện mình), trung thực (trung thực khi đánh giá nhận xét bạn và bản thân), trách nhiệm (có trách nhiệm với tập thể lớp, với bạn và với mình)

- HS được hình thành và phát triển năng lực tự chủ và tự học (tự biết nên nhận xét điều gì về lớp, về bạn, về bản thân thông qua đó tự rút ra bài học), năng lực giao tiếp và hợp tác (nói cho các bạn khác nghe và lắng nghe, chia sẻ với các bạn khác), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (phát hiện ra những ưu nhược điểm của bản thân và các bạn khác, tìm cách khắc phục nhược điểm), năng lực tìm hiểu

xã hội (tìm hiểu lớp học, bạn bè xung quanh và bản thân mình), năng lực ngôn ngữ (nói và viết), năng lực thẩm mỹ (phát hiện ra những ưu điểm, mặt tốt của mình và bạn)

Lớp trưởng và bí thư K31D điều hành sinh hoạt lớp

Trang 19

Điều HS cảm nhận về lớp trong tuần học

3.2.1.2 Tổ chức tiết sinh hoạt lớp thành một buổi hội thảo nhỏ, chia sẻ kinh nghiệm học tập, kinh nghiệm sống

* Mục đích: Học sinh biết tìm hiểu vấn đề đặt ra từ đời sống xã hội xung

quanh hoặc trên internet, trên mạng xã hội mà dư luận đang quan tâm và có ý nghĩa quan trọng đối với giới trẻ Từ đó, đánh giá, nhận xét, thể hiện quan điểm, ý tưởng đối với những hiện tượng, những vấn đề ấy Mục đích cuối cùng là giúp các

em tự tin tìm ra cho mình cách ứng xử tốt nhất, hợp lý nhất trong mọi hoàn cảnh, mọi vấn đề liên quan

* Nội dung và cách thức tổ chức hoạt động:

- Nội dung chủ yếu là những vấn đề nóng của giới trẻ ngày nay mà xã hội

quan tâm Bản thân tôi đã tổ chức hội thảo cho các em với các vấn đề: Suy nghĩ về tình yêu tuổi học trò, vấn đề nói chuyện riêng hay ăn quà vặt đối với HS THPT, trách nhiệm của bản thân em đối với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở địa phương, vấn đề chụp ảnh kỷ yếu đối với học sinh 12, sức khỏe sinh sản vị thành niên, bạo lực học đường, văn hóa ứng xử trên mạng xã hội, nụ cười an toàn giao thông, lời cảm ơn và xin lỗi,… Hoặc đơn giản tôi cho HS xem một số trích đoạn của các bộ phim về giáo dục như: Bước ngoặt đáng nhớ, Bệnh nhân người Anh, Bậc thầy của những ước mơ, Cậu bé Karate,… hay những video truyền động lực như: Gương thầy cô giáo, Những khoảnh khắc đẹp,… Từ đó, tôi cho HS thảo

luận về chi tiết em thích nhất từ bộ phim (video), bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra được sau khi xem bộ phim (video)

- Cách thức tổ chức hoạt động:

Trang 20

Thứ nhất là, đối với những chủ đề cho các em chuẩn bị trước: GVCN cho HS

đăng ký chủ đề mà bản thân yêu thích để trình bày trước lớp Bản thân tôi thường yêu cầu HS chuẩn bị trước một tuần chủ đề mà các em yêu thích để tiết sinh hoạt tuần tiếp theo cả lớp sẽ bàn về chủ đề đấy Các HS hoặc tìm cách trình bày phù hợp (trình bày trên giấy A0 hoặc trên powpoint hoặc qua các sản phẩm hanmade, ) Có thể mỗi tuần là một cá nhân hoặc đại diện của một tổ lên thuyết trình về vấn

đề mà mình yêu thích trong khoảng thời gian được giới hạn (5 -7 phút) Sau đó sẽ

là thời gian cho những HS còn lại đặt câu hỏi phản biện Hoạt động này giúp HS phát triển tư duy phản biện và kỹ năng thuyết trình trước đám đông

Thứ hai là, đối với chủ đề ngẫu hứng nảy sinh trong buổi sinh hoạt lớp, GVCN cũng có thể nhanh chóng tổ chức buổi thảo luận theo phương pháp: think – pair- share Đây là cách thảo luận mang tính hợp tác Theo đó, sự tham gia của mỗi thành viên trong một nhóm sẽ góp phần vào kết quả chung HS sẽ học cách xử

nhau để thảo luận về những ý tưởng vừa có Bước này giúp HS thể hiện ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của bạn; Share (Chia sẻ): HS chia sẻ ý tưởng vừa thảo luận với nhóm lớn hơn Thông thường, các em sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi giới thiệu ý tưởng đến cả nhóm nếu được sự hỗ trợ của bạn bắt cặp với mình Hơn nữa,

ý tưởng của từng HS sẽ được củng cố và nâng cao hơn trong quá trình thực hiện 3

Khi tiến hành buổi sinh hoạt thành một buổi hội thảo, bản thân tôi nhận thấy các em rất hào hứng và thể hiện hết mình Qua đó, các em sẽ học cách duy trì tình bạn lành mạnh thông qua chia sẻ, lắng nghe và học hỏi lẫn nhau

* Kết quả đạt được:

- HS được hình thành và phát triển phẩm chất: yêu nước (liên quan đến vấn đề bảo tồn, phát huy di sản văn hóa,…), nhân ái (các em biết đồng cảm, chia sẻ với bạn, yêu quý ý tưởng của bản thân và của bạn bè), trung thực (nêu lên quan điểm, chính kiến của bản thân về các vấn đề xung quanh, về quan điểm của các bạn khác), trách nhiệm (có trách nhiệm góp ý cho bạn và hoàn thiện bản thân đồng thời biết liên hệ thấy rõ vai trò của bản thân đối với các vấn đề đặt ra), chăm chỉ (các

em tự tìm hiểu, tìm kiếm thông tin về các vấn đề đưa ra để hội thảo, lắng nghe những ý kiến của bạn để học hỏi, làm đầy kiến thức, kỹ năng cho mình)

- HS được hình thành và phát triển năng lực tự chủ và tự học (tự biết nên tìm hiểu những thông tin liên quan đến vấn đề hội thảo, tự tìm cách thể hiện vấn đề tốt nhất cho nhóm và tự học thông qua việc tìm kiếm thông tin, làm việc nhóm, chủ động trình bày ý tưởng, quan diểm của mình và lắng nghe các ý kiến, chủ động học hỏi), năng lực giao tiếp và hợp tác (kỹ năng thuyết trình, phản biện, lắng nghe), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (cách giải quyết của bản thân trước những vấn đề được đưa ra thảo luận và đưa ra các giải pháp tích cực, hiệu quả), năng lực

Trang 21

tìm hiểu xã hội (tìm hiểu những vấn đề xã hội đang được nhiều người nhất là giới trẻ quan tâm), năng lực ngôn ngữ (nói và viết), năng lực thẩm mỹ (phát hiện ra những nét đẹp, vẻ đẹp của cuộc sống xung quanh, tìm cách trình bày, thiết kế các sản phẩm thuyết trình một cách hấp dẫn, ấn tượng), năng lực tính toán (khảo sát, thống kê số liệu khảo sát), năng lực tin học (tra cứu thông tin trên google, mạng xã hội, trình bày qua powpoint, tờ rơi), …

Sản phẩm: Sách, tờ rơi HS tự thiết kế để trình bày về chủ đề Chụp ảnh kỷ yếu

3.2.1.3 Tổ chức tiết sinh hoạt lớp thành một buổi giao lưu văn nghệ

* Mục đích: HS biết phát hiện ra các năng khiếu, sở trường của bản thân để

thể hiện, khẳng định mình, giao lưu với các bạn trong tập thể đồng thời bồi dưỡng cho các em những tình cảm cao quý như: tình bạn, tình cảm gia đình, quê hương, các giá trị từ cuộc sống mà các em chiêm nghiệm, rút ra được từ cuộc sống hoặc từ câu chuyện trong sách báo,… Không khí giờ sinh hoạt lớp trở nên vui tươi, lành mạnh, phấn khởi,…

* Nội dung và hình thức sinh hoạt: Khuyến khích các em thể hiện các tài

năng văn nghệ của bản thân nhân dịp các ngày lễ trong năm 20/10, 20/11, 22/12, 8/3, 26/3, 19/5,… hoặc ngày đầu tháng tổ chức sinh nhật cho các bạn có ngày sinh trong tháng ấy Thông thường, lớp tôi chủ nhiệm thường do em bí thư hoặc lớp phó văn thể bốc thăm một người bất kì lên hát, kể chuyện, đọc thơ, diễn kịch, nhảy, …

với chủ đề: Bác Hồ trong trái tim em; Tri ân thầy cô; Yêu mẹ; Một bài học từ cuộc sống; Một người mà em yêu quý; Quê hương trong em;… Sau khi các em thể hiện

thì các em có quyền chỉ định người tiếp theo Hoạt động này còn giúp lớp học

Trang 22

thoải mái, đoàn kết hơn và khiến cho HS yêu lớp học của mình hơn GVCN nên hòa đồng và là người đi đầu đóng góp tiết mục văn nghệ nào đó để tiết sinh hoạt trở nên thú vị hơn, khoảng cách giữa GVCN với HS trở nên gần nhau hơn

HS tự tổ chức và điều hành buổi văn nghệ chúc mừng 8/3

* Kết quả đạt được:

- HS được hình thành và phát triển phẩm chất: yêu nước (các ca khúc, câu chuyện, bài thơ về chủ đề quê hương, đất nước), trung thực (nêu lên cảm nhận, suy nghĩ, bài học các em tự rút ra được từ thực tế cuộc sống hoặc từ câu chuyện các em đọc trên sách báo), trách nhiệm (bản thân phải góp một tiết mục văn nghệ trong buổi biểu diễn văn nghệ, quan tâm tới các bạn trong lớp), nhân ái (các em trở nên mạnh dạn, tự tin, càng thêm yêu quý bản thân mình, các bạn mình và lớp học, biết yêu thương, quan tâm nhau), chăm chỉ (các em tự tìm kiếm một tiết mục văn nghệ phù hợp với năng khiếu của bản thân, lắng nghe và xem các bạn khác biểu diễn để học hỏi, trau dồi thêm cho mình)

- HS được hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác (kỹ năng biểu diễn, trao đổi với tập thể lớp), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (tìm ra tiết mục văn nghệ phù hợp và tìm cách biểu diễn trước tập thể một cách ấn tượng, hấp dẫn), năng lực tìm hiểu xã hội (tìm hiểu về ý nghĩa của các ngày lễ, các bài hát, câu chuyện, bài thơ, vở kịch,…), năng lực ngôn ngữ (cách kể chuyện, cách diễn đạt, trao đổi với tập thể lớp), năng lực thẩm mỹ (nhận biết các yếu tố về cái đẹp, cái bi, cái hài, cái chân, cái thiện, cái cao cả trong các tiết mục văn nghệ mà

Trang 23

các bạn chuyển tải; Phân tích, đánh giá về cách biểu diễn và nội dung của các tiết mục văn nghệ; Tái hiện, sáng tạo khi biểu diễn các tiết mục văn nghệ), năng lực thể chất (qua các tiết mục nhảy)

3.2.1.4 Tổ chức trò chơi trong tiết sinh hoạt lớp

* Mục đích: Học sinh sẽ được giải tỏa mọi căng thẳng, vui vẻ và cảm thấy

vô cùng sảng khoái đồng thời các em được rèn luyện về các kỹ năng, ứng xử linh hoạt các tình huống mà người điều hành đưa ra, được học hỏi, rút ra nhiều bài học

kỹ năng vô cùng thú vị và ý nghĩa

* Nội dung và hình thức sinh hoạt: Mỗi tháng giao cho một tổ, một nhóm

hoặc một bàn xây dựng kế hoạch để tổ chức một trò chơi cho lớp và tự điều khiển hoạt động dưới sự chỉ đạo của lớp trưởng hoặc lớp phó văn thể Việc này giúp HS phát triển kỹ năng sáng tạo cũng như kỹ năng lãnh đạo Không khí của giờ sinh hoạt lớp sẽ trở nên nhẹ nhàng, vui vẻ mà học sinh nào cũng thích và hứng thú,

mong chờ Ví dụ, tôi thường tổ chức cho học sinh các trò chơi: Nhìn hình đoán chữ, hoa nở hoa tàn, mũi cằm tai, một phút làm vua,… Thông thường, với trò chơi

nhìn hình đoán chữ, giáo viên chuẩn bị nội dung trò chơi, đưa ra luật chơi, sau đó mời một em cán bộ lớp điều hành, hai học sinh làm trọng tài, bốn tổ học sinh là bốn đội chơi Lớp phó đời sống chuẩn bị một số món quà nhỏ (sổ, bút, gói bim bim, kẹo,…) dành cho đội thắng cuộc, đội thua cuộc sẽ cùng biểu diễn một tiết mục văn nghệ hoặc phải làm trực nhật cho tuần sau Với các trò chơi khác như trò

một phút làm vua, tôi hướng dẫn tổ/nhóm/bàn HS chịu trách nhiệm điều hành chia

lớp làm nhóm nhỏ gồm ba người, nhóm tự quy định A, B, C tương ứng với từng người, bạn điều hành sẽ bốc thăm chữ cái, đúng chữ cái nào thì học trò đó là vua, hai bạn còn lại sẽ làm người hầu thực hiện theo lệnh vua, người làm vua sẽ được đấm, bóp hoặc thưởng thức các tiết mục văn nghệ mà mình yêu cầu Những trò chơi khác thì chơi tập thể, ai sai sẽ bị bắt lên nhảy lò cò hoặc làm trò cho cả lớp cười,… Ai không tuân thủ sẽ làm trực nhật hoặc làm vệ sinh tự giác

* Kết quả đạt được:

- HS được hình thành và phát triển phẩm chất: trung thực (sai là phải nhận hình phạt, trả lời đúng khả năng, hiểu biết của bản thân), trách nhiệm (bản thân phải tham gia trò chơi và làm cho đội nhóm của mình mạnh lên, tuân thủ quy định, luật chơi), nhân ái (yêu quý đồng đội của mình),…

- HS được hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác (kỹ năng trao đổi, hợp tác trong đội, nhóm), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (tìm ra phương án trả lời, cách thức tiếp thu và thực hiện luật chơi đúng nhất), năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội (tìm hiểu về thế giới tự nhiên và những vấn đề xã hội xung quanh để có câu trả lời đúng nhất, thực hiện đúng theo quy định của luật chơi,…), năng lực ngôn ngữ ( năng lực lắng nghe để làm theo lệnh, ngôn ngữ cơ thể theo các động tác trong các trò chơi), năng lực thẩm mỹ (nhận biết các yếu tố

về cái đẹp, cái hài trong các trò chơi; phân tích, đánh giá về những người tham gia

Trang 24

trò chơi), năng lực thể chất (khi HS tham gia các trò chơi vận động hay các hình thức phạt sau khi không thực hiện đúng luật chơi hoặc khi thua cuộc)

* Nội dung và hình thức sinh hoạt:

Nội dung: Các em viết những dòng tâm sự về cuộc sống, về những người

xung quanh (bố mẹ, thầy cô, bạn bè), về những gì đang diễn ra, về ước mơ, về

tương lai của bản thân, … với những chủ đề: Mưa điều ước, Thư gửi thầy /cô, Thư gửi bố / mẹ (hoặc bố mẹ), Gửi tôi ở tương lai,…

Hình thức sinh hoạt: Tôi thường cho các em viết thư hoặc ghi vào tờ note gửi

thầy (cô), bố (mẹ), cho chính mình hiện tại và tương lai (mấy chục năm sau này),… Ở đây mỗi HS sẽ ghi ba điều ước về mục tiêu của bản thân trong năm học,

ba điều ước về bố mẹ, ba điều ước về thầy cô, sau đó các em trang trí theo từng nhóm và treo lên Bên cạnh đó, tôi còn hướng dẫn HS viết thư chia sẻ với bố/ mẹ,

Trang 25

thầy /cô những tâm sự thầm kín nhất mà trong thực tế hàng ngày tiếp xúc trực tiếp, các em khó chia sẻ, khó bộc lộ với bố/mẹ, thầy /cô Những bức thư các e gửi cho bản thân sau này, các em bỏ vào phong bì hoặc xếp máy bay và ghi họ tên, lớp học

ở bên ngoài GVCN sẽ là người lưu giữ những bức thư này đến mai sau hoặc cuối năm trao cho các em để các em giữ

HS viết thư cho GVCN

HS viết thư cho cha mẹ

Trang 26

Lời tâm sự chân thành, xúc động của HS

Trang 27

* Kết quả đạt được:

- HS được hình thành và phát triển phẩm chất: trung thực (tâm sự tất cả những điều bản thân nghĩ về những chủ đề liên quan), trách nhiệm (bản thân thấy được trách nhiệm đối với xã hội, với gia đình, thầy cô, bạn bè và với chính bản thân mình), nhân ái (yêu thương gia đình, thầy cô, bạn bè, lớp học và chính bản thân), chăm chỉ (tự mình nhận ra những điều bản thân phải nỗ lực hoàn thiện về học tập,

về kinh nghiệm cuộc sống)

- HS được hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác (kỹ năng trao đổi, hợp tác khi chia sẻ), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (tìm ra cách chia sẻ chân thực và ý nghĩa), năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội (tìm hiểu về thế giới tự nhiên và những vấn đề xã hội và chính bản thân mình,…), năng lực ngôn ngữ (năng lực diễn đạt để nói lên tất cả tâm tư của bản thân), năng lực thẩm mỹ (nhận biết các yếu tố về cái đẹp trong cuộc sống, ở những người xung quanh và chính mình), …

Thiết nghĩ, gieo những hành vi nhỏ sẽ tạo nên thói quen, gieo thói quen sẽ gặp tính cách, vì vậy tôi luôn quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục đạo đức, phát huy phẩm chất, năng lực cho HS từ những điều nhỏ nhặt nhất Bằng việc đa dạng hóa các hoạt động giờ chủ nhiệm lớp, HS vừa được làm việc cá nhân, vừa được làm việc nhóm trong một bầu không khí rất dễ chịu mà không hề có rào cản giữa

GV với HS Một khi HS cảm thấy yêu thích lớp học của mình, các em sẽ muốn được tới trường, muốn được học, muốn được đóng góp thành tích để cùng xây dựng một tập thể lớp vững mạnh, các em có thể tự hào về chính tập thể ấy, tự hào

về người GVCN ấy và tự hào về chính bản thân mình

3.2.2 Giải pháp 2: Đổi mới cách thức họp phụ huynh

Họp phụ huynh là hình thức GVCN tổ chức một buổi sinh hoạt cho toàn bộ

phụ huynh của HS mà trong lớp mình chủ nhiệm theo kế hoạch của nhà trường để thông báo đặc điểm, tình hình hoạt động của lớp chủ nhiệm và bàn bạc, thảo luận

để đi đến thống nhất chương trình, biện pháp, mục tiêu, kế hoạch cho tập thể lớp hoạt động và cá nhân HS phấn đấu trong thời gian tiếp theo

Trong thực tế, nhiều phụ huynh tâm sự không muốn đi họp cho con vì con suốt ngày bị phê bình, học lực không được bằng bạn bè, hơn nữa, đi họp cơ bản chỉ ngồi nghe, có một phần thảo luận nhưng rất căng thẳng hoặc mang tính hình thức, nặng về hành chính Xong họp là nộp các khoản đóng góp rồi về nên đi chủ yếu mang tính trách nhiệm, nghĩa vụ Bản thân tôi muốn thay đổi tâm lý nặng nề này

và muốn thay đổi cách thức họp phụ huynh nên ngoài những phần quen thuộc các GVCN phải chuẩn bị cho cuộc họp phụ huynh như: giấy mời, khâu đón tiếp, soạn giáo án phụ huynh,… bản thân tôi đã tiến hành đổi mới như sau:

* Xác định mục đích họp phụ huynh: tổ chức buổi họp phụ huynh thật chu

đáo, nghiêm túc, hiệu quả, phù hợp và sinh động, hấp dẫn Trong cuộc họp phụ

Trang 28

huynh có sự tham gia, tương tác của thầy cô chủ nhiệm, phụ huynh và ban cán sự lớp nhằm thảo luận và giúp các em giải quyết các vấn đề học tập, hạnh kiểm và tất

cả các hoạt động sinh hoạt trong lớp Qua đó để phụ huynh nắm bắt được tình hình chung của nhà trường, tình hình cụ thể của lớp và của từng cá nhân HS; đồng thuận

và thống nhất vạch ra những kế hoạch hoạt động hiệu quả của lớp để đạt được những mục tiêu cụ thể Đồng thời, khơi gợi tình yêu thương, trách nhiệm ở phụ huynh và học sinh, hướng HS tới những phẩm chất, những năng lực quan trọng khi cho các em chuẩn bị và trải nghiệm cùng phụ huynh, tăng thêm mối quan hệ tốt đẹp của GVCN – phụ huynh – học sinh

* Thời gian thực hiện: Mỗi năm có ba lần giáo viên gặp gỡ và trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập, rèn luyện của học sinh và thông báo các hoạt động

ở trường, lớp (đầu năm, giữa năm và cuối năm học)

* Cách thức thực hiện

Thứ nhất là với cuộc họp phụ huynh đầu năm học:

- Tôi đã chuẩn bị nội dung họp, cho học sinh viết mục tiêu, mong ước của

mình trong năm học với chủ đề Mưa điều ước, Thư gửi bố mẹ, Thư gửi thầy cô (

như đã trình bày ở mục 3.2.1.5 ) Những lá thư này, GVCN sẽ trực tiếp chuyển tay đến bố/mẹ trong cuộc họp phụ huynh Còn những mong ước của các em sẽ được trang trí theo từng nhóm để đến buổi họp phụ huynh, các bậc phụ huynh được đọc những dòng tâm sự ấy Qua hoạt động này, GVCN mong muốn bố mẹ và con cái hiểu nhau hơn, từ đó, bố mẹ sẽ là nguồn động viên, là bến bờ bình yên nhất cho HS khi các em trở về nhà và các em sẽ hiểu hơn về vai trò, trách nhiệm của bản thân trong quá trình tu dưỡng, học tập và rèn luyện

Trang 29

Phụ huynh được đọc “Mưa điều ước” của các con

- Cuộc họp bắt đầu là phần tôi sẽ có lời biểu dương và có 3 món quà nhỏ xinh tặng cho ba phụ huynh đến sớm nhất

- Trong buổi họp, tôi cho bí thư, lớp trưởng cùng đội ngũ tổ trưởng tham gia cùng, đồng thời mời các em tham gia trao đổi ý kiến, trình bày nguyện vọng với phụ huynh Các em có một số tiết mục văn nghệ đơn giản nhưng sinh động chào mừng các bậc phụ huynh đến họp Đồng thời tôi khuyến khích phụ huynh chia sẻ những khó khăn về hoàn cảnh gia đình, về việc giáo dục các em ở nhà, những đề xuất về kế hoạch hoạt động và giải pháp giáo dục HS tại trường

Thứ hai là với cuộc họp phụ huynh đầu học kì 2:

- Tôi chuẩn bị nội dung họp bằng cách:

+ Cho HS tự đánh giá, nhận xét về bản thân: Ghi ba điều em thấy tự hào về bản thân, ba điều bản thân cần khắc phục, ba mục tiêu của các em đặt ra trong học

Trang 30

kì 2, ba việc em nên làm để thực hiện mục tiêu, ba điều em muốn cô giáo hỗ trợ, ba điều em muốn bố mẹ hỗ trợ

+ Đồng thời yêu cầu HS viết một bản đóng góp ý kiến, chia sẻ cho cô giáo chủ nhiệm về hoạt động của lớp, hoạt động của đội ngũ cán bộ lớp, về giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn

+ Tôi tổ chức cho HS trang trí bảng tên của mình để lên mặt bàn cho bố mẹ đến ngồi đúng chỗ của con mình

+ Cho HS sắp xếp bàn theo kiểu thảo luận nhóm để trong cuộc họp, các phụ huynh được trao đổi, thảo luận với nhau

+ Yêu cầu lớp trưởng, bí thư chuẩn bị phần nhận xét, đánh giá về từng thành viên trong lớp và đề đạt, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng cũng như mục tiêu của lớp trong học kỳ 2

- Trong quá trình tổ chức cuộc họp, tôi tổ chức một trò chơi nhỏ với 10 câu hỏi, mỗi nội dung câu hỏi đều có mục đích thông báo nội dung giáo viên muốn nói trong buổi họp Ví dụ như: Lớp có bao nhiêu học sinh? Con học bao nhiêu tiết Toán/ Ngữ văn một tuần? Kể tên một người bạn thân nhất của con trong lớp? Khi được hỏi phụ huynh lớp tôi tham gia rất nhiệt tình, kết thúc mỗi câu hỏi là phụ huynh lại nắm thêm được một thông tin về lớp, phụ huynh trả lời đúng nhận được món quà kỉ niệm của giáo viên

+ Sau đó thì giáo viên thông báo về kết quả học tập của HS, điểm số, đánh giá Những lời nhận xét riêng cũng đã được giáo viên nhận xét vào phiếu và phát vào đầu buổi họp cho phụ huynh

+ Sau phần này GVCN cho bố mẹ sẽ được xem những phần con mình viết Qua đây bố mẹ thực sự hiểu được tâm tư, suy nghĩ của con

+ Sau đó, bố mẹ cũng sẽ viết cho các con về những điều sau: Ba ưu điểm lớn nhất của con, ba điều bố mẹ mong muốn con làm, ba điều bố mẹ có thể giúp đỡ con, ba điều phụ huynh mong muốn cô giáo giúp con mình Giáo viên sẽ thu lại và

sẽ đưa lại cho học sinh vào buổi học kế tiếp

Qua hoạt động này giúp GVCN hiểu được những tình cảm, tâm tư nguyện vọng của HS và có thêm động lực cho nghề giáo của mình, phụ huynh và học sinh hiểu nhau, gần gũi nhau hơn, tăng thêm mối tình cảm gắn kết gia đình

+ Tiếp đó GVCN mời lớp trưởng và bí thư luân phiên nhau nhận xét, đánh giá

về từng thành viên trong lớp và đề đạt, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng cũng như mục tiêu của lớp trong học kỳ 2

+ GVCN chia sẻ một chút nội dung chương trình kì 2 và một số cuốn sách hay dành cho HS, tổ chức cho phụ huynh cùng nhau trao đổi thảo luận những vấn

đề quan trọng như: Trao quyền cho con như thế nào? Cách thức hỗ trợ con học tập

ở nhà? …

Trang 31

+ Cuối cùng tổ chức giao lưu một vài tiết mục văn nghệ giữa GVCN, phụ huynh và cán sự lớp Buổi họp phụ huynh kết thúc và thực sự là cả giáo viên và phụ huynh đều cảm thấy thoải mái, vui vẻ

Thứ ba là với cuộc họp phụ huynh cuối năm:

Cách thức tiến hành cơ bản tổ chức như cuộc họp phụ huynh đầu học kỳ 2 nhưng nội dung đề cập đến là để HS và phụ huynh tổng kết, nhìn nhận lại cả một năm học tập, hoạt động vừa qua và hướng đến kế hoạch hoạt động hè của HS

Mong ước của bố (mẹ) gửi đến con

Bố (mẹ) được đọc những mong ước của con tại lớp học

Ngày đăng: 30/05/2020, 15:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường Quản lý cán bộ giáo dục – đào tạo Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
5. Vũ Thị Nho (2008), Tâm lí học phát triển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học phát triển
Tác giả: Vũ Thị Nho
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
6. Phan Thị Tố Oanh (2012), Tài liệu bồi dưỡng công tác chủ nhiệm trường trung học, Trường Cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng công tác chủ nhiệm trường trung học
Tác giả: Phan Thị Tố Oanh
Năm: 2012
7. Hoàng Phê (chủ biên) (1992), Từ Điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1992
8. Chỉ thị số 2737/CT-BGDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2012-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 2737/CT-BGDĐT
9. Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của BCH Trung ương Đảng, khóa XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 29
10.Thông tư số 13/2012/TT-BGDĐT ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường trung học phổ thông có nhiều cấp học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2012/TT-BGDĐT
11.Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT, Thông tư ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông Khác
12. Thông tư số: 32/2018/TT-BGDĐT, Thông tư ban hành chương trình giáo dục phổ thông Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm