1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sử dụng tư liệu về truyền thống giáo dục, khoa bảng huyện diễn châu thời phong kiến trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông

83 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế, trong nhiều năm qua tư liệu lịch sử địa phương cũng như tư liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng được sử dụng trong chương trình dạy học lịch sử dân tộc rất hạn chế, đây là mộ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lịch sử dân tộc ta là những trang sử hào hùng và oanh liệt của mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước Đó là lịch sử của những chiến công hiển hách, của những thắng lợi vẻ vang, của truyền thống văn hiến lâu đời, với những tên làng, tên đất, những dòng họ khoa bảng, những quê hương anh hùng tất cả đã tạo thành những truyền thống tốt đẹp mà không phải dân tộc nào, đất nước nào cũng có được Để những truyền thống tốt đẹp đó của dân tộc ngày càng được hun đúc và phát huy tác dụng thì việc giáo dục truyền thống lịch sử càng phải được quan tâm

và đẩy mạnh trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ

Là một bộ phận của lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương có một vai trò đặc biệt quan trọng, giữa lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương có mối quan hệ không thể tách rời Lịch sử địa phương chính là một bộ phận cấu thành của lịch sử dân tộc Bởi vậy, lịch sử địa phương là một nguồn kiến thức rất cần thiết đối với học sinh Những tri thức lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể, là sự minh họa của lịch sử dân tộc Nó chứng minh sự phát triển hợp quy luật ở mỗi địa phương trong sự phát triển chung của đất nước Nó ghi lại những thành quả lao động, những thành tựu văn hóa, những truyền thống khoa bảng, những chiến công oanh liệt của nhân dân các địa phương trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Dạy học lịch sử địa phương cho học sinh có ý nghĩa rất lớn trong việc hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục và phát triển của bộ môn Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, kính trọng

và biết ơn những thành tựu của các thế hệ cha ông đi trước Từ những tình cảm đó

sẽ giúp các em gắn bó hơn với mảnh đất quê hương, bảo vệ, giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp vốn có của địa phương một cách tự giác Dạy học lịch

sử địa phương còn góp phần phát triển khả năng nhận thức và năng lực thực hành của học sinh, tạo điều kiện cho các em học tập, rèn luyện trong môi trường thực tế, kết hợp lí thuyết với thực hành Ngoài ra, trong nhiệm vụ dạy học hiện nay việc dạy học lịch sử địa phương còn định hướng cho giới trẻ thái độ ứng xử văn hoá phù hợp với chủ trương xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá ở địa phương

Nghệ An là vùng đất “địa linh nhân kiệt” là nơi đã sinh ra nhiều bậc hiền tài cho đất nước Vì thế, cùng với lịch sử phát triển của Nho học Việt Nam (1075 - 1919), thì truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và khoa bảng của người Nghệ

An luôn được nuôi dưỡng và phát huy từ rất sớm Là một trong những cái nôi khoa bảng của xứ Nghệ, Diễn Châu được biết đến là một vùng đất rất hiếu học, có nhiều ông Nghè, ông Cống đậu đạt vào loại cao nhất trong lịch sử khoa bảng của tỉnh Nghệ An dưới thời phong kiến Truyền thống giáo dục khoa bảng ấy của người dân Diễn Châu đã trở thành niềm tự hào, lòng kính trọng vô bờ bến của hậu thế đối với các bậc tiền nhân, các thế hệ cha ông đi trước

Trang 2

Khai thác, sử dụng những tư liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng vào dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông là một việc làm hết sức cần thiết Nó góp phần quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, hình thành nhân cách cho học sinh Tìm hiểu về truyền thống giáo dục khoa bảng của huyện nhà còn giúp học sinh củng cố, bổ sung, mở rộng, cụ thể hoá những kiến thức lịch sử đã học để vận dụng vào thực tế nơi mình sinh sống Bên cạnh đó, còn rèn luyện cho các em những kỹ năng cơ bản, tạo hứng thú tìm hiểu về lịch sử quê hương, đất nước Để rồi các em sẽ thêm tự hào về bề dày lịch sử, về truyền thống hiếu học, biết ngưỡng

mộ, trân trọng về các nhà văn hoá, danh nhân nổi tiếng Từ những tình cảm chân thành đó sẽ hun đúc, bồi đắp cho các em ý thức phát huy truyền thống hiếu học của cha ông, góp phần xây dựng quê hương trong thời kỳ hội nhập

Thực tế, trong nhiều năm qua tư liệu lịch sử địa phương cũng như tư liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng được sử dụng trong chương trình dạy học lịch sử dân tộc rất hạn chế, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến bộ môn Lịch sử chưa thực sự gây được hứng thú đối với học sinh, cũng như chưa phát huy hết tác dụng trong việc giáo dục truyền thống đối với thế hệ trẻ Đa số các giáo viên còn tỏ

ra lúng túng, khó khăn trong việc sưu tầm, tìm hiểu các tư liệu về lịch sử địa phương để phục vụ cho bài dạy của mình Điều đó làm cho hiệu quả dạy học lịch

sử địa phương nói chung, dạy học về truyền thống giáo dục khoa bảng nói riêng ở các trường THPT đã có nhiều tiến triển song chưa hiệu quả Xuất phát từ những

suy nghĩ và lí do cấp thiết trên tôi quyết định chọn vấn đề “Sử dụng tư liệu về truyền thống giáo dục, khoa bảng huyện Diễn Châu thời phong kiến trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông” để tìm hiểu, sử dụng, vận dụng tư liệu

về truyền thống giáo dục khoa bảng huyện Diễn Châu trong giảng dạy Lịch sử Việt Nam thế kỉ X-XIX, Lịch sử lớp 10 – chương trình cơ bản

* Tính mới của sáng kiến kinh nghiệm

Về lý luận:

- Đây là một đề tài hoàn toàn mới trong việc vận dụng tư liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng của địa phương để giảng dạy lịch sử dân tộc

- Những tư liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng được đề cập đến trong

đề tài là những tư liệu lịch sử không chỉ hỗ trợ cho việc học lịch sử địa phương mà còn bổ trợ cho các giờ học lịch sử dân tộc một cách có hệ thống và đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời qua đó phục vụ cho việc giảng dạy lịch sử địa phương ở trường THPT trên địa bàn Diễn Châu, nhưng cũng góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử địa phương nói chung

Về thực tiễn:

- Đề tài đem đến cho học sinh trên địa bàn huyện Diễn Châu nói riêng, địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung thấy được những thành tựu nổi bật, những phác họa chi tiết, cụ thể về các nhà khoa bảng tiêu biểu của Diễn Châu thời phong kiến

Trang 3

- Đề tài sẽ giúp học sinh rút ra được những đặc điểm nổi bật, riêng có của khoa bảng Diễn Châu, để từ đó giáo dục cho các em truyền thống hiếu học, trân

quí những kết quả mà cha ông đã đạt được

- Đề tài còn phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình tham gia học tập, học sinh được chủ động tìm hiểu kiến thức, kỹ năng của bộ môn thông qua việc vận dụng tư liệu vào hoàn thành các nội dung học tập Qua đó sẽ hình thành những phẩm chất năng lực cho học sinh như sự sáng tạo,

học tập hợp tác, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu

* Tính hiệu quả:

Tính hiệu quả của sáng kiến là rất lớn có thể áp dụng vào việc dạy học lịch

sử địa phương ở trường THPT và các cấp giáo dục khác

Đối với học sinh:

- Qua các bài học có vận dụng tư liệu truyền thống giáo dục khoa bảng, học sinh được tiếp thu nhiều kiến thức mới, biết vận dụng các kiến thức đó để hoàn thành nhiệm vụ học tập

- Sau một thời gian, cá nhân tôi vừa nghiên cứu cơ sở lí luận vừa áp dụng vào dạy học ở trường thì kết quả đạt được rất tốt Bằng những quan sát định tính tôi thấy ở các tiết dạy có sử dụng tư liệu truyền thống giáo dục khoa bảng huyện Diện Châu đã tạo sự tích cực, chủ động, hứng thú của các em học sinh trong việc tìm ra các tri thức mới với những biểu hiện như: các em sôi nổi, tích cực trao đổi, chủ động bày tỏ quan điểm

Đối với giáo viên

- Năng lực dạy học sử dụng tư liệu giáo dục truyền thống giáo dục khoa bảng của giáo viên được nâng cao: Giáo viên được tự tìm hiểu, tự trang bị cho mình những tư liệu cơ bản Từ đó lựa chọn phương pháp, cách thức tổ chức các hoạt động dạy học Biết sử dụng vừa đủ tránh ôm đồm nặng nề, đồng thời tận dụng được sức mạnh của công nghệ thông tin vào quá trình dạy học

Trang 4

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm tư liệu lịch sử địa phương và vai trò của việc sử dụng tư liệu lịch

sử địa phương trong dạy học

1.1.1 Khái niệm tư liệu lịch sử địa phương

Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá trình phát triển của xã hội loài người

và đồng thời nó cũng tồn tại khách quan đối với chúng ta Do lịch sử là những sự kiện hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ, cho nên con người không thể quan sát trực tiếp các sự kiện, hiện tượng đó Bởi vậy việc nhận thức phải dựa vào nhiều nguồn sử liệu (tư liệu lịch sử) khác nhau Qua thực tế giảng dạy và trong phạm vi của đề tài để giải thích một cách dễ hiểu nhất thì tư liệu lịch sử là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định Đó là các sự kiện, tài liệu mà mỗi giáo viên cần phải sưu tầm để tìm hiểu về quá trình lịch sử đang học Tư liệu càng sinh động, phong phú bao nhiêu thì sự kiện càng cụ thể và càng hay bấy nhiêu Thiết nghĩ, trong giảng dạy lịch sử, điều kiện cơ bản nhất để tái tạo hình ảnh quá khứ chính là tư liệu lịch sử Nếu không có nguồn tư liệu phong phú, không cung cấp được nguồn tư liệu cụ thể, chân thực thì dù có vận dụng phương pháp giảng dạy nào đi chăng nữa cũng không thể đạt hiệu quả mong muốn Đúng như nhà sử học Ba Lan J.iopolski đã viết: Tư liệu luôn là tài sản quý giá nhất của nhà sử học, không có nó ta không thể là nhà sử học Không có nguồn tư liệu thì lịch sử không thể được viết ra "không có cái gì có thể thay thế tư liệu - không có chúng thì không có lịch sử"

Địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong một quốc gia có những sắc thái đặc thù riêng Địa phương là một bộ phận cấu thành đất nước Địa phương

- đó là những đơn vị hành chính như các xã, huyện, tỉnh, thành phố Cũng có thể hiểu “địa phương” là những vùng đất nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên để phân biệt với vùng đất khác, ví dụ: miền Nam, miền Bắc, khu vực Tây Bắc, Việt Bắc Hay nói theo cách đơn giản: tất cả những gì không phải là của “Trung ương” hay “Quốc gia” đều được coi là địa phương Từ nhận thức như vậy, ta có thể hiểu được lịch sử địa phương cũng chính là lịch sử của các làng, xã, huyện, tỉnh hay khu vực, vùng, miền Lịch sử địa phương còn bao hàm ý nghĩa lịch

sử của các đơn vị sản xuất, chiến đấu, các trường học, cơ quan, xí nghiệp Xét về yếu tố địa lý, các đơn vị đó đều gắn với một địa phương nhất định, song nội dung của nó mang tính kỹ thuật, chuyên môn do vậy có thể xếp nó vào dạng lịch sử chuyên ngành Như vậy, bản thân lịch sử địa phương cũng rất đa dạng, phong phú

cả về nội dung và thể loại

Tri thức lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể, sinh động, đa dạng các tri thức lịch sử dân tộc Lịch sử địa phương là bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc, chính lịch sử dân tộc được hình thành trên nền tảng khối lượng tri thức lịch sử địa

Trang 5

phương đã được khái quát hóa và tổng hợp ở mức độ cao Bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra đều mang tính chất địa phương, bởi nó gắn với một vị trí không gian cụ thể ở một địa phương hoặc một số địa phương nhất định Tuy nhiên, những sự kiện, hiện tượng đó có tính chất, quy mô, mức độ ảnh hưởng khác nhau

Có những sự kiện, hiện tượng chỉ có tác dụng, ảnh hưởng trong phạm vi hẹp của địa phương, nhưng có những sự kiện, hiện tượng xảy ra có mức độ ảnh hưởng vượt khỏi khung giới địa phương, mang ý nghĩa rộng với quốc gia, thậm chí đối với cả thế giới Không chỉ riêng các nhà sử học chuyên nghiên cứu sâu về lịch sử, mỗi con người (ở mức độ khác nhau) đều có thể tìm hiểu về cuộc sống, những vị trí không gian khác nhau Tri thức lịch sử sẽ làm giàu thêm tri thức của cuộc sống con người Bài học lịch sử luôn chỉ cho con người biết cách hoạt động đúng đắn trong hiện tại và tương lai Lịch sử thực sự là “người thầy của cuộc sống” Chính vì lẽ

đó, sự am tường về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự hiểu biết cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về lịch sử của chính miền quê, xứ sở, nơi chôn rau cắt rốn của chính mình, hiểu rõ mối quan hệ của lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc và rộng lớn hơn là lịch sử thế giới

1.1.2 Vai trò của việc sử dụng tư liệu lịch sử địa phương:

Việc sử dụng tư liệu lịch sử địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông Thông qua việc sử dụng các nguồn tư liệu đó, các em học sinh sẽ thấy được sự phát triển đa dạng sinh động, phức tạp và thú vị của lịch sử địa phương, song vẫn tuân thủ theo quy luật phát triển chung của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại

Nguồn tài liệu lịch sử địa phương, với những loại hình đa dạng phong phú, sinh động là cơ sở cho việc tạo những biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc, các sự kiện, hiện tượng ở bài học lịch sử Tri thức lịch sử địa phương có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, lòng tự hào chân chính và những truyền thống tốt đẹp của địa phương, tình yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo vệ, giữ gìn di sản văn hóa, di tích lịch sử Tư liệu lịch sử địa phương chẳng những là cứ liệu khoa học để hiểu rõ sự phát triển của lịch sử các địa phương, mà còn là những căn cứ cụ thể, chi tiết để xem xét đánh giá một cách toàn diện những sự kiện, hiện tượng, biến cố trong lịch sử dân tộc

Lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể của lịch sử dân tộc, là sự minh họa lịch sử dân tộc Nghiên cứu, học tập lịch sử địa phương cũng là một biện pháp tích cực để thực hiện việc gắn liền nhà trường với đời sống xã hội Tài liệu lịch sử địa phương cụ thể hóa những kiến thức chung về lịch sử dân tộc, làm cho các em lĩnh hội được dễ dàng những khái niệm phức tạp, những kết luận, những khái quát khoa học Do đó, nó có tác dụng nâng cao chất lượng kiến thức lịch sử Đồng thời những kiến thức lịch sử địa phương cũng cung cấp cho học sinh sự hiểu biết về hoàn cảnh tự nhiên, khả năng kinh tế và truyền thống đấu tranh anh dũng, lao động cần cù của nhân dân địa phương, những đóng góp của quê hương mình đối với lịch

Trang 6

sử dân tộc Từ những hiểu biết đó các em càng thấy yêu quý và có trách nhiệm đối với quê hương đất nước mình Vì vậy, sưu tầm, tìm hiểu lịch sử địa phương ở trường THPT không chỉ là một hình thức quan trọng của việc nghiên cứu lịch sử nói chung mà còn là một hình thức quan trọng của dạy học lịch sử, tạo nên sự phong phú, hấp dẫn, gây hứng thú học tập bộ môn cho học sinh

Xuất phát từ những nhận thức đó, có thể khẳng định việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong giảng dạy lịch sử dân tộc là cần thiết trong các nhà trường phổ thông Việc làm này có ý nghĩa rất lớn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, những chất liệu lịch sử địa phương sẽ làm cho bài học về lịch sử dân tộc thậm chí cả thế giới thêm sống động, cụ thể hơn và thực hơn, tạo nên những cảm xúc thật của thầy và trò trong mỗi bài học lịch sử Bởi việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc giúp học sinh có sự hình dung

đa dạng về quá khứ, tạo được biểu tượng sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử dân tộc Từ đó, các em có thể dễ dàng lĩnh hội các thuật ngữ, hình thành các khái niệm lịch sử, nắm được các kết luận khoa học mang tính khái quát Mặt khác, nó còn có tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học sinh Mỗi sự kiện lịch sử địa phương đều gắn liền với tên đất, tên người cụ thể, gần gũi với cuộc sống, qua đó gợi lên ở các em lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc sâu sắc Trong dạy học lịch sử dân tộc, việc sử dụng các nguồn tài liệu lịch sử địa phương còn giúp các em thấy được mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng; cái phổ biến, cái đặc thù Qua đó góp phần phát triển tư duy cho học sinh

1.2 Truyền thống giáo dục khoa bảng và vai trò của việc sử dụng tư liệu lịch sử

về giáo dục khoa bảng trong dạy học lịch sử

1.2.1.Truyền thống giáo dục khoa bảng

Lịch sử khoa bảng nước ta chính thức được bắt đầu vào năm 1075, khi nhà

Lý cho tổ chức kỳ thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường để tuyển chọn người tài phục vụ đất nước Tính từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tổ chức được tất cả 185 kỳ

thi, có 2.898 người đã được lấy đỗ tiến sĩ Theo sách Những người thầy trong

sử Việt, bấy giờ, Thái tử Lý Càn Đức lên 10 tuổi, tinh anh hơn người, những đại

thần được giao kèm cặp thái tử học đều bị dồn vào thế bí vì giới hạn kiến thức Để giúp vị vua tương lai rèn giũa đạo trị nước, theo đề xuất của Thái sư Lý Đạo Thành, Linh Nhân Hoàng thái hậu (Nguyên phi Ỷ Lan) đã cho tổ chức kỳ thi Nho học đầu tiên trong sử Việt Dù là kỳ thi đầu tiên, triều đình đã tổ chức chu đáo, cẩn trọng Có hơn 10 người được lấy đỗ, trong đó, đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, quê ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay Lê Văn Thịnh về sau được gọi là "trạng nguyên khai khoa", dù rằng kỳ thi năm 1075, triều đình chỉ lấy người đỗ đầu, chưa định thứ bậc (trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa…) Ngay sau kỳ thi, triều Lý tiếp tục cho xây dựng Quốc Tử Giám bên cạnh Văn Miếu để vua Lý Nhân Tông ra học tập Với sự kiện này, vua Lý Nhân Tông trở thành "học viên" đầu tiên của trường

Trang 7

Quốc Tử Giám, còn Lê Văn Thịnh là thầy giáo đầu tiên được dạy vua Trong buổi đầu của nền khoa bảng nước nhà, cả Tam giáo (Nho, Phật, Lão) đều được coi trọng Bởi vậy, về sau văn hóa, học thuật thời Lý - Trần phát triển rực rỡ

Phép khoa cử nước ta có từ năm 1075, nhưng dưới thời Lý và đầu thời Trần, triều đình chỉ lấy người đỗ đầu và chưa phân định các danh hiệu như trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa Danh hiệu này chỉ bắt đầu xuất hiện vào kỳ thi 1247 - khoa

thi đã khai sinh ra các vị trạng nguyên nước Việt Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,

đến năm Đinh Mùi (1247) mới có chế Tam khôi "Mùa xuân, tháng hai, mở khoa thi chọn kẻ sĩ Ban cho Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên, Lê Văn Hưu đỗ bảng nhãn, Đặng Ma La đỗ thám hoa" Cũng theo sách này, trước đây, hai khoa Nhâm Thìn (1232) và Kỷ Hợi (1239) chỉ chia người đỗ đạt thành các hạng Giáp, Ất, chưa có Tam khôi, đến khoa này mới đặt Tam khôi (tức trạng nguyên, bảng nhãn, thám

hoa) Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục cũng chép rằng "tháng hai,

mùa xuân (1247), thi Thái học sinh Trước đây, thi lấy học trò đỗ đạt, chỉ chia ra hai hạng Giáp, hạng Ất để phân biệt người đỗ cao, thấp Nay mới đặt ra Tam khôi" Như vậy, kỳ thi Tam khôi đầu tiên ở nước ta được tổ chức năm 1247 Trạng nguyên của kỳ thi này là Nguyễn Hiền Tuy nhiên, lịch sử khoa bảng lại tính Nguyễn Quán Quang là vị trạng nguyên đầu tiên bởi vì Nguyễn Quán Quang đỗ đầu khoa thi "tiến sĩ" trước đó chỉ một năm (năm 1246)

Mùa hạ năm Kỷ Mùi (1919) đã đi vào lịch sử Việt Nam một sự kiện đáng nhớ: Kỳ thi hội và thi Đình được tổ chức lần cuối cùng theo lời chỉ dụ của vua Khải Định "kỳ thi năm nay là khoa thi cuối cùng, đường khoa cử từ nay dứt hẳn"

Theo sách Khải Định chính yếu, tháng giêng năm 1919, sau khi bộ Lễ đọc đệ trình

lên vua về thể thức kỳ thi Hội với những thay đổi, vua liền phê "lần này là kỳ thi Hội cuối cùng cho triều đình nên Trẫm muốn gia ân cho sinh viên, sĩ tử, khoa mục trong nước, hễ ai thông thạo hai thứ chữ Nho và chữ Pháp thì trình diện bộ Học để xin vào ừng thí" Lệ định khoa thi Hội cũng có nhiều thay đổi Tại vòng thi thứ nhất, ngoài các bài thi về văn sách, kinh nghĩa, truyện và thời sự, thí sinh còn phải làm một bài về sử Việt Nam và một bài về sử phương Tây Vòng thứ hai, ngoài toán còn phải làm một bài luận ngữ bằng chữ quốc ngữ Vòng thứ ba, dịch một bài chữ quốc ngữ sang tiếng Pháp và một bài Pháp ngữ sang tiếng Hán, cùng một bài luận bằng Pháp ngữ bắt buộc Tháng tư năm 1919, kỳ thi Hội diễn ra tại kinh thành Huế Sau thi Hội đến kỳ thi Đình, đề thi do đích thân vua ra, hỏi về thời cuộc, thí sinh trình bày quan điểm cá nhân về "văn minh" Khoa thi Đình năm ấy không căn

cứ vào điểm của các kỳ thi Hội để xếp hạng tiến sĩ mà chỉ dựa vào văn lí để định thứ bậc tân khoa, nhà vua đã ban đồ cho 7 tiến sĩ và 16 phó bảng

Như vậy, từ bao đời nay, hiếu học đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Lịch sử khoa bảng của dân tộc còn lưu danh những tấm gương sáng ngời về ý chí và tinh thần ham học: Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, theo học nơi cửa chùa, đã trở thành Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử nước ta khi

Trang 8

mới 13 tuổi Mạc Đĩnh Chi vì nhà nghèo không thể đến lớp, chỉ đứng ngoài nghe thầy giảng, đêm đến phải học dưới ánh sáng của con đom đóm trong vỏ trứng, đã

đỗ trạng nguyên và trở thành Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trung Hoa và Đại Việt)

Đó còn là những tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài đáng kính: Nhà giáo Chu Văn An, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng lường Lương Thế Vinh, nhà bác học Lê Quý Đôn…; là tinh thần của nghị lực phi thường vươn lên trở thành nhà giáo ưu tú - Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký… Sự hiếu học, tinh thần ham học hỏi của dân tộc Việt Nam còn được biểu hiện ở thái độ coi trọng việc học và người có học, tôn trọng thầy cô, kính trọng họ như cha mẹ của mình “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”,

“Không thày đố mày làm nên” Cùng với tiến trình lịch sử dân tộc, dòng chảy của truyền thống hiếu học ấy với tinh thần “Học! Học nữa! Học mãi!” đã được các thế

hệ người Việt Nam hôm nay tiếp tục phát huy và tỏa sáng: Đó là những tấm gương vượt khó, học giỏi trên khắp mọi miền của đất nước; từ những nếp nhà trong gia đình tất cả con cháu đều chăm học và thành đạt như giáo sư Đặng Thai Mai, giáo

sư Đào Duy Anh, giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân… đến những vận động viên khổ luyện thành tài như kình ngư Nguyễn Thị Ánh Viên, xạ thủ Hoàng Xuân Vinh, tài năng như giáo sư Ngô Bảo Châu, nữ tiến sĩ trẻ tuổi nhất Nguyễn Kiều Liên… Họ đã thực sự là niềm tự hào làm rạng danh đất Việt và tô thắm thêm tinh thần hiếu học của cha ông

1.2.2 Vai trò của việc sử dụng tư liệu lịch sử về giáo dục khoa bảng trong dạy học lịch sử

Truyền thống giáo dục khoa bảng đóng vai trò quan trọng trong truyền thống lịch sử của dân tộc Bề dày lịch sử của mỗi dân tộc, mỗi địa phương là cả một tài sản quý giá, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi địa phương, là niềm kiêu hãnh của chúng ta trước bạn bè quốc tế Đồng thời đó cũng

là sự hãnh diện của mỗi một địa phương với bạn bè trong nước và trong khu vực Việc sử dụng các tư liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng thời phong kiến vào dạy học Lịch sử Việt Nam thời phong kiến (từ thế kỉ X - XIX) trong chương trình lịch sử lớp 10, chương trình cơ bản là vấn đề hết sức quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học, khơi dậy hứng thú học tập, động cơ, sự tập trung chú ý theo dõi bài giảng của học sinh, kích thích tính tích cực học tập của các em Tư liệu

về truyền thống khoa bảng càng cụ thể bao nhiêu, sinh động bao nhiêu, phong phú bao nhiêu thì bài giảng của giáo viên càng hay càng hấp dẫn học sinh bấy nhiêu Những tư liệu mà các em được cung cấp sẽ giúp các em hiểu được mối liên hệ giữa khoa bảng địa phương với truyền thống khoa bảng của cả dân tộc Qua các tư liệu

đó sẽ giúp các em có cái nhìn cụ thể, sâu sắc và hệ thống về những thành tựu khoa bảng mà cha ông đã đạt được Từ đó các em có thể so sánh, đối chiếu những hiểu biết về khoa cử địa phương mình với khoa cử nhiều địa phương trên cả nước để thấy được nét đặc trưng riêng có của địa phương nơi mình sinh sống Trên cơ sở hiểu rõ về truyền thống khoa bảng của địa phương, các em sẽ cảm thấy tin yêu, tự hào, biết trân trọng những thành tựu mà cha ông đã đạt được, để rồi từ đó các em

Trang 9

sẽ thêm yêu thêm quý quê hương mình Đây cũng là một trong những nguồn động lực lớn lao để các em phấn đấu trong học tập, xứng đáng với truyền thống của các thế hệ cha ông đi trước

Diễn Châu là mảnh đất có bề dày văn hiến lâu đời, vào thời nào cũng có hiền tài trên mọi lĩnh vực.Vùng đất địa linh nhân kiệt này là điểm sáng của truyền thống hiếu học và tinh thần ham học hỏi Theo các sách ghi chép về khoa cử ở nước ta,

kể từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, qua 185 khoa thi, cả Nghệ Tĩnh có 280 người thi đỗ tiến sĩ và phó bảng thì Diễn Châu có tới 23 người Điều đó cho chúng ta thấy rằng ở Diễn Châu thời nào cũng có người thành danh khoa bảng; có những gia đình, cha con, ông cháu đều văn võ kiện toàn, trở thành danh nhân văn hóa, danh nhân lịch sử của đất nước; có những làng, xã có truyền thống khoa cử lâu đời, nhiều dòng họ đỗ đạt cao

Nghiên cứu về giáo dục – khoa cử Diễn Châu sẽ góp phần giúp chúng ta hiểu hơn về truyền thống của một vùng quê văn vật, đồng thời qua đó giúp ta hiểu sâu sắc hơn lịch sử giáo dục khoa cử nước ta thời phong kiến Quan trọng hơn thông qua việc tìm hiểu về truyền thống giáo dục khoa bảng còn cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức phong phú, góp phần quan trọng trong việc học tập, giảng dạy về lịch sử địa phương Để rồi từ đó giáo dục cho các em niềm tự hào về quê hương đất nước, kích thích lòng ham mê học tập phát huy truyền thống của cha ông trong hiện tại

Như vậy, đến đây chúng ta có thể thấy tác dụng của việc sử dụng tư liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng trong dạy học ở trường THPT như sau:

Thứ nhất: Kích thích tới giác quan, tăng sự chú ý, hứng thú và quan tâm của người học Khiến người học xác định được động cơ, hứng thú, sự tập trung chú ý theo dõi bài giảng và từ đó tích cực tham gia vào quá trình nhận thức, khiến học sinh khao khát muốn biết, muốn tìm hiểu về lịch sử giáo dục khoa bảng Đây là tác

dụng lớn nhất

Thứ hai: Thông qua nguồn tư liệu phong phú có thể tái tạo được quá khứ một cách chân thực nhất và lý giải tài liệu, sự kiện, hiện tượng lịch sử sâu sắc, toàn diện nhất, hiểu được bản chất của sự kiện, mối liên hệ giữa sự kiện này với sự kiện khác, hiện tượng này với hiện tượng khác và giải thích được quy luật của sự kiện lịch sử

Thứ ba: Học sinh được củng cố kiến thức về giáo dục khoa bảng, được tiếp nhận một cách tự nhiên và biết vận dụng tri thức lịch sử trong sách vở vào cuộc sống

Thứ tư: Quan trọng nhất là tạo được niềm yêu thích tìm tòi, khám phá bộ môn, chất lượng bộ môn ngày càng nâng cao

Trang 10

Ngoài ra, khi sử dụng tư liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng vào dạy học, bản thân giáo viên cũng được khám phá những điều mới mẻ, hiểu sâu sắc về quá trình lịch sử đang học, từ đó tìm ra phương pháp dạy học lịch sử phù hợp nhất, tạo hiệu quả cao nhất

1.3 Các nguồn tư liệu lịch sử địa phương

Khoa học lịch sử có nguồn tư liệu hết sức phong phú và đa dạng Tùy theo nội dung phản ánh và tính chất mà người ta thường chia tư liệu lịch sử ra thành các nhóm: tư liệu thành văn, tư liệu vật chất, tư liệu truyền miệng, tư liệu tranh ảnh, phim ảnh, tài liệu dân tộc học, tài liệu ngôn ngữ học Nhưng cũng có những sách lại chỉ chia làm hai loại là tư liệu trực tiếp (xuất hiện cùng với sự kiện, thuộc về sự kiện và thường được coi là nguồn tư liệu gốc có giá trị) và tư liệu gián tiếp (là phản ánh lịch sử qua thông tin gián tiếp, với mục đích truyền đạt thông tin - qua tác giả

sử liệu, ở đó các sự kiện xảy ra không đồng thời với tư liệu)

Nhưng dù là loại hình tư liệu nào cũng đều nhằm mục đích làm rõ, sinh động

và cụ thể sự kiện lịch sử đang tìm hiểu Tùy đặc thù từng chương, bài, mục, phần trong bài dạy mà giáo viên có cách vận dụng tư liệu cho phù hợp

1.3.1 Tài liệu thành văn (sử liệu viết)

Đây là nguồn tài liệu hết sức phong phú, đa dạng và giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong các nguồn sử liệu lịch sử địa phương Nguồn tài liệu này giúp chúng ta nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử cụ thể, phản ánh những nội dung lịch sử khá toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng, tôn giáo, quân sự ở các địa phương Nguồn sử liệu viết có những loại sau: Địa phương chí, các bài văn bia, gia phả, thần phả, các cuốn sổ tay, nhật ký, hồi ký, truyền đơn…Đây là loại tư liệu rất quí đối với công tác nghiên cứu lịch sử địa phương, có giá trị đóng góp nhất định vào việc làm sáng tỏ các vấn đề quan trọng về lịch sử của từng địa phương đó

1.3.2 Tài liệu hiện vật (sử liệu vật chất)

Tài liệu hiện vật bao gồm những di vật khảo cổ, các công trình kiến trúc (đình, chùa, miếu, tượng ), những di tích, hiện vật lịch sử (công cụ lao động, vũ khí đấu tranh ) Có những di tích tự nhiên liên quan tới sự kiện lịch sử, có những công trình kiến trúc liên quan tới sự kiện Đây là loại tài liệu có giá trị chân thực,

có thể giúp chúng ta hình dung rõ được lịch sử quá khứ, góp phần xác minh những

sự kiện thu thập từ các nguồn khác Song tài liệu này rất khó tìm, hiếm, không có

hệ thống, đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để giám định, xác minh

1.3.3 Tài liệu truyền miệng

Đây là nguồn tư liệu vô cùng phong phú Tài liệu truyền miệng bao gồm những câu chuyện lịch sử, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, những điệu dân ca, hò,

vè, truyện kể của các cụ già, những người đã từng tham gia cách mạng Loại tài

Trang 11

liệu này có tác dụng lớn trong việc nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương Song sử liệu truyền miệng có nhiều nhược điểm, thường thiếu tính chính xác khoa học, vì vậy khi sử dụng phải chọn lọc, tìm lấy những cốt lõi sự thật lịch

sử, gạt bỏ những yếu tố huyền bí, lạc hậu của nó

1.3.4 Tài liệu ngôn ngữ học

Tài liệu ngôn ngữ học là một trong những nguồn tư liệu không thể thiếu được đối với việc nghiên cứu lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử địa phương nói riêng Tài liệu ngôn ngữ học gồm hai loại chủ yếu sau: Địa danh học, là tên gọi của một vùng đất nhất định, địa danh giúp chúng ta nắm bắt được nguồn gốc sự phát triển của xóm làng, nghề nghiệp của nhân dân Phương ngôn học, là tiếng nói của

cư dân địa phương trong tiếng nói chung của dân tộc song có những sắc thái riêng

do lịch sử tạo nên Dựa vào phương ngôn, người ta có thể hiểu được thành phần của cư dân địa phương, nguồn gốc những nhóm người từ nơi khác đến địa phương Phương ngôn còn cho ta biết sự gần gũi về nguồn gốc của một số dân tộc ở khu vực miền núi, những sắc thái chung, riêng trong thói quen, phong tục của các dân tộc trên địa bàn cư trú

1.3.5 Tài liệu dân tộc học

Tài liệu dân tộc học miêu tả một cách sinh động nền văn hóa vật chất, tinh thần và sinh hoạt xã hội (phong tục, tập quán, quan hệ xã hội, ăn ở) Loại tài liệu này bổ sung cho các loại tài liệu thành văn, khảo cổ học, tạo cơ sở tốt cho việc suy luận, khái quát hóa các hiện tượng lịch sử, có thể tìm được ở nhiều địa phương

1.3.6 Tài liệu tranh ảnh lịch sử

Ảnh lịch sử là tài liệu qúy hiếm, thường được chụp ngay lúc sự kiện diễn ra (trừ trường hợp một số sự kiện quan trọng không có điều kiện chụp ngay mà phải diễn lại, nhưng vẫn bảo đảm tính chân thật lịch sử) Trong dạy học lịch sử, giáo viên sưu tầm, hướng dẫn học sinh thu thập và sử dụng tập ảnh lịch sử được xuất bản Ở mỗi bài học, chỉ tập trung chủ yếu vào các ảnh có liên quan đến sự kiện, tránh việc phân tán sự chú ý của học sinh Sử dụng ảnh không phải chỉ để minh họa bài học, mà phải hướng dẫn học sinh quan sát để rút ra những chi tiết có liên quan đến nội dung sự kiện

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Thực trạng việc sử dụng tư liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử

Qua khảo sát, điều tra thực tiễn dạy học lịch sử ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An (Phụ lục 1) tôi nhận thấy việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường phổ thông hiện nay, mặc dù có nhiều cố gắng, song vẫn còn nhiều hạn chế: tài liệu lịch sử địa phương được sưu tầm, lưu giữ trong các trường phổ thông còn nghèo nàn, giáo viên chưa thực sự quan tâm, ít đầu tư thời gian, công sức để sưu tầm, lựa chọn tài liệu cần thiết để sử

Trang 12

dụng Nếu có sử dụng cũng chỉ dừng lại ở mức độ minh họa, làm rõ thêm các sự kiện chứ chưa xem đây là nguồn kiến thức cần phải có trong mỗi bài giảng Ở một

số nơi, các tiết lịch sử địa phương được quy định trong chương trình còn bị xem nhẹ, thiếu sự đầu tư nên giờ học mang tính chất hình thức; có giáo viên còn sử dụng các giờ học lịch sử địa phương để dạy bù, ôn tập Vì vậy, chưa nâng cao được chất lượng giáo dục của bộ môn lịch sử, chưa tạo ra mối gắn kết tình cảm, xác định trách nhiệm của học sinh đối với quê hương, đất nước

Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, song chủ yếu là do giáo viên chưa xem việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc là cần thiết, còn lúng túng trong việc xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, thời lượng và mức độ vận dụng vào việc dạy học từng bài cụ thể Vì vậy, khi dạy học lịch sử dân tộc sẽ khó tận dụng được sự phong phú, tính đa dạng của các nguồn tài liệu lịch sử địa phương để hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc Vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh có hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về lịch sử dân tộc, lịch sử của xóm làng, quê hương, về những con người nơi các em sinh ra và lớn lên? Làm sao để khi tiến hành một bài giảng giáo viên có thể kết hợp một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo những tri thức lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc? Đây là một yêu cầu cần chú

ý trong dạy học lịch sử dân tộc hiện nay

Trong thời gian gần đây, ngành giáo dục nước ta đang tiến hành đổi mới một cách tích cực về phương pháp dạy học ở trường phổ thông Một số tỉnh và thành phố đã có nhiều hoạt động đổi mới phương pháp dạy học bộ môn lịch sử phong phú và đa dạng, trong đó đặc biệt là sự gắn kết các sự kiện lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc, các em được hóa thân vào vai những nhân vật lịch sử, hòa mình vào những thời khắc thiêng liêng của dân tộc Nhờ đó, các em học sinh được sống lại cùng với những trang sử hào hùng và oanh liệt của quê hương, đất nước Điều này không chỉ làm cho các em học sinh thấy được giá trị của những sự kiện, hiện tượng lịch sử, mà ngày càng yêu quê hương đất nước mình hơn cũng như trách nhiệm của các em trong việc gìn giữ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của cha ông

2.2 Thực trạng việc sử dụng tư liệu về giáo dục khoa bảng trong dạy học lịch sử

Thực tế dạy học ở trường THPT Diễn Châu nói riêng cho thấy, giáo viên bộ môn đã nhận thức được sự cần thiết của việc sử dụng tư liệu lịch sử địa phương và

tư liệu về giáo dục khoa bảng vào giảng dạy cho học sinh Tuy nhiên, do trình độ nhận thức, quan niệm cũng như năng lực không đều nhau nên việc vận dụng những

tư liệu đó cũng không đồng đều ở các giáo viên Phần lớn giáo viên ít vận dụng tư liệu về giáo dục khoa bảng trong dạy học lịch sử dân tộc, vì ngại tìm tư liệu, ngại không đủ thời lượng tiết dạy Hơn nữa tư liệu về giáo giục khoa bảng là một vấn đề lớn và khó, đòi hỏi người giáo viên phải tận tâm nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi mới

có được Bên cạnh đó cũng có một số giáo viên đã cố gắng vận dụng nhưng không

Trang 13

thường xuyên, còn chiếu lệ Về phía học sinh: Hiểu biết về lịch sử địa phương còn

mơ hồ, đa số chưa nắm được những nhà khoa bảng của địa phương

Như vậy, qua công tác điều tra thực tế chúng tôi cho rằng: Tình hình dạy học lịch sử về truyền thống giáo dục khoa bảng ở trường THPT hiện nay chưa được đầu tư, coi trọng Nguyên nhân chính là do: Giáo viên bộ môn chưa nhận thấy đầy

đủ, sâu sắc và toàn diện, ý nghĩa, tác dụng của công tác nghiên cứu lịch sử về truyền thống giáo dục khoa bảng, thêm vào đó là những khó khăn của giáo viên về đời sống, thiếu thốn phương tiện - vật chất kỹ thuật của nhà trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả dạy và học lịch sử truyền thống khoa bảng ở trường THPT

Xuất phát từ thực trạng trên chúng ta cần nhận thức rõ vai trò của việc sử dụng tư liệu lịch sử về giáo dục khoa bảng trong dạy học lịch sử để góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ dạy học một cách hiệu quả nhất

3 Các bước tiến hành sử dụng tư liệu về giáo dục khoa bảng huyện Diễn Châu trong dạy học lịch sử Việt Nam thời phong kiến

3.1 Tìm tòi, tập hợp tư liệu

Có nhiều nguồn tư liệu lịch sử để phục vụ cho bài giảng của giáo viên, song trong phạm vi của sáng kiến, căn cứ vào đặc thù bài học và đối tượng học sinh, tôi xin nêu ra loại hình tư liệu lịch sử phổ biến được sử dụng trong giảng dạy truyền thống giáo dục khoa bảng Việt Nam thời phong kiến đó là tư liệu thành văn và tư liệu về tranh ảnh Cụ thể như sau:

3.1.1 Tư liệu thành văn

3.1.1.1 Truyền thống khoa bảng của người Diễn Châu

Diễn Châu là huyện đồng bằng ven biển, nằm ở trung tâm vùng văn hóa xứ Nghệ, từng là lị sở nhiều năm của đất Châu Diễn, Nghệ An Diễn Châu cũng là vùng đất cư trú của người Việt cổ (qua những hiện vật đồng, đá khảo cổ học tìm được, mà tập trung ở Đồng Mỏm, Rú Ta…) Qua bao thế kỷ hình thành và phát triển, cho đến nay, Diễn Châu vẫn là một trong những trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…của tỉnh Nghệ An Đặc biệt, con người Diễn Châu rất hiếu học,

có nhiều ông Nghè, ông Cống đậu đạt vào loại cao nhất trong lịch sử khoa bảng của tỉnh Nghệ An dưới thời phong kiến

Qua tổng hợp về những người đậu đạt từ Hương Cống, Cử nhân cho đến Phó bảng, Tiến sỹ, tạm tính cả tỉnh Nghệ An có 1769 người thì Diễn Châu có 469 người Trong số 469 người đó, có 36 đại khoa (Phó bảng, Tiến sỹ), 23 Hội thí trúng Tam trường, (Triều Nguyễn gọi là Phó bảng), 332 Hương cống triều Lê; 78

Cử nhân triều Nguyễn Ngoài ra còn có hàng nghìn người đậu Tú tài (Tam trường thi Hương)

Trang 14

Truyền thống hiếu học và khoa bảng của người Diễn Châu có từ rất sớm Thời nhà Trần, tại đỉnh núi Cao Sơn đã có từ đường thờ Trạng nguyên Bạch Liêu (ông quê ở xã Mã Thành, phủ Diễn Châu, nay thuộc huyện Yên Thành) Bạch Liêu đậu Trại Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh (Tiến sỹ) Bính Thìn - Thiệu Long 9

(1266) Sách “ Đại Việt sử ký tiền biên”có ghi về sự kiện này như sau: “ Tháng 3,

mở khoa thi chọn học trò, cho Trần Cố đỗ Kinh Trạng nguyên, Bạch Liêu đỗ Trại Trạng nguyên…47 người đỗ Thái học sỹ, cho xuất thân thứ bậc khác nhau (Liêu người Nghệ An, trí thông minh, nhớ lâu, đọc sách liếc mắt là được 10 dòng” Trạng nguyên Bạch Liêu chính là người khai khoa cho tỉnh Nghệ An (cho xứ Nghệ xưa) Nơi thờ ông ở núi Cao Sơn ( thuộc đất Diễn Châu ngày nay) cũng chính là Văn hội của phủ Diễn Châu, nơi các sĩ tử thường tụ họp bình văn chương và làm lễ cầu khoa trong các kỳ dự thi Hương, thi Hội xưa

Cũng từ đó, người Diễn Châu luôn ý thức phấn đấu học giỏi, đậu cao, dẫn đầu các khoa thi Trong các vị Tiễn sỹ đỗ cao, Diễn Châu có 2 vị đỗ Song nguyên

(đậu đầu 2 khoa thi): Song nguyên Cao Quýnh, đỗ Giải nguyên (đầu thi Hương) và

Hội nguyên (thi Hội) - Khoa Ất Mùi - Hồng Đức 6 (1475) với học vị Thám hoa (Đệ nhất giáp cập đệ danh) Vua Lê Thái Tông rất quý tài học của ông nên ngự bút

đổi tên cho ông từ Lỗ sang Quýnh Ông làm đến Đông các Đại học Song nguyên Ngô Công Trạc, quê ở Diễn Kỷ, đỗ đầu khoa thi Hội và thi Đình năm Giáp Tuất -

Chính Hòa 15 (1694); làm quan đến Hiến sát sứ

Người đỗ đầu một khoa thi có đến 13 người: Đặng Văn Thụy đậu Á nguyên thi Hương (thứ nhì) và Đình nguyên Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) khoa Giáp Thìn- Thành Thái 16 (1904), làm quan đến tế tửu Quốc Tử Giám (như hiệu trưởng trường Đại học duy nhất của đất nước thời phong kiến) Trần Huy Phác đậu Hội nguyên - Đệ tam giáp khoa Kỷ Sửu - Minh Mệnh 10 (1829), làm quan đến Viên ngoại lang, Án sát Thanh Hóa… Những người đậu đầu thi Hương (Giải nguyên) có: Đặng Mã Oanh, Ngô Bình Thành, Hoàng Lãnh Đề, Nguyễn Minh Đạt, Nguyễn Minh Thông, Nguyễn Minh Nhạ, Hoàng Đăng Đạo, Tạ Hữu Khê, Cao Hữu Chú,

Lê Huy Giám, Vũ Trí Trong các giải nguyên thi Hương, đặc biệt có 3 cha con, ông cháu đều đậu giải Nguyên là Nguyễn Minh Đạt (quê thôn Yên Lãng, nay thuộc

xã Diễn Thành), con là Nguyễn Minh Thông đậu khoa Canh Tuất - Cảnh Trị 8 và cháu là Nguyễn Minh Nhạ (con của Minh Thông), đậu khoa Nhâm Ngọ - Chính Hòa 23

Những người đậu Á nguyên (thứ nhì thi Hương) Diễn Châu có: Cao Cự Nhật, Cao Đẳng Liên, Trương Sỹ Độ, Đặng Văn Thụy

Để giành được vị trí đứng đầu các khoa thi xưa rất khó, vì có khoa thi có tới

4000 - 5000 sỹ tử chỉ chọn được 8 đến 37 cử nhân (trong 42 khoa thi Hương triều Nguyễn ở Nghệ An, khoa ít nhất lấy 8 cử nhân là khoa Gia Long 8 (1907) và khoa lấy đông nhất 37 cử nhân là Mậu Tý - Đồng Khánh 3 (1888) Có khoa thi Tiến sỹ chỉ lấy đậu 3 người (khoa Nhâm Thìn - Quang Hưng 15 (1592) - khoa này 2 cha

Trang 15

con Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa quê Diễn Kỷ, Diễn châu chiếm 2/3 Tiến sỹ, con lại đậu cao hơn cha, thật là hy hữu

Ngoài Tiến sỹ Văn, người Diễn Châu còn được vinh danh ở hàng Tạo sỹ (Tiến sỹ võ) Người thi đậu Tiến sỹ võ như 2 anh em Trần Danh Siêu và Trần Danh Thư ở làng Vạn Phần (Diễn Vạn); Bùi Thế Toại, người xã Tiên Lý, đỗ Tạo sĩ khoa Bính Thân - Cảnh Hưng 37 (1776); làm quan đến Hiển lĩnh Trấn thủ Nghệ

An, Phạm Trinh…

Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của nhân dân Diễn Châu có thể nói đứng đầu đất xứ Nghệ xưa Truyền thống ấy vẫn còn được tồn tại, phát huy cho đến ngày nay, với rất nhiều nhân tài, học giỏi đậu cao Tiêu biểu cho thế hệ người mới của đất Diễn Châu có thể tính: Viện sĩ Dược học Đặng Thị Hồng Vân; Tiến sĩ ngôn ngữ Lê Duy Thước (Giải thưởng Hồ Chí Minh); nhà văn hóa dân gian Cao Huy Đỉnh (Giải thưởng Hồ Chí Minh ); Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, đại sứ Ngô Quang Xuân, các nhà văn: Sơn Tùng, Võ Văn Trực, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Hữu Các…vv Thế hệ mới với hàng trăm Tiến sĩ, hàng ngàn Cử nhân có nhiều văn nghệ sĩ đoạt giải Quốc gia, có học sinh thi đậu Quốc tế, Quốc gia…đã xứng đáng tiếp nối được truyền thống khoa bảng của lớp tổ tiên, cha ông trên đất Diễn Châu ngàn năm văn vật

3.1.1.2 Những đặc điểm nổi bật của truyền thống giáo dục, khoa bảng huyện Diễn Châu thời phong kiến

* Diễn Châu có nhiều vùng đất khoa bảng

Những tên làng, tên xã xưa ở Diễn Châu như: Nho Lâm, Linh Kiệt, Bút Điền, Bút Trận, Văn Hiếu, Xuân Nho, Văn Vật, Văn Tập, Thư Phủ gắn với sự học và khoa bảng Mỗi tên đất, tên làng đều thể hiện khát khao được học tập, được thành danh trên con đường khoa cử của các sĩ tử

Vùng đất Nho Lâm xưa (Diễn Thọ nay) là một trong những địa danh nổi tiếng

về truyền thống hiếu học Trên mảnh đất khoa cử này, việc học hành được nhân dân rất coi trọng nên đã sản sinh nhiều bậc hiền tài làm rạng danh cho quê hương, đất nước Ông Đặng Quang Liễn – người đã có nhiều năm nghiên cứu về sự học của người Nho Lâm cho biết: Ở Nghệ An sau Quỳnh Đôi, Nho Lâm là nơi có khoa bảng nhiều nhất với 318 người đỗ đạt Người Nho Lâm có truyền thống khổ học thành tài Từ đời Trần, đời Lê, thời Hán học mới mở khoa thi thì ở đây đã có người

đỗ đạt rồi

* Diễn Châu có nhiều dòng họ khoa bảng

Diễn Châu là vùng đất văn vật, trong đó truyền thống khoa bảng của vùng đất hiếu học này là yếu tố làm rạng danh đất và người Phủ Diễn

Cùng với những tên làng, tên xã gắn với ước mơ đỗ đạt của người dân ở mỗi miền quê thì Diễn Châu cũng là cái nôi của những dòng họ nổi tiếng về khoa bảng

Trang 16

và truyền thống hiếu học được tiếp nối từ đời này qua đời khác Đấy là họ Ngô ở

Lý Trai liên tiếp bốn đời đỗ 5 tiến sĩ, họ Đặng ở Nho Lâm ba cha con đỗ đại khoa, hai anh em đỗ đồng khoa Đấy là những dòng họ có nhiều người đỗ đạt cao như họ Nguyễn Xuân ở Diễn Thái, họ Cao Xuân ở Diễn Thịnh, họ Trần Huy ở Diễn Phong, họ Hoàng ở Diễn Cát

Họ Ngô ở Diễn Kỷ có Ngô Trí Hòa, đỗ Hoàng giáp năm 1592; Ngô Trí Tri, cha

Ngô Trí Hòa, đỗ Tiến sĩ cùng năm 1592, nên ca dao thời đó có câu:

Khen cho thiên hạ người ta

Đã Ngô Trí Hòa lại Ngô Trí Tri

Rồi Ngô Công Trạc như đã nói ở trên, đỗ Đình nguyên tiến sĩ 1694; Ngô Sĩ Vinh đỗ tiến sĩ năm 1674; Ngô Hưng Giáo đỗ tiến sĩ năm 1710

Đỗ cử nhân thì nhiều, về đời Lê, họ Ngô ở Lý Trai có: Ngô Trí Cơ, Ngô Trí Hạp, Ngô Tiến Giáp, Ngô Mậu Cử, Ngô Sĩ Tuấn, Ngô Sĩ Tín, Ngô Trí Liêu, Ngô Trí Khoa, Ngô Trí Cử, …Đời Nguyễn có: Ngô Sĩ Tùng, Ngô Trí Dụng, Ngô Trí Thục

Còn sinh đồ đời Lê và tú tài đời Nguyễn thì họ Ngô này có lẽ người dính bảng nhiều gấp 9, 10 lần

Họ Cao ở Thịnh Mỹ cũng nổi tiếng về đỗ đạt Cao Xuân Tiếu đỗ Phó bảng

khoa Ất Mùi niên hiệu Thành Thái 7 (1895), nhưng nổi tiếng là Cao Xuân Dục, đỗ

cử nhân khoa Bính Tý, năm 1876, làm quan đến Thượng thư bộ học, Tổng tài Quốc sử giám, về hưu với hàm Đông các đại học sĩ Ngoài ra còn có: Cao Xuân Tảo cử nhân năm 1912, Cao Xuân Sang đỗ cử nhân năm 1909, Cao Xuân Hụ đỗ cử nhân năm 1918 Ấy là chưa kể những người đỗ tú tài và đỗ Cao đẳng sư phạm như Cao Xuân Huy, đỗ tú tài Tây học như Cao Xuân

Họ Đặng ở Nho Lâm, ngoài Đặng Văn Thụy đỗ Đình nguyên Hoàng giáp

năm 1904, hai con ông: Đặng Văn Oánh và Đặng Văn Hướng đều đỗ phó bảng năm 1919 Ngoài ra có nhiều người đỗ tú tài Hán học, tú tài và cử nhân Tây học

Họ Hoàng ở Hà Cát, ngoài Hoàng Kiêm đỗ Tiến sĩ năm 1904 đời Nguyễn

Trước đó vào đời Lê có Hoàng Nhạc đỗ tiến sĩ năm 1502 đời Lê Hiến Tông, có Hoàng Công Xán, cháu Hoàng Nhạc đỗ Hương Cống, Hoàng Tri Đạo, Hoàng Tri Lĩnh, Hoàng Quốc Tuy, Hoàng Công Trụ, cũng đều đỗ Hương cống; thời Pháp thuộc có Hoàng Đức thi đỗ Cao đẳng sư phạm Đông Dương, Hoàng Sử đỗ y khoa bác sĩ…

Họ Nguyễn ở làng Văn Tập cũng vậy, ngoài Nguyễn Trung Mậu đỗ cử nhân

năm 1807, làm quan đến Thượng thư Bộ Lễ, đời Lê có Phái Trạch hầu Nguyễn Trung Thứ là ông, Khám Lý hầu Nguyễn Trung Ý là cha, rồi Nguyễn Trung Mưu,

em Nguyễn Trung Thứ đều đỗ Hương Cống Họ này đời Nguyễn có Nguyễn Trung

Trang 17

Doãn đỗ cử nhân năm 1878, Nguyễn Trung Tĩnh đỗ cử nhân năm 1873 Ngoài ra còn có Nguyễn Trung Phác, Nguyễn Trung Thụy, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trung Viện… đỗ sinh đồ hoặc tú tài

Chúng ta có thể kể thêm một số họ nữa như họ Chu ở Diễn Phong; họ Nguyễn Thế, Nguyễn Danh ở Trung phường; họ Lê, họ Trần, họ Hồ ở Đông Tháp…

Tuy nhiên, tiêu biểu nhất trong các dòng họ khoa bảng ở Diễn Châu phải kể tới dòng họ Ngô, 5 đời có người đỗ tiến sỹ liên tục và là dòng họ có nhiều người

đỗ đạt nhất trong các kỳ khoa cử ở Diễn Châu Theo thống kê, họ Ngô ở Nghệ An tính từ thời cụ Ngô Định về sau có đến 18 vị đỗ đạt từ Tam trường trở lên, trong đó

có 6 vị đỗ Tiến sĩ là Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa, Ngô Sỹ Vinh, Ngô Quang Tổ, Ngô Công Trạc và Ngô Hưng Giáo Trong số những vị đỗ đại khoa của dòng họ, có 2 người đỗ xuất sắc trong các khoa thi là Ngô Trí Hoà và Ngô Công Trạc Hai người được vua cử làm Chánh sứ, “phụng Bắc sứ” là hai cha con Ngô Trí Hòa và Ngô Sỹ Vinh Bởi vậy, dòng họ Ngô ở làng Lý Trai gần như là dòng họ duy nhất được ban tặng “Nhất môn ngũ đại đại khoa” (Một cửa năm đời đỗ đại khoa) và cũng là một trong rất ít dòng họ trên cả nước được nhà Lê xếp vào dòng họ Công thần

Dòng họ Ngô ở làng Lý Trai, xã Diễn Kỷ còn có tên gọi khác là họ Ngô Lý Trai được biết đến với nhiều nho sĩ, nhà đại khoa danh tiếng, không chỉ làm rạng danh dòng họ mà còn góp một số lượng đáng kể vào danh sách các nhà khoa bảng Nghệ An

Theo tộc phả của họ, họ Ngô ở Diễn Châu khởi tổ từ ông Ngô Nhật Đại, từng tham gia cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan chống lại quân xâm lược nhà Đường năm 722 ở vùng Cửa Sót (Hà Tĩnh) và có Ngô Quyền là hậu duệ đời thứ sáu Sau khi nhà Ngô sụp đổ thì con cháu tản đi khắp nơi, trong đó có họ Ngô ở làng Lý Trai

Nhắc đến người thầy học nổi tiếng của dòng họ Ngô ở làng Lý Trai, ai cũng đều biết đến cụ Ngô Trí Trạch (SN 1509), đời thứ 4 dòng họ Ngô, người có công dạy dỗ nhiều học trò đỗ đạt, làm quan to trong triều; trong đó có con trai và cháu nội là Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hoà cùng thi đỗ tiến sĩ (phụ tử đồng khoa) Nhâm Thìn

1592, trong đó con đỗ cao hơn cha, tạo nên dấu ấn độc đáo trong lịch sử khoa cử Việt Nam

Ngô Trí Trạch là bậc danh sư được xếp ngang hàng với đại thần ở triều đình khi được nhà vua phong là “Đặc tiến kim tử Vinh Lộc đại phu” Sau khi mất, cụ được triều đình luận công và truy phong tước “Thái Bảo Đạo Nguyên Bá” (nghĩa

là nguồn gốc của đạo Nho)

Nối tiếp cha, cụ Ngô Trí Tri thi đỗ Đệ Tam giáp Tiến sĩ xuất thân và đã dạy

dỗ nhiều học trò thi đỗ Tiến sĩ, làm quan to trong cả vùng Đông Yên nhị huyện (Diễn Châu và Yên Thành) Sử sách ghi lại, chính những thầy giáo Nho học của

Trang 18

dòng họ Ngô là người khởi phát truyền thống khoa bảng rạng rỡ của dòng họ, làm rạng danh vùng đất Diễn Châu

Một hiện tượng “vô tiền khoáng hậu” trong hơn 1.000 năm thi cử thời phong kiến Việt Nam (1075 - 1919) Đó là nối tiếp truyền thống khoa cử của cha ông, năm Bính Tuất Phúc Thái thứ 4 (1646), con trai thứ của Ngô Trí Hoà là Ngô Sỹ Vinh đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Ba cha con ông cháu cùng đỗ Tiến sĩ

đã được nhà vua tặng bảng vàng “Tam đại Tiến sĩ”

Thật hiếm có trong một nhà mà cả cha, con và cháu là Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa, Ngô Sỹ Vinh đều đỗ tiến sỹ “Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa/ Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà”, hai câu thơ trên đã trở thành biểu tượng cho sự khổ học thành tài của dòng họ Ngô, được người đời ca ngợi từ đời này sang đời khác Bởi vậy, khi vinh quy, nhà vua đã khen 2 cha con cụ Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa bức trướng “khoa danh vô hạ hữu, phụ tử thế gian vô” nghĩa là khoa danh thì rất nhiều nhưng 2 cha con cùng đỗ một khoa thời đó chỉ có một Khi ra làm quan thì cha con ông rất được nhà vua tín nhiệm Một nhà mà 3 đời liên tục làm quan nhất phẩm cũng rất hiếm

Tiếp nối vinh quang của dòng họ và gia đình, năm 33 tuổi, Ngô Công Trạc - cháu 5 đời của Ngô Trí Tri đỗ Đệ Tam giáp Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1694)

Dòng họ Ngô ở huyện Diễn Châu là dòng họ đầu tiên của cả nước có cả 3 đời đều đỗ tiến sĩ (Tam đại tiến sĩ) và 5 đời liên tiếp trong một gia đình có đến 5 người

đỗ học hàm này Không chỉ xứng đáng là dòng họ tiêu biểu cho truyền thống giáo dục khoa cử Nho học ở Diễn Châu trước thời Nguyễn, dòng họ Ngô còn vinh dự được Tổ chức Kỷ lục Guiness Việt Nam chính thức công nhận, ghi danh Ngày 1/9/2013, dòng họ Ngô ở Diễn Châu được Tổ chức Kỷ lục Guiness Việt Nam ghi vào danh sách Guiness với kỷ lục là dòng họ Ngô đầu tiên của cả nước có cả 3 đời đều đỗ tiến sĩ (ông, cha, cháu), còn gọi là “Tam đại tiến sĩ” (trong đó có 2 cha con trong 1 khoa thi đều đỗ với ngôi vị cao

* Tên tuổi các đại khoa của Diễn Châu làm rạng danh cho vùng đất văn hiến quê nhà

Diễn Châu là mảnh đất đã sản sinh ra nhiều danh nhân, dòng họ khoa bảng, đóng góp trí tuệ, công sức cho xây dựng, bảo vệ và phát triển quê hương, đất nước Theo các sách ghi chép về khoa cử ở nước ta, kể từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, qua 185 khoa thi, cả Nghệ Tĩnh có 280 người thi đỗ tiến sỹ và phó bảng thì Diễn Châu cũng có tới 23 người – một con số rất đáng tự hào

Theo sách Các nhà khoa bảng Việt Nam thì 23 đại khoa của Diễn Châu đó là:

1 Bạch Liêu (1236 – 1315): người xã Diễn Lợi, đỗ Trại Trạng Nguyên khoa

Bính Dần, niên hiệu Thiệu Long thứ 9 (1266) đời Trần Thánh Tông

Trang 19

2 Cao Quýnh (1449-?) Thôn Phú Trung, xã Cao Xá, nay thuộc xã Diễn

Thành, đậu Thám hoa năm 1475

3 Lê Văn Học (1470-?): Người thôn Đông Tháp, xã Lỗi Tuyên, huyện Đông

Thành, nay thuộc xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu Năm 33 tuổi, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh thống 5 (1502) đời

Lê Hiến Tông Làm quan đến chức Thái thường tự khanh, hàm thượng thư

4 Hoàng Nhạc (1478-?): Người xã Hoàng Xá, huyện Đông Thành, nay là

thôn Ngọc Lâm, xã Diễn Cát, huyện Diễn Châu Đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông Làm quan đến chức Giám sát ngự sử, Hữu thị lang Ông từng đi sứ Chiêm Thành

5 Ngô Trí Hòa (1563 - 1625): người xã Lý Trai, nay là xã Diễn Kỷ, Diễn

Châu, đỗ Hoàng giáp năm 1592

6 Ngô Trí Tri (1537 - 1628): Người Lý Trai, huyện Đông Thành, nay là xã

Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu Cha của Ngô Trí Hòa, ông nội Ngô Sĩ Vinh, cao tổ của Ngô Công Trạc và Ngô Hưng Giáo Năm 56 tuổi, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa nhâm Thìn, niên hiệu Quang Hưng 15 (1592) đời Lê Thế Tông Làm quan đến Giám sát ngự sử Ngô tộc gia phả chép ông làm quan đến chức lễ bộ tả thị lang, tước Khánh Diễn bá

7 Ngô Sĩ Vinh (1596 - 1673): người xã Lý Trai, nay là xã Diễn Kỷ, đỗ Tiến sĩ

năm 1646

8 Phạm Chất (1623-?): Người xã An Bài, huyện Đông Thành, nay là xã Diễn

Hùng, huyện Diễn Châu, cha Phạm Viên Đỗ Đệ nhi giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Khánh Đức 4 (1652) đời Lê Thần Tông Làm quan đến chức Binh bộ tả thị lang, tước tử Từng đi sứ nhà Thanh Sau khi mất, được tặng chức Thượng Thư

9 Ngô Công Trạc (1662-?): Người xã Lý Trai, huyện Đông Thành, nay là xã

Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu cháu huyền tôn của Ngô Trí Tri, cháu tằng tôn của Ngô Trí Hòa, cháu nội Ngô Sĩ Vinh, anh Ngô Hưng Giáo Năm 33 tuổi đỗ Hội Nguyên, rồi Đình Nguyên Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa giáp tuất (khoa này lấy

đỗ 5 tiến sĩ), niên hiệu Chính Hòa 15 (1694) đời Lê Hy Tông Làm quan đến chức hiến sát sử

10 Đặng Minh (1674-?): Người xã Hạnh Lâm, huyện Đông Thành, nay là xã

Diễn Quảng, huyện Diễn Châu Năm 30 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi, niên hiệu Chính Hòa 24 (1703) đời Lê Hy Tông Làm quan đến chức Tự Khanh

11 Ngô Hưng Giáo (1666 - 1710): Người xã Đào Hoa, huyện Đông Thành,

nay là xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu Nguyên quán xã Lý Trai (Diễn Kỷ), em Ngô Công Trạc Năm 45 tuổi, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh

Trang 20

Dần, niên hiệu Vĩnh Thụy 6 (1710) đời Lê Dụ Tông Chưa kịp vinh quy, lâm bệnh nặng tại kinh đô rồi mất

12 Trần Danh Dĩnh (1690 - ?): Người xã Hoàng Trường, huyện Đông

Thành, nay là xã Quỳnh Diễn huyện Quỳnh Lưu Năm 35 tuổi, đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), khoa Giáp Thìn, niên hiệu Bảo thái 5 (1724) đời Lê Dụ Tông Làm quan đến chức Hàn lâm viện thị thư

13 Trần Huy Phác (1797 – 1842): Người xã Đông Lũy, nay là xã Diễn

Phong, đỗ tiến sĩ năm 1829

14 Lê Đăng Trạc (thế kỉ XIX): Người xã Hoàng Trường, huyện Yên Thành,

nay là xã Diễn Trường, huyện Diễn Châu Đỗ cử nhân khoa Nhâm Dần (1842) Đỗ Phó bảng khoa Giáp Thìn, niên hiệu Thiệu Trị 4 (1844) Làm quan Tri huyện

15 Phạm Xuân Trạch (1832- ?): người xã Cao Xá, huyện Đông Thành, nay là

xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu, đỗ cử nhân khoa Ất mão (1855) Năm 37 tuổi

đỗ Phó bảng khoa Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức 15 (1862) Làm quan tri huyện Thọ Xương, sung Bang biện Lạng Sơn Bị bệnh, cáo quan về quê điều trị Tái bổ Tri phủ Anh Sơn, bị giáng, sau lại thăng làm Hàn lâm thị giảng

16 Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889): Người xã Lương Điền, nay là xã Diễn

Thái, đỗ Tiến sĩ năm 1871

17 Cao Xuân Tiếu (1866 - ?): Người xã Thịnh Mỹ, huyện Đông Thành, nay

là thôn Thịnh Mỹ, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, con Cao Xuân Dục Đỗ cử nhân Khoa Tân Mão (1891) Năm 30 tuổi đỗ Phó bảng khoa Ất Mùi, niên hiệu Thành Thái 7 (1895) Trước khi thi Hội làm Giáo thụ phủ Diễn Châu, hàm trước tác Cao Xuân Tiếu, hiệu Bạng Sa sau khi đỗ đại khoa, làm quan đến Thượng thư Hiệp biện đại học sĩ, là người biên tập và tổ chức khắc in bộ sách Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục, thân phụ ông biên soạn vào năm Thành Thái thứ 5 (1893)

18 Đặng Văn Thụy (1858 - 1936): Người xã Nho Lâm nay là Diễn Thọ, Diễn

Châu, đỗ Hoàng Giáp năm 1904

19 Hoàng Kiêm (1869 – 1939): xã Diễn Cát, Diễn Châu, đỗ tiến sĩ năm 1904

20 Chu Thiện Sự (1882 - ?): Người xã Long Ân Trung, nay là xã Diễn

Trường, huyện Diễn Châu, đỗ cử nhân khoa Quý Mão (1903) Năm 35 tuổi, đỗ phó bảng khoa Bính Thìn, niên hiệu Khải Định 1 (1916) làm kinh lịch tỉnh Thanh Hóa

21 Đặng Văn Oánh (1886 - 1953): Người Nho Lâm, tổng Cao Xá, nay là xã

Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, con Đặng Văn Thụy, anh Đặng Văn Hướng, đỗ cử nhân khoa Nhâm Tý (1912) Năm 34 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919) Làm giáo thụ phủ Yên Nhân, Hải Dương rồi Thị Lang, Tham tri bộ lễ

Trang 21

22 Trần Nguyên Trinh (1880 - 1954): Người thôn Tây Lũy, xã Đông Tháp,

nay là thôn Tây Khê, xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu Đỗ tú tài nhiều khoa, được đặc cách dự thi Hội Năm 39 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định

4 (1919) Làm thừa phái bộ binh

23 Đặng Văn Hướng (1888 - 1954): Người xã Nho Lâm, nay là xã Diễn Thọ,

huyện Diễn Châu, con Đặng Văn Thụy, em Đặng Văn Oánh, đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ (1906) Năm 32 tuổi, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919) Thời Pháp thuộc làm Giáo thụ Diễn Châu, phủ Tĩnh Gia, sau làm tỉnh trưởng Nghệ An

Sau khi đỗ đạt, các bậc đại khoa ở Diễn Châu đều cống hiến tài năng và công sức cho đất nước, đảm nhiệm nhiều trọng trách của nhà nước phong kiến Đến nay nhiều câu chuyện cảm động kể về trí thông minh, tinh thần quả cảm, lòng yêu nước thiết tha cháy bỏng, khát vọng được phò vua giúp đời của họ vẫn được lưu truyền với sự yêu mến và ngưỡng vọng như Bạch Liêu, Cao Quýnh, Ngô Trí Hòa, Nguyễn Xuân Ôn

Bạch Liêu (1236 – 1315):

Bạch Liêu (1236 – 1315): Người xã Diễn Lợi, đỗ Trại trạng Nguyên khoa

Bính Dần, niên hiệu Thiệu Long thứ 9 (1266) đời Trần Thánh Tông Không ra làm quan, ông chỉ làm mạc khách (khách trong màn) cho Thượng tướng Trần Quang Khải, lúc Quang Khải làm quản hạt Nghệ An Chính ông đã giúp Trần Quang Khải

kế sách lâu dài trong việc chống quân Nguyên Mông, gọi là “Biến pháp tam chương” Về tuyển quan, ông hiến kế: vừa có quân thường trực, vừa có hương quân như tổ chức dân quân của ta; về lương thực, ông hiến kế: phải tăng dần niên liễm và quyên góp các khoản phụ thu cứu quốc để lập các kho lương từ đèo Ngang đến khe Nước Lạnh; về sách lược đối phó với Chăm Pa, ông đề nghị xây dựng củng cố các đồn binh ở biên giới phía Nam và chiêu dân khai khẩn, lập làng những mảnh đất đang còn hoang hóa ở vùng biên viễn này Trần Quang Khải đã thực hiện đầy đủ “biến pháp tam chương ấy” Sau đại thắng quân Nguyên Mông (1288), ông

về sống và làm nghề dạy học ở xã Nghĩa Lư, huyện Thanh Lâm, vùng Hải Đông Học trò ông, nhiều người thành đạt Tuổi già, ông về quê được một thời gian ngắn

rồi mất Dân địa phương tôn ông là phúc thần

Cao Quýnh

Cao Quýnh là danh thần đời Lê Thánh Tông, người thôn Phú Trung, xã Cao

Xá nay là xã Diễn Thành Đi thi Hương đỗ Giải nguyên Thi Hội đỗ Hội nguyên,

Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám Hoa) khoa Ất Mùi năm Hồng Đức thứ 6 (1475) đời Lê Thánh Tông

Lịch triều Hiến Chương loại chí ghi: Cao Quýnh nguyên tên là Cao Lỗ, nhà vua Lê Thánh Tông sửa cho tên thành Cao Quýnh Lên 27 tuổi ông đỗ Thám Hoa làm quan đến Đông Các Đại học sĩ Tư liệu địa phương cho biết ông làm quan

Trang 22

thanh liêm, chính trực Khi làm Tham chính Thanh Hoa, ông đã xử nhiều vụ án rất sáng suốt, giải được nhiều nỗi oan khuất cho nhân dân Ông là một đại thần có công dưới triều Lê Thánh Tông, có tài liệu nói là ông có tham gia dự thảo Bộ luật Hồng Đức, được nhà vua coi là một danh nhân Khi về trí sĩ, ông đã dạy dân trồng cây lấn biển và “màu hóa” mảnh đất Cao Xá vốn là cát bạc Ông giỏi văn học mà cũng giỏi thuật số, đời truyền ông có nhiều phép lạ Khi ông mất được phong Thượng đẳng Phúc thần, được dân lập đền thờ phụng, được Vua Tự Đức sắc phong

là Tuấn Lương Thần

Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa

Hai cha con Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa đậu Đồng Khoa Tiến sĩ đã đi vào lịch sử Khoa bảng của thời đại phong kiến Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói

đỏ vào con đường Khoa cử Việt Nam được người đời ca ngợi

Ông Ngô Trí Tri sinh ngày 23 tháng 3 năm Đinh Dậu (1537) tại thôn Đệ

Nhất, tổng Thái Giá (nay là Diễn Nguyên, Diễn Châu) Theo Đông Yên nhị huyện Khoa phổ thì ông thọ 92 tuổi, tức là mất năm 1628 Nhưng theo tộc phả thì ông mất năm 1600, hưởng thọ 64 tuổi Ông đậu Hương Cống khoa Mậu Ngọ năm Thiên hữu thứ 2 (1558) dưới triều vua Lê Anh Tông Ba mươi tư năm sau, khoa Nhâm Thìn năm Quang Hưng thứ 15 (1592) ông mới đậu Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, tên đứng thứ nhất Lúc này ông đã 56 tuổi Ông làm quan đến Giám sát Ngự sử, Lễ Bộ Tả Thị Lang, lúc mất được nhà vua tặng chức Thái Bảo, tước Khánh Diễn bá

Ông Ngô Trí Hòa (hiệu là Tĩnh Uyên) là con trai thứ hai của ông Ngô Trí Tri

Ông sinh ngày 21 tháng 11 năm Ất Sửu (1565) tại thôn Đông Trai, xã Lý Trai, tổng Lý Trai (nay là xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu) Năm 1582, đỗ Hương cống cùng anh trai là Ngô Trí Trung Khoa Nhâm Thìn năm Quang Hưng thứ 15 (1592)

đỗ Tiến sĩ (Hoàng giáp) cùng với bố là Ngô Trí Tri, lúc đó ông 28 tuổi Buổi đầu làm Án sát xứ Sơn Tây, được Vua Thành Tổ tri ngộ, không bao lâu được triệu vào làm Đo cấp sự Lại khoa, bàn chính sự ở Phủ Châu, thăng Hữu thị lang Bộ Hình, làm ra kỷ lục ở trấn Thanh Hóa Năm Hoằng Định Giáp Thìn (1604) được triệu về thăng Hữu thị lang Bộ Lại, tước Phú Lộc bá Năm Bính Ngọ (1606) làm chánh sứ sang cống nhà Minh Mùa Đông Mậu Thân (1608) vì có công đi sứ được thăng Thượng thư Bộ Hộ, rồi sai kiếm chức tế tửu Quốc tử Giám Năm Canh Tuất (1610) thăng tước Phú Xuân hầu Mùa Đông Mậu Ngọ (1618), ông làm “Khải” (trình lên chúa) sáu việc:

1 Xin sửa đức chính, để cầu mệnh trời giúp

2 Xin đè nén kẻ quyền hào, để nuôi sức dân

3 Xin cấm (phú dịch) phiền hà, để đời sống của dân được đầy đủ

4 Xin bớt xa xỉ, để của dân được thừa thãi

Trang 23

5 Xin dẹp trộm cắp, để dân được ở yên

6 Xin sửa sang quân chính, để bảo vệ tính mạng cho dân

Triết vương khen và nhận lời

Vào năm Quí Hợi (1623) giặc Xuân gây loạn, trộm cướp nổi lên nhiều Lê Thần Tông sau khi về kinh, cho ông làm Đốc thị, cùng với Thống lĩnh Trịnh Cối đi dẹp yên Sơn Tây khi về được thêm chức Thái bảo, phong Hiệp mưu tá Lý dực vận tán trị công thần Năm Ất sửu (1625) ông mất, hưởng thọ 62 tuổi Triều đình tặng tước Xuân quận công

Ngô Trí Hòa là người có học vấn hơn người, chính thuật có thừa trải khắp trong ngoài (đối xử) chỗ nào cũng vừa, công lao tiếng tăm rõ rệt, lại làm bậc danh thần của ba triều, cha con đồng khoa, phúc nhà lâu dài, càng là việc xưa nay ít thấy Như vậy, hai cha con Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa - đậu đồng khoa Tiến Sĩ được các sử gia và các nhà nghiên cứu văn hóa, văn học tôn vinh là người khởi phát một truyền thống văn hóa mạnh mẽ cho dòng họ, quê hương Kể từ cụ Ngô Trí Tri về sau, trong 4 đời đã có 5 người đậu Tiến sĩ, làm quan to, có nhiều công lao đối với đất nước, được vua Lê khen tặng "Nhất môn ngũ đại khoa” và là dòng

họ được nhà Lê xếp vào "dòng họ công thần”, nhân dân ca ngợi là "dòng họ Khoa bảng” Hai cha con ông không chỉ làm rạng danh cho dòng họ Ngô Lý Trai mà còn làm rạng danh mảnh đất xứ Nghệ - mảnh đất "địa linh, nhân kiệt”

Nguyễn Xuân Ôn

Nguyễn Xuân Ôn hiệu Hiến Đình, bút danh Ngọc Đường, sinh ngày 23 - 3 Ất

Dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 (theo Dương lịch là ngày 19-5-1825) ở xóm Cồn Sắt, thôn Văn Hiến, xã Lương Điền, huyện Đông Thành, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) Tổ tiên ông vốn gốc ở xã Trảo Nha, huyện Thiên Lộc (nay là xã Đại Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) dời ra vùng này đã được 7 đời Thân phụ ông là một ông đồ nghèo, phải đăng lính thay em hơn

10 năm Mẹ ông mất sớm Bà nội nuôi mấy anh em khôn lớn trong cảnh nghèo khó Từ nhỏ, Nguyễn Xuân Ôn đã nổi tiếng thông minh, được người đời ca tụng là

“bụng chứa đầy sách” Nho, y, lý, số, và cả binh pháp ông đều am hiểu Năm 22 tuổi (năm 1847), ông đậu Tú tài tại trường thi Hương Nghệ An Hai mươi năm sau cũng tại trường thi này, ông đậu Cử nhân, tiếp đó đến năm 1871, ông đậu Tiến sĩ, đồng khoa với Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến Ngày ông thi đậu đại khoa,

có rất nhiều quan lại, sỹ phu tặng thơ, câu đối chúc mừng Bài văn mừng của quan thân An Tĩnh ký tên 148 vị từ Cử nhân trở lên, trong đó có 2 vị Thám hoa Ngụy Khắc Đản (1817-1878), Đặng Văn Kiều (1824-?) và nhiều vị từng giữ các chức vụ Thượng thư, Tổng đốc như Bùi Thức Kiên (1813-1892), Lê Tuấn (?-1874), Phan Huy Vịnh…

Tiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành có câu đối mừng:

Trang 24

Ngô tổng văn chương hữu tiên trước,

Quân gia giáp đệ thị sơ đầu

(Văn chương ở tổng ta ngài là bậc nhất

Đại khoa trong gia tộc, ngài cũng đứng đầu)

* Diễn Châu có nhiều vị đỗ đầu hai khoa thi

Diễn Châu có 2 vị đỗ Song nguyên (đậu đầu 2 khoa thi): Song nguyên Cao Quýnh, đỗ Giải nguyên (đầu thi Hương) và Hội nguyên (thi Hội) - Khoa Ất Mùi-

Hồng Đức 6 (1475) với học vị Thám hoa (Đệ nhất giáp cập đệ danh) Vua Lê Thái Tông rất quý tài học của ông nên ngự bút đổi tên cho ông từ Lỗ sang Quýnh Ông

làm đến Đông các Đại học Song nguyên Ngô Công Trạc, quê ở Diễn Kỷ, đỗ đầu

khoa thi Hội và thi Đình năm Giáp Tuất - Chính Hòa 15 (1694); làm quan đến Hiến sát sứ

* Diễn Châu có những vị chỉ đậu trung khoa (Cử nhân, hương cống) nhưng làm quan được thăng đến nhất phẩm, là đại thần trong triều

Nguyễn Trung Mậu và Cao Xuân Dục tuy không đậu đạt cao (Tiến sĩ, phó bảng), chỉ đậu trung khoa nhưng nhờ tài năng và phẩm chất đức độ nên làm quan

đến nhất phẩm, là đại thần trong triều

Nguyễn Trung Mậu (1785 - 1846), người làng Văn Tập, nay thuộc xã Diễn

Bình, con của Khám Lý hầu Nguyễn Trung Ý, cháu của Phái Trạch hầu Nguyễn Trung Thứ (Hội thi trúng Tam trường) Ông thi đậu Cử nhân khoa đầu tiên triều Nguyễn - Đinh Mão - Gia Long 6 (1807) Ông được gọi là thần đồng của đất Diễn Châu lúc nhỏ tuổi Khi đầu làm quan Tri huyện Yên Mô sau được thăng các chức: Đốc học Bình Định, Lang trung bộ Hộ, Tả Thị Lang, Hữu Tham tri bộ công, Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hộ, Á khanh, Mậu Đức hầu, Thương thu bộ

Lễ, sung cơ mật viện Đại thần, Thái thường tự ấn….Ông trải chức quan cả 4/6 bộ quan trọng của Triều đình, đứng đầu đến 3 bộ: bộ Công, bộ Hộ, bộ Lễ Sau khi mất, ông được triều đình tôn thờ ở đền Hiền Lương trong triều

Cao Xuân Dục (1842 - 1923), tự là Tử Phát, hiệu Long Cương, sinh năm 1842

ở xã Thịnh Khánh (sau đổi là Thịnh Mỹ), huyện Đông Thành (nay là Diễn Châu), tỉnh Nghệ An, mất năm 1923, thọ 81 tuổi Cao Xuân Dục nổi tiếng thông minh từ khi đi học, được thầy học yêu mến và gả con gái cho Tuy vậy ông cũng lận đận về đường thi cử, nên mãi năm 34 tuổi mới đỗ cử nhân (1876), đỗ đồng khoa với ông Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, ông Nguyễn Đôn Tiết ở Thanh Hóa và ông Phan Văn

Ái ở Hà Nội Năm sau, ông thi Hội lại bị hỏng và bắt đầu nhận chức Hậu bổ ở tỉnh Quảng Ngãi Ông rất được các ông Tuần Phủ, Bố Chánh Quảng Ngãi chú ý, tiến cử nên nhanh chóng được làm Tri huyện ở Bình Sơn, rồi ở Mộ Đức Năm 1881 được điều về Huế, làm việc ở bộ Hình, rồi ở Nha Thương bạc với Nguyễn Văn Tường Năm 1882, ông được tham gia vào phái bộ Trần Đình Túc ra Hà Nội thương thuyết

Trang 25

với quân Pháp đang chiếm Bắc kỳ Tiếp đó lần lượt làm Biện lý Bộ Hình, ra làm

Án sát rồi Bố Chánh tỉnh Hà Nội, làm Hải phòng sứ ở Hải Dương Từ năm 1889, ông phụ trách Tán lý quân vụ dưới quyền Hoàng Cao Khải, thăng lên làm Tuần phủ Hưng Yên Năm 1890, ông giữ chức Tổng đốc ba tỉnh Sơn Hưng Tuyên, rồi được phong Thự Hiệp biện Đại Học sĩ, lãnh Tổng đốc Nam Định, Ninh Bình Năm

1898, ông được điều về Huế làm Tổng tài Quốc sử quán và giao quyền quản Quốc

Tử Giám (1901) Năm 1913, ông xin về hưu với hàm Đông các Đại học sĩ, nghỉ được mười năm thì mất

Về mặt học thuật: Cao Xuân Dục thực xứng đáng là một nhà văn hóa lớn Đứng đầu Bộ Học và Quốc Tử Giám, ông đã chỉ đạo và tham gia biên soạn cùng một số học giả ở hai cơ quan này nhiều bộ sách về sử, địa, triết và văn học rất có giá trị

Về sử địa có các trước tác: Đại Nam thực lục: Đệ ngũ kỷ (1883-1885), Đệ lục

kỉ (1886-1888), Quốc triều sử toát yếu (từ Nguyễn Kim đến 1886), Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam dư địa chỉ ước biên, Quốc triều luạt lệ toát yếu, Quốc triều khoa bảng lục, Quốc triều hương khoa lục…

Về triết học - đạo đức học: ông đã biên soạn bộ sách Nhân thế tục tri (8 tập gồm 900 trang) tựa đề năm 1901, trích trong kinh sử những “lời nói hay, việc làm tốt” nhằm giúp vào việc giáo dục con người biết tu dưỡng, sửa mình và mưu sinh Sách gồm đến 8 môn, cụ thể là Luân thường, Phẩm hạnh, Thuật nghiệp, tế lý, Kiểm thân, Trị gia, Thù tiếp, Phủ ngự Có thể coi đây là một hệ thống qui phạm đạo đức chính thống thời Nguyễn

Về văn học – văn hóa: Cao Xuân Dục đã để lại cho kho tàng văn hiến các tập văn thơ chữ Hán và chữ Nôm như: Long Cương thi thảo (hơn 600 bài), Long Cương liên tập gần 3000 câu đối, Long Cương kinh để thi tập (186 trang)…

Nhà học giả pháp Charles đã viết về Cao Xuân Dục: “ Xuất thân từ một gia tộc cổ xưa, đã từ lâu tôn sùng văn học, từ thuở nhỏ, cụ Cao đã được tiếng thông kinh, là một nho sĩ tinh tế, có những quan niệm độc đáo được diễn đạt bằng một ngòi bút nhuần nhị và óng ả Một con người say mê văn hóa trí tuệ, một thi nhân lỗi lạc, một triết gia được nuôi dưỡng bằng chất nhựa cây mãnh liệt của phương châm Khổng giáo…cái ngọn lửa êm dịu và lung linh của những truyền thống cũ từ ngàn xưa rọi về ấy…chính đó là cái mà cụ Cao muốn giữ lại cho hậu thế khi Cụ viết những pho sách uyên bác kia vốn đã góp phần không nhỏ làm nên thanh danh lớn của Cao Xuân Dục”

3.1.2 Tư liệu tranh ảnh

- Ảnh chân dung cụ Cao Xuân Dục, Ảnh chân dung cụ Phan Bội Châu

- Ảnh Đón nhận kỷ lục Việt nam của dòng họ Ngô Lý Trai ở xã Diễn Kỷ

- Ảnh nhà thờ họ Cao ở xã Diễn Thành

(Xem phần phụ lục)

Trang 26

3.2 Hình thức vận dụng nguồn tư liệu lịch sử về truyền thống giáo dục khoa bảng trong dạy học lịch sử nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh 3.2.1 Yêu cầu chung:

Tài liệu lịch sử về truyền thống giáo dục khoa bảng ở địa phương được sử

dụng theo nhiều hình thức khác nhau ở cả những bài học nội khóa và ngoại khóa

Việc sử dụng tài liệu lịch sử về truyền thống giáo dục khoa bảng ở địa phương phải

được căn cứ vào nội dung kiến thức của bài học, căn cứ vào đặc điểm tâm lý, sinh

lý của học sinh, căn cứ vào điều kiện phương tiện dạy học của nhà trường và gắn với mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục của bài học với mục tiêu kinh tế, xã hội của từng địa phương Dựa vào những tiêu chí đó người giáo viên phải biết lựa chọn tài liệu điển hình và những phương pháp sư phạm phù hợp Khi lựa chọn tài liệu và phương pháp dạy học lịch sử địa phương cần phân biệt những loại tài liệu nào dùng để minh họa bài học lịch sử dân tộc, loại nào để giảng bài lịch sử địa phương, những loại nào cần kết hợp trong bài lịch sử ở thực địa, và loại nào để hướng dẫn các hoạt động ngoại khóa Đây là vấn đề đòi hỏi sự nỗ lực và sức sáng tạo của giáo viên bộ môn lịch sử ở từng địa phương cụ thể

3.2.2 Sử dụng tư liệu lịch sử về truyền thống giáo dục khoa bảng ở địa phương trong bài lịch sử nội khóa

Trước hết việc sử dụng tài liệu lịch sử về truyền thống giáo dục khoa bảng ở

địa phương trong giảng dạy các bài lịch sử dân tộc: Mục tiêu của công việc này là minh họa bài học lịch sử dân tộc bằng những tư liệu sinh động cụ thể ở địa phương Khi sử dụng tư liệu để giảng dạy những loại bài này cần chú ý hai khuynh hướng:

+ Quá tham lam, ôm đồm, sử dụng nhiều tài liệu để địa phương hóa bài lịch

sử dân tộc Như vậy, kiến thức của bài học lịch sử sẽ bị loãng và dàn trải, học sinh khó xác định kiến thức cơ bản của bài học, mục tiêu giáo dưỡng của bài học chưa được đáp ứng

+ Sử dụng tài liệu sơ sài, gò gượng áp đặt, khiên cưỡng làm cho giờ học vừa nặng nề vừa tẻ nhạt, học sinh không cảm thấy hứng thú học tập, chất lượng của bài học sẽ bị hạn chế

Để khắc phục tình trạng đó, giáo viên phải xác định được định tính, định lượng trong mối quan hệ tương quan giữa kiến thức cơ bản của bài học với tài liệu minh họa và thời gian khống chế để thực hiện

Mặt khác không nên sử dụng tư liệu minh họa dưới dạng “ thông báo” kiến thức lịch sử mà nên xây dựng thành những đoạn miêu tả, tường thuật, những mẩu chuyện lịch sử hoặc phương pháp trực quan, kết hợp việc phân tích, giải thích, bình luận, gợi mở vấn đề

Trang 27

Tư liệu lịch sử về truyền thống giáo dục khoa bảng không phải chỉ để giáo viên đọc, dẫn Như vậy sẽ không phát huy được hiệu quả của bài giảng dạy học tích cực Giáo viên phải có cách thức vận dụng và khai thác, phát huy tối đa tư duy

và nhận thức của học sinh Giáo viên giữ vai trò là người hướng dẫn, điều hành Học sinh tham gia chủ động lĩnh hội kiến thức Có những tư liệu, giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu trước, những câu chuyện không còn là cô kể cho trò nghe mà biến nó thành điều ngược lại, trò tìm hiểu và kể cho cô nghe Như vậy học sinh sẽ khắc sâu hơn về kiến thức được lĩnh hội, đồng thời phát huy được tính chủ động

Tuy nhiên cần hiểu rằng, nguồn tài liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng

ở địa phương không chỉ thuần túy cung cấp và minh họa tri thức lịch sử dân tộc,

mà còn phải thực hiện chức năng giáo dục trong một chừng mực nhất định Chừng nào mà học sinh cảm nhận được sự đóng góp của địa phương đối với lịch sử của dân tộc, gắn được kiến thức lịch sử dân tộc với những hiện tượng, sự kiện gần gũi với thực tiễn của địa phương thì chừng đó mới có tác dụng giáo dục lịch sử

3.2.3 Sử dụng tài liệu lịch sử về truyền thống giáo dục khoa bảng ở địa phương trong hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Trong dạy học lịch sử, cũng như các bộ môn khác ở nhà trường phổ thông, ngoài việc tiến hành bài học nội khoá - hình thức dạy học cơ bản, còn có các hoạt động giáo dục ngoài lớp Hoạt động ngoại khoá có tác dụng tích cực đối với việc giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh, góp phần quan trọng cùng với các bài học lên lớp, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ bộ môn Ngoại khóa các vấn đề lịch sử địa phương là một phần quan trọng trong việc dạy và học lịch

sử có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục đạo đức tư tưởng tình cảm cho học sinh

Về mặt giáo dưỡng: Tri thức lịch sử địa phương góp phần làm cho lịch sử dân tộc và thế giới của học sinh trở nên hoàn chỉnh, đa dạng, sinh động, phong phú, làm cho học sinh không chỉ hiểu biết về lịch sử địa phương mà còn hiểu sâu sắc hơn về tiến trình lịch sử dân tộc và thế giới

Về mặt giáo dục: Qua các bài học về ngoại khoá, các vấn đề lịch sử địa phương sẽ góp phần giáo dục các em lòng yêu quê hương, tự hào về truyền thống quê hương đất nước của mình, từ đó nâng cao ý thức trong các em về lòng tự hào dân tộc và ý thức tôn trọng, bảo vệ các di tích lịch sử địa phương, biết ơn các anh hùng liệt sĩ, những người đã ngã xuống vì nền độc lập dân tộc Trên cơ sở đó các

em sẽ yêu mến quê hương và có ý thức xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp

Về mặt rèn luyện và phát triển: Ngoại khoá các vấn đề lịch sử địa phương còn góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho các em, rèn luyện cho các em thói quen học đi đôi với hành, hình thành cho các em các kĩ năng về thực hành bộ môn như: Kĩ năng sưu tầm tư liệu, kĩ năng hệ thống hoá tư liệu lịch sử địa phương…

Trang 28

Hoạt động ngoại khóa còn góp phần phát triển học sinh Nếu bài nội khóa

là hình thức bắt buộc của việc học tập, tuân thủ nghiêm ngặt chương trình đã quy định về thời gian, nội dung…thì hoạt động ngoại khóa lại mở ra một khả năng rộng lớn để hình thành các thói quen, kỹ năng về trí tuệ và thực hành cho học sinh trong học tập lịch sử Các em có thể tự chọn và tham gia một công tác hợp với sở thích và trình độ của mình Tính chất tự nguyện trong việc tham gia hoạt động ngoại khóa đã phát huy năng lực nhận thức độc lập, làm nảy sinh và phát triển hứng thú của học sinh

Có nhiều hình thức ngoại khoá khác nhau, tuỳ thuộc ở mục đích tổ chức, ở quy mô tổ chức, trình độ học sinh và thời gian tiến hành Dưới đây là một số hình thức hoạt động ngoại khoá cơ bản, phổ biến thích hợp với điều kiện trường phổ thông hiện nay

3.2.3.1 Đọc sách:

Đây là hình thức có hiệu quả nhằm cung cấp thêm kiến thức cho học sinh trong giờ nội khóa, song chủ yếu trong hoạt động ngoại khóa Trước tiên giáo viên giúp học sinh lập danh mục sách cần đọc cho mỗi khóa trình trong năm học Trong danh mục nên có phần “tối đa” và phần “tối thiểu”, tức là những loại sách cần đọc và loại sách đọc thêm nếu có thời gian

Việc hướng dẫn của giáo viên đối với học sinh trong chọn sách và phương pháp thích hợp, có hiệu qủa là yêu cầu quan trọng cho việc đọc sách, không tản mạn chệch hướng

Để hiểu rõ truyền thống khoa bảng huyện Diễn Châu, học sinh có thể tìm đọc các cuốn sách như: Các nhà khoa bảng Việt Nam, Diễn Châu kể chuyện 1380

năm, Diễn Châu xưa và nay, Diễn Châu 1380 năm lịch sử văn hóa nhân vật…

Biện pháp thực hiện: Có hai hình thức đọc sách đem lại hiệu quả tốt: Cá nhân tự đọc và đọc chung ở lớp, ở tổ Hai hình thức này đều phải tiến hành đối với mỗi học sinh, tùy theo kế hoạch, điều kiện tổ chức

Đọc sách không phải để giải trí, mà cần biết ghi chép theo mẫu sau đây:

- Tên sách.Tác giả Thời gian đọc

- Nội dung của sách theo từng phần, từng chương, ghi chép những câu thích thú…

- Những vấn đề rút ra sau khi đọc sách

3.2.3.2 Kể chuyện lịch sử:

Đây là hình thức ngoại khóa hấp dẫn, dễ làm và có tác dụng giáo dục cao Nội dung kể chuyện lịch sử là việc phổ biến kiến thức lịch sử một cách khoa học, chứ không phải những chuyện hư cấu Do đó, nội dung câu chuyện kể phải có chủ

Trang 29

đề - một sự kiện, một nhân vật - dựa vào một tài liệu chính xác Có nhiều cách kể chuyện: kể lại nội dung một cuốn sách hay đã đọc, một câu chuyện được ghi chép tài liệu, hay của chính người tham gia, chứng kiến sự kiện thuật lại

Biện pháp thực hiện: Khi kể chuyện, nội dung câu chuyện phải liên quan đến các sự kiện cơ bản trong bài học, chân xác, tránh li kì, không có giá trị khoa học, không phù hợp với yêu cầu học tập Kể chuyện phải làm cho người nghe xúc động như được sống lại sự kiện ấy, như câu chuyện các nhân chứng lịch sử hay việc trình bày của học sinh đã “nhập thân” với sự kiện Kể chuyện khác với thông báo Nội dung bài kể chuyện không chỉ có khối lượng sự kiện, tri thức được cung cấp, mà còn bao gồm cả việc phân tích, nêu lên bản chất sự vật, hiện tượng Nếu logíc của câu chuyện kể được xây dựng trên cơ sở những sự kiện, tri thức chính xác thì nó có ý nghĩa giáo dục rất lớn

3.2.3.3 Nói chuyện lịch sử

Nói chuyện lịch sử có nội dung, yêu cầu cao hơn kể chuyện lịch sử Kể chuyện chủ yếu là việc trình bày các sự kiện cụ thể nâng lên trình độ tư duy khái quát, còn nói chuyên lịch sử chủ yếu là làm cho người nghe nhận thứ một cách khái quát, được minh họa, dẫn chứng bằng các sự kiện cụ thể theo một chủ đề nào đấy Ví dụ, kể chuyện về Cao Xuân Dục, Nguyễn Xuân Ôn, Ngô Trí Hòa … những nhà khoa bảng tiêu biểu của Diễn Châu với nhiều tài liệu - sự kiện cụ thể làm người nghe như được chứng kiến sự kiện này

Biện pháp thực hiện: Thực hiện hoạt động nói chuyện lịch sử phải có chủ

đề rõ ràng, chủ đề phải phù hợp với nội dung chương trình nội khóa, với nhiệm vụ chính trị trước mắt Nói chuyện lịch sử không thể tổ chức thường xuyên và ở bất

cứ nơi nào như kể chuyện lịch sử Nó thường được tổ chức nhân ngày kỉ niệm một sự kiện lịch sử quan trọng, một danh nhân, lãnh tụ cách mạng…, những đợt sinh hoạt chính trị, bồi dưỡng về văn hóa, nghiên cứu lịch sử địa phương Người nói chuyện phải là người am hiểu sâu sắc vấn đề trình bày Do đó, người nói chuyện thường là giáo viên, cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy ở các trường đại học, cán bộ làm công tác tuyên huấn Trong một số trường hợp đặc biệt, giáo viên

có thể bồi dưỡng cho một học sinh giỏi để nói chuyện lịch sử với lớp, hay một học sinh lớp trên nói chuyện với các học sinh lớp dưới

3.2.3.4 Trao đổi, thảo luận

Đây là hình thức ngoại khóa nhằm giúp học sinh bày tỏ ý kiến của mình để củng cố kiến thức đã học, lòng tin sau khi đọc một quyển sách, nghe kể chuyện, nói chuyện lịch sử, hoặc suy nghĩ về một vấn đề nào đấy Có nhiều cách tiến hành trao đổi thảo luận Trước hết, có thể tổ chức trao đổi thảo luận trong phạm vi lớp, những cuộc trao đổi thảo luận không chỉ để ghi nhớ nội dung một vấn đề, mà chủ yếu là khơi dậy những suy nghĩ độc lập của các em Chủ đề nêu ra là những vấn

Trang 30

đề cơ bản có tính chất tổng hợp, khái quát, những vấn đề mà nhiều người quan

tâm, có liên quan đến cuộc sống hiện tại

Trong quá trình trao đổi, giáo viên cần động viên các em đề xuất và giải quyết vấn đề theo suy nghĩ độc lập của mình, đồng thời cũng khiêm tốn học tập

và tôn trọng ý kiến của bạn Giáo viên theo dõi, kịp thời bổ sung những thiếu sót, uốn nắn các lệch lạc, khi kết thúc thảo luận có nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm

Biện pháp thực hiện: Trao đổi, thảo luận được tiến hành trên cơ sở một số chủ đề quan trọng, có tác động đến việc bổ sung kiến thức đã học Ví dụ, trao đổi, thảo luận đặc điểm nổi bật của truyền thống giáo dục khoa bảng huyện Diễn Châu

Tham quan lịch sử có một vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường phổ

thông Những dấu vết của quá khứ, những hiện vật trưng bày trong bảo tàng không chỉ cụ thể hóa kiến thức, mà còn để lại một ấn tượng mạnh mẽ nâng cao hứng thú học tập và rèn luyện khả năng quan sát, phân tích của học sinh

Biện pháp thực hiện: Trong thực tế, có thể tổ chức hai loại tham quan lịch

sử chủ yếu, phù hợp với yêu cầu học tập và điều kiện tổ chức:

Thứ nhất, những cuộc tham quan phục vụ trực tiếp nội dung bài học nội khóa, và có thể là bài giảng trong nhà bảo tàng, hoặc trên thực địa ở địa phương trường đóng Ví dụ tham quan nhà thờ họ Ngô Lý Trai ở xã Diễn Kỷ, nhà thờ họ Cao của cụ Cao Quýnh ở xã Diễn Thành, nhà thờ họ Cao của cụ Cao Xuân Dục ở

xã Diễn Thịnh, nhà thờ cụ Nguyễn Xuân Ôn ở xã Diễn Thái

Thứ hai, những cuộc tham quan có tinh chất một hoạt động ngoại khóa ở nhà bảo tàng, di tích lịch sử xa trường, cuộc hành quân thăm chiến trường xưa,

“theo bước chân người anh hùng chiến sĩ”

3.2.3.7 Những hình thức ngoại khóa khác

Các hình thức tham quan lịch sử trình bày trên là những hình thức chủ yếu, cần thực hiện trong những điều kiện cho phép, vì nó làm cho hoạt động ngoại khóa được phong phú, sinh động Ngoài những hình thức ngoại khóa có tính chất

Trang 31

phổ biến và cần thiết nêu trên, có thể kể thêm một số hoạt động khác Những hoạt động này hoặc là bộ phận của hình thức ngoại khóa nào đấy hoặc chỉ là sự thay

đổi môi trường hoạt động, đói tượng phục vụ

* Trò chơi lịch sử

Đây là một hình thức ngoại khóa gọn nhẹ, dễ tổ chức, mà hấp dẫn học sinh

Đây không chỉ là một việc giải trí, mà đòi hỏi người tham dự phải phát huy năng lực tư duy, trí thông minh để giải quyết các vấn đề đặt ra Nếu trò chơi không đòi hỏi sự nỗ lực, không đòi hỏi sự hoạt đông tích cực của tư duy thì trò chơi đó chưa đạt yêu cầu về mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển mà chỉ là công việc giải trí, không có ích gì cho việc dạy học lịch sử

Biện pháp thực hiện: tiến hành dưới các hình thức vui chơi Hình thức này phải phù hợp với sự sôi nổi của tuổi trẻ và có ý nghĩa giáo dục Phân biệt trò chơi lịch sử với việc thi tìm hiểu lịch sử Trò chơi lịch sử không đòi hỏi học sinh phải hiểu biết sâu rộng, chuẩn bị lâu và kỹ, như trong khi tìm hiểu lịch sử mà dựa vào vốn hiểu biết sẵn có của người tham dự, sự thông minh nhanh trí

* Gặp gỡ các nhân vật lịch sử, các nhân vật điển hình tiên tiến

Đó là những chiến sĩ cách mạng, những người có thành tích trong công tác, sản xuất chiến đấu, những dòng họ nổi tiếng về khoa bảng, những người đạt thành tích cao trong lĩnh vực giáo dục… Hình thức này rất có tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học sinh Bởi vì tiếp xúc trực tiếp với những con người thật -nhân chứng lịch sử - có sức thuyết phục mạnh với học sinh hơn bất cứ các phương tiện dạy học nào khác

Biện pháp thực hiện: Có thể nhân dịp kỉ niệm ngày sinh của các nhà khoa bảng trên địa bàn, giáo viên tổ chức cho học sinh gặp gỡ những trưởng tộc của các dòng họ khoa bảng, những dòng họ có người đỗ đạt cao để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, để các em biết ơn, noi gương trong học tập và lao động

3.3 Vận dụng những tư liệu tiêu biểu, điển hình về truyền thống giáo dục khoa bảng huyện Diễn Châu để thiết kế bài dạy phù hợp nội dung giáo dục và thời lượng bài học

Tập hợp tư liệu mới chỉ là khâu đầu tiên của quá trình soạn giảng, khi đã tập hợp đầy đủ nguồn tư liệu phục vụ cho một tiết dạy giáo viên đã có thể nắm rất rõ, sâu sắc và phong phú nội dung về một vấn đề lịch sử cần cung cấp đến học sinh Song không phải tất cả tư liệu tập hợp đều có thể đem ra sử dụng trong một tiết học, như vậy không những không phát huy được tính tích cực của việc sử dụng tư liệu mà thậm chí còn có tác dụng ngược lại, dễ gây tâm lý nhàm chán và mệt mỏi cho cả người học lẫn người dạy Vì thế việc chọn lọc những tư liệu tiêu biểu, điển hình để sử dụng vào bài học là một bước hết sức quan trọng để đạt hiệu quả bài giảng như mong đợi

Trang 32

3.3.1 Vận dụng tư liệu về truyền thống giáo dục khoa bảng huyện Diễn Châu để dạy học chuyên đề “Văn hóa Việt Nam trong các thế kỉ X – XVIII” (Lịch sử lớp

10 – chương trình cơ bản)

3.3.1.1 Nội dung chuyên đề

* Tư tưởng tôn giáo

Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo vốn được du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc; sang thời kì độc lập, càng có điều kiện phát triển Nho giáo dần dần trở thành hệ tư tưởng chính của giai cấp thống trị và là tư tưởng chi phối nội dung giáo dục, thi cử

Mặc dù vậy, từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV, trong nhân dân ảnh hưởng của Nho giáo còn ít Trong khi đó, Phật giáo lại giữ vị trí quan trọng và phổ biến Từ vua đến quan và dân đều sùng đạo Phật, các nhà sư được triều đình coi trọng Đạo giáo tồn tại song song với Nho giáo và Phật giáo Một số đạo quán được xây dựng

Từ cuối thế kỉ XIV, Phật giáo và Đạo giáo suy giảm Trong khi đó, ở thế kỉ

XV, Nho giáo được nâng lên địa vị độc tôn, trở thành hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến thời Lê sơ Sự phát triển của giáo dục Nho học cũng góp

phần củng cố vị trí của Nho giáo

Từ thế kỉ XVI, Nho giáo từng bước suy thoái, thi cử không còn nghiêm túc như trước Tôn ti trật tự phong kiến cũng không còn được như thời Lê sơ Phật giáo, Đạo giáo có điều kiện phục hồi Nhiều chùa, quán được xây dựng thêm, một

số chùa được trùng tu lại Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, từ thế kỉ XVI, một số giáo sĩ đạo Thiên Chúa phương Tây theo các thuyền buôn nước ngoài vào Đại Việt truyền đạo Thiên Chúa ở cả hai đàng Do nhu cầu của việc truyền đạo, chữ Quốc ngữ theo mẫu tự Latinh cũng ra đời ở thế kỉ XVII Tuy nhiên, bấy giờ chữ Quốc ngữ chưa được phổ cập trong xã hội, phải đến đầu thế kỉ XX, chữ Quốc ngữ mới được sử dụng phổ biến

Các tín ngưỡng truyền thống trong dân gian vẫn được duy trì và phát huy như tục thờ cúng tổ tiên, thờ những người anh hùng có công với nước, với làng Nhà Nguyễn chủ trương độc tôn Nho giáo, hạn chế hoạt động của Thiên Chúa giáo Nhà nước cũng quan tâm đến việc thờ thần trong các đình, đền, miếu ở các làng

* Giáo dục

Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV, giáo dục Đại Việt từng bước được hoàn thiện và phát triển, trở thành nguồn đào tạo quan lại chủ yếu Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu Năm 1075, khoa thi quốc gia đầu tiên được tổ chức ở kinh thành Sang thời Trần, giáo dục, thi cử được quy định chặt chẽ hơn Thời Lê sơ, nhà nước quy định : cứ 3 năm có một kì thi Hội để chọn tiến sĩ Trong dân gian, số người

đi học ngày càng đông và số người đỗ đạt cũng tăng thêm nhiều Riêng thời Lê Thánh

Trang 33

Tông (1460 - 1497) đã tổ chức được 12 khoa thi Hội, có 501 người đỗ tiến sĩ Năm

1484, nhà nước quyết định dựng bia ghi tên tiến sĩ Nhiều trí thức tài giỏi đã góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước

Nhà Mạc tiếp tục phát triển giáo dục, tổ chức đều đặn các kì thi để chọn lựa nhân tài Thời kì nhà Mạc đã tổ chức được 22 kì thi hội lấy được 485 Tiến sĩ Nhà nước Lê - Trịnh được khôi phục, giáo dục Nho học tiếp tục được duy trì Nhiều khoa thi được tổ chức nhưng số người đỗ đạt và đi thi không nhiều như trước ở Đàng Trong, năm 1646 chúa Nguyễn mở khoa thi đầu tiên Việc học hành ở Đàng Trong cũng không câu nệ sách vở khuôn sáo Các chúa Nguyễn coi trọng khả năng thực tế và thi cử không phải là con đường duy nhất để tuyển quan lại

Ở triều đại Tây Sơn, với chính sách chăm lo giáo dục của Quang Trung, chữ Nôm được dùng trong công việc hành chính, thi cử Mặc dù vậy, nội dung giáo dục vẫn là kinh sử Các bộ môn khoa học tự nhiên ít được chú ý

* Văn học

Cùng với sự trưởng thành của nhà nước phong kiến độc lập tự chủ, nền văn học dân tộc cũng dần hình thành, phát triển Ban đầu, văn học mang nặng tư tưởng Phật giáo Từ thời Trần, văn học dân tộc càng phát triển Công cuộc xây dựng đất nước và các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trở thành chủ đề chính của các bài thơ, phú và hịch như "Hịch tướng sĩ", "Bạch Đằng giang phú", "Bình Ngô Đại cáo" Hàng loạt tập thơ chữ Hán ra đời thể hiện lòng yêu nước và tự hào dân tộc Thời Lê đã đánh dấu một bước phát triển mới của nền văn học dân tộc Cùng với văn học chữ Hán, các tập thơ bằng chữ Nôm ra đời như : "Hồng Đức quốc âm thi tập" của Lê Thánh Tông và "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi

Thế kỉ XVI – XVIII, dòng văn học chữ Hán không còn nhiều tác phẩm đặc sắc mà dần trở nên khô khan, khuôn sáo Tuy vậy, văn học chữ Nôm phát triển mạnh hơn trước và chiếm vị trí trọng yếu Các nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Phùng Khắc Khoan đã dùng chữ Nôm để sáng tác Văn học dân gian phát triển rầm rộ, thể hiện ước mơ về một cuộc sống tự do và thanh bình của người dân lao động

* Nghệ thuật

Từ thế kỉ X, nghệ thuật kiến trúc bắt đầu phát triển, các chùa, tháp được xây dựng như chùa Một Cột, chùa Dâu, chùa Phật Tích, tháp Báo Thiên, tháp Phổ Minh, kinh đô Thăng Long được xây dựng từ thời Lý Thành nhà Hồ được xây dựng ở cuối thế kỉ XIV là những công trình nghệ thuật tiêu biểu và đặc sắc của Việt Nam Ngoài ra, các đền tháp Chăm cũng được xây dựng Nghệ thuật điêu

Trang 34

khắc cũng có những nét đặc sắc như: rồng mình trơn cuộn trong lá đề, bệ chân cột hình hoa sen nở, các bức phù điêu có các cô tiên, vũ nữ vừa múa, vừa đánh đàn Nghệ thuật sân khấu như tuồng, chèo ngày càng phát triển Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật đặc sắc, phát triển từ thời Lý

Trong các thế kỉ XVI - XVIII, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc tiếp tục phát triển, thể hiện ở các chùa mới được xây dựng như chùa Thiên Mụ (Huế), tượng Phật ở các chùa Đặc sắc nhất vẫn là các ngôi đình như Đình Thạch Lỗi, Đình Bảng Lối kiến trúc Vô-băng của Pháp cũng bắt đầu được du nhập ở Nam Bộ Thế kỉ XIX, kinh đô Huế được xây dựng và hoàn thiện với hệ thống cung điện, lăng tẩm thể hiện trình độ phát triển cao của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc

Âm nhạc dân tộc phát triển với các nhạc cụ như trống cơm, sáo, tiêu, đàn cầm, đàn tranh Sử sách cũ còn ca ngợi nhiều về bản Bình Ngô phá trân nhạc

* Khoa học – kỹ thuật

Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, nhiều công trình khoa học ra đời, như: "Đại Việt

sử kí" của Lê Văn Hưu (thời Trần), "Lam Sơn thực lục", "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi, "Hồng Đức bản đồ" thời Lê Thánh Tông Thế kỉ XV, một số công trình nghiên cứu được biên soạn như "Đại thành toán pháp" của Lương Thế Vinh, "Lập thành toán pháp" của Vũ Hữu

Về quân sự có "Binh thư yếu lược" và "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Đầu thế kỉ XV, Hồ Nguyên Trừng đã cho chế tạo súng thần cơ và thuyền chiến

Từ thế kỉ XVI đến XVIII, nhiều công trình khoa học trên các lĩnh vực sử học, địa lí, y học, triết học ra đời Một số kĩ thuật phương Tây đã được du nhập và bước đầu phát triển như kĩ thuật đúc súng thần cơ, đóng thuyền máy, xây thành lũy được hình thành và phát triển, nghề làm đồng hồ ra đời chứng tỏ sự khéo léo và khả năng sáng tạo kĩ thuật của người Việt

3.3.1.2 Tổ chức dạy học theo chuyên đề

* Môc tiªu:

+ Kiến thức:

- Biết được những nét lớn về tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta qua các giai đoạn lịch sử

- Hiểu được sự thay đổi về vai trò của Phật giáo và Nho giáo trong đời sống

xã hội phong kiến Việt Nam

- Biết những nét chính về tình hình giáo dục - khoa cử ở nước ta thời phong kiến; những đóng góp và hạn chế của giáo dục Nho học ở nước ta

Trang 35

- Thấy được những đặc điểm lớn về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, các loại hình sân khấu dân gian và lễ hội dân gian qua các giai đoạn lịch sử

+ Kĩ năng:

- Rèn luyện kĩ năng phân tích, lí giải những hiện tượng văn hóa

- Rèn kĩ năng quan sát, so sánh, phân tích các tư liệu, tranh ảnh…

- Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn

đề, năng lực hợp tác, năng lực xây dựng ngôn ngữ…

- Năng lực chuyên biệt: Năng lực tái hiện các sự kiện lịch sử, mô tả các

thành tựu văn hóa, năng lực thực hành bộ môn, năng lực khai thác và sử dụng kênh hình trong học tập lịch sử, năng lực so sánh, phân tích, vận dụng và liên hệ với thực tiễn

* Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

+ Chuẩn bị của giáo viên:

- Tranh ảnh về các thành tựu văn hóa

- Các tư liệu tham khảo khác

+ Chuẩn bị của học sinh:

- Sưu tầm các tranh ảnh về văn hóa liên quan đến bài học

- Sưu tầm, tìm hiểu về các nhà khoa bảng

* Thiết kế tiến trình dạy học

Hoạt động khởi động 1: Tạo tình huống

Việt Nam có nền văn hóa phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc

Có được thành tựu như vậy, cha ông ta đã không ngừng sáng tạo, xây dựng và phát triển trong suốt thời kì dựng nước và giữ nước, nhất là trong các thế kỉ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII Đó là những thành tựu cụ thể nào, những thành tựu đó có ý nghĩa gì đối với đời sống tinh thần của người Việt và có đóng góp gì vào tinh hoa văn hóa nhân loại, chuyên đề này sẽ

giúp chúng ta giải quyết những vấn đề trên

Trang 36

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới

Hoạt động 2.1: TÌM HIỂU TÌNH HÌNH TƯ TƯỞNG, TÔN GIÁO

Thiên chúa giáo

- Học sinh nghiên cứu tài liệu, suy nghĩ, thảo luận nhóm và hoàn thiện phiếu học tập

- Đại diện 1 nhóm báo cáo, các nhóm khác trao đổi, bổ sung, nhận xét kết quả của từng nhóm

- Giáo viên tiếp tục yêu cầu học sinh tìm hiểu thêm về một số vấn đề sau:

+ Giải thích nguyên nhân Phật giáo phát triển mạnh ở các thế kỉ X-XIV + Giải thích vì sao từ thời Lê sơ Nho giáo đã giữ vị trí độc tôn

+ Giải thích vì sao Kitô giáo bị chính quyền phong kiến hạn chế truyền bá

và mở rộng ảnh hưởng ở nước ta

+ Giải thích vì sao từ thế kỉ XVI, đạo Phật phục hưng trong nhân dân và sự

nở rộ các tín ngưỡng dân gian

+ Phân tích tại sao năm 1070, nhà Lí cho xây dựng Văn Miếu?

+ Phân tích ý nghĩa của Chùa làng, Đình làng trong đời sống tinh thần người Việt

+ Phân tích ý nghĩa độc đáo của tượng Phật quan âm nghìn tay nghìn mắt ở Việt Nam

- Học sinh các nhóm tiếp tục thảo luận, trao đổi, trình bày kết quả của nhóm Các nhóm khác bổ sung, hoàn thiện

- GV quan sát các nhóm làm việc, góp ý bổ sung, hướng dẫn học sinh chốt các ý chính sau:

Trang 37

Tụn giỏo Thế kỉ X - XV Thế kỉ XVI – XVIII

Phật giỏo

- Thế kỉ X – XIV: phỏt triển mạnh

- Nho giáo đ-ợc nâng lên địa vị độc tôn, trở thành hệ t- t-ởng chính thống của nhà n-ớc phong kiến thời Lê sơ

- Nho giỏo từng bước suy thoỏi, tụn ti trật tự phong kiến khụng cũn được tụn trọng như trước

Thiờn chỳa giỏo

- Bắt đầu được truyền bỏ, nhưng bị chớnh quyền phong kiến cấm đoỏn

Hoạt động 2 2: TèM HIỂU TèNH HèNH GIÁO DỤC

(Hỡnh thức hoạt động: cỏ nhõn/nhúm/cả lớp)

Hoạt động 2.2.1: Tỡm hiểu tỡnh hỡnh giỏo dục Việt Nam thời phong kiến

- Giỏo viờn đặt vấn đề: Sự phỏt triển của giỏo dục bị chi phối bởi ý thức hệ

tư tưởng phong kiến Bản thõn giỏo dục cũng gúp phần đề cao, mở rộng ảnh hưởng của Nho giỏo

- Giỏo viờn đặt cõu hỏi, yờu cầu cỏ nhõn tớch cực nghiờn cứu, trả lời: Tỡm hiểu tỡnh hỡnh giỏo dục qua cỏc thời kỡ?

- Học sinh tự tỡm hiểu, giỏo viờn gọi học sinh trả lời, nhận xột bổ sung

- Giỏo viờn chia lớp thành 6 nhúm, đưa ra một số vấn đề để học sinh tỡm hiểu sõu hơn Cụ thể:

Trang 38

+ Giải thích thái độ của chính quyền phong kiến đối với hoạt động giáo dục qua các thời kì?

+ Giải thích tác động của giáo dục đối với Việt Nam thời phong kiến

+ Ý nghĩa, tác dụng của việc khắc bia ghi tên tiến sĩ đối với đương thời và các thế hệ mai sau?

+ Giải thích câu nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

+ Tại khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám hiện nay có thờ những vị vua nào? Vì sao?

+ Đánh giá những hạn chế của giáo dục Nho học ở Việt Nam thời phong kiến

- Học sinh tìm hiểu theo nhóm, trao đổi, thảo luận để giải quyết vấn đề Sau đó cử đại diện nhóm phát biểu, các nhóm bổ sung, hoàn thiện

- Giáo viên hướng dẫn học sinh chốt ý

Nhóm 1: Những chính sách để xây dựng và phát triển giáo dục của các triều đại qua các thời kì :

- Nhu cầu xây dựng nhà nước và nâng cao dân trí đã thúc đẩy các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỉ X – XV, quan tâm nhiều đến giáo dục

- Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu ở kinh đô Thăng Long; năm 1075, tổ chức khoa thi đầu tiên Triều đại Trần, Lê sơ, các khoa thi được tổ chức đều đặn

Từ chỗ con em quan lại mới được đi thi, đến thời Lê sơ, đối tượng dự thi mở rộng đến tất cả mọi người dân có học

- Năm 1427, nhà Trần đặt lệ lấy “ Tam khôi” Nhờ vậy nhiều trí thức tài giỏi của đất nước được đào tạo

- Thời Vua Lê Thánh Tông, những người đỗ tiến sĩ được khắc tên vào bia

đá dựng ở Văn Miếu và được “ Vinh quy bái tổ”

- Nhà Mạc được thành lập, tiếp tục phát triển giáo dục, tổ chức đều đặn các

kì thi Hương, thi Hội để tuyển chọn nhân tài

- Khi đất nước bị chia cắt, ở Đàng Ngoài, nhà nước Lê - Trịnh cũng cố gắng tiếp tục mở rộng giáo dục Nho học theo chế độ thời Lê sơ Nhiều khoa thi được tổ chức nhưng số người đi thi và số người đỗ đạt không nhiều ở Đàng Trong, mãi đến năm 1646, chúa Nguyễn mới mở khoa thi đầu tiên Nội dung giáo dục Nho học

sơ lược

Trang 39

- Khi vua Quang Trung lên ngôi đã lo chấn chỉnh lại giáo dục, cho dịch các sách kinh từ chữ Hán sang chữ Nôm để học sinh học, đưa văn thơ Nôm vào nội dung thi cử

- Tuy nhiên, nội dung giáo dục chủ yếu vẫn là kinh sử Các bộ môn khoa học tự nhiên không được chú ý, không được đưa vào khoa cử

Nhóm 2: Tác động :

- Tạo nên đội ngũ trí thức tài giỏi, thông qua giáo dục tuyển chọn người tài

ra làm quan

- Góp phần quan trọng vào việc xây dựng và bảo vệ đất nước

Nhóm 3: Ý nghĩa, tác dụng của việc khắc bia ghi tên tiến sĩ đối với đương thời và các thế hệ mai sau?

- Khuyến khích nhân tài "khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ,

rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua"

- Noi gương hiền tài, ngăn ngừa điều ác, "kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng"

- Làm cho đất nước hưng thịnh, bền vững dài lâu "dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước"

- Đề cao những người tài giỏi và tôn vinh nghề dạy học

Nhóm 4: Giải thích câu nói“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

- Hiền tài là những người học rộng, tài cao, thông minh, sáng suốt Đối với mỗi quốc gia, có thể coi đó là hạt nhân, là khí chất ban đầu làm nên sự sống và phát triển

- Người hiền tài có quan hệ lớn đến sự thịnh suy của mỗi quốc gia Ở Trung Hoa ngày trước, vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc rồi thời Tam Quốc, các nước mạnh yếu khác nhau đều là nhờ vào việc trọng dụng nhân tài Ở nước ta cả ngày trước và ngày nay cũng vậy, thời nào người hiền tài được trọng dụng, triều đại nào, chế độ nào được người hiền tài giúp sức thì phát triển ngày càng mạnh Ngược lại, nếu đất nước thiếu đi những bậc hiền tài thì tất sẽ suy vong

- Người hiền tài quan trọng đối với đất nước như vậy, thế nên, nhà nước ta từng hết sức quý chuộng hiền tài, làm mọi việc để khuyến khích, phát triển nhân tài: đề cao danh tiếng, cho chức tước, cấp bậc, ghi tên ở bàng vàng, ban yến tiệc, Những việc đã làm thậm chí còn chưa xứng đáng với vai trò, vị trí của hiền tài, vì vậy cần phải khắc bia tiến sĩ để lưu danh sử sách Những việc làm trên đây của nhà

Trang 40

nước chính là những minh chứng hùng hồn nhất khẳng định vai trò của người hiền tài đối với mỗi quốc gia

Nhóm 5: Các vị vua được thờ tại Văn miếu

- Lý Thánh Tông:

 Có công khai sáng nền giáo dục nho học

 Là người đưa ra quyết định xây dựng Văn Miếu (1070)

- Lý Nhân Tông:

 Là người mở mang nền giáo dục nho học

 Xây dựng Quốc Tử Giám (1076)

- Nội dung chủ yếu vẫn là kinh sử

- Các môn khoa học kĩ thuật ít được chú ý

Hoạt động 2.2.2: Tìm hiểu tình hình giáo dục Diễn Châu thời phong kiến

Giáo viên chia lớp thành 5 nhóm, đưa ra một số vấn đề để học sinh tìm hiểu sâu hơn Cụ thể:

+ Trình bày thành tựu cơ bản của giáo dục huyện Diễn Châu thời phong kiến

+ Những hiểu biết của em về Bạch Liêu

+ Những hiểu biết của em về Cao Quýnh

+ Những hiểu biết của em về Ngô Trí Hòa

+ Những hiểu biết của em về Nguyễn Xuân Ôn

- Học sinh tìm hiểu theo nhóm, trao đổi, thảo luận để giải quyết vấn đề Sau đó cử đại diện nhóm phát biểu, các nhóm bổ sung, hoàn thiện

- Giáo viên hướng dẫn học sinh chốt ý

Ngày đăng: 30/05/2020, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w