1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tìm hiều di tích đình làng Kim Tiên(xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, Hà Nội

110 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 7,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây đa, giếng nước, sân đình được xem như là một chốn thân quen của mỗi người,mỗi nhà trong tiềm thức cũng như trong đời sống hôm nay: “Hôm qua tát nước đầu đình Để quên chiếc áo trên cà

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÀNG KIM TIÊN VÀ ĐÌNH LÀNG KIM TIÊN 5

1.1.Vài nét tổng quan về làng Kim Tiên 5

1.1.1.Vị trí địa lý- đặc điểm tự nhiên 5

1.1.2.Dân cư và đời sống kinh tế của dân cư 6

1.1.3.Văn hóa truyền thống làng Kim Tiên 9

1.2 Niên đại khởi dựng và quá trình tồn tại của di tích đình làng Kim Tiên 21

1.2.1 Lịch sử nhân vật được thờ tại đình làng Kim Tiên 21

1.2.2 Niên đại khởi dựng của đình làng Kim Tiên 21

1.2.3 Đình làng Kim Tiên trong hệ thống các di tích thờ thần Bạch Hạc Tam Giang 23

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG KIM TIÊN 30

2.1 Giá trị kiến trúc, nghệ thuật đình làng Kim Tiên 30

2.1.1 Không gian cảnh quan 31

2.1.2.Bố cục mặt bằng tổng thể 35

2.1.3 Kết cấu các đơn nguyên kiến trúc đình làng Kim Tiên 37

2.1.4 Trang trí kiến trúc đình làng Kim Tiên 41

2.2 Hệ thống di vật ở đình 51

2.2.1 Di vật bằng đá 51

Trang 2

2.2.2 Di vật bằng chất liệu giấy 54

2.2.3 Di vật bằng chất liệu gỗ 54

2.2.4 Di vật bằng chất liệu gốm sứ 61

2.2.5 Di vật bằng chất liệu vải 61

2.2.6 Di vật bằng đồng 62

2.3 Lễ hội đình làng Kim Tiên 62

2.3.1.Lịch lễ hội 63

2.3.2 Chuẩn bị cho lễ hội 63

2.3.3.Diễn trình lễ hội 64

2.3.4.Các trò chơi, trò diễn trong lễ hội đình làng Kim Tiên 70

CHƯƠNG 3 BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐÌNH LÀNG KIM TIÊN 72

3.1.Bảo tồn giá trị di tích đình làng Kim Tiên 72

3.2.Hiện trạng về di tích, di vật và lễ hội đình làng Kim Tiên 74

3.2.1 Hiện trạng di tích 74

3.2.2.Hiện trạng các di vật tại đình làng Kim Tiên 77

3.3.Giải pháp bảo tồn cho di tích 78

3.3.1.Giải pháp bảo quản đối với di tích đình làng Kim Tiên 78

3.3.2.Giải pháp tu bổ di tích đình làng Kim Tiên 82

3.3.3.Tôn tạo di tích đình làng Kim Tiên 83

3.4.Hiện trạng lễ hội đình làng Kim Tiên và biện pháp bảo tồn lễ hội 84

3.5 Phát huy giá trị di tích đình làng Kim Tiên 85

Trang 3

KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài

Di tích lịch sử có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục cho mọi người dân,nhất là thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước của dân tộc ta.Trải qua nhiều biến

cố, do tác động của con người, môi trường khiến những giá trị bị suy giảm và

có nguy cơ biến mất Các ngôi đình cũng là một bộ phận quan trọng của ditích lịch sử văn hóa.Mỗi làng cổ bao giờ cũng có một ngôi đình Đình thờthành hoàng làng, người có công lập ấp mở mang nghề nghiệp chăm lo cho

dân, hoặc có công đánh giặc giữ nước.

Đã từ lâu, ngôi đình đã đi vào tâm khảm của cộng đồng người Việt Cây

đa, giếng nước, sân đình được xem như là một chốn thân quen của mỗi người,mỗi nhà trong tiềm thức cũng như trong đời sống hôm nay:

“Hôm qua tát nước đầu đình

Để quên chiếc áo trên cành hoa sen…”

Không chỉ đi vào ca dao, tục ngữ, thơ ca, ngôi đình còn được xem như làmột chứng nhân của thời gian, chứng kiến bao sự đổi thay của đời sống Bướcchân vào những ngôi đình làng đang hiện hữu, trong lòng chúng ta cảm xúcvừa xa xưa - truyền thống, vừa ấm áp – vừa gần gũi thân quen Cả đình vàchùa đều là những nơi linh thiêng, thể hiện tín ngưỡng của người Việt Tuynhiên, đình và chùa hòan toàn khác biệt nhau về ý thức hệ Nếu như chùa lànơi thờ tự tín ngưỡng tôn giáo từ bi bác ái của đạo Phật; thì Đình là nét riêngcủa cộng đồng làng xã Việt Nam mang tín ngưỡng dân gian Đình là biểu hiệnsinh hoạt cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân làng

Về tín ngưỡng, nơi để thờ Thành Hoàng làng, các anh hùng dân tộc, người cócông lập làng, xã, có công dựng nước, giữ nước hoặc giúp dân nghề nghiệpsinh sống Đình làng Kim Tiên thuộc xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh ngoạithành Hà Nội Đình Kim Tiên thờ thần Bạch Hạc Tam Giang, là một nhân vậtđược thờ làm thành hoàng của nhiều làng quê Đình làng Kim Tiên thực sự làmột ngôi đình cổ mang trong mình nhiều giá trị quý báu cả về vật chất lẫn

Trang 5

tinh thần Đình làng Kim Tiên nói riêng và các di tích lịch sử văn hóa nóichung đã và đang đóng góp phần nhỏ bé vào sự hoàn thiện con người, đưacon người tới một cuộc sống tốt đẹp hơn và hướng người ta trở về với cộinguồn, ngược dòng lịch sử, trở về quá khứ, không lãng quên quá khứ mà tráilại biết trân trọng những thành quả vật chất và tinh thần của quá khứ Từ đó

kế thừa, khai thác phục vụ những mục đích hiện tại của con người

Một trong những vấn đề cấp bách trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá

ở nước ta là công tác bảo tồn, trùng tu và khai thác những giá trị văn hoá còn

ẩn chứa bên trong các di tích lịch sử - văn hoá Chúng ta luôn phải có ý thứcbảo vệ, nghiên cứu những viên ngọc quí giá của cha ông để lại Gìn giữ chohiện tại và tương lai, kế thừa những tinh hoa, những truyền thống tốt đẹp của

tổ tiên, phù hợp với đường lối của Đảng và nhà nước là xây dựng một nền vănhoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này, là sinh viênnăm thứ tư chuyên ngành Bảo tồn - Bảo tàng với niềm say mê nghề nghiệp,cùng kiến thức đã tập hợp được sau bốn năm học và quá trình thức tập thực tếtại một số cơ sở ở Hà Nội, tôi cũng muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào sựnghiệp bảo tồn vốn di sản văn hóa quý báu của dân tộc Với sự khuyến khíchchỉ bảo của khoa Di Sản Văn Hóa và cô giáo Trịnh Thị Minh Đức, tôi đãmạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiều di tích đình làng Kim Tiên(xã Xuân Nộn,huyện Đông Anh, Hà Nội)” làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu giá trị văn hóa, nghệ thuật của di tích đình làng Kim Tiênthuộc xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, tỉnh Hà Nội, trên cơ sở khảo sát thựctrạng và tình trạng kỹ thuật của đình làng Kim Tiên hiện nay Bước đầu đưa

ra các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích đình làng Kim Tiêntrong đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân

Bên cạnh đó, bài khóa luận cũng mong muốn góp một phần nhỏ nhằmcung cấp thêm thông tin, tư liệu phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, nâng

Trang 6

cao kiến thức chuyên ngành về di tích lịch sử - văn hoá nói chung và di tíchđình Kim Tiên nói riêng.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu vài nét tổng quan về làng Kim Tiên- Không gian văn hóanơi di tích tồn tại

- Căn cứ vào các tài liệu biên chép và các nguồn tư liệu tại di tích xácđịnh niên đại xây dựng đình và những lần trùng tu, sửa chữa

- Giới thiệu về Thành hoàng làng của đình làng Kim Tiên

- Nghiên cứu giá trị kiến trúc, di vật, lễ hội tại đình làng Kim Tiên

- Khảo sát thực trạng, tình trạng kỹ thuật của di tích để đưa ra giải phápbảo tồn và phát huy giá trị di tích đình làng Kim Tiên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là di tích và toàn bộ di vật cũng như môi trường

cảnh quan xung quanh di tích đình làng Kim Tiên xã Xuân Nộn, Huyện ĐôngAnh, Hà Nội

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: nghiên cứu khái quát toàn cảnh di tích Đình làng Kim Tiên trong không gian, thời gian, lịch sử, văn hóa, xã hội của

xã Xuân Nộn

- Phạm vi không gian: xã Xuân Nộn - Huyện Đông Anh - Hà Nội

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu di tích đình làng Kim Tiên gắn liền vớiquá trình hình thành, tồn tại của di tích từ khi khởi dựng đến nay

4.Phương pháp nghiên cứu

- Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu liên nghành: Bảo tàng

học, dân tộc học, mỹ thuật học, lịch sử, xã hội học

- Phương pháp khảo sát điền dã tại di tích và sử dụng các kỹ năng: Quansát, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh, phỏng vấn, trao đổi, thống kê

- Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh để tìm ra nhữngnét chung và riêng trong các di tích cùng thờ thần Bạch Hạc Tam Giang khác

Trang 7

5 Bố cục khóa luận

Chương 1: Làng Kim Tiên và Đình Làng Kim Tiên.

Chương 2: Gía trị kiến trúc,nghệ thuật và lễ hội đình làng Kim Tiên Chương 3: Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích đình làng Kim Tiên.

Trang 8

Chương 1 LÀNG KIM TIÊN VÀ ĐÌNH LÀNG KIM TIÊN

1.1.Vài nét tổng quan về làng Kim Tiên

1.1.1.Vị trí địa lý- đặc điểm tự nhiên

Xã Xuân Nộn là một xã thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội.Xuân Nộn códiện tích tự nhiên là 212,6 ha, dân số xã là 4.065 người

Huyện Đông Anh vốn là huyện Đông Khê thuộc phủ Từ Sơn củatỉnh Bắc Ninh, được nhập phần lớn vào tỉnh Phù Lỗ (được thành lập ngày6/10/1901)

Ngày 10/4/1903, huyện Đông Khê đổi tên thành huyện Đông Anh

Đến năm 1904, tỉnh Phù Lỗ đổi tên thành tỉnh Phúc Yên thì huyện ĐôngAnh thuộc tỉnh Phúc Yên Thời kỳ 1913-1923 thuộc tỉnh Vĩnh Yên Thời kỳ1923-1950 thuộc tỉnh Phúc Yên Thời kỳ 1950-1961 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.Ngày 20/4/1961: huyện Đông Anh (gồm 16 xã) sáp nhập vào Hà Nội.Ngày 31/5/1961 thành lập huyện Đông Anh mới gồm 23 xã

Ngày 13/10/1982 thành lập thị trấn Đông Anh Thị trấn có diện tích797,2 ha, gồm đất của 4 xã Tiên Dương, Uy Nỗ, Nguyên Khê, Xuân Nộn.Làng Kim Tiên thuộc xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, Hà Nội Làng KimTiên thuở xa xưa còn gọi là làng( tươn), là làng vốn có nhiều đầm lầy, rừngrậm, cây cối um tùm xum xuê Theo như lời kể của các cụ cao niên trong làngthì vùng đất này của làng là nơi tiếp giáp với Huyện Sóc sơn ngày nay còn có

cả các loại thú dữ ăn thịt như hổ, báo… Còn theo như truyền thuyết dẫn tíchrằng làng có từ đời Trần Khi nhà Lý suy đồi- nhà Trần mưu đồ chấp chínhtranh giành quyền lực bè nọ phái kia Người trung thần bị truy bức, khiến họphải từ quan bỏ triều, tìm nơi lui về ẩn dật Trong số đó có người đã về đây cưtrú, khai phá rừng hoang để sinh sống, dần dần con cháu sung túc, lập thànhtrang rồi phát triển thành làng Làng đã được lập trên một khu đất cao, ba bề là

Trang 9

nước, có rừng, có đàm giống như một bán đảo Cảnh quan ở đây rất đẹp , kỳ ảophức tạp giống như cảnh tiên nên làng được gọi là làng Kim Tiên Kim Tiên ởnơi xa đồng lụt mỗi khi mùa mưa nước song dâng lên ngập trắng cánh đồnglúa màu úng thối, công làm mà chẳng có cơm ăn Đến đời hậu Lê, nhờ có ôngquan Thị lang người làng Đào Xá tâu với vua Lê cho đắp đê ba bề làng, con đêtuy nhỏ nhoi nhưng cũng hạn chế được một phần lụt lội, sau đó đê không được

tu sửa dẫn đến sói mòn, sụt lở từng đoạn dài

Về địa giới hành chính di tích đình làng Kim Tiên thuộc thôn KimTiên

xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội Xuân Nộn là một trong

23 xã thuộc huyện Đông Anh có phía bắc giáp 3 xã Phù Lỗ, Đồng Xuân vàKim Lũ của huyện Sóc Sơn; phía Nam giáp 2 xã Uy Nỗ và Việt Hùng; phíaĐông giáp xã Thụy Lâm; phía Tây giáp xã Nguyên Khê và thị trấn ĐôngAnh Xã gồm các thôn Đường Yên và Lương Quy tổng Cổ Loa và xã NhạnTái, Xuân Nộn tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên trước năm

1945 Sau này lập làm xã mới gọi tên Tự Do thuộc huyện Đông Anh tỉnhPhúc Yên( từ năm 1950 là Vĩnh Phúc), năm 1961 đổi gọi là xã Xuân Nộn Tháng 10 năm 1982 tách phần đất phía Tây Nam xã, nơi đóng các cơquan Nhà nước để thành lập thị trấn Đông Anh

1.1.2.Dân cư và đời sống kinh tế của dân cư

 Dân cư

Theo như lời kể của các cụ cao niên trong làng thì làng Kim Tiên xưa kia

là một làng nhỏ nằm ở phía Bắc của con sông Cà Lồ, giáp với huyện Sóc Sơn.Làng Kim Tiên xưa kia là nơi rậm rạp, rừng rú nhiều, cây cối um tùm xumxuê, có rất nhiều thú dữ ăn thịt như: hổ, báo Tổ tiên là các dòng họ lớn nhưNguyễn, Trần, Đặng, Phạm từ những người ở nơi xa tới đây cư trú, khai phárừng hoang để sinh sống Dần dần con cháu sung túc, cuộc sống phát triểnhơn, lập làng, lập xóm Thấy cảnh quan nơi đây rất đẹp giống như một bán

Trang 10

đảo, vì làng ở trên một khu đất cao, ba bề là nước Địa thế như vậy đã khiếnnhững người sinh cơ lập nghiệp ở đây đặt cho làng cái tên Kim Tiên.

Làng Kim Tiên hiện nay có 358 hộ, hơn 1700 khẩu và có 5 dòng họsống đan xen trông hai xóm: xóm dưới và xóm trên Làng Kim Tiên có mộtnguồn nhân lực trẻ, dồi dào, có thể khai thác tốt để phát triển kinh tế nôngnghiệp Bên cạnh đó, làng Kim Tiên còn có một nguồn gốc lâu đời và truyềnthống hào hùng trong đấu tranh chống lại thực dân xâm lược

Làng Kim Tiên có 5 dòng họ thì có hai dòng họ nhiều chi, cành và đôngnhất là họ Nguyễn và họ Phạm Từ Hai dòng họ này đã có nhiều cống hiến vàđóng góp cho sự phát triển của làng về nhiều mặt khác nhau Trải qua bao đờinay, thì đời sống của nhân dân làng Kim Tiên cũng đã khác trước, các dòng

họ chung sống hòa thuận gắn bó, đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻngọt bùi, cùng chung sức xây dựng quê hương Kim Tiên ngày một tươi sáng

Đời sống kinh tế của dân cư

Nông nghiệp

Với tổng diện tích đất tự nhiên là 537 ha, số dân là 12.100 người Vớidiện tích đất tự nhiên như trên nhân dân xã Xuân Nộn sử dụng để trồng lúanước, một phần phục vụ cho nghề trồng hoa nhài, và trồng thêm một số hoa

màu khác Diện tích đất đai của xã Xuân Nộn nằm ở phía bắc của con sông

Cà Lồ, nơi cuối cùng phía bắc huyện Đông Anh giáp với huyện Sóc Sơn Donằm ở phía cao so với các xã khác trong huyện nên việc canh tác có nhiều khókhăn hơn Con song Cà Lồ là con sông chạy dọc theo ranh giới phía Bắchuyện Đông Anh, có lưu lượng nước không lớn và ổn định hơn, cung cấplượng phù sa không đáng kể nhưng nói chung vẫn là nguồn cung cấp nướctưới chủ yếu cho các cánh đồng ruộng trong xã

Làng Kim Tiên nằm ở nơi giáp với huyện Sóc Sơn nên địa hình cũngkhá cao so với các nơi còn lại Làng nằm phía trong đê nhưng rất hay xảy ra

Trang 11

lũ lụt, ngập úng do mưa, nước lũ Cho nên việc canh tác lúa của nhân dântrong làng còn gặp rất nhiều khó khăn.

Dưới thời thực dân phong kiến, đồng ruộng không được cải tạo, hệ thốngthủy lợi hầu như không có, sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên Cảnh chiêmkhê, mùa thối năm nào cũng xảy ra Một số xứ đồng cao cũng chỉ cấy được vụmùa Diện tích đồng trũng, lầy thụt chỉ cấy được vụ chiêm Nhưng đến nay,

do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, việc áp dụng khoa học côngnghệ vào sản xuất nông nghiệp đã được thực hiện nên đời sống dân cư đã kháhơn trước, năng suất nông nghiệp cũng tăng cao

Bên cạnh việc canh tác lúa thì nhân dân trong làng còn trồng hoa nhài đểxuất khẩu tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống kinh tế cho nhân dân Môhình này tỏ ra khá hiệu quả trong việc nâng cao đời sống kinh tế của nhân dântrong làng nên gần đây diên tích trồng hoa nhài đang được nhân rộng hơn sovới trước Vì thấy được hiệu quả thiết thực do trồng hoa nhài mang lại nênngười dân cũng hăng hái tiếp thu các kỹ thuật canh tác, chăm sóc cho vườnhoa nhà mình thêm năng suất, năng suất nông nghiệp cũng vì thế mà tăng,bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao

Thương nghiệp

Làng Kim Tiên nằm dọc con sông Cà Lồ, cách Quốc lộ số 3 chừng 2km

có vị trí thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế - văn hóa với các vùng và đô thịlớn.Việc trao đổi hàng hóa - nông phẩm cũng như sự đi lại của nhân dân dễdàng bằng đường bộ và đường thủy Các tuyến giao thông trọng yếu trên địabàn huyện: Quốc lộ số 3, đường đê mới bao quanh xã, các tỉnh lộ như mộtvòng cung bao bọc xã Xuân Nộn và một số xã khác

Hiện nay, làng Kim Tiên bên cạnh việc trông lúa nước để mang lạinguồn lương thực chính cho nhân dân thì một số hộ dân còn đi làm ăn buônbán thêm ở ngoài để tăng thu nhập, cải hiện đời sống vật chất cho gia đìnhmình như: buôn bán lẻ, buôn rau, buôn bán các loại gia cầm

Trang 12

1.1.3.Văn hóa truyền thống làng Kim Tiên

 Phong tục tập quán

Cưới xin

Làng Kim Tiên cũng như bao làng quê khác ở Việt Nam, hôn nhân làviệc không phải chỉ là việc của cá nhân mà còn là việc của cả gia đình vàdòng họ Người con trai đến tuổi dựng vợ, người con gái đến tuổi gả chồng.Hôn nhân theo quan niệm xưa không chỉ là nhằm duy trì nòi giống, phụngdưỡng cha, mẹ khi về già mà còn góp phần tăng sức lao động để phát triểnkinh tế và uy thế về sự lớn mạnh của dòng họ mình trong mối quan hệ với cácdòng họ khác

Hơn thế nữa, luân lý người Việt coi việc thờ phụng tổ tiên là một bổnphận thiêng liêng của con cháu Thờ phụng phải được tiếp nối liên tục qua cácđời Vì vậy mỗi người đàn ông phải sớm lập gia đình để mau có con trai nốidõi, lo việc đèn nhang

Trong xã hội phong kiến xưa, “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” Con cáikhông có quyền quyết định Duyên phận phó mặc cho sự chọn lựa của cha

mẹ Ngày nay, hôn nhân là tự nguyện không còn bắt buộc nữa, thanh niên tự

do tìm hiểu, lựa chọn người bạn đời cho mình

Khi đôi lứa đã tìm hiểu nhau kỹ và có ý định đi đến hôn nhân thì ngườicon trai sẽ về thưa chuyện với cha, mẹ mình để chuẩn bị lễ vật xin cưới nhàgái Theo như phong tục cưới hỏi xưa của làng Kim Tiên thì gia đình nhà trai

sẽ có người đại diện, có thể là mẹ hoặc cả mẹ và cha đến nhà gái để đặt vấn

đề chính thức, xin phép nhà gái cho đôi nam nữ được tìm hiểu nhau Đồngthời, là dịp để hai gia đình tìm hiểu gia cảnh và phong tục cưới hỏi của đôibên Qua những tìm hiểu, chuyện trò, hai nhà sẽ tiến đến quyết định kế hoạchhôn nhân của đôi uyên ương, đây được gọi là lễ chạm ngõ Đây là một trong

ba nghi lễ không thể thiếu trong đám cưới truyền thống của làng Nếu các gia

Trang 13

đình bỏ qua lễ này mà tiến hành luôn lễ ăn hỏi thì mọi người sẽ cảm thấy việccưới xin bị đường đột, không "có trước có sau".

Lễ chạm ngõ: Nhà trai mang lễ đến nhà gái thường là bố mẹ chú rể, chú

rể tương lai và người mai mối Bên nhà gái tiếp đón thường là bố mẹ cô dâu,

cô dâu tương lai và những người thân trong gia đình

Những người tham dự tuy không nhất thiết phải mặc vest, áo dài nhưngcũng nên diện trang phục lịch sự, trang trọng Đối với nhà trai, cần phải chuẩn

bị lễ vật thật chu đáo, vì đây là một buổi gặp gỡ mang ý nghĩa văn hóa nhiềuhơn ý nghĩa nghi thức nên nhà trai chỉ cần chuẩn bị trầu, cau, chè có thể thêmhoa quả, bánh kẹo tùy điều kiện Số lượng mỗi loại lễ vật phải là chẵn, ví dụhai gói chè, hai chục cau, hai chục lá trầu Khi nhà trai đem lễ chạm ngõ đếnnhà cô dâu, nhà gái cũng phải ăn mặc lịch sự, nghi lễ đón thân thiện và cởi

mở, sau đó mời nhà trai uống trà, ăn bánh kẹo, trái cây Trong khi hai gia đìnhđang trò chuyện, cô dâu tương lai bưng cơi trầu đã têm sẵn hoặc trà (chè) đểthưa chuyện với bố mẹ Đồng thời, đây cũng là dịp để nhà chồng tương laixem mặt và tính cách cô dâu tương lai Sau khi nhà gái bằng lòng nhận lễ, đặtlên bàn thờ gia tiên thì nghi lễ chạm ngõ coi như đã hoàn thành

Mặc dù chỉ là một nghi lễ nhỏ nhưng nếu bỏ qua Lễ chạm ngõ mà tiếnhành luôn Lễ ăn hỏi thì theo quan niệm đây là việc làm ngang tắt, không cókhởi đầu Vì vậy, đây được coi là một nghi lễ không thể thiếu trong tiến trìnhhôn lễ Đặc biệt, nó còn là một phong tục mang đậm dấu ấn văn hóa củangười Việt, cần được gìn giữ và duy trì cho thế hệ sau

Lễ ăn hỏi: Lễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hôn là một nghi thức trongphong tục hôn nhân truyền thống, là sự thông báo chính thức về việc hứa gảgiữa hai họ, là giai đoạn xác định quan hệ hôn nhân: cô gái trở thành "vợ sắpcưới" của chàng trai, và chàng trai sau khi mang lễ vật đến nhà gái chính thứcđược nhận làm rể và tập gọi bố mẹ xưng con Sau lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi sẽđược hai bên gia đình tổ chức với mục đích công nhận sự gả con gái cho nhà

Trang 14

trai, và kể từ ngày ăn hỏi, đôi trai gái có thể coi là đôi vợ chồng chưa cưới, chỉcòn chờ ngày cưới để công bố với hai họ Những người tham gia vào lễ ăn hỏicủa nhà trai có : đại diện gia đình, họ hàng, chú rể, một số thanh niên chưa vợđội mâm quả hay còn gọi là bê tráp, số người bê tráp là số lẻ: 3,5, 7, 9, hoặc11, còn nhà gái thì có bố mẹ, ông bà, anh chị em ruột của cô dâu, cô dâu,anh em bạn bè thân cận, và một số nữ chưa chồng đón lễ, số nữ tương ứng với

số nam đội mâm

Trong các thủ tục cưới hỏi theo nghi thức truyền thống của Việt Nam, ănhỏi là nghi lễ quan trọng nhất Chính vì vậy, phần chuẩn bị lễ vật nhà trai đưatới nhà gái trong dịp này được quan tâm đặc biệt Nhìn vào số lượng mâmquả và các vật lễ trên mâm quả cưới, người ta có thể đoán được sự chu đáo,

sự giàu có, sung túc của nhà trai, và sự yêu mến của nhà trai dành cho cô condâu tương lai

Trước lễ hỏi, hai gia đình sẽ bàn bạc,thống nhất ngày giờ ăn hỏi và sốlượng tráp Các tráp lễ vật thường có: Trầu cau, bánh cốm, chè, hạt sen, hoaquả, lợn quay, rượu và thuốc lá Khi đã xác định được số lượng tráp, nhà traiphải chuẩn bị đội nam thanh niên trẻ để bê tráp và nhà gái cũng chuẩn bị đội

nữ có số lượng tương ứng để đỡ tráp Trang phục của nam thường là quần âu,

áo sơ mi trắng, thắt cà vạt đỏ và trang phục của nữ là áo dài đỏ

Tới đúng ngày đã định, đoàn đại diện nhà trai sẽ lên đường tới nhà gái

Để đảm bảo tới nhà gái đúng giờ, gia đình nhà trai cần tính toán thời gian đilại cũng như các trở ngại trên đường Khi tới giờ đẹp, đoàn ăn hỏi nhà trai sắpxếp đội hình theo thứ bậc trong gia đình, đi đầu là ông bà, bố mẹ, chú rể, đội

bê tráp và các thành viên khác Đến nhà gái, sau khi hai nhà chào hỏi, đoàn bêtráp nam sẽ trao lễ cho đội đỡ tráp nữ để đỡ mâm quả vào nhà Đội bê trápnam và đội bê tráp nữ sẽ trao phong bao lì xì, trả duyên cho nhau Đại diệnnhà trai sẽ phát biểu lý do và giới thiệu về các mâm quả mà nhà trai mangđến Đại diện nhà gái đứng lên cảm ơn, chấp nhận tráp ăn hỏi của nhà trai Mẹ

Trang 15

chú rể và mẹ cô dâu sẽ cùng mở tráp Khi cúng ông bà tổ tiên xong, bố mẹ hainhà sẽ thống nhất ngày giờ đón dâu và lễ cưới Trong thời gian đó, cô dâu chú

rể mời nýớc quan khách và chụp ảnh lýu niệm cùng mọi người Khi cúng ông

bà tổ tiên xong, bố mẹ hai nhà sẽ thống nhất ngày giờ đón dâu và lễ cưới.Trong thời gian đó, cô dâu chú rể mời nước quan khách và chụp ảnh lưu niệmcùng mọi người

Sau lễ ăn hỏi, nhà gái dùng các lễ vật nhà trai đã đưa để chia ra từng gói nhỏ để làm quà biếu cho họ hàng, bè bạn, xóm giềng, Ý nghĩa của tục này là

sự loan báo: Cô gái đã có nơi có chỗ

Lễ cưới: Thường được tổ chức vào tháng Giêng, tháng Hai và tháng Chạp âm lịch, đây là những tháng có tiết xuân mát mẻ, công việc bớt bận rộn Sau khi ấn định được ngày lành tháng tốt, nhà trai cùng nhà gái tiến hành tổ chức đám cưới cho đôi trai gái Trong ngày cưới, họ hàng, bạn bè thân hữu gần xa và nhân dân trong khu đến dự để chúc mừng cho gia đình nhà trai và nhà gái Đúng giờ đã định, nhà trai gồm khoảng 25 người đầy đủ các thành phần, vai vế, nội ngoại và bạn bè đến nhà gái Đại diện họ nhà trai có lời xin đón dâu Được sự đồng ý của đại diện nhà gái, cô dâu chú rể làm lễ gia tiên Tối hôm đó, cô dâu ngủ lại nhà trai một đêm (đêm tân hôn) Sáng hôm sau, nhà trai sửa soạn một cái lễ cùng cô dâu và chú rể sang nhà gái để lại mặt

Tục ăn trầu

Từ xưa, trầu cau đã là một thứ khởi đầu các lễ nghĩa của dân tộc ViệtNam nói chung và ở làng Kim Tiên nói riêng Trầu cau vừa biểu hiện phongcách, vừa thể hiện tình cảm dân tộc độc đáo Tục ăn trầu trở thành một nếpsống đẹp, từ việc tế tự, tang lễ, cưới xin, việc vui mừng, việc gì nhân dân tacũng lấy miếng trầu làm trọng Miếng trầu làm người với người gần gũi, cởi

mở với nhau hơn Và với các nam nữ thanh niên xưa thì nó là cội nguồn đểbắt đầu tình yêu, bắt đầu câu hát, để vào với hội làng hội nước

Trang 16

Người làng Kim Tiên hiện vẫn lưu giữ được tục ăn trầu được coi nhưmột tập tục truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam xưa mà trong thời buổi

xã hội hiện nay ít nơi còn tồn tại Người ta ăn trầu có nhiều cách, thường thìquả cau tươi bổ ra làm 5, lá trầu quệt ít vôi, cắt một miếng vỏ cây, cuộn tổ sâulại mà nhai gọi là ăn trầu Trong các dịp lễ hội, vào cửa quan, đám ăn hỏi,người ta thường têm trầu cánh phượng để tỏ lòng trịnh trọng và biểu hiện tàikhéo léo, cái nét văn hoá trong tâm hồn người Trầu têm cánh phượng cùngvới huyền thoại trầu cau mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nó vừa là tình yêu,vừa là nghệ thuật, là tài năng, là tính cách, là con người cá nhân hoàn thiện,hoàn mỹ Trong đời sống dân gian, trầu têm cánh phượng đã trở thành mộtbiểu tượng của quyền lực vua chúa: "con rồng, cháu phượng", "cha rồng, mẹphượng" Sự giáo dục của ông cha ta bằng biểu tượng trầu têm cánh phượng

có ý nghĩa sâu sắc Đó là ước mơ, là tư tưởng nâng tri thức bình dân thànhquyền lực, thành sự trường tồn trong vũ trụ

Hơn thế, trầu cau còn là biểu tượng cho sự tôn kính, dùng phổ biến trongcác lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ Ngày tết, ngày hội phải cóđĩa trầu để chia vui Miếng trầu không đắt đỏ gì, "ba đồng một mớ trầu cay" nhưng "miếng trầu nên dâu nhà người" Ngày xưa, khi đi xem mặt các cô dâutương lai, nhà trai đợi cô gái ra têm trầu, rót nước Vừa để xem mặt, vừa đểquan sát cử chỉ rót nước têm trầu mà phán đoán tính nết cô gái Nếu cô gáigiơ cao ấm nước, ấm nước chảy tồ tồ là người không lễ phép Miếng trầu têmvụng về là người không khéo tay, không biết may vá Lá trầu nhỏ, miếng caulớn là người không biết tính toán làm ăn Quệt nhiều vôi vào miếng trầu làngười thiển cận, không biết lo xa Miếng trầu làm cho người ta gần gũi, cởi

mở với nhau hơn Với người lạ, miếng trầu để làm quen, kết bạn; với ngườiquen, miếng trầu là tri ân, tri kỷ Miếng trầu cũng làm người ta ấm lên trongnhững ngày đông lạnh giá, làm nguôi vơi bớt nỗi buồn khi nhà có tang, đượcchia sẻ cảm thông bởi họ hàng, bạn bè, làng xóm

Trang 17

Trầu cau, vôi, vỏ, tất cả nếu đứng riêng lẻ thì mỗi thứ chỉ là cây, là trái,

là đá, là lá Nhưng khi hợp lại, chúng hoà quyện, cộng sinh vào nhau, được ấp

ủ trong môi miệng con người thì tất cả bỗng biến đổi, trở nên đằm thắm, rực

rỡ hơn Và trầu cau đã là nơi khởi đầu cho bao mối lương duyên Các đôi traigái yêu nhau thường mượn miếng trầu để thổ lộ lòng mình:

"Vào vườn hái quả cau xanh

Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu

Trầu này trầu tính, trầu tình,

Trầu loan, trầu phượng, trầu mình lấy ta"

Hay:

"Trầu này thực của em têm

Trầu phú, trầu quý, trầu nên vợ chồng

Trầu này bọc khăn tơ hồng

Trầu này kết nghĩa loan phòng từ đây"

Miếng trầu mang nhiều ý nghĩa về giao tiếp, văn hoá, đạo đức, tâm lý

Nó còn thể hiện mối quan hệ ứng xử trong cuộc sống hàng ngày:

"Thương nhau cau sáu bổ ba

Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười"

Khi muốn chối từ tình cảm của người con trai, người con gái cũng mượnmiếng trầu để khéo léo từ chối:

"Sáng nay em đi hái dâu

Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn

Hai anh đứng dậy hỏi han

Miệng nói tay cởi túi trầu mời ăn

Thưa rằng: Bác mẹ em răn

Làm thân con gái chớ ăn trầu người "

Tục ăn trầu đã trở thành một nét đẹp văn hoá không phai nhòa trong tâmhồn người Việt nên tháng năm có qua, miếng trầu vẫn không thể thiếu trong

Trang 18

các đám cưới, trong các môn đồ lễ của các bà, các cô dâng lên bàn thờ tổ tiên,cầu khấn thần phật với lòng thành kính Hiện nay, trong làng Kim Tiên cònnhiều người vẫn giữ tục ăn trầu như một nét đẹp của truyền thống văn hóaViệt Nam Chủ yếu là những cụ cao niên trong làng, những người trung tuổi

và một số ít thanh niên, còn thành phần giới trẻ thì không Tuy nhiên, quanniệm "miếng trầu là đầu câu chuyện" của người Việt Nam vẫn được áp dụng

ở những dịp hiếu, hỉ Vì biếu trầu là tục lệ, là tình cảm nên dẫu có ăn haykhông cũng chẳng ai chối từ

Tôn giáo tín ngưỡng

Với truyền thống văn hóa của mình, xã Xuân Nộn nói chung và làngKim Tiên nói riêng cũng có đình, đền, chùa,…biểu thị sức sống mãnh liệt củacộng đồng làng xã Việt Nam, tinh thần tôn trọng, thờ phụng tổ tiên người cócông với nước, đồng thời thể hiện trí óc thông minh, bàn tay khéo léo củangười dân địa phương trong quá trình xây dựng các công trình phục vụ sinhhoạt tôn giáo, tín ngưỡng trong vùng

Tôn giáo

Trong tâm thức của người Việt Nam thì đạo phật vẫn tồn tại và chiếmgiữ một phần quan trọng trong đời sống tâm linh bên cạnh những tôn giáokhác Làng Kim Tiên cũng vậy, đạo phật từ lâu đã trở thành một phần khôngthể thiếu trong tổng thể bức tranh tôn giáo của làng Làng Kim Tiên hiện cóhai ngôi chùa có tên: Bảo Quang Tự và Kim Quang Tự Đây là hai ngôi chùathể hiện sự tồn tại của Phật giáo của làng, nơi đây đã trở thành một trung tâmsinh hoạt tôn giáo, là nơi để mọi người đến cầu cúng những điều an lành,hạnh phúc cho cuộc sống, là nơi để họ có thể trút bỏ những phiền não, bộn bềcủa trần tục để đến với không gian tĩnh lặng, yên bình, thư thái của Phật pháp.Còn theo như lời kể của các cụ trong làng thì hai ngôi chùa vốn rất linhthiêng, vì thế mà vào đầu xuân năm mới hàng năm có hàng đoàn xe ôtô tới

Trang 19

đây để cầu cúng cho gia đình và thể hiện mong muốn được làm cha mẹ củanhững cặp vợ chồng hiếm muộn.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, phong tục thờ cúng tổ tiên hay còn đượcgọi khái quát là Đạo Ông Bà là tục lệ thờ cúng những người đã chết Tínngưỡng này tồn tại trong đời sống của nhiều dân tộc Đông Nam Á và đặc biệtphát triển trong văn hóa Việt và văn hóa Trung Hoa Đối với người Việt nóichung và nhân dân làng Kim Tiên nói riêng, nó gần như trở thành một thứ tôngiáo; không gia đình nào không có bàn thờ tổ tiên trong nhà, đó là sự bày tỏlòng thành kính, biết ơn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đồngthời cũng thể hiện lòng biết ơn của lớp người sau đối với công sức của lớpngười trước

Trong tâm thức của người dân Việt nói chung, cho rằng “vạn vật hữulinh”, người chết chỉ là chết về phàn xác còn phần hồn thì vẫn còn tồn tại vàthường hiện về với con cháu Trong các gia đình của làng Kim Tiên, đều cóbàn thờ tổ tiên, được đặt ở nơi cao nhất, trang trọng nhất trong nhà Họ tinrằng linh hồn của tổ tiên, ông, bà, cha, mẹ luôn dõi theo mọi hoạt động củacon cháu, che chở, phù hộ cho con cháu Vào ngày giỗ ông bà, tổ tiên, concháu của các dòng họ trong làng đều tụ tập về từ đường dòng họ mình để giỗ

tổ, đó là một truyền thống tốt đẹp cần phải gìn giữ Đối với những dòng họlớn mỗi năm khi đến ngày giỗ của tổ tiên, dù đang ở nơi đâu trên đất nước họcũng tìm về với quê hương để quây quần bên những người thân cùng tưởngnhớ tới công lao của tổ tiên đối với dòng họ mình

Trang 20

làng Thành hoàng làng là danh từ chung để chỉ vị thần được thờ trong mộtlàng xã Việt Nam Giống như Táo công và Thổ công từ phương diện tâm linh,quan niệm Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng vàthường được thờ ở đình làng Do vậy hầu hết ở mỗi làng quê hay phố nghề(nơi thị thành) đều lập đình (hoặc đền, miếu) thờ vị Thành hoàng của làng hayphường hội Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng

ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ của nghề) Những nguồn tư liệu đi trước cho biết, tục thờ thành hoàng hay thầnhoàng ở nước ta là do ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa truyền sang từ thờiĐường Tuy nhiên theo Phan Kế Bính thì trước đó nhân dân ta cũng đã cónhững tín ngưỡng dân gian rồi Sau khi tục thờ Thành hoàng du nhập vào làng

xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt,trở nên hết sức đa dạng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” Tônthờ Thành hoàng làng chính là một nhu cầu tâm linh, người dân thờ Thànhhoàng làng để phục vụ cho hiện thực cuộc sống, là chỗ dựa tinh thần khôngthể thiếu của cư dân làng xã Việt

Đình làng là nơi thờ phụng thành hoàng làng và trở thành một biểutượng văn hoá tâm linh của mỗi người dân Việt Làng nào cũng có đình, cókhi mỗi thôn lại có một đình riêng Đình để thờ thành hoàng làng nhưng đồngthời cũng trở thành nơi hội họp của chức sắc trong làng, hay là nơi sinh hoạtvăn hóa của cộng đồng làng xã Mọi hoạt động này đều xảy ra ở đình với sựchứng kiến của Thành hoàng làng

Làng Kim Tiên có ngôi đình mang tên làng thờ Đức Bạch Hạc TamGiang, là một nhân vật được thờ ở nhiều làng quê Theo tương truyền làngười đã có công giúp dân đánh đuổi giặc phương Bắc, đem lại đời sống hòabình, ấm no cho nhân dân trong vùng Đây là một ngôi đình cổ có niên đạikhoảng thế kỷ XVIII, đình còn lưu giữ được một số lượng đạo sắc phong lớn:

10 đạo sắc (đạo sắc lâu nhất cách đây gần 300 năm)

Trang 21

Như vậy, cùng với sự hiện diện của các ngôi đình làng ở xã Xuân Nộnthể hiện tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đã đem lại cho người dân ý thứchướng về làng quê, về quê cha đất tổ bằng những biểu hiện sinh hoạt văn hoátruyền thống thông qua lễ hội đình làng và các ngày lễ khác diễn ra ở đình.

Di tích lịch sử văn hóa

Di tích lịch sử văn hóa là “công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử vănhóa khoa học ”

Các công trình sinh hoạt văn hóa cộng đồng của làng Kim Tiên rất đặcsắc, biểu thị sức sống mãnh liệt của cộng đồng làng xã Việt Nam, tinh thầntôn trọng, thờ phụng tổ tiên, người có công với nước,…đồng thời cũng thểhiện trí óc thông minh, bàn tay khéo léo của người dân địa phương

Các công trình kiến trúc nghệ thuật của làng như: đình, chùa, đền, miếu

và đi cùng với các giá trị văn hóa vật thể là các giá trị văn hóa phi vật thể: lễhội truyền thống,…Tất cả đều đã trở thành những di sản quý giá, chứa đựngnhiều thông tin giúp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu, truyền thống quê hươngthêm phong phú

Chùa Bảo Quang

Đây là một ngôi chùa cổ kính mang nhiều ý nghĩa về mặt giá trị kiếntrúc và lịch sử Cho đến nay do các tư liệu về ngôi chùa đã bị thất lạc nên hiệnchưa rõ niên đại của chùa Mà chỉ bước đầu đoán định niên đại của ngôi chùavào khoảng thế kỷ XVIII Chùa Bảo Quang thờ phật, chùa nằm trên khu đấthẹp, song song với đình nhưng hơi cao hơn về phía trước khoảng 50m Chùa

có cây cối xanh tốt, tuy không được rộng lắm nhưng Bảo Quang tự vẫn là mộtngôi chùa cổ có từ lâu đời Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng thì chùahiện nay là mới được trùng tu lại, như khảo sát thực tế cho thấy thì chùakhông có cổng hay tam quan Chỉ là một ngôi chùa có kiến trúc hình chữ “Đinh” đơn giản, quy mô cũng nhỏ hẹp Tuy vậy chùa có cả nhà mẫu, hệ thốngtượng phật đầy đủ như bao ngôi chùa khác Trong nhà mẫu, bên phải bố trí

Trang 22

tượng mẫu thoải phủ được tạo tác thành hình một người phụ nữ đẹp, phúchậu, ngồi ở tư thế thiền, chân xếp bằng và hai tay chắp, mang trang phục màutrắng Bà là vị nữ thần dân gian chịu trách nhiệm cai quản các miền sôngnước Bên trái bố trí tượng mẫu thượng ngàn, được tạo tác giống với tượngmẫu thoải nhưng vận trang phục màu xanh Mẫu thượng ngàn là một đặcđiểm của tín ngưỡng gắn với núi rừng của người Việt Bà là vị nữ thần trôngcoi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh Người dân thờ phụng bàvới ước mong bà sẽ đem đến cho họ nhiều may mắn, phát đạt Ở giữa, có bốtrí tượng của ngũ vị quan lớn, tứ phủ chầu bà và thập vị ông Hoàng.

Đền thượng và đền hạ

Theo như lời kể của các cụ trong làng thì làng Kim Tiên trước đây có tồntại hai ngôi đền là: Đền thượng và đền hạ Do chiến tranh xảy ra nên hai ngôiđền đã bị tàn phá và hiện giờ không còn nữa Cũng theo như lời kể của các cụcho biết thì tượng thờ của Túy Tinh Hoàng Hậu và Thạch Khanh là của haingôi đền Sau chiến thắng chống Pháp, không hiểu vì lý do gì hai ngôi đền đã

bị giỡ bỏ Mọi tài liệu liên quan đến hai ngôi đền đều bị thất lạc nên khôngthể tìm hiểu cụ thể về hai ngôi đền này

Truyền thống cách mạng của nhân dân trong vùng

Về phong trào đấu tranh Cách mạng, người dân Kim Tiên là một trong sốnhững vùng quê của đất nước tham gia đấu tranh cách mạng ngay từ sớm KhiCách mạng tháng Tám nổ ra toàn nhân dân làng Kim Tiên đã nổi lên giànhchính quyền từ tay thực dân, phong kiến, mở ra một trang sử mới cho thôn làng.Tiếp đó, trong giai đoạn 1945 - 1954, nhân dân làng Kim Tiên đã thực hiện chỉthị kháng chiến kiến quốc, phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, chính sách chiếnđấu trong lòng địch do Ban chấp hành trung ương Đảng đề ra

Trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), dưới sự lãnh đạo củachính quyền địa phương, nhân dân đã từng bước ổn định đời sống kinh tế, vănhóa, xã hội, tiến hành cải cách ruộng đất Tiến hành thành lập chi bộ Đảng xãXuân Nộn đã từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế Người dân nơi đây khôngnhững cùng nhân dân cả nước tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Trang 23

mà còn đóng góp cả sức người vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thốngnhất đất nước đã có rất nhiều liệt sĩ đã hi sinh trong chiến trường miền Nam

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, thôn Kim Tiên đãtiễn đưa hơn 200 người con của quê hương lên đường ra mặt trận chiến đấu.Kháng chiến kết thúc, 16 người con anh dũng hi sinh nằm lại chiến trường, có05thương binh và 8 bệnh binh đã để lại một phần xương máu của mình ở lạicác chiến trường Trong toàn thôn, hiện có 8 bà mẹ đã được phong tặng danhhiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng Những đóng góp lớn lao của các đồng chí vànhân dân làng Kim Tiên đã được Tổ quốc ghi nhận và đó sẽ mãi mãi là tấmgương sáng để thế hệ con cháu mai sau noi theo

Đời sống văn hóa, xã hội

Nhìn chung, đời sống của người dân Kim Tiên từ sau năm 1945 đến nay

đã có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng ổn định và phát triển Phong tràoxây dựng gia đình văn hóa được triển khai sâu rộng Các hình thức tổ chứcthực hiện có hiệu quả Có các thiết chế văn hóa thông tin, thể dục thể thao,giáo dục y tế phù hợp và hoạt động thường xuyên

Trước năm 1945, khi đó chỉ có con em của các cường hào, lý trưởngđược tham gia học hành Nội dung học tập nặng nề các triết lý Nho giáo nhằmtạo ra một lớp tay sai trung thành với chế độ thực dân - phong kiến Đã dẫntới có rất nhiều trẻ em bị mù chữ trong độ tuổi đến trường Hiện nay hệ thốnggiáo dục đã được đổi mới nhiều Các trẻ em trong độ tuổi đi học được đếntrường, không còn tình trạng mù chữ xảy ra nữa

Trân trọng và biết ơn những giá trị truyền thống mà cha ông để lại Ngàynay nhân dân Kim Tiên đã đang phấn đấu xây dựng quê hương về mọi mặt.Đời sống nhân dân tang cao hơn, số hộ giàu- khá tăng, số hộ nghèo giảm Cáccông trình phúc lợi đang trên đà phát triển

Để khắc phục những yếu kém lạc hậu, và phát huy những truyền thốngvăn hóa tốt đẹp Phấn đấu xây dựng làng văn hóa tiêu biểu huyện Đông Anh.Tập thể BLĐ thôn – tiểu ban vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa khu dân cư Kim Tiên” xây sựng quy ước làng văn hóa nhằm

Trang 24

xây dựng quê hương Kim Tiên giàu đẹp- ấm no- hạnh phúc góp phần chungvào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

1.2 Niên đại khởi dựng và quá trình tồn tại của di tích đình làng Kim Tiên

1.2.1 Lịch sử nhân vật được thờ tại đình làng Kim Tiên

Theo nguồn tư liệu thành văn trong đình như sắc phong, thần phả chobiết đình Kim Tiên là nơi thờ thần Bạch Hạc Tam Giang là một nhân vật đượcthờ của nhiều làng quê Việt Nam Ông Đào Trường( tức Bạch Hạc TamGiang) là con thứ ba của ngài Thái phó Bộ trưởng đất Hoan Châu tên là ĐàoBột Đào Trường là người tinh thông võ nghệ, được tiến cử làm Thổ lệnhtrường, cai quản quận Sơn Nam

Khi ấy giặc Bắc đem quân xâm lược nước Văn Lang Trước nạn giặc ngoạixâm, Hùng duệ vương đã mời Thổ lệnh Đào Trường về triều để bàn kế hoạchđánh giặc Thổ lệnh tâu rằng “ nên đón đường thủy mà đánh” Nhà vua nghetheo và giao cho ngài thống lĩnh thủy quân, chỉ một trận đã dẹp tan quân giặc

Thắng trận, Đào trường được triều đình phong làm Thổ Lệnh thốngQuốc Đại vương trấn giữ kinh thành Bạch Hạc chức quốc Trưởng lệnh đô,Lạc Long Hầu đại tướng quân Sau đó, Thổ Lệnh còn chỉ huy quân đội đánhtan giặc xâm lược phương Bắc lần thứ hai và dẹp yên loạn ở Hồng Châu Trênđường thắng trận từ Hồng Châu trở về, Đào Trường đã giao quyền chỉ huyquân đội cho em là Thạch Khanh để theo dòng sông nhỉ tới Tôn Thất trang vàhóa tại đây Nghe tin ông mất, Hùng Duệ vương vô cùng thương tiếc Ông đãcho phép 172 làng lập đền thờ Bạch Hạc Tam Giang Các đời vua sau đều bansắc phong thần Hiện nay, tại đình còn đang lưu giữ 9 đạo sắc phong thần,sớm nhất có đạo sắc Tự Đức năm thứ 7( 1854)

1.2.2 Niên đại khởi dựng của đình làng Kim Tiên

Đến nay, những thư tịch, tài liệu liên quan đến thời điểm xây dựng đìnhlàng Kim Tiên hiện không còn, nên việc xác định được chính xác niên đạikhởi dựng của ngôi đình gặp nhiều khó khăn

Trang 25

Tuy nhiên, bằng khảo sát thực tế, cho thấy kiến trúc - nghệ thuật ĐìnhKim Tiên mang nhiều đặc điểm của các thời kỳ Vậy, niên đại khởi dựng củangôi đình là từ bao giờ? Câu hỏi này vốn luôn được quan tâm hàng đầu khinghiên cứu về bất cứ một di tích nào, nhưng để trả lời được một cách thấu đáoquả là không dễ Bởi không phải lúc nào, không phải di tích nào cũng có niênđại rõ ràng về thời điểm khởi dựng, lại luôn được thế hệ sau tiếp tục bồi đắptrong quá trình tồn tại để đáp ứng những yêu cầu của xã hội

Để tìm hiểu được niên đại khởi dựng của di tích chúng ta có thể dựa trênnhiều căn cứ khác nhau Với di tích đình làng Kim Tiên cũng vậy, chúng ta cóthể dựa vào những căn cứ như sau: Bia ký, sắc phong của đình làng KimTiên, những tài liệu đã viết, phong cách kiến trúc nghệ thuật của đình, các câuchuyện mà người dân trong làng Kim Tiên kể lại

Đầu tiên, là tấm Bia đá lớn mà đình còn lưu giữ Trên tấm bia đá có khắcchữ ở hai mặt bia Tuy thời gian đã làm cho một số chữ bị mờ đi nhưng thậtmay mắn là dòng niên đại còn đọc được khá rõ với dòng chữ " Vĩnh Hựu tứniên (1738) Căn cứ vào đây, bước đầu ta có thể đoán định niên đại của ngôiđình được xây dựng vào trước những năm 1738 thế kỷ XVIII

Thứ hai, là nguồn tư liệu Hán nôm đang được cất giữ ở đình, mà cụ thể

là 10 đạo sắc phong cho thần Trong số 10 đạo sắc phong thì có đạo sắcphong của Tự Đức năm thứ 7 là sớm nhất(1854) Nếu căn cứ vào đây thìchúng ta có thể đoán định niên đại của ngôi đình là vào khoảng thế kỷ thứXIX Như vậy, ngôi đình có thể được khởi dựng sớm nhất vào trước nhữngnăm 1854 Vì khi xây dựng đình rồi mới có thể ban sắc phong cho thần được.Những dấu vết kiến trúc còn tồn tại tới ngày nay cho phép người viết cóthể một lần nữa xác định niên đại khởi dựng của ngôi đình Đây là nhữngbằng chứng xác thực nhất giúp chúng ta hình dung ngôi đình được dựng trongkhoảng thời gian nào Trong quá trình khảo sát thực tế, chúng ta có thể chú ýtới 2 bộ vì trong ở tòa Đại đình Các bộ vì này được kết cấu theo kiểu "chồng

Trang 26

rường giá chiêng kẻ hạ ".Đây là kiểu thức liên kết kiến trúc đặc trưng củanhững di tích có niên đại từ cuối thế kỷ XVII- đầu thế kỷ XVIII.

Như vậy, với những căn cứ được nêu ở trên, mà đặc biệt là tấm bia đá cóghi rõ niên đại thì chúng ta có thể bước đầu kết luận rằng ngôi đình đã đượckhởi dựng vào trước những năm 1738- thời Hậu Lê, đã được trùng tu vào thờiNguyễn- thế kỷ XIX

Ngôi đình đã được xây dựng và tồn tại trải qua bao biến cố, là minhchứng của nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân chống lại kẻ thù xâm lược.Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ngôi đình được sửdụng làm kho của hợp tác xã thôn, với mục đích tích trữ lương thảo, quân khíđánh giặc và là nơi tụ họp, mit tinh của chính quyền địa phương Trong khángchiến chống Mỹ, đình là nơi chứa vũ khí dùng cho việc luyện tập và chiến đấucủa bộ đội địa phương

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, từ lúc ra đời và tồn tại cho đến nay,đình làng Kim Tiên vẫn ở đó như muốn “Thi gan cùng tuế nguyệt”, tháchthức với thời gian Ngôi đình như một biểu tượng văn hóa của cộng đồng làngKim Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung, trường tồn mãi trong tâm hồnViệt

1.2.3 Đình làng Kim Tiên trong hệ thống các di tích thờ thần Bạch Hạc Tam Giang

Đền Bạch Hạc (đình thôn Việt Trì) - Phường Bạch Hạc, phía Nam thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Đền Bạch Hạc cách Thủ đô Hà Nội khoảng 80 km về phía Tây, ngôi đền

cổ Bạch Hạc thuộc phía Nam TP Việt Trì (tỉnh Phú Thọ) được xây dựng trênnền đất cố đô Văn Lang xưa

Ấy là nơi có địa thế sơn thủy hữu tình hiếm có với sự hợp lưu của ba consông lớn là sông Lô, sông Thao, sông Đà Theo như dân gian truyền lại rằngbuổi đầu dựng nước, Lạc Long Quân từ trên núi Nghĩa Lĩnh nhìn về phương

Trang 27

Nam thấy hợp lưu của 3 con sông với bãi phù sa mượt mà trù phú, có đàn hạcđậu trắng cả một vùng nên gọi đó là Bạch Hạc- nơi đất lành chim đậu, nơi lantỏa vượng khí núi sông

Ngôi đền cổ được xây dựng theo hướng tây bắc nhìn ra cửa sông, thờ vịthần huyền thoại Vũ phụ Trung dực Uy Hiển Vương, húy là Thổ Lệnh, một vịthần thời Hùng Vương Từ bao đời nay, người dân Bạch Hạc coi thần ThổLệnh như thần làng, thần sông Thần luôn phù hộ cho người dân có một cuộcsống an lành, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi Tương truyền răng:Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông ở thế kỷ XIII, triều đình nhàTrần đã nhiều lần chọn ngã ba Bạch Hạc làm nơi huấn luyện quân sĩ Vàongày Tết Thượng nguyên năm Ất Dậu (1285), tướng quân Trần Nhật Duật đãcắt tóc thề với thần linh, tổ tiên nguyện đem hết lòng trung thành để báo ơnvua rồi chỉ huy binh sĩ ra trận, kiên cường mưu trí ngăn cản bước tiến công vàtiêu hao sinh lực địch, góp phần vào chiến thắng oanh liệt của quân dân nhàTrần năm 1287 Sau này, thái sư Trần Nhật Duật được cấp biểu trạch nơiBạch Hạc để lập thái ấp, nên khi qua đời, ông được người dân tôn kính tạctượng thờ cùng với vị Thổ Lệnh Đại Vương từ thời Hùng Vương

Ngôi đền cổ có lối kiến trúc kiểu chữ "đinh", đền gồm hai tòa tiền tế vàhậu cung, nhà 4 mái, đao cong, có hai tòa tiền tế và hậu cung, nội thất chạmcác bộ tứ quý như "long, ly, quy, phượng", "tùng, trúc, cúc, mai", các nétchạm trổ hết sức tinh tế toát lên vẻ đẹp linh thiêng mà thật hoàn mỹ Saunhiều thế kỷ bị tàn phá bởi thời gian và chiến tranh, đền Bạch Hạc đã đượctrùng tu nhiều lần Ngôi đền cổ bây giờ nằm trên khuôn viên có diện tích lêntới hơn 1.000m2, ngay chính vị trí đắc địa với đỉnh đền là bầu trời mâythoáng đãng, phía trước là dòng nước hùng vĩ nơi tụ hợp của ba con sông lớn,xung quanh núi non sơn thủy hữu tình Trong đền Bạch Hạc hiện nay còn lưugiữ cặp chuông đồng cổ "Thông Thánh quán chung ký" có niên đại MinhMệnh năm thứ 11 và các bài minh chuông như: Thác bản chuông "Phụng Thái

Trang 28

Thanh Từ" niên đại Gia Long năm thứ 17, "Thông Thánh Quán" niên đại ĐạiKhánh thứ 8, đời vua Trần Minh Tông Mỗi chiếc chuông cổ nặng chừng hơn120kg, những họa tiết, hoa văn trên chuông cổ vẫn còn đó sự tinh xảo sauhàng thế kỷ bị bào mòn bởi thời gian, bom đạn chiến tranh Dường như dấuvết tàn phá duy nhất trên chuông cổ chỉ là những vết sứt nhỏ xuất hiện quanhvành đáy quả chuông cùng màu sắc cũ kỹ phôi phai theo thời gian Bây giờ,những quả chuông cổ xưa được ban quản lý đền treo trang trọng ngay tronggian chính điện, nơi hàng ngày nhân dân và khách thập phương tấp nập tới lễbái, bày tỏ lòng kính vọng Phía ngoài chính điện nơi có khoảng sân rộngtrông ra cửa sông, khi xưa vốn là nơi treo quả minh chuông cổ thì bây giờ thếvào đó là một quả chuông mới mô phỏng theo hình dáng, hoa văn, họa tiếtcủa chuông cổ để khách thập phương tiện bề chiêm bái và cũng là để tránhcho kẻ gian có ý nhòm ngó cổ vật quý xưa.

 Đình Kiều Mai - thôn Kiều Mai, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm,

ngoại thành Hà Nội

Đình Kiều Mai thuộc thôn Kiều Mai, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm,ngoại thành Hà Nội Đình Kiều Mai thờ thành hoàng làng là Đào Trường,người có công đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc và giúp vua Hùng dẹploạn trong nước nên được phong là Bạch Hạc Tam Giang Khi mất ông đượcnhân dân địa phương thờ phụng Ngoài ra, dân làng Kiều Mai còn thờ Quốccông là một vị tướng của Hai Bà Trưng làm Thành hoàng tại làng Phú Mỹ(Từ Liêm) Hàng năm cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng, dân làng Kiều Mairước thần vị Quốc công tới Phú Mỹ để tế rồi lại rước về Lễ hội này là mộtcuộc giao lưu văn hoá giữa hai làng Kiều Mai và Phú Mỹ Hai làng đã kếtgiao với nhau chặt chẽ không chỉ về mặt thờ thành hoàng mà còn cả trong đờisống hàng ngày

Đình Kiều Mai được xây dựng khoảng thế kỉ XVII và trải qua nhiều lầntrùng tu Đình nằm trên một khu đất cao, trước mặt có giếng nước tốt, vẫn còn

Trang 29

được sử dụng cho tới ngày nay Qua giếng là tới sân đình có tường bao quanh

và liền kề với một cái ao ở phía bên trái Dọc hai bên sân lại có hai dãy nhàdải vũ, mỗi dãy năm gian Cuối sân là đại đình, trên đỉnh nóc đắp hai con long

mã và hai đầu thềm đều được chạm nổi hai đầu hổ Phần trang trí phía trongtập trung vào phần mái và trên các bức cốn, cửa võng với các đề tài tứ linh và

tứ quý cùng với vân mây, sóng nước Các bộ phận trang trí đều được sơn sonthiếp vàng Hậu cung là một khám gỗ trong đặt long ngai, bài vị Thànhhoàng

Đình Kiều Mai hiện còn giữ được một số hiện vật quý với nhiều loạihình, ở nhiều chất liệu như cuốn Thần phả ghi niên hiệu Hồng Phúc 1 (1572),

10 đạo sắc phong trong đó có sắc phong Quang Trung 5 (1792), sắc CảnhThịnh 4 (1802) đều phong Thần là Hộ quốc tý dân, anh minh, Thượng đẳngPhúc thần, 13 tấm bia đá trong đó có nhiều bia ghi lại việc trùng tu lớn vàonăm Cảnh Trị 1 (1663), một chuông đồng, long đình, bài vị Riêng về kiếntrúc, đình Kiều Mai là một trong số rất ít những ngôi đình có đầu đốc nằmdọc, quay ra phía trước Kiều Mai là một ngôi đình cổ còn nhiều nét chạmđược giữ lại mang nét nghệ thuật thế kỉ XVII Đình Kiều Mai còn là nơi hộihọp của dân làng và chính quyền cách mạng lâm thời thời kì những năm

1946 Đình đã được công nhận là Di tích Lịch sử - văn hoá năm 1994

Đình Kiều Nhị - thôn Kiều Mai, xã Phú Diễn,huyện Từ Liêm,

Hà Nội

Đình Kiều Nhị là ngôi đình thuộc thôn Kiều Mai, xã Phú Diễn, huyện

Từ Liêm, thành phố Hà Nội, thờ thần Bạch Hạc tam giang Ông tên là ĐàoTrường, được phong làm Thổ lệnh thống quốc đại vương, thống lĩnh thànhPhong Châu, trấn giữ thành Bạch Hạc, Lạc Long Hầu đại tướng quân Ông đãchỉ huy đội quân Văn Lang đánh tan cuộc xâm lược thứ 2 của giặc phươngBắc, rồi dẹp loạn ở Hồng Châu (Hải Dương) Khi từ Hồng Châu trở về, ôngmất Nhà vua truyền cho thiên hạ, các sở tại, các nơi hành cung đều lập miếu

Trang 30

thờ, cộng lại là 172 nơi và ban cho ông mỹ tự là "Thượng đẳng phúc thần, vạn

cổ huyết thực, dữ quốc đồng hưu, vĩnh vi hằng thức" Sau đó vua còn truyềnlệnh cho thành Phong Châu, thuộc đất vùng Bạch Hạc tam giang, quán Tamlập miếu thờ và đắp tượng Thổ Lệnh và Thạch Khanh tay cắp long đao, oaiphong lẫm liệt

Di tích hiện nay quay về hướng Đông Nam gồm các bộ phận kiến trúcnhư giếng, sân, giải vũ, đại đình 5 gian bít đốc, mái lợp ngói ta, mặt bằng 6hàng chân Vì làm kiểu chồng rường, giá chiêng, bẩy hiên Trang trí tập trungvào phần mái và các cốn mè, đề tài tứ linh Đình đã được Nhà nước xếp hạng

Di tích Nghệ thuật Kiến trúc ngày 20/07/1994

Đình An Thái - phường Bưởi, quận Tây Hồ, TP.Hà Nội

Đình An Thái nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.Đình đã được công nhận là Di tích Văn hoá - Lịch sử năm 1994 Tươngtruyền rằng: Dưới triều Lý Nhân Tông, chỗ hợp lưu của sông Tô Lịch và sôngThiên Phù, nước xoáy vào chân thành Thăng Long làm xói mòn, có nguy cơsụt lở Nhà vua sai đắp đê ngăn nước nhưng không thành Lúc này có thầnbáo mộng: "Sáng sớm ngày nào đó, hễ thấy có một người đến bến sông nàytrước nhất thì nên theo ý muốn của người ta mà tiếp đãi một cách đầy đủ, rồiquẳng người ấy xuống sông và phong cho làm thần, lập miếu thờ tự thì mới

có thể trấn áp được" Quả nhiên sau có vợ chồng ông bà Võ Phục bán dầu đitới Sứ giả phi ngựa về báo với nhà Vua Vua có ý thương xót rồi nói: "Nêntheo lời của thần đem tình thật hiểu bảo người ra, không nên ức hiếp" Ông bà

Võ Phục khẳng khái nhận lời Sứ giả hỏi: "Bình nhật ông bà thích thứ gì hơncả?" Võ Phục nói: "Đồ gà mái nấu cơm nếp" Khi ăn xong, Võ Phục ngửamặt lên trời khấn: "Vợ chồng già này bỏ mình theo nước, trời cao có thấu, xinchứng giám cho" Liền đó tự gieo mình xuống nước, lúc ấy là ngày 30 tháng

11 Từ đó trở đi, dòng sông phẳng lặng Nhà vua trước đó vì lo lắng nên bịđau mắt, nay vui mừng nên bệnh cũng khỏi Theo Minh Đô sử của Lê Trọng

Trang 31

Hàm thì người vợ nhảy xuống nước trước, người chồng nhảy theo sau Vì thếđến nay, hàng năm vào ngày tế thần, lúc nghênh giá, kiệu vợ đi trước kiệuchồng Bảng thờ thần ở đền đến nay vẫn viết bốn chữ Âm Dương hợp đức (vợchồng cùng làm việc đức) Cảm kích công đức của vợ chồng Võ Phục, nhàvua cho lập miếu thờ và sắc phong là Chiêu Ứng Phù Vận Đại vương vàThuận Chính Phương Dung công chúa, lễ nghi phẩm vật rất long trọng, sắcphong cho ông bà làm phúc thần, rồi lại cho tìm con cháu ông bà Võ Phục về

để trông nom, thờ tự Hiện nay, họ Võ làng An Thái đều là dòng dõi của ông

bà Hiện nay ở vùng Bưởi có hai đình thờ ông bà Võ Phục là đình An Thái vàđình Bái Ân Các tài liệu còn lưu lại hiện nay cho biết An Thái và Bái Ânthuộc huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên

Cổng đình An Thái còn có câu đối ca ngợi công lao của ông bà:

" Bạch Hạc tâm đầu lưu thánh tích

Thăng Long thành giác kỉ thần công"

Dịch nghĩa:

"Bạch Hạc công đầu còn dấu thánh

Thăng Long thành góc chép công thần"

Đền thờ ông bà Võ Phục được xây dựng từ thế kỉ XI nhưng tới đời vua

Lê Hy Tông (1680 - 1716) mới được trùng tu lớn để trở thành ngôi đình làngthờ thành hoàng và đã được tôn tạo qua các triều đại

Ngoài cùng đình là tam quan, trên tam quan có hoành phi viết bốn chữ

Mỹ tục khả phong, tiếp đến là sân gạch và nhà thờ ba gian trong có long ngaithờ các vị Thành hoàng làng Đặc biệt trong đình còn có một tấm bia và câuđối ghi việc bắc cầu qua sông để vào trong thành cổ, cho biết về việc quyhoạch thành Thăng Long xưa

Đình còn giữ được cuốn Thần phả, 5 đạo sắc phong, trong đó có đạo sắcphong thời Quang Trung ngũ niên (1792) Các sắc phong từ thời Lê đến thời

Trang 32

Nguyễn sau này đều có viết Hộ quốc tý dân (phòng nước giúp dân) là những

mỹ từ cao quý dành cho các phúc thần có công lao đặc biệt

Trong đình còn có câu đối:

"Đức mậu an dân công tịnh hiệp

Danh lư vĩnh thế quốc gia phong"

Dịch nghĩa:

"Đức thịnh yên dân vợ chồng cùng hợp sức

Tiếng thơm muôn thuở nước nhà phong"

Trang 33

Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI

ĐÌNH LÀNG KIM TIÊN

2.1 Giá trị kiến trúc, nghệ thuật đình làng Kim Tiên

Đình làng, nhất là đình làng ở miền Bắc, là kho tàng hết sức phong phúcủa nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Việt Nam trong lịch sử Nghệ thuật kiếntrúc cũng tồn tại ở chùa, đền và các kiến trúc tôn giáo khác nhưng kiến trúc vàĐiêu khắc ở đình làng không những là nguồn tài liệu để nghiên cứu lịch sử

Mỹ thuật Việt Nam, mà còn là nguồn tài liệu để nghiên cứu đời sống ngàythường cũng như tâm hồn của người nông dân Việt

Nói đến nghệ thuật kiến trúc - điêu khắc đình làng cũng là nói đến nghệthuật trang trí đình làng Điêu khắc ở đây là điêu khắc trang trí Người thợlàm đình chẳng những thành thạo trong việc dựng đình mà còn biết tô điểmcho ngôi đình thêm đẹp Điêu khắc ở đây do đó gắn liền với kiến trúc Hầunhư trên các thành phần của kiến trúc đình làng đều được các nghệ nhân xưadùng bàn tay điêu luyện của mình chạm khắc thành những hình mẫu có giá trịnghệ thuật cao, thu hút sự chú ý của mọi người

Là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của làng Trung tâm văn hóatâm linh của làng Ở mỗi một ngôi đình làng lại mang trong mình những nétđẹp đặc trưng riêng biệt Bằng đôi bàn tay khéo léo của mình những nghệnhân xưa của làng Kim Tiên đã để lại cho hậu thế một công trình kiến trúc vôcùng độc đáo mà ít nơi nào có được Trải qua thời gian, rêu phong đã làm chongôi đình trở nên cổ kính Mái đình xoè rộng, bốn đầu đao cong vút, bộ cộtđình đồ sộ, ao làng soi bóng ngôi đình trầm mặc, dường như đình làng chỉ cònsống với thời đã qua Nhưng khi bước vào bên trong đình, không khí mát dịulàm ta như trút bỏ vướng mắc của đời sống, chìm vào không gian tâm linhbao bọc xung quanh để tĩnh trí mà chiêm bái trước đức Thành Hoàng làng,

Trang 34

nhìn ngắm những hình chạm khắc trên kiến trúc Và ta hiểu rằng ngôi đìnhđang ôm vào bên trong, thầm lặng giữ gìn một di sản nghệ thuật vô giá, màđến ngày hôm nay nhìn ngắm nó vẫn thấy hiển hiện, xôn xao đời sống xã hộimấy trăm năm về trước và để lại những giá trị to lớn về văn hóa, lịch sử vànghệ thuật.

2.1.1 Không gian cảnh quan

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, đa tín ngưỡng Vì vậy trong đờisống nhân dân bị ảnh hưởng rất nhiều đặc biệt là đời sống tâm linh Mà thấyhơn cả là các kiến trúc đình, đền, chùa , miếu…đa số các công trình này trướckhi xây dựng thì việc lựa chọn vị trí , thế đất giữ một vai trò hết sức quantrọng Vị trí xây dựng làm sao phải phù hợp với chức năng sử dụng và mụctiêu thẩm mỹ mang lại ra sao Đặc biệt hướng của đình lại bị chi phối bởinhiều lý do liên quan khác như: phong tục tâp quán, thuyết phong thủy…Vìvậy trước khi tìm hiểu về không gian cảnh quan của đình làng Kim Tiên, có lẽ

ta nên tìm hiểu về không gian kiến trúc của người Việt Trên cơ sở đó sẽ giúpchúng ta có cách tiếp cận khoa học và sâu sắc hơn với di tích đình làngKim Tiên

Kiến trúc của đình làng là một công rình kiến trúc cổ truyền của dân tộc.Ngôi đình không chỉ là trung tâm văn hóa của làng xã mà đôi khi nó còn làcủa cả một cùng hay một vùng cộng đồng dân cư khá rộng Mặc dù vậy, ngôiđình không mang tính chất là một kiến trúc đơn thuần, mà nó thực sự là mộtcông trình kiến trúc thiêng liêng Vì vậy, khi xây dựng nên một ngôi đình,cộng đồng không chỉ chú ý tới bản thân kiến trúc của ngôi đình, mà khônggian cảnh quan của ngôi đình cũng hết sức được người Việt quan tâm đến Vịtrí xây dựng đình phải được cân nhắc và tìm hiểu kỹ lưỡng, bởi vấn đề cònnày còn liên quan đến tâm linh Không gian và kiến trúc gắn bó với nhau,không chỉ là vị trí và cảnh quan mà còn có cả những yếu tố âm dương trong

đó Chính vì thế, việc xác định được không gian cảnh quan tốt cho di tích còn

có nhiều yếu tố khác liên quan

Trang 35

Nhìn chung không gian kiến trúc của người Việt có liên quan đến nhiềumặt, tỏng đó phải kể đến mối liên quan giữa môi trường tự nhiên và nơi cưtrú Bởi vậy sự tọa lạc của các di tích nói chung và đình làng nói riêng hầu hết

là ở hai nơi, hoặc là không gian thoáng đãng, hoặc là trung tâm của làng Đốivới đình làng nói riêng và các di tích khác nói chung, khi tiếp cận với khônggian của di tích ta thường tiếp cận với không gian lớn Khi chúng ta đi tới một

di tích hay một kiến trúc nào đó đều đi qua ít nhất 4 không gian khác nhau Ởđây chúng ta chỉ tạm gọi đồng ruộng là không gian tự nhiên( không gian đệmgiữa thành thị và nông thôn, sở dĩ tạm gọi bởi vì đồng ruộng không phải nơi

cư trú nên có thể tạm gọi là không gian tự nhiên) Khi đến ven làng thì đâyđược coi là nơi tiếp nối giữa không gian tự nhiên và không gian văn hóa Và ởtrong làng chúng ta đã tiếp cận với không gian văn hóa Và cuối cùng khi tađến trong di tích thì đó được gọi là không gian thiêng

Trong không gian lớn người ta thường chú ý tới thế đất Phía trước phảiquang đãng, đẹp nhất là chọn được thế đất có núi chầu về hay “ tả thanh long,hữu bạch hổ” Người Việt thường quan niệm ở phía trước thì nhìn ra đồngruộng bao la, không gian quang đãng, nếu nơi nào xa biển thì phía trướcthường có gò đống Đó chính là góp phần biểu hiện uy lực của nhà thánhtrong di tích, và cũng là một yếu tố thuộc phong thủy Người Việt cũng rấtchú trọng tới sự đối đãi giữa âm, dương Vì vậy mà nếu đằng trước mặt có hồnước và núi cao thì là nơi có vị trí đẹp và được ưu ái Nếu có dòng chảy tựnhiên thì người xưa quan niệm rằng bên phải là dương bên trái là âm nên tốtnhất là có dòng chảy thuận từ phải qua trái Dòng lưu thủy thuận chiều sẽ tạocho ngồn sống một sự sinh sôi phát triển mạnh mẽ

Điều quan trọng không kém trong không gian lớn đó chính là vị trí vàthế đất Vị trí để xây dựng đình phải là nơi cao ráo, vùng đất” tụ linh, tụthủy” Lịch sử làng xã đã chứng minh, nhiều ngôi đình của các làng xã do xâydựng ở vị trí không được tốt, phong thủy, âm dương không thuận nên có ảnh

Trang 36

hưởng xấu tới đời sống, kinh tế, xã hội của cư dân ngôi làng đó Chính vì thếnhiều ngôi đình đã được chuyển sang vị trí khác thuận đẹp hơn.

Còn trong không gian hẹp của một di tích thì yếu tố âm, dương cũng rấtđược coi trọng Quan niệm xưa thường chú ý tới yếu tố nước Ở phía trước các

di tích người ta thường có tạo ra những hồ nước để phù hợp với cảnh quan

Nhìn chung, thì không gian kiến trúc truyền thống của người Việt cổ rấtđược coi trọng Bên cạnh các yếu tố kể trên thì người xưa cũng rất chú trọngtới hướng của đình Thông thường theo quan niệm của người Việt, hướngNam là được chú ý hơn cả Vì trước hết thì hướng Nam đơn thuần là hướng

có gió mát vào mùa hè, tránh rét vào mùa đông, các cụ ta thường có câu: “ lấy

vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam” Đình làng Kim Tiên cũng được xây dựngtheo quan niệm trên

Nói chung, những yếu tố có ảnh hưởng tới di tích thì mỗi một yếu tố lạimang một ý nghĩa riêng Các cụ ngày xưa chú trọng việc xây dựng đình cũng

để mong một ước nguyện phát triển cho cả làng Vì thế nên, mỗi ngôi đình cổlại cho chúng ta một nét đặc trưng riêng mà không giống nhau Đình KimTiên cũng không nằm ngoài quan niệm trên

Đình được làm quay theo hướng Đông Nam Hướng đông là hướng mặttrời mọc, hướng Đông biểu tượng của mùa Xuân, tượng trưng là Rồng (tiêubiểu cho phái nam), cốt của nó là Mộc, tương quan với lửa nhưng khắc vớiđất và kim loại Theo phong thủy, nếu có một ngọn núi hoặc đồi nhỏ uốnkhúc ở đằng trước ngôi đình là rất tốt và tốt hơn nữa nếu có thêm một dòngnước hay con sông chảy ở phía Đông để nuôi dưỡng khu đất này Và thế đất ởphía Đông căn nhà cần phải hơi cao hơn thế đất phía Tây Còn hướng Namtượng trưng cho dương lực, mùa hạ, sự ấm áp và phương Nam đầy nắng ấm,mạng của hướng này là Hỏa Ở cả nội và ngoại phong thủy, hướng Nam là tốtnhất và lành nhất

Đình làng Kim Tiên được xây dựng trên một khu đất rộng rãi nằm ở phíacuối của làng, gần với chùa Khu đất rộng trên 8000 m2, gồm 5 thửa đất Phía

Trang 37

trước đình là một hồ nước lớn, là yếu tố mang tính tụ thủy tụ phúc theo nhưphong thủy Có phúc ắt sẽ phát triển và sinh sôi nảy nở.

Bên cạnh ý nghĩa trên, yếu tố nước ở đây còn mang giá trị về điều hòakhí hậu, đặc biệt vào những ngày hè nóng bức, cây xanh và hồ nước đã gópphần giảm bớt cái nóng, cái nắng và đình làng trở thành một nơi lý tưởng đểngười dân sau một ngày lao động mệt nhọc dừng chân nghỉ ngơi, giao lưu,bàn việc Đó là sự khởi nguyên, là phần âm trong tổng thể không gian củađình tạo thành ý niệm dương, đây chính là biểu hiện cho cầu sự sinh sôi pháttriển của cả cộng đồng làng xã

Người Việt chúng ta mang nguồn gốc của cư dân nông nghiệp, lấy nghềtrồng lúa nước làm kinh tế để phát triển Có cuộc sống và tư duy gắn với nôngnghiệp, thiên nhiên cây cỏ, thể hiện mong ước làm chủ, chinh phục thiênnhiên Vì vậy, trong việc xây dựng những công trình kiến trúc tín ngưỡng,tâm linh ông cha ta cũng rất chú trọng đến cảnh quan thiên nhiên, cây cốiđược trồng trong di tích ấy

Cây trồng tạo nên sự kết hợp hài hoà giữa các yếu tố của công trình, giữacông trình với tổng thể sân vườn, đem lại vẻ đẹp cho công trình Mặt khác,cây xanh còn xác nhận mảnh đất có di tích là tươi tốt, thích ứng với đấtthiêng, đất lành Nhiều loại cây qua quá trình lựa chọn và chắt lọc đã mang ýnghĩa biểu trưng, trở thành hình ảnh biểu tượng của di tích như gạo, đa, đề, si,muỗm, tùng Ở đây, bên ngay cạnh lối vào của đình có một cây đa rất lớn,tỏa bóng mát, những người dân thường lấy bóng mát dưới gốc đa làm chỗnghỉ chân sau những giờ làm việc mệt mỏi Là nơi lũ trẻ con trong làng hay rachơi với nhau khi có gió mát thì đây quả là chỗ lý tưởng để đón gió Phíatrước đình có một hồ rộng, được trồng nhiều loại cây khác nhau như: si,phượng, nhãn…không chỉ đem lại bóng mát mà còn tạo một vẻ linh thiêng, cổ

Trang 38

kính cho ngôi đình làng Đó là loại cây được coi như là nơi thường ngự củacác thần linh dân dã Cũng có khi là nơi nương tựa của các linh thần bơ vơ,nhờ gần với đình mà các vong linh được nương tựa vào thần mà hưởng chút ítlộc hương của chúng sinh Đối với các cây này, càng khúc khuỷu rậm rạp thìcàng được coi là gắn với thần linh nhiều hơn, và như thế cây si với các rễbuông nhiều thân… đã như tạo cho ngôi đình một không gian u linh hơn.

“Nhất” không có tường bao (thể hiện tính chất mở, chức năng sinh hoạt củalàng xã của công trình)

Sang thế kỷ XVII, do nhu cầu và phát triển của tín ngưỡng Thành Hoànglàng nên đình làng đã có sự biến đổi nhất định về kiến trúc, vào cuối thế kỷnày xuất hiện những ngôi đình có hậu cung mở rộng phần phía sau nối liềnvới tòa Đại Đình để có nơi thờ thần riêng, khẳng định chức năng đền thờ củađình làng tạo thành hình “chuôi vồ” hay còn gọi là hình chữ “Đinh”

Nhưng vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, về mặt kiến trúc thì đìnhlàng đã có sự đa dạng hơn, đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng cư dân làng xã

về việc có một không gian đủ rộng cho việc thờ cúng Tòa hậu cung, chốn thâmnghiêm phát triển thêm từ hình chữ “Đinh” tạo thành một tòa phía sau và song

Trang 39

song với tòa Đại Đình Đằng trước tòa Đại Đình có dựng thêm một tòa “Tiềntế” đã làm cho mặt bằng công trình kiến trúc thành hình chữ “Công”

Bên cạnh đó, cũng phổ biến loại mặt bằng hình chữ “Công”, do làmthêm gian nối Đại Đình và Hậu cung Sang thế kỷ XVIII, ở một số đình, nhàtiền tế có xu hướng chuyển thành Phương đình

Từ thế kỷ XIX, trở về sau này ngôi đình làng đã có thêm vào hai bên củatòa Đại Đình hai dãy nhà tả vu và hữu vu để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạtcủa cộng đồng làng xã, cùng với nghi môn và tường rào phát triển về sau này

đã tạo ra một bình diện mặt bằng kiến trúc với các đơn nguyên kiến trúc phíatrong là chữ “Công” và các đơn nguyên kiến trúc phía ngoài là chữ “Quốc”.Đình làng Kim Tiên được xây dựng theo kiến trúc hình chữ “ Đinh ” gồm:Đại đình và hậu cung, các kiến trúc này được liên kết, gắn bó với nhau bằng

hệ thống tường bao khép kín

Tóm lại, kiến trúc hình chữ" Đinh" của đình làng Kim Tiên mang nhữngnét đặc trưng, theo xu thế chung của bố cục các kiến trúc đình làng Việt Namthế kỷ XVII - thế kỷ XVII được xem là thời kỳ phát triển của loại kiến trúcgắn với tín ngưỡng thờ thành hoàng làng Đình làng Kim Tiên là ngôi đình cổvẫn giữ được những nét đẹp truyền thống của một ngôi đình Việt Nam xưa

Hậu cung

Trang 40

Hậu cung là chốn thâm nghiêm, là nơi thờ thánh của cả làng Hậu cungcủa đình làng Kim Tiên là một nếp nhà dọc ba gian gắn với gian giữa của tòaĐại đình Nhà có kết cấu đơn giản, kiểu vì kèo quá giang dưới dạng bào trơnđóng bén Chính giữa hậu cung là một sàn gỗ cao 120cm Nền của tòa Hậucung được tôn cao 30cm so với nền của tòa Đại đình Hai cửa ra vào, nơi tiếpgiáp của 3 gian Hậu cung và tòa Đại đình là hai xà ngưỡng bằng gỗ cao hơn30cm Trong các ngày thường thì không ai được vào hậu cung trừ cụ thủ từvào quét dọn và thắp nhang, chỉ đến khi có lễ hội thì các cụ chủ tế và bồi tếmới được vào để làm lễ Điều này thể hiện sự tôn nghiêm của vị Thành hoànglàng, vừa uy nghi vừa huyền bí

Nhìn chung, về bố cục mặt bằng tổng thể thì đình làng Kim Tiên còn bảolưu được sự bề thế, lộng lẫy của một công trình kiến trúc cổ, đình mangnhững nét đặc trưng của sự phát triển kiến trúc của đình làng thế kỷ XVII.Đặc biêt trong xu thế phát triển của quá trình đô thị hóa hiện nay, ngôi đình sẽ

là minh chứng cho bề dày truyền thống của một vùng đất cổ

2.1.3 Kết cấu các đơn nguyên kiến trúc đình làng Kim Tiên

 Kết cấu kiến trúc tòa đại đình

Đi qua một cái sân rộng lát gạch bát, ta đến tòa Đại đình đình làng KimTiên Tòa Đại đình là nơi diễn ra mọi hoạt động tế lễ và sinh hoạt cộng đồng,bởi vậy tòa Đại đình được xây dựng lớn và công phu

Kết cấu nền

Tòa Đại bái đình làng Kim Tiên được xây dựng trên nền có độ cao sovới mặt sân gạch phía trước là 60 cm Nền của tòa Đại bái được lát toàn bộbằng gạch bát bản rộng có khổ 30cm x 30cm Tiếp dẫn từ sân đình lên đếnnền của tòa Đại đình được xây giật cấp, bó vỉa bằng gạch, tạo thành một bậcthềm dẫn lên tòa Đại đình, có chiều cao là 20cm Nền hiện nay đã được lát lạibằng gạch đỏ, nhưng nền cũ của đình làm bằng gạch bát giống với gạch lát lởsân đình

Ngày đăng: 30/05/2020, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1996), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb ThuậnHóa
Năm: 1996
2. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb.VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb.VHTT
Năm: 2003
3. Trần Lâm Biền (1997), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Bộ VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống củangười Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Bộ VHTT
Năm: 1997
4. Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Thanhniên
Năm: 2001
5. Trịnh Thị Minh Đức - Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịchsử văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức - Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2007
6. Nguyễn Khởi (2002), Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc
Tác giả: Nguyễn Khởi
Nhà XB: NxbXây dựng
Năm: 2002
7. Vũ Tam Lang (1999), Kiến trúc cổ Việt Nam(tái bản lần thứ 2), Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cổ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tam Lang
Nhà XB: NxbXây dựng
Năm: 1999
8. Nguyễn Đình Toàn (2002), Kiến trúc Việt Nam qua các triều đại, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc Việt Nam qua các triều đại
Tác giả: Nguyễn Đình Toàn
Nhà XB: NxbXây dựng
Năm: 2002
9. Lưu Trần Tiêu (2002), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam, Công ty in tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam
Tác giả: Lưu Trần Tiêu
Năm: 2002
10. Lâm Bình Tường (1986), Sổ tay công tác bảo tồn văn hóa, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay công tác bảo tồn văn hóa
Tác giả: Lâm Bình Tường
Nhà XB: NxbKHXH
Năm: 1986
11. Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc vùng châu thổ sông Hồng, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc vùng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2008
12. Lê Thanh Đức (2001), Đình làng Miền Bắc, Nxb mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình làng Miền Bắc
Tác giả: Lê Thanh Đức
Nhà XB: Nxb mỹ thuật
Năm: 2001
13. Lê Thanh Đức (2001), Nét đẹp đình làng, Nxb mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đẹp đình làng
Tác giả: Lê Thanh Đức
Nhà XB: Nxb mỹ thuật
Năm: 2001
14. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng thành hoàng VN, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thành hoàng VN
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1996
15. Chu Quang Trứ (1996), Kiến trúc dân gian truyền thống VN, Nxb mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc dân gian truyền thống VN
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: Nxb mỹthuật
Năm: 1996
16. Hà Văn Tấn- Nguyễn Văn Kự (1998), Đình Việt Nam, Nxb TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn- Nguyễn Văn Kự
Nhà XB: Nxb TP. HCM
Năm: 1998
18. Mạnh Tường (2009), Từ điển VN, Viện ngôn ngữ học, Nxb.VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển VN, Viện ngôn ngữ học
Tác giả: Mạnh Tường
Nhà XB: Nxb.VHTT
Năm: 2009
19. Ngô Đức Thịnh (2007), Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, Nxb.VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb.VHTT
Năm: 2007
20. Phan Khanh (1991), Bảo tàng - Di tích - Lễ hội, Nxb.VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng - Di tích - Lễ hội
Tác giả: Phan Khanh
Nhà XB: Nxb.VHTT
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w