1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chế định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo Luật hỗtrợ doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2017 và các quy định pháp luậtliên quan về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

100 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương này gồm 8 điều từ Điều 1 đến Điều 6 quy định về phạm vi điềuchỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, tiêu chí xác định DNNVV, nguyêntắc hỗ trợ, quyền và nghĩa vụ của DNNVV tiế

Trang 1

UBND TỈNH NAM ĐỊNH

SỞ TƯ PHÁP

TÀI LIỆU LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT KINH DOANH

DÀNH CHO DOANH NGHIỆP

Chuyên đề: “Chế định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2017 và các quy định pháp luật

liên quan về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp”

Trang 2

Các chính sách về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) quy định tạiNghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp pháttriển DNNVV (sau đây gọi tắt là Nghị định 56) và các văn bản pháp luật liênquan thời gian qua đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, chínhsách và tổ chức thực hiện hỗ trợ DNNVV còn một số hạn chế, bất cập sau:

a) Về chính sách

- Một số chính sách hỗ trợ đã được quy định tại Nghị định 56 nhưng chịu

sự điều chỉnh của các luật trong các ngành, lĩnh vực khác (như Luật Đất đai,Luật Đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Đấu thầu, Luật Khoa học và Côngnghệ, các Luật về thuế…) Vì vậy, hiệu lực thực thi của Nghị định 56 chưa cao,dẫn đến việc thực hiện hỗ trợ DNNVV trong thực tiễn chưa hiệu quả

- Các chính sách quy định tại Nghị định 56 mang tính khuyến khíchchung, chưa cụ thể dẫn đến kết quả hỗ trợ còn hạn chế, chính sách hỗ trợ chưa đivào cuộc sống Điển hình là các chính sách hỗ trợ tài chính, mặt bằng sản xuất,

hỗ trợ mua sắm công, ươm tạo doanh nghiệp

- Nghị định 56 quy định kế hoạch và chương trình trợ giúp phát triểnDNNVV, song lại không quy định nguồn kinh phí hỗ trợ thực hiện, chưa tạo ra

cơ chế hình thành nguồn kinh phí dành riêng hỗ trợ DNNVV mà chủ yếu lồngghép vào các chương trình, chính sách hiện hành theo ngành, lĩnh vực

b) Về tổ chức thực hiện

- Việc triển khai thực hiện chính sách trợ giúp DNNVV còn chậm Một sốchính sách như bảo lãnh tín dụng (BLTD) tại các quỹ BLTD cho DNNVV cáctỉnh, thành phố và qua hệ thống Ngân hàng phát triển Việt Nam, hỗ trợ tài chínhthông qua Quỹ Phát triển DNNVV… mặc dù đã được ban hành từ nhiều nămtrước nhưng khi thực hiện còn nhiều vướng mắc Một số chương trình mất nhiều

Trang 3

thời gian để xây dựng các văn bản quy phạm hướng dẫn thực hiện, từ 2 đến 3năm, trong khi thời gian thực hiện dự kiến trong giai đoạn 5 năm.

- Nội dung nhiều chương trình trợ giúp DNNVV còn dàn trải, chưa tậptrung hoặc chưa gắn kết với nhau làm cho các DNNVV chưa tiếp cận hay nhậnđược sự hỗ trợ một cách thuận lợi Trong khi đó, đối với một doanh nghiệp,muốn phát triển bền vững thì phải có đầy đủ các yếu tố tài chính, công nghệ,thông tin, thị trường v.v… do đó cần có sự hỗ trợ mang tính tổng thể, toàn diện,liên kết chặt chẽ đồng thời có trọng tâm của Nhà nước

- Cơ chế điều phối hoạt động hỗ trợ DNNVV giữa các Bộ ngành, giữaTrung ương và địa phương chưa hiệu quả Hệ thống cơ quan, tổ chức thực hiện

hỗ trợ DNNVV từ Trung ương đến địa phương chưa được hình thành đầy đủ,nhất quán Cơ chế báo cáo, công khai minh bạch thông tin, giám sát và đánh giácác hoạt động hỗ trợ chưa được thực hiện nghiêm túc và đầy đủ

- Chưa có cơ chế thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân, các tổ chức, cánhân trong và ngoài nước đối với việc xây dựng và thực hiện các chương trình

hỗ trợ phát triển DNNVV trong khi nguồn ngân sách nhà nước hạn chế

Những hạn chế nêu trên đã làm cho những chính sách và chương trình hỗtrợ của Nhà nước chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu hỗ trợ phát triển của cộngđồng DNNVV Trong khi đó, các DNNVV rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước đểphát triển, nâng cao sức cạnh tranh, góp phần tích cực vào việc tạo ra việc làm

và thu nhập, đóng góp vào quá trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng, tạo ramột nền kinh tế năng động và hiệu quả

2 Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng

Nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, đảm bảo mọichủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo phápluật, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cánhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngànhkinh tế, góp phần xây dựng đất nước

Việc xây dựng và ban hành Luật Hỗ trợ DNNVV cũng nhằm cụ thể hoáchủ trương của Đảng và Nhà nước:

- “Tăng cường trợ giúp để phát triển mạnh doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh

tế hộ gia đình; hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp Khuyến khích hình thànhdoanh nghiệp lớn, thương hiệu mạnh” được nêu trong nhiệm vụ về đẩy mạnh cơcấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất,hiệu quả và sức cạnh tranh trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ

Trang 4

phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ pháttriển kinh tế- xã hội 5 năm 2016-2020.

- “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triểnmạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành mộtđộng lực quan trọng của nền kinh tế Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triểndoanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp” tại Báo cáo chính trị củaBan Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII của Đảng

- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh doanh nghiệp Việt Nam,nhất là doanh nghiệp tư nhân, làm động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tựchủ của nền kinh tế” tại Nghị quyết Đại hội Đảng khoá XII

- Các chủ trương tại Nghị quyết số 14-NQ/TW (khóa IX) ngày 18/3/2002

về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triểnkinh tế tư nhân; Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 09/12/2011 của Bộ Chính trị vềxây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

3 Học hỏi kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ phát triển DNNVV

Ở nhiều quốc gia, DNNVV đều chiếm tỷ lệ cao trong tổng số doanhnghiệp (từ 97-99%) và được xác định là “động lực tăng trưởng”, là “xươngsống” của nền kinh tế Các nước đã phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,Singapore, Liên minh châu Âu (EU)… và các nước đang phát triển trong khuvực như Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ… đều coi trọng vai trò củakhu vực DNNVV Do đó, công tác hỗ trợ DNNVV được xem như một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển của các quốc gia và đãđược các quốc gia này luật hóa từ nhiều thập kỷ trước thông qua việc sớm banhành các Đạo luật cơ bản về hỗ trợ DNNVV hoặc doanh nghiệp nhỏ nhằm thúcđẩy khu vực doanh nghiệp này phát triển và đổi mới sáng tạo, đóng góp ngàycàng cao trong nền kinh tế Hầu hết các quốc gia đã thể chế hoá hỗ trợ DNNVVdưới hình thức đạo luật hoặc luật (Nhật Bản, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc,Thái Lan) Thậm chí ở một số quốc gia, việc bảo vệ, hỗ trợ DNNVV được quyđịnh trong Hiến pháp như Hàn Quốc, Đài Loan

Một số quốc gia (Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia…) ban hành dưới hìnhthức là luật khung, luật cơ bản về hỗ trợ DNNVV, tạo cơ sở ban hành các luật

hỗ trợ DNNVV cụ thể khác như luật hỗ trợ tài chính, luật BLTD, luật thúc đẩyhợp tác liên kết giữa các DNNVV và doanh nghiệp lớn, luật khuyến khích đầu

Trang 5

tư, giảm thuế cho DNNVV, luật đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ, muasắm chính phủ đối với sản phẩm của DNNVV hoặc quy định hệ thống các chínhsách, biện pháp hỗ trợ cụ thể cho DNNVV Một số quốc gia khác ban hành dướihình thức là luật chi tiết (Mỹ, EU…), trong đó quy định các chính sách, biệnpháp cụ thể hỗ trợ DNNVV.

Các luật hỗ trợ DNNVV ở các quốc gia thường được điều chỉnh, sửa đổiphù hợp với ưu tiên phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tậptrung giải quyết các thách thức đối với sự phát triển của các DNNVV Bên cạnh

đó, các luật này cũng quy định hệ thống cơ quan chính phủ đầu mối về hỗ trợDNNVV với vai trò điều phối triển khai thực hiện hỗ trợ DNNVV Các đạo luậtcũng thể hiện rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc đảm bảo các nguồn lực

để tổ chức thực hiện hỗ trợ DNNVV

Vì vậy, để giải quyết những hạn chế, bất cập nêu trên và thực hiện chủtrương, đường lối của Đảng và Nhà nước, đồng thời học tập kinh nghiệm củacác quốc gia trên thế giới và khu vực trong hỗ trợ DNNVV, việc xây dựng vàban hành Luật Hỗ trợ DNNVV của Việt Nam là cần thiết, phù hợp với xu hướngchung của thế giới

II QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO DỰ ÁN LUẬT

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Cơ quan soạn thảo đãtriển khai các nội dung công việc sau:

1 Ban hành Quyết định số 1279/QĐ-BKHĐT ngày 26/11/2015 về việcthành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập dự án Luật Ban soạn thảo do Bộ trưởng

Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm Trưởng ban đã khẩn trương chuẩn bị các điều kiệncần thiết cho công tác soạn thảo dự án Luật theo đúng quy định của Luật Banhành văn bản quy phạm pháp luật

2 Tổ chức tổng kết, đánh giá tình hình xây dựng khung pháp luật hỗ trợDNNVV và thực tiễn triển khai thời gian vừa qua (bao gồm rà soát các cam kếtquốc tế liên quan đến hỗ trợ DNNVV mà Việt Nam là thành viên)

3 Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và trong khuvực về công tác hỗ trợ DNNVV

4 Khảo sát, đánh giá thực tiễn nhu cầu hỗ trợ của các DNNVV trong một

số ngành, lĩnh vực điển hình

5 Xây dựng và hoàn thiện dự thảo Luật:

Trang 6

- Tổ chức các cuộc họp, hội thảo, tọa đàm với sự tham gia đại diện củacác Bộ ngành, địa phương, tổ chức hiệp hội đại diện cộng đồng DNNVV, tổchức quốc tế, nhà khoa học, chuyên gia trong các ngành, lĩnh vực đối với cácnội dung của dự thảo Luật.

- Tổ chức các cuộc họp Ban soạn thảo và Tổ biên tập dự án Luật để cho ýkiến định hướng và đóng góp trực tiếp đối với dự thảo Luật

6 Tiến hành đánh giá tác động kinh tế-xã hội của dự thảo Luật

7 Tổ chức lấy ý kiến bằng văn bản của các thành viên Ban soạn thảo, Tổbiên tập dự án Luật; các Bộ ngành, địa phương, Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam (VCCI), các hiệp hội đại diện cho cộng đồng DNNVV đối với

dự thảo Luật Ban soạn thảo đã nhận được ý kiến của: 16/22 Bộ, cơ quan ngangbộ; 47/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các hiệp hội và các tổ chức, cánhân

8 Giới thiệu dự thảo Luật trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội,Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tham khảo ý kiến cộng đồng doanhnghiệp

9 Dự thảo Luật đã được Hội đồng thẩm định do Bộ Tư pháp chủ trì tiếnhành thẩm định và có Báo cáo thẩm định dự án Luật số 223/BC-HĐTĐ ngày19/8/2016 Cơ quan chủ trì soạn thảo đã phối hợp với các Bộ, ngành có liênquan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Hội đồng thẩm định, chỉnh lý dự thảo Luật

10 Chính phủ thảo luận và cho ý kiến tại các Phiên họp Chính phủthường kỳ tháng 7 năm 2016 và tháng 8 năm 2016

11 Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV đã thảo luận và cho ý kiến tạiPhiên họp thứ 4 ngày 06/10/2016

III MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT

Trang 7

b) Bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi

và không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thànhviên

c) Tăng cường năng lực và hiệu quả cho hệ thống cơ quan, tổ chức hỗ trợDNNVV; nâng cao hiệu quả điều phối, xây dựng, tổ chức thực hiện, giám sát vàđánh giá các hoạt động hỗ trợ DNNVV

d) Tạo khung pháp lý để huy động khu vực kinh tế tư nhân và các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước tham gia cùng Chính phủ thực hiện hỗ trợDNNVV

2 Quan điểm

Thứ nhất, cụ thể hóa chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về pháttriển kinh tế tư nhân, đặc biệt là Nghị quyết số 14-NQ/TW (khóa IX) ngày18/3/2002 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiệnphát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 09/12/2011 của BộChính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Namtrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Thứ hai, hỗ trợ DNNVV phù hợp với nguyên tắc thị trường, không phânbiệt đối xử, đảm bảo không vi phạm các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thànhviên

Thứ ba, hỗ trợ DNNVV sử dụng nguồn lực nhà nước chủ yếu thông quaviệc tạo cơ chế chính sách, điều kiện thuận lợi để các tổ chức trung gian cungcấp dịch vụ hỗ trợ DNNVV và thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch

vụ hỗ trợ DNNVV được lựa chọn theo quy định của pháp luật

Thứ tư, Nhà nước củng cố, kiện toàn hệ thống cơ quan, tổ chức hỗ trợ ởTrung ương và địa phương, đồng thời khuyến khích sự tham gia của các tổ chức,

cá nhân ngoài nhà nước để hỗ trợ DNNVV

Thứ năm, các nội dung, biện pháp hỗ trợ DNNVV phải dựa trên nhu cầucủa doanh nghiệp, nhằm giúp các doanh nghiệp tăng trưởng về chất lượng vàquy mô

IV BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA DỰ THẢO LUẬT

Dự thảo Luật có bố cục gồm 6 chương với 45 điều quy định những nộidung cơ bản sau:

1 Chương I Những quy định chung

Trang 8

Chương này gồm 8 điều (từ Điều 1 đến Điều 6) quy định về phạm vi điềuchỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, tiêu chí xác định DNNVV, nguyêntắc hỗ trợ, quyền và nghĩa vụ của DNNVV tiếp cận và nhận hỗ trợ.

a) Về phạm vi điều chỉnh và mối quan hệ với hệ thống pháp luật liên quan

Để khắc phục những hạn chế, bất cập tại Nghị định 56 và với mục tiêuthiết lập đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV, dự thảo Luật quy định phạm viđiều chỉnh của Luật gồm các nguyên tắc, nội dung hỗ trợ cơ bản, chương trình

hỗ trợ DNNVV, quản lý nhà nước về DNNVV; nguồn vốn, cơ chế phối hợp,giám sát và đánh giá DNNVV; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơquan, tổ chức và cá nhân liên quan đến DNNVV

Về mối quan hệ trong hệ thống pháp luật: Với quan điểm Luật này là luậtchung về hỗ trợ DNNVV, giữ vị trí và vai trò quan trọng trong pháp luật về hỗtrợ DNNVV, nhưng không phải là Luật duy nhất quy định về hỗ trợ DNNVV.Các luật khác vẫn có thể quy định các nội dung hỗ trợ DNNVV liên quan trongcác ngành, lĩnh vực thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của các luật đó Chínhphủ đã rà soát và tiếp thu, giải trình cụ thể như sau:

Một là, các quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với một số trường

hợp khi thực hiện hỗ trợ DNNVV đã được loại bỏ và không quy định tại dự thảoLuật này, chuyển sang quy định tại Bộ Luật hình sự và Chính phủ kiến nghịQuốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới

Hai là, rà soát các luật liên quan (Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật

Đất đai, các luật liên quan đến khoa học và công nghệ, Luật các Tổ chức tíndụng, Luật tổ chức chính quyền địa phương…) và điều chỉnh lại quy định tại dựthảo Luật để đảm bảo thống nhất, tránh mâu thuẫn với các luật đó

Riêng đối với Luật Đầu tư: Tại Điều 19 Luật Đầu tư quy định các hìnhthức hỗ trợ đầu tư1 Luật Đầu tư quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tạiViệt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài Các chínhsách ưu đãi đầu tư áp dụng đối với đối tượng là dự án đầu tư mới hoặc dự án đầu

tư mở rộng thuộc lĩnh vực ưu đãi và địa bàn ưu đãi mà không áp dụng đối vớipháp nhân là doanh nghiệp nhỏ và vừa Chính sách hỗ trợ đầu tư cho DNNVVquy định mang tính nguyên tắc trên cơ sở các yếu tố đầu vào cho một số đốitượng doanh nghiệp, trong đó có DNNVV, tuy nhiên các quy định về chính sách

Trang 9

hỗ trợ đầu tư trong Luật Đầu tư mang tính nguyên tắc chung, không có các biệnpháp, nội dung hỗ trợ cụ thể cũng như cơ chế tổ chức thực hiện.

Sau khi Luật Đầu tư được ban hành, hoạt động hỗ trợ DNNVV vẫn tiếptục được triển khai theo Nghị định số 56 Trước yêu cầu thực tiễn cấp bách cầnluật hóa các chính sách hỗ trợ DNNVV, Chính phủ đã đề xuất Quốc hội xâydựng Luật Hỗ trợ DNNVV với các biện pháp hỗ trợ cụ thể, tránh mâu thuẫn vớiquy định trong Luật Đầu tư

Ba là, bổ sung đối tượng hỗ trợ tại một số luật, bao gồm:

- Đối với Luật Đầu tư: dự thảo Luật quy định: doanh nghiệp, tổ chức đầu

tư kinh doanh chuỗi quốc gia phân phối sản phẩm (khoản 2 Điều 14) và cơ sởươm tạo, cơ sở kỹ thuật hỗ trợ DNNVV (Điều 18), khu làm việc chung chodoanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (Điều 28) được miễn, giảm tiền thuêđất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất như áp dụng đối với dự án đầu tư thuộcngành, nghề ưu đãi đầu tư Để quy định này có hiệu lực đồng bộ với pháp luật

về đầu tư, Chính phủ kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 16 LuậtĐầu tư như sau: “đầu tư kinh doanh chuỗi quốc gia phân phối sản phẩm; đầu tưkinh doanh cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật hỗ trợ DNNVV; đầu tư kinh doanhkhu làm việc chung cho doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”

- Đối với Luật Đấu thầu: dự thảo Luật quy định gói thầu xây lắp có giágói thầu không quá 05 tỷ đồng và gói thầu mua sắm hàng hoá, dịch vụ có giá góithầu không quá 03 tỷ đồng do các cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách nhànước để mua sắm công chỉ dành cho nhà thầu là các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ(Điều 15) Quy định tại dự thảo Luật thống nhất với quy định của Luật Đấuthầu, chỉ bổ sung đối với gói thầu mua sắm hàng hoá, dịch vụ có giá gói thầukhông quá 03 tỷ đồng chỉ dành cho DNNVV tham gia Vì vậy, Chính phủ kiếnnghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 3 Điều 14 Luật Đấu thầu để phùhợp với Điều 15 của dự thảo Luật

- Về các quy định của pháp luật về thuế: Thực hiện Nghị quyết 35/NQ-CPngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Chính phủđang xây dựng, trình Quốc hội nghị quyết về một số giải pháp về thuế nhằmtháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp Để tiếptục thực hiện Nghị quyết 35/NQ-CP và chính sách thuế hỗ trợ cho DNNVV cóhiệu quả, đồng bộ với các nội dung hỗ trợ tại Luật này, trước mắt Chính phủkiến nghị quy định các ưu đãi về thuế suất, thời gian miễn, giảm thuế TNDNcho DNNVV tại dự thảo nghị quyết của Quốc hội về một số giải pháp về thuếnhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp

Trang 10

thực hiện trong giai đoạn 2017-2020 Về lâu dài, Chính phủ kiến nghị sửa đổi,

bổ sung quy định pháp luật về thuế hiện hành để hỗ trợ DNNVV để đảm bảotính đồng bộ của hệ thống pháp luật

b) Về đối tượng áp dụng

Dự thảo Luật quy định đối tượng là các doanh nghiệp được thành lập theoLuật Doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định DNNVV tại Điều 4 dự thảoLuật, trong đó ưu tiên hỗ trợ các đối tượng là doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mớisáng tạo, doanh nghiệp chuyển từ hộ kinh doanh, DNNVV trong lĩnh vực sảnxuất chế biến, DNNVV tham gia chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành…

Dự thảo Luật được thiết kế với 2 phần quan trọng:

+ Các nội dung hỗ trợ cơ bản (Chương II, từ Điều 7 đến Điều 18): baogồm gia nhập và rút khỏi thị trường, tiếp cận tín dụng, tài chính, công nghệ, mặtbằng sản xuất, xúc tiến và mở rộng thị trường, mua sắm công, thông tin và tưvấn, đào tạo, ươm tạo và cung cấp dịch vụ hỗ trợ Đây là những hỗ trợ cơ bản,thiết yếu đối với tất cả các DNNVV Tuy nhiên, không hỗ trợ tài chính trực tiếphoặc bao cấp cho DNNVV mà những hỗ trợ cơ bản này thực hiện chủ yếu thôngqua việc tạo cơ chế chính sách, điều kiện thuận lợi để các tổ chức trung giancung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các DNNVV

+ Các chương trình hỗ trợ trọng tâm (Chương III, từ Điều 19 đến Điều32): là những hỗ trợ có mục tiêu, trọng điểm theo định hướng chuyển đổi môhình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, nângcao năng lực cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế Cụ thể, gồm 3 chương trình

hỗ trợ và các chương trình khác do Chính phủ quy định phù hợp với mục tiêu,định hướng phát triển và điều kiện ngân sách nhà nước (NSNN) trong từng thờikỳ

Trên cơ sở đó, so với Nghị định 56, Luật đã thu hẹp các đối tượng, hỗ trợ

có trọng tâm, ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo,DNNVV trong lĩnh vực sản xuất chế biến, doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị,cụm liên kết ngành với mục tiêu tạo ra những sản phẩm đổi mới sáng tạo, côngnghệ cạnh tranh và có giá trị gia tăng cao, tham gia được vào chuỗi giá trị toàncầu; phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của đất nước, lợi thế củatừng ngành, lĩnh vực, địa bàn và khả năng nguồn lực của quốc gia trong từngthời kỳ Các nội dung hỗ trợ tại dự thảo Luật chủ yếu là các hỗ trợ bằng cơ chếchính sách Một số nội dung hỗ trợ của các chương trình quy định tại Chương III

có liên quan đến hỗ trợ tài chính trực tiếp nhưng đối tượng của các chương trình

Trang 11

này đã được sàng lọc kỹ và hỗ trợ tài chính trực tiếp chỉ được thực hiện theonguyên tắc hỗ trợ sau đầu tư Theo ước tính, đối tượng tham gia chương trìnhtrọng tâm quy định tại Chương III mỗi năm không lớn2 nhưng sẽ có tác độngtích cực tới sự phát triển của doanh nghiệp khi tỷ suất lợi nhuận của các doanhnghiệp này tăng nhanh và là tiền đề quan trọng để các doanh nghiệp này tích lũyvốn, mở rộng sản xuất, đầu tư mới, tiếp tục mở rộng hoạt động sáng tạo củamình, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bền vững.

c) Về tiêu chí xác định DNNVV

Kế thừa quy định tại Nghị định 56, dự thảo Luật tiếp tục sử dụng tiêu chítổng nguồn vốn và số lao động bình quân năm để xác định DNNVV tương ứngvới 3 ngành kinh tế và 3 quy mô siêu nhỏ, nhỏ, vừa Để tạo sự linh hoạt cho các

cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV, dự thảo Luật quy định các cơ quan, tổ chứcchủ trì hỗ trợ DNNVV xác định đối tượng cụ thể phù hợp với tính chất, mục tiêucủa nội dung, chương trình hỗ trợ của cơ quan, tổ chức đó

hộ kinh doanh, doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành tạiChương III; Hỗ trợ chủ yếu thông qua việc tạo cơ chế chính sách, điều kiệnthuận lợi để các tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vàvừa…

đ) Quyền và nghĩa vụ của DNNVV

Đây cũng là nội dung mới so với Nghị định 56 Các quyền và nghĩa vụchung của doanh nghiệp đã được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 Vìvậy, dự thảo Luật chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ của DNNVV liên quanđến tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ; trong đó, nhấn mạnh đến quyền được bìnhđẳng tiếp cận và nhận hỗ trợ từ Nhà nước và tổ chức, cá nhân khác phù hợp với

2

Với các số liệu giả định thì Chương trình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mỗi năm có khoảng 5.000

DN đủ điều kiện tham gia Chương trình phát triển cụm liên kết ngành có tổng số doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia là 16.900 doanh nghiệp Do tính chất là hỗ trợ theo ngành nên tỷ lệ doanh nghiệp tham gia chương trình sẽ là toàn bộ các doanh nghiệp trong ngành (Chi tiết tại Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật)

Trang 12

mục tiêu, đối tượng và điều kiện hỗ trợ, đồng thời DNNVV có nghĩa vụ bố trínguồn lực đối ứng để tiếp nhận hỗ trợ và tổ chức thực hiện có hiệu quả; nghĩa vụhoàn trả mọi chi phí hỗ trợ trong trường hợp vi phạm hoặc lợi dụng chính sách

hỗ trợ của Nhà nước để trục lợi

2 Chương II Các nội dung hỗ trợ cơ bản DNNVV

Chương này gồm 12 điều (từ điều 7 đến điều 18) quy định về nội dung hỗtrợ hỗ trợ cơ bản cho DNNVV, bao gồm: gia nhập và rút khỏi thị trường, tíndụng, tài chính, công nghệ, mặt bằng sản xuất, xúc tiến và mở rộng thị trường,mua sắm công, thông tin và tư vấn, phát triển nguồn nhân lực, ươm tạo và cungcấp dịch vụ hỗ trợ

a) Hỗ trợ gia nhập, rút khỏi thị trường

Môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể trongnhững năm gần đây, nhưng nhìn chung còn thấp cả về thứ hạng và điểm số sovới trung bình của các nước ASEAN 6 và ASEAN 4 Nhằm tiếp tục tạo môitrường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và trở thành động lựccủa nền kinh tế, cụ thể hoá chủ trương “Nhà nước kiến tạo, lấy doanh nghiệp làđối tượng phục vụ” tại Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016, Nghị quyết 19(các năm 2014, 2015, 2016) của Chính phủ, dự thảo Luật quy định việc tạo môitrường, điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách để DNNVV gia nhập, rút khỏithị trường; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức ban hành các điều kiện đầu tư kinhdoanh về quy mô gây bất lợi hoặc thiệt hại cho DNNVV trong tiếp cận cácnguồn lực kinh doanh và trong hoạt động sản xuất kinh doanh và có hành viphân biệt đối xử, sách nhiễu, gây khó khăn cho DNNVV

b) Hỗ trợ tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng

Dự thảo Luật quy định các ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi choDNNVV tiếp cận vốn thông qua thiết kế điều kiện, quy trình, thủ tục cho vayđơn giản, phù hợp với với đặc điểm, quy mô doanh nghiệp, đa dạng hóa cáchình thức cấp tín dụng phù hợp với nhu cầu của DNNVV Tuy nhiên, để không

vi phạm các nguyên tắc thị trường, trong từng thời kỳ và tùy theo điều kiện ngânsách, Chính phủ để hỗ trợ các ngân hàng cho vay DNNVV theo định hướng ưutiên phát triển của Nhà nước thông qua cấp bù lãi suất và thực hiện các hìnhthức hỗ trợ khác từ NSNN

Từ phía các DNNVV, để nâng cao năng lực tiếp cận tín dụng cho cácDNNVV, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ thực hiện tư vấn xây dựngphương án sản xuất kinh doanh khả thi, nâng cao năng lực quản trị, minh bạch

Trang 13

hoạt động của DNNVV Các hoạt động tư vấn cho DNNVV được thực hiện quamạng lưới tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn DNNVV (quy định tạikhoản 1 Điều 16); các cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV ở trung ương và địaphương quy định tại Chương IV của dự thảo Luật.

Ngoài ra, nhằm mở rộng, đa dạng hoá kênh tiếp cận vốn và tạo cơ hội chocác DNNVV tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính sách3, tài chính vi mô, dựthảo Luật quy định: Chính phủ xây dựng các chính sách tạo điều kiện cho cácDNNVV tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách, các chương trình tài chính vi

c) Hỗ trợ tiếp cận tín dụng từ quỹ và các hình thức khác

Dự thảo Luật quy định đối với 2 quỹ tài chính của Nhà nước, bao gồm:Quỹ Phát triển DNNVV, Quỹ BLTD cho DNNVV ở các tỉnh, thành phố Trênthực tế, các quỹ này đã được thành lập và hoạt động, nhưng kết quả chưa đạtnhư kỳ vọng của cộng đồng DNNVV, chưa trở thành công cụ hỗ trợ thiết thực,hiệu quả cho DNNVV Do đó, dự thảo Luật điều chỉnh các quỹ này theo hướngkiện toàn tổ chức và hoạt động của quỹ BLTD, bổ sung chức năng cho Quỹ Pháttriển DNNVV Cụ thể:

- Về Quỹ Phát triển DNNVV: dự thảo Luật có quy định việc bổ sung chứcnăng và nhiệm vụ của Quỹ phát triển DNNVV thực hiện chức năng cho vay, đầu

tư, tài trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (theo tinh thần Nghịquyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ), DNNVV tham gia chuỗigiá trị bền vững, hình thành cụm liên kết ngành quy định tại Chương III

- Về BLTD cho DNNVV: Các DNNVV hiện được bảo lãnh vay vốn tại

các tổ chức tín dụng thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT VN) vàcác quỹ BLTD tại các tỉnh, thành phố Tuy nhiên, kết quả BLTD còn rất hạnchế Trong khi NHPT VN đã dừng BLTD cho DNNVV từ năm 2011 thì hoạtđộng của các quỹ BLTD tại các tỉnh, thành phố tồn tại nhiều bất cập, hạn chế,đặc biệt là quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động của các quỹ này Vì vậy, dựthảo Luật quy định: Quỹ BLTD cho DNNVV ở Trung ương tập trung thực hiệnchức năng tái bảo lãnh cho các quỹ BLTD cho DNNVV cấp tỉnh, thành phố vàBLTD cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, DNNVV trong lĩnhvực sản xuất chế biến, doanh nghiệp được chuyển đổi từ hộ kinh doanh vay vốntại tổ chức tín dụng, DNNVV tham gia chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành QuỹBLTD cho DNNVV cấp tỉnh, thành phố thực hiện chức năng BLTD cho

3

Nguồn vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu; nguồn vốn tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, cho lĩnh vực bất động sản, cho vay xuất khẩu, cho vay trong công nghiệp hỗ trợ…

Trang 14

DNNVV vay vốn tại các tổ chức tín dụng và cung cấp dịch vụ tư vấn, nâng caonăng lực xây dựng phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn vayhiệu quả cho DNNVV Để giải quyết những vướng mắc về tài sản bảo đảmtrong hoạt động BLTD hiện nay, Quỹ BLTD cho DNNVV thực hiện bảo lãnhdựa trên tài sản bảo đảm hoặc xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp và khôngđược từ chối nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.

c) Về hỗ trợ tài chính, thuế

Đây là điểm mới so với Nghị định 56 Thực tế giai đoạn 2009-2012, Quốchội và Chính phủ đã ban hành một số nghị quyết nhằm miễn, giảm, giãn thuếTNDN cho các DNNVV, góp phần khuyến khích những doanh nghiệp đầu tưmới, đầu tư mở rộng, đầu tư vào những lĩnh vực, địa bàn có nhiều khó khăn…

Để khắc phục bất cập quy định tại Nghị định 56, dự thảo Luật quy định: Doanhnghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa được áp dụng mức thuế suất thuế TNDN thấphơn mức thuế suất thông thường áp dụng cho doanh nghiệp quy định tại phápluật thuế TNDN; Doanh nghiệp siêu nhỏ được áp dụng mức thuế suất thấp hơndoanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa Việc giảm thuế TNDN theo 3 cấp quy môdoanh nghiệp của Nhà nước được xem như là một khoản đầu tư để nuôi dưỡngnguồn thu, tăng mức độ tích lũy của DNNVV, góp phần tạo việc làm, tăng thunhập, đảm bảo an sinh xã hội

Để đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật, phù hợp với pháp luậtthuế TNDN, dự thảo Luật chỉ quy định bổ sung đối tượng và các trường hợpđược hưởng ưu đãi thuế TNDN và tham chiếu đến pháp luật thuế TNDN Mứcthuế suất, thời hạn miễn, giảm thuế TNDN được quy định hoặc sửa đổi, bổ sungtại pháp luật thuế TNDN

Đồng thời, quán triệt tinh thần Nghị quyết 35/CP-NQ ngày 16/5/2016 củaChính phủ, dự thảo Luật quy định Chính phủ phải tiếp tục cải cách trình tự, thủtục về thuế, chế độ kế toán cho DNNVV theo hướng đơn giản, tạo thuận lợi choDNNVV

Kinh nghiệm quốc tế trong miễn, giảm thuế TNDN cho DNNVV chothấy, nhiều quốc gia áp dụng thuế suất TNDN thấp hơn mức thông thường choDNNVV Báo cáo nghiên cứu của OECD cho thấy chênh lệch thuế suất TNDNcủa DNNVV so với thuế suất thông thường như sau: Bỉ (11%), Canada (15%),Pháp (19%), Hungary (6%), Nhật Bản (15%), Hàn Quốc (12%), Hà Lan (5,5%),Anh (7%) Các quốc gia trong khu vực cũng có các chính sách tương tự, cụthể: doanh nghiệp nhỏ ở Malaysia được ưu đãi thuế suất TNDN 19% so với mứcthông thường là 25%; DNNVV ở Singapore được miễn thuế TNDN một phần

Trang 15

với các mức miễn 50% hoặc 75%; doanh nghiệp khởi nghiệp ở Singapore đượcmiễn thuế tối đa 200.000 đôla Singapore mỗi năm trong 3 năm đầu hoạt động;Thái Lan miễn và áp thuế TNDN giảm ở mức 10% cho DNNVV cho các thờiđiểm khác nhau….

d) Hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh

Tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh vẫn là một trong những khó khănlớn nhất của DNNVV và đã tồn tại nhiều năm qua, nhưng đến nay chưa có biệnpháp tháo gỡ hiệu quả Theo thống kê, quỹ đất công nghiệp trong các khu côngnghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (tỷ lệ lấp đầy chiếm khoảng 50%) và cáccụm công nghiệp (tỷ lệ lấp đầy chiếm khoảng trên 60%) vẫn còn nhiều, nhưngDNNVV vẫn khó tiếp cận đất công nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp Lý

do là các nhà đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp thường nhắm vào các kháchhàng lớn, cho thuê với diện tích đủ rộng để giảm chi phí quản lý, không muốnchia nhỏ diện tích cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của DNNVV Mặt khác, chiphí giá thuê cao, thời hạn thanh toán không linh hoạt, không phù hợp với khảnăng tài chính của DNNVV Theo thống kê, cả nước hiện chưa có khu, cụmcông nghiệp nào dành riêng cho các DNNVV Hầu hết các khu, cụm côngnghiệp đang hoạt động dành chung cho các doanh nghiệp, trong đó phần lớn làdoanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI

Nhằm tạo cơ chế cho DNNVV có điều kiện vào các khu, cụm côngnghiệp, khu công nghệ cao, dự thảo Luật đưa ra một số ưu đãi cụ thể, chủ yếuthông qua cơ chế về thuế, tiền thuê đất nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, tổchức đầu tư kinh doanh hạ tầng khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, khu côngnghệ cao dành quỹ đất cho DNNVV thuê

đ) Hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ

Hiện nay, các luật liên quan đến khoa học, công nghệ (Luật Khoa học vàCông nghệ, Luật Công nghệ cao, Luật Chuyển giao công nghệ…) quy địnhnhiều nội dung khuyến khích, hỗ trợ mang tính chất chuyên ngành, cho nhiềuđối tượng, gồm các nhà khoa học, viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, trong đó

có đối tượng là DNNVV Tuy nhiên, báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Nghịđịnh số 56 chỉ ra, hiện có hơn 10 chương trình hỗ trợ liên quan đến khoa họccông nghệ, nhưng việc tiếp cận và thụ hưởng từ các chương trình này còn rấthạn chế Vì vậy, để các quy định về hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ choDNNVV tại dự thảo Luật không bị trùng lắp, chồng chéo với các nội dung hỗtrợ tại các luật liên quan đến khoa học công nghệ, dự thảo Luật đã quy định, lựachọn các nội dung hỗ trợ phù hợp nhất với khả năng và nhu cầu của DNNVV

Trang 16

trong điều kiện NSNN còn hạn hẹp Đồng thời, để các DNNVV có thể tiếp cậntốt hơn các chương trình hỗ trợ trong lĩnh vực khoa học công nghệ, dự thảo Luậtquy định các đề án, chương trình, dự án khoa học công nghệ ở các cấp, các quỹquy định tiêu chí riêng để lựa chọn và tạo điều kiện để DNNVV tham gia, phùhợp với đặc điểm, quy mô của doanh nghiệp.

e) Hỗ trợ xúc tiến, mở rộng thị trường

Với năng lực và quy mô hạn chế, các DNNVV rất khó cạnh tranh đượcvới doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI trong việc tìm kiếm và duy trì thịtrường ngay tại nội địa Do đó, Nhà nước cần có chính sách phù hợp phát triển

hệ thống bán lẻ để thúc đẩy sản xuất trong nước và khuyến khích tiêu thụ hànghoá của DNNVV, giúp các DNNVV dành được vị thế tại thị trường nội địa Vớimục tiêu đó, dự thảo Luật quy định Nhà nước tham gia đầu tư dưới hình thứchợp tác công tư, bố trí quỹ đất và các nguồn lực khác để cùng với doanh nghiệp,

tổ chức đầu tư kinh doanh chuỗi quốc gia phân phối sản phẩm để tiêu thụ sảnphẩm, hàng hóa của DNNVV

Về thị trường nước ngoài, dự thảo Luật quy định Nhà nước hỗ trợ chi phíthành lập, vận hành các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu để xúc tiến, mở rộng thị trườngsản phẩm, hàng hóa của DNNVV

g) Về hỗ trợ mua sắm công:

Kế thừa quy định về mua sắm công tại Nghị định 56, dựa trên thông lệquốc tế và quy định hiện hành về ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu là DNNVVtrong mua sắm công tại Luật Đầu thầu4, dự thảo Luật quy định: gói thầu xây lắpkhông quá 05 tỷ đồng và mua sắm hàng hoá, dịch vụ không quá 03 tỷ đồng docác cơ quan, tổ chức có sử dụng NSNN để mua sắm công chỉ dành cho nhà thầu

là các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu đối với nhàthầu chính trong trường hợp nhà thầu chính sử dụng nhà thầu phụ là DNNVV.Quy định này cũng góp phần thúc đẩy hình thành liên kết kinh doanh và pháttriển công nghiệp hỗ trợ

Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ các DNNVV có sản phẩm đổi mới sáng tạo, dựthảo Luật quy định các sản phẩm đổi mới sáng tạo của DNNVV thuộc danh mụcsản phẩm đổi mới sáng tạo được hưởng ưu đãi của Chính phủ Đây cũng là mộtthông lệ mà nhiều quốc gia như Mỹ, EU, Hàn Quốc, Trung Quốc…đã và đangthực hiện5 Đồng thời, đây cũng là biện pháp để nâng cao chất lượng hàng hoá

4

Các gói thầu xây lắp có giá trị không quá 05 tỷ đồng chỉ cho phép nhà thầu là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ tham gia đấu thầu.

Trang 17

và dịch vụ công Quy định này cũng được đưa ra dựa trên thông lệ ưu đãi đấuthầu đã được quy định tại pháp luật về đấu thầu hiện hành của Việt Nam.

h) Hỗ trợ thông tin và tư vấn

- Về hỗ trợ tư vấn: dự thảo nhấn mạnh việc Nhà nước thu thập và công bố

dữ liệu về tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn hỗ trợ DNNVV Tư vấn hỗtrợ DNNVV tập trung trong các lĩnh vực như: tư vấn khởi nghiệp, lập kế hoạch,phương án sản xuất kinh doanh; tư vấn hỗ trợ pháp lý; tư vấn tài chính, thuế, kếtoán, lao động; tư vấn quản lý và điều hành sản xuất; tư vấn nghiên cứu, pháttriển, chuyển giao công nghệ… Các DNNVV có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấnđược quyền lựa chọn tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn đã được công bốthì được cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV hỗ trợ 50% chi phí hợp đồng tư vấn

- Về hỗ trợ pháp lý: đây là một nội dung mới so với Nghị định 56 Nộidung hỗ trợ này nhằm nâng cao nhận thức pháp lý, ý thức pháp luật và thói quentuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; tạo lập các điều kiện cần thiết phục vụ hoạtđộng thực thi pháp luật để giúp doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; phòngchống rủi ro pháp lý và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, gópphần nâng cao công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp

- Về cung cấp thông tin: Nhà nước hỗ trợ cung cấp thông tin phục vụ sảnxuất kinh doanh cho DNNVV, trong đó ngoài các thông tin về chủ trương, chínhsách liên quan, còn cung cấp thông tin về các kế hoạch, chương trình, dự án,hoạt động hỗ trợ DNNVV để DNNVV có thể tiếp cận một cách đầy đủ nhất

i) Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực

Kế thừa quy định về phát triển nguồn nhân lực tại Nghị định 56 và thựctiễn triển khai các hoạt động trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực choDNNVV trong thời gian vừa qua, dự thảo Luật quy định các hỗ trợ của Nhànước về khởi sự doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp thông qua đào tạo trựctuyến và đào tạo qua các phương tiện thông tin đại chúng Đồng thời, bổ sungquy định về hỗ trợ đào tạo nghề, dạy nghề, học nghề cho lao động làm việc tạicác DNNVV nhằm nâng cao chất lượng, tay nghề cho người lao động, tạo ra lựclượng lao động chất lượng, đáp ứng nhu cầu của DNNVV

k) Hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp, cung cấp dịch vụ hỗ trợ DNNVV

5

Chính phủ Mỹ quy định 23% số hợp đồng Liên bang phải dành riêng cho DNN&V của Mỹ (1997) Trung Quốc quy định các cơ quan chính phủ dành ít nhất 30% ngân sách hàng năm cho DNN&V mua sắm công (2012) Ấn Độ quy định mua sắm ít nhất 20% hàng hoá, dịch vụ từ các DNN&V (2012) v.v… Trên thực tế, DNN&V dành được 44% - 84% số hợp đồng mua sắm tại các quốc gia thành viên EU.

Trang 18

Ngoài các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp, hiện nay nhiều DNNVV, đặc biệttrong lĩnh vực sản xuất có nhu cầu sử dụng các thiết bị liên quan đến đo lường,phân tích, giám định, kiểm định sản phẩm, hàng hóa, vật liệu phục vụ cho nhucầu sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, để đầu tư vào những thiết bị này thường đòihỏi nguồn vốn lớn, vượt quá khả năng chi trả của DNNVV Trong khi đó, tầnsuất sử dụng các thiết bị không thường xuyên, do đó việc đầu tư vào các thiết bịnày thường không mang lại hiệu quả tối ưu đối với các doanh nghiệp riêng lẻ.Chính phủ nhiều nước trên thế giới (Nhật Bản, Hàn Quốc…) thường đầu tư muasắm những máy móc, thiết bị đáp ứng nhu cầu của DNNVV và cho DNNVVthuê sử dụng khi có nhu cầu Chính phủ các nước cũng khuyến khích các doanhnghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư cơ sở kỹ thuật để cho DNNVV thuê dùng chungnhằm nâng cao hiệu quả, hiệu suất sử dụng thiết bị.

Nhằm khuyến khích thành lập các vườn ươm DNNVV và các cơ sở kỹthuật cung cấp các dịch vụ hỗ trợ DNNVV, dự thảo Luật quy định cơ chế hỗ trợcho các doanh nghiệp, tổ chức đầu tư kinh doanh các cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹthuật hỗ trợ DNNVV như được hỗ trợ vay vốn ưu đãi; miễn, giảm tiền thuê đấttheo quy định đối với Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư; ưu đãi về thuếTNDN như mức áp dụng đối với dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinhtế-xã hội đặc biệt khó khăn

3 Chương III Chương trình hỗ trợ trọng tâm DNNVV

Chương này gồm 14 điều (từ điều 19 đến điều 32) quy định về cácchương trình là một điểm mới, khắc phục hạn chế tại Nghị định 56 Ngoài cácnội dung hỗ trợ cơ bản cho các DNNVV quy định từ Điều 9 đến Điều 20 dựthảo Luật, Nhà nước cần có các biện pháp hỗ trợ mang tính chọn lọc, chuyênbiệt, trọng tâm hướng tới những đối tượng mục tiêu như doanh nghiệp khởinghiệp đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp được chuyển đổi từ hộ kinh doanh,DNNVV có tiềm năng đổi mới sáng tạo, tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giátrị của các sản phẩm chủ lực của nền kinh tế hoặc trong một số ngành, lĩnh vựctrên cơ sở lợi thế của Việt Nam, từ đó góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng

và tái cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và

tự chủ của nền kinh tế

Những hỗ trợ trọng điểm này được thiết kế dưới dạng các chương trình hỗtrợ DNNVV, gồm: Chương trình hỗ trợ DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh;Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Chương trình

hỗ trợ DNNVV tham gia cụm liên kết ngành

a) Chương trình hỗ trợ DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh:

Trang 19

Theo thống kê, số lượng các hộ kinh doanh lớn, hoạt động chưa minhbạch Tính đến cuối năm 2015, cả nước có khoảng 3,4 triệu hộ kinh doanh đãđược cấp mã số thuế, trong đó có khoảng hơn 2 triệu hộ kinh doanh đang hoạtđộng sản xuất kinh doanh Theo đánh giá chung, sở dĩ các hộ kinh doanh khôngmuốn chuyển sang thành lập doanh nghiệp là vì đang được thực hiện cơ chế thuếkhoán (quy định tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC) đơn giản, dễ dàng hơn so vớithủ tục đóng thuế khi trở thành doanh nghiệp; không phải đóng bảo hiểm chongười lao động… Đây là khu vực kinh tế có tiềm năng, đóng góp lớn cho nềnkinh tế Nhà nước cần có các chính sách để khuyến khích đối tượng này từ khuvực kinh tế phi chính thức sang khu vực kinh tế chính thức, hạch toán minh bạch

và hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhận thức rõ vấn đề này, tại Nghị quyết35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệpđến năm 2020, Bộ Kế hoạch Đầu tư được giao thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng

cơ chế tạo điều kiện, hỗ trợ và khuyến khích hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi vàđăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp”

Để khuyến khích các hộ kinh doanh chuyển sang thành lập doanh nghiệp,Nhà nước cần có chính sách thuế áp dụng cho doanh nghiệp siêu nhỏ, khác vớiquy định hiện hành theo hướng đơn giản, dễ thực hiện, tần suất nộp ít hơn, rútgọn thủ tục nộp thuế và sửa đổi, bổ sung các quy định về bảo hiểm cho ngườilao động… Vì vậy, nội dung của Chương trình này tập trung vào một số hỗ trợ:

Hỗ trợ thủ tục chuyển đổi sang doanh nghiệp; Được hưởng ưu đãi về miễn, giảmthuế TNDN theo quy định của pháp luật thuế TNDN kể từ ngày được cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; miễn lệ phí môn bài trong thời hạn

02 năm đầu kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lầnđầu; Hỗ trợ áp dụng chế độ kế toán đơn giản, thuận tiện cho doanh nghiệp nhỏ,siêu nhỏ; được miễn phí sử dụng phần mềm kế toán; Miễn phí tham gia các khóađào tạo khởi sự kinh doanh, quản trị doanh nghiệp và đào tạo liên quan kháctheo nhu cầu tại thời điểm chuyển đổi sang doanh nghiệp để giúp chủ doanhnghiệp nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, kiến thức kinh doanh

b) Chương trình hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp đổi mới sáng tạo:

Việt Nam đang chuyển đổi mô hình từ phát triển dựa vào các yếu tố cơbản như tài nguyên, lao động giá rẻ sang phát triển dựa vào nâng cao hiệu suất.Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (hay còn gọi làstartup), doanh nghiệp đổi mới sáng tạo đã và đang khẳng định tiềm năng pháttriển với vai trò quan trọng trong thời gian gần đây Doanh nghiệp đặc biệt làcác DNNVV chính là nơi khởi nguồn đổi mới sáng tạo trong kinh doanh và cũng

Trang 20

chính là cầu nối đưa các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào thực tiễncuộc sống Năng lực cạnh tranh quốc gia nằm ở chính doanh nghiệp và được thểhiện qua khả năng cạnh tranh về chất lượng và giá cả của sản phẩm Sự khácbiệt về chất lượng và giá cả sản phẩm đến từ chính năng lực sáng tạo của cácdoanh nghiệp, trong đó yếu tố công nghệ là then chốt Nhiều doanh nghiệp ViệtNam đã làm chủ được công nghệ và sản xuất thành công những sản phẩm đổimới sáng tạo có giá trị kinh tế lớn, giúp giải quyết các thách thức quốc gia.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khởinghiệp đổi mới sáng tạo được thiết kế nhằm thúc đẩy phát triển các doanhnghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên cơ sở hình thành và phát triển hệ sinhthái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bền vững và thân thiện; qua đó, khuyến khíchcác DNNVV hiện thực các ý tưởng mới, phát triển và thương mại hóa sản phẩm

có tính sáng tạo, ứng dụng cao, ưu việt về giá cả và chất lượng, tạo giá trị giatăng và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường trong nước vàquốc tế

Tại Chương trình này, nhằm tạo tiền đề cho các hoạt động đầu tư khởinghiệp sáng tạo, dự thảo Luật quy định các địa phương được hình thành quỹ đầu

tư khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Tùy theo điều kiện ngân sách của địa phương,

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập và quản lý quỹ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mớisáng tạo, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện chức năng đầu

tư, tài trợ cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân khởi nghiệp đổi mới sángtạo Quỹ này được hình thành từ vốn góp hợp pháp của các nhà đầu tư với mụcđích đầu tư vào các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân khởi nghiệp đổi mới sángtạo Với nguyên tắc hỗ trợ DNNVV sử dụng nguồn vốn nhà nước và ngoài nhànước, việc huy động nguồn vốn từ khu vực ngoài nhà nước để hỗ trợ doanhnghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là cần thiết Vì vậy, dự thảo Luật quy địnhcác chính sách khuyến khích các quỹ đầu tư mạo hiểm của khu vực tư nhân, nhàđầu tư thiên thần đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm luật hóa và cócăn cứ để các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước góp vốn vào quỹ này

Bên cạnh đó, Quỹ Phát triển DNNVV quy định tại Điều 10 dự thảo Luật

và quỹ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của địa phương được góp vốn tối đa30% tổng số vốn huy động được của quỹ đầu tư khởi nghiệp đổi mới sáng tạocủa tư nhân trong và ngoài nước; xem xét thoái phần vốn góp tại các quỹ đầu tưkhởi nghiệp đổi mới sáng tạo sau 05 năm kể từ thời điểm góp vốn Đây cũng là

mô hình mà nhiều nước áp dụng để thúc đẩy nguồn vốn cho khởi nghiệp nhưSingapore, Israel…

Trang 21

Ngoài hỗ trợ về vốn, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được hỗtrợ gia nhập, hoạt động và rút khỏi thị trường; đào tạo, tư vấn và truyền thông;kết nối rộng thị trường; ứng dụng, chuyển giao công nghệ và hoàn thiện sảnphẩm, v.v Trong đó, để thu hút nhân lực công nghệ cao làm việc tại các doanhnghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, dự thảo Luật quy định đối tượng này đượcmiễn, giảm thuế TNCN theo quy định tại pháp luật thuế TNCN

c) Chương trình hỗ trợ DNNVV tham gia cụm liên kết ngành:

Hiện nay, một trong những hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam làmối liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước, giữa doanh nghiệp trong nướcvới doanh nghiệp FDI, đặc biệt DNNVV còn thiếu và yếu (cả chiều ngang,chiều dọc), trong khi đó đây lại là điều cốt yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh

và đổi mới công nghệ Đặc biệt, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa các doanhnghiệp sản xuất với các cơ sở khoa học, công nghệ, đào tạo; giữa các doanhnghiệp với nhau để nâng cao sức cạnh tranh, từng bước tham gia sâu hơn vàochuỗi giá trị toàn cầu Trước yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, áp lực hộinhập với những luật chơi mới trong thời gian tới đòi hỏi phải cải thiện năng lựccạnh tranh doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi giá trị,chuyển dịch lên mắt xích có giá trị gia tăng cao hơn

Mục tiêu của chương trình là thúc đẩy hình thành liên kết giữa các doanhnghiệp, giữa doanh nghiệp và các tổ chức khác nhằm giúp doanh nghiệp thamgia sâu hơn vào chuỗi giá trị, hình thành và phát triển các cụm liên kết ngànhsản phẩm có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, tạo ra chuỗi giá trị gia tăng cao vàbền vững cho các sản phẩm chủ lực quốc gia, khắc phục được tính nhỏ lẻ, thiếuliên kết, rời rạc của các DNNVV

Đối tượng hỗ trợ của chương trình là các DNNVV thuộc cụm được xácđịnh tham gia trong chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực quốc gia Thông qua cácchính sách hỗ trợ cho đối tượng DNNVV thuộc cụm này sẽ tác động tích cực tớichuỗi, làm gia tăng giá trị vượt trội của sản phẩm (về giá cả, chất lượng), gópphần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, của nền kinh tế

d) Về nguyên tắc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình:

Dự thảo Luật quy định Chính phủ xem xét bổ sung các chương trình hỗtrợ DNNVV khác (theo quy định của Luật này) phù hợp với mục tiêu và địnhhướng ưu tiên phát triển của Nhà nước trong từng thời kỳ để đảm bảo sự linhhoạt, phù hợp với thực tiễn hỗ trợ DNNVV, nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc

từ xây dựng chương trình tại Điều 20 dự thảo Luật

Trang 22

Để nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình, dự thảo Luật quy định việc

tổ chức kiểm tra định kỳ, công khai, giám sát và đánh giá chương trình hỗ trợDNNVV

Về kinh phí thực hiện, để phù hợp với khả năng, tùy theo điều kiện ngânsách từng thời kỳ, Chính phủ bố trí kinh phí và huy động các nguồn lực khác đểthực hiện các chương trình hỗ trợ DNNVV, trong đó có ưu tiên bố trí nguồnkinh phí từ các chương trình hỗ trợ của Nhà nước trong các ngành, lĩnh vực đểthực hiện các chương trình hỗ trợ DNNVV quy định tại Luật này

Để quy định cụ thể và tạo sự linh hoạt trong thực hiện, dự thảo Luật dựkiến giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung từng chương trình, phù hợp vớiđịnh hướng ưu tiên phát triển của Nhà nước và điều kiện NSNN trong từng kỳ

4 Chương IV: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm hỗ trợ DNNVV của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Chương này gồm 4 điều (từ điều 33 đến điều 36) quy định nội dung quản

lý nhà nước về hỗ trợ DNNVV; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm hỗ trợDNNVV của Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh, hiệp hội và tổ chức, cánhân liên quan

Đây là một yêu cầu thực tiễn mà Nghị định 56 chưa đề cập đầy đủ, dẫn tớicác bộ, ngành, địa phương, tổ chức và cá nhân có liên quan chưa xác định rõnhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong hỗ trợ DNNVV Vì vậy, dựthảo Luật kế thừa một số quy định tại Nghị định 56, đồng thời bổ sung các quyđịnh khác để làm rõ nội dung về quản lý nhà nước và nhiệm vụ, quyền hạn củacác đơn vị liên quan Cụ thể như sau:

a) Nội dung, trách nhiệm quản lý nhà nước về hỗ trợ DNNVV

Thực tiễn cho thấy, hầu hết Bộ, ngành, địa phương đều thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về DNNVV theo lĩnh vực, địa bàn phụ trách thông quaviệc ban hành, triển khai, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các cơ chế chính sách

hỗ trợ DNNVV thuộc ngành, lĩnh vực, địa bàn quản lý; đồng thời bố trí nguồnlực để triển khai thực hiện Kế thừa quy định tại Nghị định 56, dự thảo Luật tiếptục quy định Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất thựchiện quản lý nhà nước về hỗ trợ DNNVV Đồng thời, các bộ, ngành, địa phươngtrong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lýnhà nước về hỗ trợ DNNVV trong ngành, lĩnh vực, địa bàn quản lý

b) Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm hỗ trợ DNNVV của UBND cấptỉnh

Trang 23

Tại địa phương, dự thảo Luật quy định UBND cấp tỉnh thực hiện quản lýnhà nước về hỗ trợ DNNVV ở địa phương và giao Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơquan giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về DNNVV ở địa phương Đồngthời, để củng cố, tăng cường đơn vị đầu mối thực hiện hỗ trợ DNNVV ở địaphương, dự thảo Luật quy định: UBND cấp tỉnh giao cơ quan đầu mối trựcthuộc Ủy bản nhân dân cấp tỉnh để thực hiện hỗ trợ DNNVV ở địa phương Vớiquy định này không có nghĩa là hình thành ra một tổ chức mới mà sẽ kiện toàn,sắp xếp cơ cấu tổ chức thực hiện hỗ trợ DNNVV ở địa phương theo nguyên tắckhông phát sinh tổ chức, biên chế mới tại cấp tỉnh.

c) Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm hỗ trợ DNNVV của Phòng mại vàCông nghiệp Việt Nam, Hiệp hội DNNVV Việt Nam và các hiệp hội khác

Hiện nay, các tổ chức hội, hiệp hội đại diện cho doanh nghiệp (gọi tắt là

tổ chức hiệp hội) phát triển tương đối đa dạng và phong phú Đa số các tổ chứchiệp hội đã chủ động trong các hoạt động để hỗ trợ doanh nghiệp hội viên Tuynhiên, vai trò của các tổ chức, hiệp hội, đặc biệt là các tổ chức hiệp hội chuyênngành vẫn chưa tương xứng với kỳ vọng của xã hội và doanh nghiệp Để pháthuy được vai trò của các tổ chức hiệp hội đại diện cho cộng đồng DNNVV ViệtNam, tạo được bước đột phá về cơ chế để phát huy sự tham gia của các tổ chứcđại diện cho DNNVV trong việc xây dựng, phản biện và thực hiện chính sách hỗtrợ DNNVV, đồng thời tham gia cung cấp các dịch vụ công hỗ trợ DNNVV, dựthảo Luật quy định về trách nhiệm, quyền hạn của Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam, Hiệp hội DNNVV Việt Nam và các hiệp hội khác Nhằm đềcao vai trò của khu vực DNNVV, các hiệp hội được tổ chức các sự kiện để tônvinh khen thưởng các DNNVV tiêu biểu, các cá nhân, tổ chức có thành tíchtrong hỗ trợ DNNVV

Ngoài ra, dự thảo Luật bổ sung quy định được phép cấp chứng chỉ, chứngnhận chuyên ngành trong ngành, lĩnh vực phụ trách đối với các hiệp hội ngành,lĩnh vực nhằm từng bước nâng cao năng lực và chuyên nghiệp hoá hoạt độngcủa các tổ chức hiệp hội

d) Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm hỗ trợ DNNVV của tổ chức, cánhân cung cấp dịch vụ hỗ trợ DNNVV

Với quan điểm Nhà nước chủ yếu hỗ trợ DNNVV thông qua tạo cơ chế đểkhuyến khích khu vực tư nhân, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thamgia vào hỗ trợ DNNVV thì đây là lực lượng quan trọng trong hỗ trợ DNNVV

Dự thảo Luật quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm hỗ trợ DNNVV củacác tổ chức, cá nhân này, cụ thể: thực hiện cung cấp dịch vụ hỗ trợ DNNVV

Trang 24

theo các điều kiện, cam kết nhận hỗ trợ của Nhà nước theo quy định của Luậtnày; tham gia, phối hợp với Nhà nước đầu tư thành lập, quản lý và vận hành đơn

vị thực hiện hỗ trợ DNNVV ở trung ương và địa phương theo hình thức hợp táccông tư hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật

5 Chương V Nguồn vốn, cơ chế phối hợp, giám sát và đánh giá hỗ trợ DNNVV

Chương này gồm 6 điều (từ điều 37 đến điều 42) quy định về nguồn vốnnhà nước hỗ trợ DNNVV, huy động nguồn vốn ngoài NSNN hỗ trợ DNNVV,điều phối, công khai, giám sát công tác hỗ trợ DNNVV

a) Nguồn vốn hỗ trợ và dự toán NSNN hỗ trợ DNNVV

Thực tiễn hỗ trợ DNNVV thời gian qua và qua tổng kết, đánh giá tìnhhình thực hiện Nghị định 56 cho thấy, một trong số những hạn chế, bất cập củaNghị định này là không có nguồn kinh phí để tổ chức triển khai hỗ trợ DNNVV,tức chưa quy định hoặc chưa tạo ra được cơ chế hình thành nguồn kinh phí để

hỗ trợ DNNVV Vì vậy, dự thảo Luật quy định: Hàng năm, cơ quan, tổ chức hỗtrợ DNNVV lập dự toán ngân sách đối với các nội dung, chương trình hỗ trợDNNVV theo quy định của Luật này để tổng hợp vào kế hoạch phát triển kinhtế-xã hội và dự toán NSNN

Kinh phí thực hiện các nội dung, chương trình hỗ trợ sẽ được tổng hợpchung trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội để cân đối theo đúng quy địnhcủa Luật NSNN

b) Huy động nguồn vốn ngoài NSNN cho hỗ trợ DNNVV

Với quan điểm Nhà nước hạn chế hỗ trợ trực tiếp, chủ yếu hỗ trợ gián tiếpthông qua các tổ chức, cá nhân trung gian cung cấp dịch vụ hỗ trợ DNNVV Vìvậy, NSNN dành cho hỗ trợ DNNVV mang tính chất hỗ trợ tạo ra những hạ tầng

hỗ trợ chung (phát triển các cơ sở ươm tạo …) hoặc đầu tư ban đầu mang tínhchất “vốn mồi” Trên cơ sở đó, dự thảo Luật quy định: Nhà nước khuyến khích

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư, tài trợ, hỗ trợcho DNNVV Đồng thời, các tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ, hỗ trợ choDNNVV được hưởng ưu đãi theo quy định của Luật này và pháp luật có liênquan; được tôn vinh, khen thưởng theo quy định của pháp luật Đây là một nộidung mới so với Nghị định 56 nhằm phát huy tối đa nguồn lực xã hội, đặc biệt là

từ khu vực tư nhân tham gia hỗ trợ DNNVV

c) Cơ chế điều phối công tác hỗ trợ DNNVV

Trang 25

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, các chương trình hỗ trợ được thực hiệnbởi nhiều cơ quan và hầu hết chưa xác định được tiêu chí rõ ràng để DNNVVtham gia dẫn đến DNNVV chưa được tiếp cận hoặc tiếp cận rất hạn chế các hỗtrợ này Vì vậy, dự thảo Luật quy định tăng cường vai trò điều phối chung côngtác hỗ trợ DNNVV cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đảm bảo thống nhất trong xâydựng và tổ chức triển khai hỗ trợ DNNVV trên phạm vi toàn quốc.

d) Cơ chế công khai, giám sát và đánh giá hỗ trợ DNNVV

Một trong những nguyên tắc hỗ trợ DNNVV quy định tại Luật là hỗ trợphải bảo đảm công khai, minh bạch, dễ tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ của Nhànước Vì vậy, dự thảo Luật bổ sung các quy định về công khai, giám sát và đánhgiá hỗ trợ DNNVV

6 Chương VI: Điều khoản thi hành

Chương này gồm 3 điều (từ điều 43 đến điều 45) quy định về điều khoảnchuyển tiếp, hiệu lực thi hành, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Dự thảo Luật quy định điều khoản chuyển tiếp về thời điểm có hiệu lựcthi hành Theo đó, các chương trình, kế hoạch, hoạt động phát sinh trước Luậtnày vẫn tiếp tục thực hiện như đã phê duyệt; các chương trình, kế hoạch, hoạtđộng phát sinh sau khi Luật này có hiệu lực thi hành thì sẽ thực hiện theo quyđịnh của Luật này

Phần thứ hai

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DỰ THẢO LUẬT HỖ TRỢ DNNVV

Trang 26

A - ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG CHÍNH

I BỐI CẢNH

Công tác hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam đã bắtđầu triển khai từ năm 2001 với sự ra đời của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV (đã được thay thế bởiNghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ) Trên cơ sở này,nhiều kế hoạch, chương trình, dự án hỗ trợ DNNVV đã được ban hành và triểnkhai trong thời gian qua

Các chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ DNNVV đã và đang từngbước đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao nhận thức và sự quan tâm đối vớicông tác hỗ trợ phát triển DNNVV của các Bộ ngành, địa phương, tổ chức hiệphội và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã hìnhthành được một đầu mối chính thức về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hỗ trợ pháttriển DNNVV, tham gia tích cực vào các diễn đàn đa phương như Hợp tác Kinh

tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Hợp tác Á-Âu (ASEM); với các tổ chứcquốc tế và khu vực như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu

Á (ADB), Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO), Hiệp hộicác quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), v.v

Theo yêu cầu tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008,

cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ “Tổ chức đánh giá tác động vàxây dựng báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản Nội dung của báo cáođánh giá tác động phải nêu rõ các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối vớitừng vấn đề đó; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh, chi phí, lợi ích củacác giải pháp” (Điều 33) Luật cũng quy định rằng hồ sơ dự án, dự thảo gửiChính phủ tham gia ý kiến bao gồm: a) Tờ trình về dự án, dự thảo; b) Dự thảovăn bản; c) Bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo và báo cáo đánh giá tácđộng của dự án, dự thảo

Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 sẽ thay thế Luật

2008 từ ngày 1/7/2016 tới đây cũng quy định cơ quan, tổ chức có trách nhiệmtiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật,pháp lệnh Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiếnhành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháplệnh Trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, cho ý kiến về dự

án luật, pháp lệnh, nếu có chính sách mới được đề xuất thì cơ quan đề xuất chính

Trang 27

sách đó có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách Nội dung đánh giá tácđộng của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ:vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp để thực hiện chínhsách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giảipháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan,

tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh, giá tác động thủ tục hành chính; tácđộng về giới (nếu có) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội khi đánh giá tácđộng của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệmnghiên cứu, soạn thảo dự thảo báo cáo đánh giá tác động; lấy ý kiến góp ý, phảnbiện dự thảo báo cáo; tiếp thu, chỉnh lý dự thảo báo cáo (Điều 35)

Ngày 14 tháng 5 năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số34/2016/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Banhành văn bản quy phạm pháp luật Theo Nghị định này, tác động của chính sáchđược đánh giá gồm:

1 Tác động về kinh tế được đánh giá trên cơ sở phân tích chi phí và lợiích đối với một hoặc một số nội dung về sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, môitrường đầu tư và kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tổ chức và

cá nhân, cơ cấu phát triển kinh tế của quốc gia hoặc địa phương, chi tiêu công,đầu tư công và các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế;

2 Tác động về xã hội của chính sách được đánh giá trên cơ sở phân tích,

dự báo tác động đối với một hoặc một số nội dung về dân số, việc làm, tài sản,sức khỏe, môi trường, y tế, giáo dục, đi lại, giảm nghèo, giá trị văn hóa truyềnthống, gắn kết cộng đồng, xã hội và các vấn đề khác có liên quan đến xã hội;

3 Tác động về giới của chính sách (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phântích, dự báo các tác động kinh tế, xã hội liên quan đến cơ hội, điều kiện, nănglực thực hiện và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới;

4 Tác động của thủ tục hành chính (nếu có) được đánh giá trên cơ sởphân tích, dự báo về sự cần thiết, tính hợp pháp, tính hợp lý và chi phí tuân thủcủa thủ tục hành chính để thực hiện chính sách;

5 Tác động đối với hệ thống pháp luật được đánh giá trên cơ sở phân tích,

dự báo khả năng về thi hành và tuân thủ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, tácđộng đối với tổ chức bộ máy nhà nước, khả năng thi hành và tuân thủ của ViệtNam đối với các điều ước quốc tế

Trang 28

Báo cáo đánh giá tác động này được thực hiện đối với Dự thảo Luật Hỗtrợ DNNVV Báo cáo được thực hiện dựa trên cơ sở các phương án chính sáchđược thể hiện trong Dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV Báo cáo này sẽ được sử dụngnhằm lấy ý kiến góp ý, phản biện dự thảo báo cáo đánh giá tác động của chínhsách và sẽ tiếp tục được chỉnh lý dựa trên cơ sở các ý kiến đóng góp đối với báocáo và trên cơ sở những phương án chinh sách sẽ được điều chỉnh, bổ sung trong

Dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV trong thời gian tới

Báo cáo đánh giá tác động này chủ yếu phân tích một cách khách quan,độc lập bằng các phương pháp định tính và định lượng về các tác động tíchcực/lợi ích, các tác động tiêu cực/chi phí của các giải pháp chính sách được đưa

ra Dự thảo Luật

Các phân tích này cũng sẽ tiếp tục được hoàn thiện, bổ sung trong suốtquá trình tham vấn ý kiến (hội thảo, đóng góp ý kiến bằng văn bản, tọa đàm…)nhằm hỗ trợ cho việc tìm ra giải pháp chính sách phù hợp nhất sẽ được đưa vào

dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV

II TÓM TẮT TỔNG HỢP NHỮNG TÁC ĐỘNG CHÍNH

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định kinh tế tưnhân là “một động lực quan trọng” trong sự phát triển của đất nước Trong các

kỳ Đại hội trước và nhiều Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, Đảng ta

đã nhiều lần khẳng định kinh tế tư nhân là “một trong những động lực”; tuynhiên, đây là lần đầu tiên kinh tế tư nhân được xác định là “là một động lựcquan trọng của nền kinh tế.” Quan điểm này của Đại hội XII không chỉ là một sựxác nhận vai trò mới của kinh tế tư nhân, mà còn mở ra những cơ hội mới đểthành phần kinh tế này phát triển mạnh mẽ hơn trong những năm sắp tới

1 Tác động kinh tế

Luật Hỗ trợ DNNVV là một trong những nỗ lực mới nhất nhằm triển khaiđịnh hướng này của Đảng Trong bối cảnh dư địa về các nguồn lực cho pháttriển ngày càng hạn hẹp (nguồn vốn ODA đã giảm mạnh và trở lên đắt đỏ hơn,cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia về nguồn vốn FDI, khu vực doanh nghiệpnhà nước ngày một thu hẹp…), việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân ViệtNam sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển bền vững và khảnăng thoát khỏi bẫy các nước có thu nhập trung bình của Việt Nam trong nhữngthập niên tới

Trang 29

Sau Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và hệ thống pháp luật liên quan đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, Việt Nam sẽ có mộtvăn bản luật dành cho DNNVV thuộc mọi thành phần kinh tế Đây là một thôngđiệp mạnh mẽ về việc phát triển các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp

tư nhân tại Việt Nam Trong bối cảnh các dư địa về nguồn lực cho phát triểnkinh tế, việc phát triển DNNVV và các doanh nghiệp tư nhân nhằm tiếp tục giảiphóng một nguồn lực vô cùng to lớn cho sự phát triển kinh tế của Việt Namtrong giai đoạn tới

Thứ nhất, cùng với những đột phá của Luật Doanh nghiệp và những cảicách của Luật Đầu tư, các nỗ lực về cải cách điều kiện kinh doanh, giấy phépcon đang được Chính phủ tích cực thực hiện và các biện pháp hỗ trợ doanhnghiệp qua Nghị quyết 19/NQ-CP, Nghị quyết 35/NQ-CP, Luật Hỗ trợ DNNVV

sẽ có tác động tích cực tới mục tiêu đạt được 1 triệu doanh nghiệp đang thực sựhoạt động vào năm 2020

Hiện Việt Nam có khoảng 480.000 doanh nghiệp đang hoạt động6 Vớihơn 520.000 doanh nghiệp mới được thành lập và thực sự đi vào hoạt động,tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, điều này sẽ thúc đẩy quá trìnhchuyển dịch kinh tế ngành/ nâng cao năng suất kinh tế qua chuyển dịch kinh tếngành Với giả định quy mô vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp như hiệntại là 10.5 tỷ đồng/ doanh nghiệp, sẽ có có ít nhất 5.460 ngàn tỷ đồng (224.8 tỷUSD) được đưa vào đầu tư sản xuất kinh doanh7 Nếu con số này được hiện thựchóa trong 5 năm tới (tính đến năm 2020), mỗi năm sẽ có khoảng 48,9 tỷ USDđược các doanh nghiệp trong nước đăng ký đưa vào sản xuất kinh doanh Con sốnày cao gấp hai lần mức vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam năm 20158.Con

số này càng có ý nghĩa hơn khi các nguồn lực cho phát triển từ nguồn vốn ODAngày một thu hẹp Nguồn nội lực quan trọng này, nếu được giải phóng, sẽ gópphần trực tiếp cho việc nâng cao năng lực sản xuất, khả năng cung ứng dịch vụ,đóng góp trực tiếp tạo ra sản lượng (yield) và GDP

6 Theo điều tra doanh nghiệp Hàng năm của Tổng Cục Thống kê, năm 2014 Việt Nam có 388.000 DNNVV thực sự đang hoạt động Theo ước tính sơ bộ của Tổng Cục Thống kê và Tổng Cục Thuế, con số này tăng lên khoảng 480.000 tính đến giữa năm 2016

7 Quy mô vốn đăng ký trung bình của 1 doanh nghiệp hiện nay đạt khoảng 10,5 tỷ VND (Cục Đăng

ký Kinh doanh, Bộ KHĐT).

8

Trong năm 2015, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 24,1 tỷ USD (theo Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ KHĐT).

Trang 30

Đặc biệt, các doanh nghiệp mới thành lập này sẽ hoạt động chủ yếu trongcác ngành chế biến, chế tạo, dịch vụ, công nghiệp… và do vậy sẽ góp phần quantrọng cho việc chuyển đổi cơ cấu ngành, dịch chuyển lực lượng sản xuất sangcác ngành và lĩnh vực có hiệu suất sử dụng vốn, lao động, đất đai cao hơn Điềunày sẽ đóng góp trực tiếp cho việc cải thiện nâng cao năng suất của Việt Nam và

hỗ trợ đắc lực cho quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế

Với mức nộp ngân sách của một DNNVV trung bình đạt khoảng 0,5 tỷđồng/ năm, 520.000 doanh nghiệp mới thành lập và đi vào hoạt động sẽ hìnhthành một cơ sở nguồn thu thuê mới (tax base) mới vô cùng quan trọng với tiềmnăng, với khả năng tạo thêm nguồn thu thuế khoảng 260.500 tỷ/ năm hay 11,7 tỷUSD/ năm (nếu chỉ lấy mức đóng góp của các DNNVV như hiện tại)9 Đây làmột tác động quan trọng của các chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV, đặc biệt

là Luật Hỗ trợ DNNVV Dự kiến, số DNNVV có hoạt động xuất nhập khẩu trựctiếp cũng sẽ tăng gấp đôi từ khoảng 52.000 doanh nghiệp hiện nay10 lên hơn100.000 doanh nghiệp trong 10 năm tới Điều này sẽ góp phần quan trọng choviệc tăng cường tính kết nối giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với nềnkinh tế thế giới, giúp DNNVV trực tiếp nắm bắt các cơ hội do AEC, TPP,EVFTA và các hiệp định thương mại khác mang lại

Các nội dung hỗ trợ cơ bản thiết kế trong Luật Hỗ trợ DNNVV sẽ hỗ trợtrực tiếp cho các DNNVV tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh Với quyđịnh hỗ trợ về tiếp cận thị trường mua sắm công hàng hóa, dịch vụ sẽ mở rộngthị trường cho DNNVV với khả năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho các cơquan Nhà nước trị giá xấp xỉ 21 tỷ USD11 Với áp dụng quy định về việc muasắm công đối với DNNNVV như hiện tại trong dự thảo, đây sẽ là một sẽ là góikích cầu đối với sản phẩm và dịch vụ của DNNVV với tổng số tiền 4,2 tỷ USD.Đây là một con số hết sức lớn và có ý nghĩa đối với cộng đồng DNNVV tại ViệtNam Theo ước tính, sẽ có khoảng khoảng 40.000 DNNNV có cơ hội được cungcấp dịch vụ, sản phẩm qua các hợp đồng mua sắm công

9 Trong năm 2013, 359.700 DNNVV trong khu vực tư nhân nộp ngân sách (dưới các hình thức như thuế các khoản phát sinh phải nộp trong năm) là 180,2 ngàn tỷ đồng Trung bình một DNNVV trong khu vực tư nhân nộp ngân sách khoảng 0,5 tỷ đồng

10 Theo Tổng Cục Hải Quan (2015)

11

Theo ước tính của WB, tổng thị trường hàng hóa dịch vụ mua sắm công của Việt Nam hiện nay đạt khoảng 21 tỷ USD.

Trang 31

Với các biện pháp tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng và từ các quỹ, cácNHTM sẽ chú trọng nhiều hơn tới việc cho vay tới khu vực DNNVV và sẽ điềuchỉnh các chính sách tín dụng, sản phẩm, dịch vụ phù hợp hơn với cấc DNNVV.Ngoài ra, các khoảng 27.000 ha đất tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp sẽđược khuyến khích cho DNNVV thuê thông qua các hình thức ưu đãi đầu tưdành cho các nhà phát triển hạ tầng khu công nghiệp như quy định tại Dự thảo

Đặc biệt, các biện pháp hỗ trợ cho các DNNVV như được xây dựng trong

Dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV sẽ góp phần giải quyết một tình trạng hết sứcđáng quan tâm hiện nay, đó là khoảng cách ngày càng rộng giữa các doanhnghiệp đăng ký và các doanh nghiệp đang thực sự tồn tại Trong những năm vừaqua, khoảng cách giữa các doanh nghiệp đăng ký và doanh nghiệp thực sự đivào hoạt động trong năm ngày một lớn Tính trung bình trong cả giai đoạn 2005-

2013, chỉ có 45% doanh nghiệp đã đăng ký là thực sự đi vào hoạt động và vẫnduy trì được hoạt động Cá biệt, có những năm tỷ lệ giữa doanh nghiệp đi vàohoạt động so với doanh nghiệp đăng ký trong năm đạt tỷ lệ rất thấp, ví dụ nhưnăm 2009 tỷ lệ này chỉ đạt 35.2% hoặc năm 2012 đạt 32.7% Tỷ lệ này thấp hơnrất nhiều so với giai đoạn 2005-2008 cho thấy, sự cần thiết phải có các hoạtđộng hỗ trợ nhằm nuôi dưỡng và hỗ trợ các doanh nghiệp đã đăng ký đi vào hoạtđộng và duy trì được các hoạt động một cách bền vững và có các đóng góp thực

sự cho nền kinh tế và cho xã hội

Số lượng doanh nghiệp đăng ký so với doanh nghiệp thực sự hoạt động

và duy trì hoạt động

Trang 32

Nguồn: Cục Đăng ký và Quản lý Kinh doanh (Bộ KHĐT) và Tổng Cục Thống

Kê (2014)

Bằng các biện pháp hỗ trợ miễm, giảm thuế TNDN tại Điều 13 Dự thảoLuật và hỗ trợ cải cách thủ tục thuế, chế độ kế toán cho DNNVV sẽ cải thiệntrực tiếp tỷ suất lợi nhuận của DNNNV Đây sẽ là tiền đề để doanh nghiệp tíchlũy vốn, mở rộng sản xuất, đầu tư mới Qua đó, các biện pháp hỗ trợ về thuế như

dự kiến trong Dự thảo Luật sẽ hỗ trợ cho việc giải quyết một thực trạng nhằmgiải quyết một thực trạng lo ngại hiện nay là quy mô doanh nghiệp quá nhỏ vàtình trạng thiếu vắng các doanh nghiệp cỡ vừa (the missing middle)

Một số chỉ số về DNNVV trong khu vực tư nhân của Việt Nam năm 2013

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê (2014)

2 Tác động xã hội

Hiện nay, lao động tại các DNNVV tại khu vực tư nhân trong nước đạtkhoảng 6,9 triệu người12 Với giả định khả năng tạo việc làm của các DNNVVmới được thành lập và đi vào hoạt động trong giai đoạn tới, sẽ thêm 8,5 triệuviệc làm mới sẽ được tạo ra (khoảng 7,5 triệu việc làm mới trong khu vực doanhnghiệp gần 500.000 doanh nghiệp mới sẽ được thành lập, 0,2 triệu việc làm mới

từ cơ hội từ các hợp đồng mua sắm công, 0,8 triệu việc làm mới từ phần tíndụng tăng thêm cho khu vực DNNVV)

12 Tổng Cục Thống kê, (2013)

Trang 33

Điều này sẽ có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội do nó góp phần làm tăng

độ che phủ bảo hiểm y tế từ 70 triệu người lên 78,2 triệu người, đạt độ bao phủ85,5% (so với mức 76,5% hiện nay) tăng độ che phủ bảo hiểm xã hội lên 50%

và độ che phủ bảo hiểm thất nghiệp lên 35% lực lượng lao động

Với 8,5 triệu việc làm được tạo ra góp phần chuyển dịch 8,5 triệu laođộng từ khu vực nông thôn sang khu vực công nghiệp, dịch vụ Năng suất laođộng tổng thể của nền kinh tế do vậy cũng sẽ được cải thiện đáng kể

Với 1 triệu doanh nghiệp được thành lập và duy trì hoạt động, Việt Nam

sẽ hình thành được hơn hàng triệu chủ doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp,nhà đầu tư vào các doanh nghiệp Điều này hỗ trợ cho việc hình thành một tầnglớp trung lưu tại Việt Nam Tầng lớp trung lưu này sẽ có mức chi tiêu và tiêudùng cao hơn và góp phần trực tiếp cho việc mở rộng tiêu dùng, hỗ trợ cho pháttriển kinh tế cũng như cho các mục tiêu về gắn kết xã hội

Bên cạnh đó, với thực tế hiện nay là thu nhập tại khu vực phi nông nghiệpcao gấp 3,2 lần khu vực nông nghiệp (4,8 triệu/năm so với 1,5 triệu/ năm)13, tổngthu nhập tăng thêm của người dân nhờ quá trình chuyển dịch lao động từ khuvực nông nghiệp, nông nghiệp thuần túy sang khu vực doanh nghiệp sẽ là32.600 tỷ đồng (1,46 tỷ USD) Điều này sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp

ở mức 2,31% như hiện nay (Tổng Cục Thống kê, 2015) và hiện đang có xuhướng gia tăng trong những năm gần đây Điều này sẽ đặc biệt góp phần làmgiảm tỷ lệ thiếu việc làm: 2,32% (2015) Với việc làm và thu nhập được cảithiện, sẽ góp phần giảm các tệ nạn xã hội, đóng góp cho ổn định xã hội

3 Tác động về chi phí

Các tác động về chi phí được dự báo dựa trên các giả định về phương ánthực hiện và thiết kế của các chương trình hỗ trợ DNNVV như trong Dự thảoLuật hiện tại Theo đó, dự kiến chi phí để thực hiện các biện pháp và chươngtrình hỗ trợ dự kiến là 13.606 tỷ đồng, trong đó:

13 Tổng Cục Thống kê (2013), Bộ LĐTBX (2014)

Trang 34

 Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa được áp dụng

mức thuế suất thấp hơn 3% và doanh nghiệp siêu nhỏ

được áp dụng mức thuế suất thấp hơn 5% so với mức

thuế suất thuế TNDN quy định tại Luật Thuế TNDN

5.168

 Chương trình hỗ trợ DNNVV tham gia cụm liên kết

Các chi phí để thực hiện các chương trình hỗ trợ sẽ là những khoản đầu tư

để đạt được các lợi ích này Trong quá trình triển khai, các chương trình hỗ trợ

sẽ được thực hiện theo các hình thức với sự tham gia của khu vực tư nhân và dovậy làm giảm nhẹ gánh nặng đối với ngân sách Nhà nước Đặc biệt, các chương

14 Các biện pháp như Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa được áp dụngmức thuế suất thấp hơn 3% và doanh nghiệp siêu nhỏ được áp dụng mức thuếsuất thấp hơn 5% so với mức thuế suất thuế TNDN quy định tại Luật ThuếTNDN sẽ mang lại lợi ích ngay và trực tiếp cho các doanh nghiệp đang làm ăn

có lại Theo điều tra tại Báo cáo DNNVV thương niên của VCCI, năm 2015 chỉ

có 55% DNNVV đang làm ăn có lãi Số còn lại đang bị thua lỗ

Trang 35

trình như hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hỗ trợ phát triển cụm liên kếtngành là những chương trình có tiềm năng lớn trong việc huy động nguồn vốn

từ khu vực tư nhân và từ các nguồn vốn xã hội hóa khác

B - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHI TIẾT

TÁC ĐỘNG KINH TẾ, LỢI ÍCH/ CHI PHÍ VÀ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG

XÃ HỘI, TÁC ĐỘNG VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA CÁC PHƯƠNG

ÁN CHÍNH SÁCH TRONG DỰ THẢO LUẬT HỖ TRỢ DNNVV

1 VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH 1: “Hỗ trợ tiếp cận tín dụng tại ngân hàng”

Mô tả tóm tắt:

Các ngân hàng phải tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếpcận vốn thông qua: a) Cung cấp khoản vay với lãi suất và thời hạn vay vốn phùhợp với khả năng thanh toán của doanh nghiệp nhỏ và vừa và tình hình tài chínhcủa ngân hàng: b) Thiết kế điều kiện, quy trình, thủ tục cho vay phù hợp với vớiđặc điểm, quy mô doanh nghiệp và quy định của chương trình hỗ trợ doanhnghiệp nhỏ và vừa, đảm bảo thủ tục đơn giản, thời gian giải ngân vốn nhanh, antoàn tín dụng; c) Đa dạng hóa các hình thức cấp tín dụng phù hợp với nhu cầucủa doanh nghiệp nhỏ và vừa (Khoản 1, Điều 11 của Dự thảo)

TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC/ LỢI ÍCH TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC/ CHI PHÍ

TÁC ĐỘNG KINH TẾ

Trang 36

TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC/ LỢI ÍCH TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC/ CHI PHÍ

 Tổng dư nợ hiện tại của hệ thống

ngân hàng cho nền kinh tế,

vay vốn cho phù hợp với DNNVV

và qua đó đa dạng hóa hình thức

cấp tín dụng, nâng cao dư nợ tín

dụng cho các DNNVV

 Dự thảo cũng quy định, trong từng thời

kỳ, Chính phủ sử dụng NSNN thực hiện cấp bù lãi suất và các hình thức khác để

hỗ trợ các ngân hàng cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo các nội dung hỗ trợ, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Luật này

 Trong trường hợp này, các chi phí có thể:

- Tăng chi NSNN cho phần lãi được cấp

bù qua lãi suất ngân hàng.

- Giảm chi NSNN cho các mục tiêu khác

do phải dành khoản NSNN cho việc cấp

bù lãi suất này.

Trang 37

TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC/ LỢI ÍCH TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC/ CHI PHÍ

 Tác động về tạo việc làm bởi các

doanh nghiệp nhỏ: theo ILO, WB

và một số tổ chức quốc tế, cứ 0.25

triệu USD tiền vốn vay từ ngân

hàng có thể tạo ra 1 việc làm tại

khu vực DNNVV 19 tỷ USD đến

với khu vực DNNVV sẽ hỗ trợ

cho việc duy trì và tạo mới

khoảng 72.000 việc làm tại các

DNNVV trên toàn quốc.

 Tác động về tạo thu nhập Với

mức thu nhập khoảng 4 triệu

đồng/ tháng, 230.000 việc làm này

sẽ mang lại 912 tỷ đồng thu nhập

cho người lao động mỗi tháng,

hay 11.000 tỷ đồng mỗi năm

 Tác động về nuôi dưỡng nguồn

thu từ DNNVV Với khả năng

tiếp cận tín dụng lớn hơn, khả

năng sinh lời cao hơn và do vậy

khả năng nộp ngân sách (thuế

VAT, thuế TNDN và thuế thu

nhập cá nhân).

 Ngân hàng chú trọng hơn tới việc

đa dạng hóa khách hàng, không

chỉ tập trung cho vay một nhóm

đối tượng khác hàng mới Giảm

và đa dạng hóa rủi ro (ví dụ về

những trường hợp cho vay một số

doanh nghiệp lớn minh chứng cho

rủi ro này: Hoàng Anh Gia Lai,

Vinashin, Vinalines, cho vay

doanh nghiệp làm BOT giao

thông…).

Trang 38

TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC/ LỢI ÍCH TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC/ CHI PHÍ

TÁC ĐỘNG XÃ HỘI

 Hình ảnh của các ngân hàng được

cải thiện: Ngân hàng thân thiện

với DNNVV (ví dụ, VPBank hay

Tiên Phong Bank đã thực hiện…),

mức độ rủi ro trong ngân hàng

được phân tán…

 Doanh nghiệp khi phát triển đến một quy

mô nhất định thành doanh nghiệp lớn có thể chia tách để được tiếp tục hưởng các

ưu đãi về tiếp cận tín dụng và vốn chỉ dành cho DNNVV.

TÁC ĐỘNG VÀ TƯƠNG THÍCH VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT/ HIỆP ĐỊNH QUỐC TẾ/ THÔNG LỆ QUỐC TẾ

 Phương pháp nào:

- Sử dụng các hình thức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hoặc có thể xem xét bằng các công cụ như ưu đãi về lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc… tùy trong từng thời kỳ, do Chính phủ quy định cụ thể và đảm bảo các quy định về an toàn của hệ thống ngân hàng…

- Sử dụng các biện pháp giảm thuế: có tương thích với các quy định pháp luật hiện hành

về thuế.

Trang 39

2 VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH 2: “Hỗ trợ tiếp cận tín dụng từ các quỹ”

Mô tả tóm tắt:

Dự thảo Luật hiện đang quy định: “Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV là

tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận…” (Khoản 2, Điều12)

TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC/ LỢI ÍCH TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC/ CHI PHÍ

TÁC ĐỘNG KINH TẾ

Trang 40

TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC/ LỢI ÍCH TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC/ CHI PHÍ

 Theo quy định hiện hành, vốn

điều lệ tối thiểu của Quỹ Bảo lãnh

Tín dụng là 30 tỷ đồng

 Chủ yếu các nguồn vốn đóng góp

này là từ ngân sách nhà nước (ít

có trường hợp ngân hàng, hiệp hội

doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp

đóng góp trên thực tế).

 Nếu 63 tỉnh thành thành lập quỹ,

NSNN (TW hoặc địa phương)

tổng số vốn điều lệ các quỹ sẽ đạt

được 1.890 tỷ VND (tối thiểu).

 Theo quy định hiện hành, các quỹ

có thể bảo lãnh cho vay gấp 5 lần

vốn điều lệ của quỹ Giả định các

quỹ chỉ bảo lãnh cho vay gấp 4 lần

 Trên thực tế, hoạt động của các Quỹ còn rất kém hiệu quả Tính đến nay, cả nước

21 địa phương thành lập QuỹTuy nhiên, doanh số bảo lãnh của Quỹ tại các địa phương đến này vẫn còn khiêm tốn, chỉ một số Quỹ hoạt động có hiệu quả là Tp

Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Trà Vinh, Hà Nội

 Còn lại hoạt động của các Quỹ hết sức hạn chế 15 Một số quỹ, doanh số bảo lãnh cho vay chỉ đạt 30% vốn điều lệ (Quỹ Bắc Ninh)

 Trong trường hợp không tháo gỡ được các khó khăn về quy định quản lý quỹ, và các quỹ chỉ có doanh số bảo lãnh đạt 30% vốn điều lệ, có khả năng là 1.300 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước sẽ trở thành vốn chết

và nằm dưới hình thức tiền gửi tại các KBNN hoặc các ngân hàng.

 63 quỹ với biên chế trung bình 1 quỹ là

15 cán bộ: tổng biên chế và quỹ lương trên toàn quốc nếu thực hiện đầy đủ sẽ là:

945 cán bộ

15

“Đánh giá Tình hình thực hiện Chính sách Trợ giúp DNNVV”, Bộ KH&ĐT, tháng 8 năm 2014.

Ngày đăng: 30/05/2020, 09:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w