Có một công trình khoa họcnghiên cứu về giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng sống, KNXH cho thế hệ trẻ nóichung, cho sinh viên đại học nói riêng đã được công bố dưới dạng sách, tạpchí, đề tài, lu
Trang 1nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án
Trần Vĩnh Hà
Trang 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 31.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến kỹ năng xã hội
và bồi dưỡng kỹ năng xã hội cho sinh viên 151.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý bồi
dưỡng kỹ năng xã hội cho sinh viên 271.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công bố và những vấn đề đặt ra đề tài luận án tiếp tục giải
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG KỸ
NĂNG XÃ HỘI CHO SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG
2.1 Những vấn đề lý luận về bồi dưỡng kỹ năng xã hội cho
sinh viên ở các trường đại học trong bối cảnh hiện nay 362.2 Những vấn đề lý luận về quản lý bồi dưỡng kỹ năng xã hội
cho sinh viên ở các trường đại học trong bối cảnh hiện nay 522.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng kỹ năng xã
hội cho sinh viên ở các trường đại học trong bối cảnh hiện nay 73
Chương 3 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG KỸ
NĂNG XÃ HỘI CHO SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
3.1 Khái quát công tác giáo dục, đào tạo và hoạt động của sinh viên
ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 83
3.3 Thực trạng bồi dưỡng kỹ năng xã hội cho sinh viên ở các
trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 88
Trang 43.4 Thực trạng quản lý bồi dưỡng kỹ năng xã hội cho sinh viên ởcác trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 983.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng
kỹ năng xã hội cho sinh viên ở các trường đại học trên địa
3.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý bồi dưỡng kỹ năng
xã hội cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn
Chương 4 BIỆN PHÁP VÀ KHẢO NGHIỆM, THỬ NGHIỆM
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG
XÃ HỘI CHO SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
4.1 Các biện pháp quản lý bồi dưỡng kỹ năng xã hội cho sinhviên ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí
4.2 Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 156
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện phong trào “Sinh viên 5 tốt” ở các
trường đại học trên địa bàn Tp.HCM
85
Bảng 3.2 Đánh giá của các chủ thể về nhận thức tầm quan trọng của
việc bồi dưỡng KNXH cho sinh viên
88
Bảng 3.3 Đánh giá về nội dung KNXH bồi dưỡng cho sinh viên 91
Bảng 3.4 Đánh giá về hình thức bồi dưỡng KNXH cho sinh viên 94Bảng 3.5 Đánh giá về xây dựng, chỉ đạo thực hiện kế hoạch bồi
dưỡng KNXH cho sinh viên
98
Bảng 3.6 Đánh giá về quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung bồi
dưỡng KNXH cho sinh viên
101
Bảng 3.7 Đánh giá về quản lý sự phối hợp các lực lượng trong bồi
dưỡng KNXH cho sinh viên
104
Bảng 3.8 Đánh giá về quản lý các điều kiện bảo đảm cho hoạt
động bồi dưỡng KNXH cho sinh viên
111
Bảng 3.9 Kết quả đánh giá về kiểm tra, đánh giá quá trình bồi
dưỡng KNXH cho sinh viên
114
Bảng 3.10 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng
KNXH cho sinh viên
118
Bảng 4.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp 158Bảng 4.2 Kết quả khảo nghiệm về mức độ khả thi của các biện pháp 159Bảng 4.3 Kết quả và thứ bậc về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 161Bảng 4.4 Tương quan giữa các đánh giá mức độ cần thiết và khả
thi của các biện pháp
Bảng 4.7 Mức độ phát triển KNXH của sinh viên trong quá trình
bồi dưỡng sau tác động thử nghiệm lần 2
170
Bảng 4.8 So sánh kết quả KNXH của sinh viên giữa nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng sau thử nghiệm lần 2
172
Bảng 4.9 Mức độ phát triển KNXH của sinh viên sau 2 lần thử
nghiệm
174
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Đánh giá nhận thức về tầm quan trọng của việc bồi
dưỡng KNXH cho sinh viên
Biểu đồ 3.5 Đánh giá về quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung bồi
dưỡng KNXH cho sinh viên
102
Biểu đồ 3.6 Đánh giá về quản lý sự phối hợp các lực lượng trong
bồi dưỡng KNXH cho sinh viên
105
Biểu đồ 3.7 Đánh giá về quản lý các điều kiện bảo đảm cho hoạt
động bồi dưỡng KNXH cho sinh viên
112
Biểu đồ 3.8 Kết quả đánh giá về kiểm tra, đánh giá quá trình bồi
dưỡng KNXH cho sinh viên
115
Biểu đồ 3.9 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi
dưỡng KNXH cho sinh viên
119
Biểu đồ 4.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp 159Biểu đồ 4.2 Mức độ khả thi của các biện pháp 161Biểu đồ 4.3 Tương quan giữa mức độ cần thiết và khả thi của các
Trang 7Sinh viên là một nhóm người thuộc thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai củađất nước; sẽ là nguồn nhân lực to lớn góp phần quyết định sự thành bại của sựnghiệp phát triển đất nước Bởi vậy, thường xuyên chăm lo giáo dục, bồidưỡng thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng vừa là mục tiêu, vừa là độnglực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia - dân tộc.Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạngcho đời sau là việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” Tư tưởng của Người là
cơ sở để vận dụng bồi dưỡng thế hệ trẻ, cũng như sinh viên phù hợp với mỗigiai đoạn lịch sử - cụ thể
Trong bối cảnh hiện nay, sinh viên đang sống trong môi trường mở, đadạng, đa chiều các quan hệ xã hội và để thích ứng, biết chọn lọc những cái cóích cho bản thân đòi hỏi sinh viên có những kỹ năng cần thiết Nếu sinh viên
có kiến thức và cách thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo những KNXH trong điềukiện, hoàn cảnh cụ thể để thực hiện có kết quả nhiệm vụ học tập, rèn luyện, hoạtđộng giao tiếp, tương tác và hòa nhập, thích ứng xã hội đưa tới thành công, hiệuquả ở các mức độ nhất định, góp phần đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo Dovậy, quan tâm bồi dưỡng không những phẩm chất, năng lực mà còn bồidưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học vừa là nhiệm vụ thườngxuyên, vừa đòi hỏi có tính thực tiễn sâu sắc
Mục tiêu của giáo dục đại học ở nước ta là “đào tạo người học cóphẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức vànăng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sứckhỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [66, tr.59] Quán triệtmục tiêu đó, các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM đã chủ động xây dựng
kế hoạch, chương trình nội dung bồi dưỡng KNXH cho sinh viên trên cơ sởđiều kiện cụ thể của mỗi trường Tuy nhiên, việc bồi dưỡng KNXH, quản lýbồi dưỡng KNXH cho sinh viên vẫn còn những hạn chế, bất cập, đó là: thiếu
Trang 8định hướng thống nhất cho việc xây dựng kế hoạch, chương trình nội dungbồi dưỡng KNXH cho sinh viên; quản lý phương thức bồi dưỡng KNXH chosinh viên chưa khoa học; phối hợp các lực lượng giáo dục trong quá trìnhbồi dưỡng KNXH cho sinh viên thiếu chặt chẽ;
Trước yêu cầu mới của hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh tếtri thức đang phát triển, cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0); đồng thờitrong bối cảnh tình hình ấy đã, đang mang lại những cơ hội lẫn thách thức,tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vựcgiáo dục Đối với giáo dục đại học hiện nay, không dừng lại ở việc hìnhthành tri thức cho sinh viên mà quan trọng hơn là chuyển từ trang bị kiếnthức đơn thuần sang nâng cao các kỹ năng, khơi dậy mọi tiềm năng, pháthuy tối đa năng lực trí tuệ và kỹ năng thích ứng, đáp ứng yêu cầu của xã hộihiện đại Theo đó, công tác bồi dưỡng, quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinhviên ở các trường đại học cần được đổi mới, nâng cao là một trong nhữngvấn đề trở nên cấp thiết
Về phương diện lý luận, KNXH là hiện tượng được nhắc tới rất nhiềutrên các diễn đàn, cả trong và ngoài giáo dục Có một công trình khoa họcnghiên cứu về giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng sống, KNXH cho thế hệ trẻ nóichung, cho sinh viên đại học nói riêng đã được công bố dưới dạng sách, tạpchí, đề tài, luận án, Các công trình khoa học nghiên cứu đã tiếp cận ởnhững khía cạnh khác nhau khi bàn về KNXH, bồi dưỡng KNXH cho sinhviên Tuy vậy, những luận giải trong một số công trình khoa học, các khóahuấn luyện, đào tạo kỹ năng trong hệ thống dịch vụ tư vấn,… và vô vàn cácnguồn Internet hiện nay vẫn chưa thật sự thuyết phục Bởi lẽ, thiếu tính toàndiện, căn cứ chưa rõ ràng, mô tả thiếu triệt để về các KNXH và quan trọngnhất là đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu có hệ
Trang 9thống, chuyên sâu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý bồi dưỡngKNXH cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn: “Quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM trong bối
cảnh hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ, chuyên ngành quản lý
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ởcác trường đại học trong bối cảnh hiện nay
Khảo sát, đánh giá thực trạng bồi dưỡng KNXH và quản lý bồi dưỡngKNXH cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM
Đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở cáctrường đại học trên địa bàn Tp.HCM trong bối cảnh hiện nay
Khảo nghiệm và thử nghiệm các biện pháp đã đề xuất
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng cho sinh viên ở các trường đại học
Đối tượng nghiên cứu
Quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học trên địabàn Tp.HCM trong bối cảnh hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: luận án nghiên cứu sâu về quản lý bồi dưỡng một
số KNXH cơ bản cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM
Trang 10Phạm vi về khách thể khảo sát: khách thể tham gia khảo sát gồm: cán
bộ quản lý giáo dục (Ban Giám hiệu, cán bộ chủ trì phòng, khoa, ban, ),giảng viên, cán bộ Đoàn, cán bộ Hội Sinh viên và sinh viên ở 9 trường đạihọc trên địa bàn Tp.HCM
Phạm vi về thời gian: các tài liệu nghiên cứu, số liệu phục vụ cho
nghiên cứu được khảo sát, điều tra, tổng hợp từ năm học 2015 - 2016 đến nay
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh
viên phù hợp với thực tiễn hoạt động giáo dục đại học như: nâng cao nhậnthức, phát huy trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý bồi dưỡng KNXHcho sinh viên; thực hiện tốt kế hoạch hóa và chỉ đạo đổi mới phương thức bồidưỡng; tăng cường các hoạt động chính khóa, hoạt động ngoại khóa có tíchhợp, lồng ghép nội dung bồi dưỡng KNXH; phối hợp chặt chẽ giữa các lựclượng bồi dưỡng và thường xuyên kiểm tra, đánh giá quá trình bồi dưỡng
KNXH cho sinh viên thì sẽ nâng cao KNXH cho sinh viên, góp phần đổi mới
căn bản, toàn diện GD,ĐT ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM trongbối cảnh hiện nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng củachủ nghĩa Mác-Lênin; quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về GD,ĐT
Dựa trên phương pháp luận nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục, vớiquan điểm lịch sử - lôgic, quan điểm hệ thống - cấu trúc, quan điểm thực tiễn
và nguyên tắc tiếp cận các lý luận quản lý giáo dục như: tiếp cận chức năng mục tiêu quản lý; tiếp cận đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để làm rõ nộidung về quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học trên địabàn Tp.HCM trong bối cảnh hiện nay:
Trang 11-Tiếp cận theo quan điểm hệ thống
Bồi dưỡng KNXH và quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở cáctrường đại học được xem xét trên quan điểm hệ thống là: xác định hệ thốngKNXH cần bồi dưỡng cho sinh viên; quá trình bồi dưỡng KNXH cho sinhviên được đặt trong quá trình GD,ĐT ở các trường đại học; xuất phát từ thực
tế để phân tích, khái quát, kết hợp với sự vận động của mục tiêu, nội dung,phương pháp, hình thức hợp thành quá trình bồi dưỡng nhằm phát hiện, kíchthích động lực bên trong, thúc đẩy hoạt động bồi dưỡng KNXH cho sinh viên
có hiệu quả; các biện pháp quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên đượcnghiên cứu trong sự vận động, phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội;dựa vào chủ trương của Đảng, chính sách, các văn bản pháp luật của Nhànước,… và mối liên hệ, tác động qua lại giữa các quá trình xã hội đó
Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn
Các KNXH cần bồi dưỡng cho sinh viên, đáp ứng đòi hỏi của xã hộihiện nay; phân tích, đánh giá thực trạng bồi dưỡng KNXH, quản lý bồi dưỡngKNXH cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM như: ưuđiểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế; đề xuất biện pháp quản
lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bànTp.HCM, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đổi mới căn bản, toàn diệnGD,ĐT đại học trong bối cảnh hiện nay; sử dụng quan điểm thực tiễn trongkiểm chứng những kết quả nghiên cứu đạt được
Tiếp cận theo chức năng
Quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học đượcnghiên cứu thông qua các chức năng của quản lý (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo,kiểm tra, đánh giá…), xác định vai trò, nhiệm vụ của từng chức năng cụ thểtrong chu trình quản lý bồi dưỡng
Tiếp cận dựa trên năng lực
Quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên theo cách tiếp cận năng lực
là quá trình thiết kế, tổ chức và phối hợp giữa hoạt động bồi dưỡng của giảng
Trang 12viên và hoạt động tự bồi dưỡng KNXH của sinh viên không chỉ về kiến thứcchuyên môn, kỹ năng làm việc, mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức,kinh nghiệm và cách thức hành động của sinh viên trong học tập, rèn luyên,sinh hoạt, giao tiếp và công tác sau khi tốt nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thực hiện việc đọc tài liệu, thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp,
hệ thống hoá, khái quát hoá các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Bộ GD, ĐT, LuậtGiáo dục; các giáo trình, sách tham khảo, tài liệu về khoa học quản lý giáodục KNXH, bồi dưỡng KNXH; nghiên cứu các bài viết có liên quan đến đềtài đã được công bố và đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoahọc trong nước và nước ngoài
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: quan sát KNXH của sinh viên và quan sát hoạtđộng bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở một số trường đại học trên địa bànTp.HCM để rút ra những kết luận về nội dung nghiên cứu
Phương pháp đàm thoại: thực hiện tọa đàm, trao đổi với cán bộ quản lýgiáo dục, giảng viên, sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn Tp.HCM,
từ đó rút ra những kết luận cho đề tài nghiên cứu
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: điều tra xã hội học đối với cán bộquản lý, giảng viên, cán bộ Đoàn, cán bộ Hội Sinh viên và sinh viên ở 09trường đại học trên địa bàn Tp.HCM để làm cơ sở đánh giá thực trạng, tìm ranguyên nhân và đề xuất biện pháp quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục: nghiên cứu báo cáotổng kết và các vấn đề đã và đang diễn ra liên quan đến công tác GD,ĐT đối vớinâng cao KNXH của sinh viên nhằm đúc rút thành kinh nghiệm về quản lý bồidưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học
Trang 13Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động giáo dục: tiếnhành nghiên cứu các sản phẩm về hoạt động giáo dục, bồi dưỡng và quản
lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học như: chươngtrình, nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng; các văn bản chỉ đạo ởtừng trường đại học liên quan đến công tác bồi dưỡng KNXH cho sinhviên nhằm đưa ra những luận cứ, luận chứng để chứng minh thực trạngvấn đề nghiên cứu
Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lýgiáo dục đại học về một số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động bồi dưỡngKNXH, quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học có liênquan tới việc nghiên cứu đề tài
Phương pháp khảo nghiệm và thử nghiệm: xây dựng kế hoạch và tổchức khảo nghiệm ở cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên ở 9 trường đại học;
tổ chức thử nghiệm tại Trường Đại học KHXH&NV Tp.HCM để khẳng địnhtính cần thiết, tính khả thi và tính hiệu quả các biện pháp luận án đề xuất
Phương pháp thống kế toán học: trong quá trình nghiên cứu, sử dụngtoán thống kê để xử lý số liệu thu thập được từ khảo sát thực trạng, khảonghiệm và thử nghiệm; từ đó, phân tích, so sánh, tổng hợp rút ra những nhậnđịnh phục vụ cho việc nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận án
Hệ thống hoá các khái niệm (KNXH; bồi dưỡng KNXH cho sinh viên;quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học); khái quátnhững nội dung cơ bản về bồi dưỡng KNXH, quản lý bồi dưỡng KNXH chosinh viên ở các trường đại học trong bối cảnh hiện nay
Đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi làm cơ sở giúp các chủ thểquản lý vận dụng thực hiện có hiệu quả vào quản lý bồi dưỡng KNXH chosinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM trong bối cảnh hiện nay
Trang 147 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn
Ý nghĩa về lý luận
Luận án góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về bồi dưỡng KNXH
và quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên nói chung, quản lý bồi dưỡngKNXH cho cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM nóiriêng Trên cơ sở đó, góp phần làm chuyển biến về nhận thức, trách nhiệmcủa các chủ thể trong việc bồi dưỡng KNXH cho cho sinh viên ở các trườngđại học trên địa bàn Tp.HCM trong bối cảnh hiện nay
Ý nghĩa về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp những luận cứ khoa học vàthực tiễn cho cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên và cán bộ ở các tổ chứcquần chúng trong trường đại học và vận dụng vào thực tiễn hoạt động bồidưỡng, quản lý bồi dưỡng KNXH cho cho sinh viên ở các trường đại học.Trên cơ sở đó, góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng KNXH cho cho sinhviên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho cán
bộ quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên trong nghiên cứu khoa học, giảngdạy và học tập kiến thức về quản lý giáo dục
8 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu: mở đầu, 04 chương, kết luận, kiến nghị, danhmục các công trình khoa học của tác giả, tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến kỹ năng xã hội và
bồi dưỡng kỹ năng xã hội cho sinh viên
1.1.1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở nước ngoài
* Các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống, kỹ năng xã hội
Vấn đề kỹ năng được các nhà triết học, giáo dục học, tâm lý học trên thếgiới quan tâm nghiên cứu theo các hướng tiếp cận khác nhau Nhìn chung, cáchướng nghiên cứu về kỹ năng gắn với mỗi loại hình đào tạo, bồi dưỡng cho từngđối tượng cụ thể Từ thời cổ đại đến cận đại, hiện đại các nhà triết học, giáo dụchọc như Xôcrat (469-390) TCN, Arixtôt (384-322) TCN, Cômenxki J.A (1592-1670), Kemxtexlokis M.P, C.Mác (1818-1883), Ph.Ăngghen (1820-1895), … đãbàn về vấn đề năng lực thực hành, kỹ năng của cá nhân Chẳng hạn, bàn về kỹnăng, tác giả Ivan Banki.S cho rằng, “Kỹ năng là năng lực tự có hoặc qua họctập được con người vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình vào nhữnghoạt động mang tính nghề nghiệp, một công việc cụ thể và trong lĩnh vực
chuyên môn của mình” [98, tr.11] Tác giả Petropxki A.V cho rằng, “Kỹ năng
là năng lực sử dụng các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụngchúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyếtthành công những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn nhất định” [65, tr.5] Tác giảLevitor N.D cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có hiệu quả một động tác nào
đó hay một hành động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn nhữngcách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [46, tr.32] Tuychưa chỉ ra kỹ năng là sản phẩm của tư duy, song ông đã gắn kỹ năng với kiếnthức; khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng đối với sự thành công trong hoạtđộng của mỗi chủ thể
Trang 16Từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, người Mỹ đã nhận ra tri thứcnhân loại là rất lớn, nhưng để thực hành thành thạo và áp dụng, ứng dụng vàocuộc sống thì thường không như mong muốn Cho nên, các lực lượng laođộng tại Mỹ phải đảm bảo thực hành, được các tổ chức công nhận là đãqua 13 kỹ năng bắt buộc, trong đó có những yếu tố thuộc về KNXH Trong
“Bí quyết thành công dành cho tuổi teen” và “Tôi tài giỏi bạn cũng thế”, tácgiả Adam Khoo và Gary Lee đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giáodục, bồi dưỡng kỹ năng sống, KNXH cho học sinh, sinh viên nhằm đáp ứngthị trường lao động
Trong bài viết, “Những phương án trong việc dạy kỹ năng xây dựng hệthống” [117] tác giả Zilic Z, cho rằng: Các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ nănglập kế hoạch, kỹ năng tổ chức thực hiện dự án chỉ được phát triển thông quacác khóa học và chương trình về dự án Tác giả Zilic Z nhận định, KNXH ởmỗi con người được hình thành, phát triển trước hết phải được đào tạo, bồidưỡng và trải nghiệm thực tiễn Đáng chú ý, tại Diễn đàn thế giới về giáo dụccho mọi người ở Darka (Senegal, 2000) xác định kỹ năng sống, KNXH là mộttrong 6 mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia Kỹ năng sống, KNXH trở thànhquyền của học sinh, sinh viên và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cảtrong kỹ năng sống, KNXH của họ [dẫn theo 51]
Tiếp cận từ phương diện ngành nghề lao động, tổ chức phi lợi nhuận
-“Confrennce Board of Canada” đã nghiên cứu, đưa ra các kỹ năng hành nghềcho thế kỷ XXI là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tưduy và hành vi tích cực, kỹ năng thích ứng, kỹ năng làm việc với con người,
kỹ năng nghiên cứu khoa học [dẫn theo 51] Đầu thập niên 90, thuật ngữ “kỹnăng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình của các tổ chức Liên Hợpquốc, như: WHO (tổ chức Y tế thế giới), UNICEF (quỹ cứu trợ nhi đồng),UNESCO (tổ chức giáo dục, văn hóa và khoa học) Các nhà giáo dục học trên
Trang 17thế giới cũng đã tìm cách thức giáo dục mới để tạo ra cho thế hệ trẻ các kỹnăng, nhằm ứng phó yêu cầu và thách thức của cuộc sống hiện đại Đó là giáodục, bồi dưỡng kỹ năng sống, KNXH,… cho thế hệ trẻ, qua đó giúp họ cónhận thức, hành động đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực xã hội.
Do yêu cầu của sự phát triển KT-XH và hội nhập quốc tế nên hệ thốnggiáo dục của các nước đã, đang thay đổi theo định hướng phát huy tối đa tiềmnăng của sinh viên sau tốt nghiệp; đào tạo họ trở thành một thế hệ năngđộng, sáng tạo, có các kỹ năng nhất định Theo đó, vấn đề bồi dưỡng kỹnăng cho sinh viên được các nhà quản lý, nhà nghiên cứu quan tâm Tuynhiên, cho dù việc giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng sống, KNXH cho sinh viên
đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm về kỹ năngsống của Tổ chức Y tế thế giới hoặc UNESCO, nhưng quan niệm và nộidung giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng sống, KNXH ở các nước không giốngnhau Nội hàm của khái niệm kỹ năng sống, KNXH không hoàn toàn đồngnhất, rộng hẹp khác nhau
Trong giai đoạn hiện nay của thời đại, một trong những nhiệm vụ củagiáo dục là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng caocho xã hội Bởi vậy, ngay từ những năm đầu của thập kỷ cuối thế kỷ XX,UNESCO đã khuyến cáo về bốn trụ cột của học tập thế kỷ: “Học để biết; Học
để làm; Học để cùng chung sống; Học để làm người” Trước sự phát triển củacách mạng khoa học và công nghệ, GD,ĐT thế hệ trẻ ở thế kỷ XXI không chỉhọc để biết, để làm mà quan trọng hơn là “cùng chung sống và tự khẳng địnhmình” Theo đó, sinh viên không chỉ có sự hiểu biết, mà còn phải biết làmngười, tự khẳng định mình và đòi hỏi có những kỹ năng cần thiết trong hoạtđộng và giao tiếp Bàn về vấn đề này, nhà tâm lý học Daniel Coleman đãkhẳng định giá trị của kỹ năng là: khả năng của một cá nhân biết quản lý bảnthân, cũng như mối quan hệ của họ với người khác, cũng quan trọng như chỉ
Trang 18số thông minh của họ Bởi những áp lực liên tục từ công việc và những thayđổi trong môi trường làm việc, một người lao động phải có các kỹ năng (kỹnăng sống, kỹ năng mềm, KNXH ), những kỹ năng này có thể giúp họ vượtqua khó khăn, thách thức mỗi ngày.
Tìm hiểu, nghiên cứu một số tài liệu nước ngoài, bài viết về các kỹnăng của học sinh, sinh viên cho thấy: mỗi quốc gia xuất phát từ yêu cầu thựctiễn đưa ra các kỹ năng và kiến thức đối với học sinh, sinh viên, trong đó có
KNXH KNXH được hiểu là tập hợp các kỹ năng con người sử dụng để tương
tác và giao tiếp với người khác KNXH có mối quan hệ với kỹ năng sống;đồng thời, KNXH được coi là một trong các yếu tố của chỉ số thông minh
cảm xúc (EQ) Daniel Goleman - tác giả của cuốn sách:“Thông minh cảm xúc” (Emotional Intelligence) cho rằng, các KNXH bao gồm kỹ năng gây ảnh
hưởng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý xung đột, kỹ năng lãnh đạo, kỹnăng khởi xướng thay đổi, kỹ năng khởi xướng thay đổi, kỹ năng khởi xướngthay đổi
Tác giả Schulz B của công trình khoa học “tầm quan trọng của các kỹnăng” cũng đã bàn đến những kỹ năng cần thiết của sinh viên Trong côngtrình khoa học của mình, tác giả Schulz B chỉ ra một số kỹ năng cần thiết đốivới sinh viên là kỹ năng giao tiếp, đàm phán, sáng tạo, tư duy tổ chức và phêphán, Theo tác giả Schulz B, sự hình thành và phát triển các kỹ năng chosinh viên cần tổ chức tốt việc giáo dục, bồi dưỡng thông qua khóa học đào tạo
và tự rèn luyện của cá nhân dựa trên các tài liệu về kỹ năng mềm, KNXH;tham gia các câu lạc bộ và các hoạt động xã hội; lồng ghép phát triển các kỹnăng cần thiết cho sinh viên trong chương trình các môn học [115, tr.146]
Tác giả Rani.S cho rằng KNXH đóng vai trò đặc biệt quan trọng trongquá trình phát triển nhân cách, triển vọng nghề nghiệp và đưa ra một số kỹnăng cần bồi dưỡng cho sinh viên nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao
Trang 19động tại Ấn Độ là kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, quản lý thời gian,…[102].Trong công trình khoa học của mình, tác giả Hao M.S đã đưa ra các kỹ năng màmỗi cá nhân cần có tại nơi làm việc, trong đó kỹ năng giao tiếp là kỹ năng chủđạo [112] Tác giả Ow S.H trong bài viết “Phát triển các kỹ năng của sinh viênđại học thông qua hoạt động nhóm” cho rằng, các thành viên nhóm cần được bồidưỡng đầy đủ kiến thức kỹ thuật và các kỹ năng, nhất là kỹ năng giao tiếp, đàmphán Con đường hình thành các kỹ năng là thông qua giáo dục, bồi dưỡng vàphát triển một cách hiệu quả trong một khóa học, hoạt động nhóm [113].
Trong Đề án về giáo duc, phát triển kỹ năng cho sinh viên, tác giảGonzález D và các cộng sự đã đề cập đến các loại kỹ năng phù hợp với cáccông việc đảm nhiệm với 4 nhóm kỹ năng: Lãnh đạo (óc chiến lược, tầm nhìn
và phương hướng, giải quyết mâu thuẫn), quản lý (hoạch định và quản lý cácnguồn lực, tạo ra động lực cho nhân viên), thể hiện bản thân (kỹ năng giaotiếp, thuyết trình, đàm phán), tự quản lý bản thân (tự nhận thức, nhất quán,linh hoạt, thích ứng, tự tin, quản lý thời gian) [114]
* Các công trình nghiên cứu về giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng sống, kỹ năng xã hội
Các nhà kinh điểm mác-xít khẳng định trong cách mạng XHCN, côngtác giáo dục, bồi dưỡng cho thanh niên, sinh viên là đòi hỏi tất yếu C.Mácviết: “Tương lai của giai cấp công nhân, qua đó tương lai của loài người hoàntoàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên” [55, tr.118].Cùng tư tưởng như C.Mác, nhưng ở khía cạnh khác, Ph.Ăngghen cho rằng,sinh viên nói riêng, thanh niên nói chung không thể đứng ngoài chính trị Bởivậy, Đảng Cộng sản phải tổ chức họ lại; không nằm ngoài mục tiêu nào kháchơn là làm cho thế hệ mới lớn trở thành “đạo quân xung kích của giai cấp vôsản quốc tế và đội hậu bị của Đảng” [55, tr.120]
Nhận thức sâu sắc tương lai thuộc về thế hệ trẻ, Đảng mác-xít phải lãnhđạo Đoàn thanh niên Cộng sản thực sự trở thành đội xung kích; đồng thời, tổ
Trang 20chức giáo dục, bồi dưỡng mọi mặt cho thể hệ trẻ, nên ngay trong phiên họp đầutiên, Đại hội III của Đoàn thanh niên Cộng sản Nga (10/10/1920), V.I.Lênin đãđọc bài diễn văn, “Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên” Bài diễn văn có tính chấtcương lĩnh của Đảng mácxít trong việc giáo dục xã hội mới-XHCN cho nhữngngười trẻ tuổi V.I.Lênin một mặt khẳng định thế hệ trẻ là “nguồn sinh lực chiếnđấu của cách mạng”; mặt khác, coi công tác giáo dục, bồi dưỡng cho họ là vấn
đề tính tất yếu Trong tác phầm “Bàn về thanh niên”, V.I.Lênin viết: “Chúng taphải chuẩn bị cho thanh niên như thế nào để họ biết xây dựng đến cùng và hoànthành triệt để sự nghiệp mà chúng ta đã bắt đầu” [48, tr.231]
Nhiệm vụ của thế hệ trẻ, cũng như sinh viên, theo V.I.Lênin được góigọn bằng cụm từ là “học tập và lao động” Yêu cầu học tập của thanh niên,sinh viên trong xã hội mới là “hấp thụ toàn bộ kiến thức của nhân loại, kiếnthức đó phải được nghiền ngẫm lại trên quan điểm giáo dục hiện đại chứkhông phải là những điều thuộc lòng” [47, tr.358-359] Theo V.I.Lênin họctập phải gắn với rèn luyện đạo đức, rèn kỹ năng sống, lao động; giáo dục, bồidưỡng thế hệ trẻ phải gắn với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, “không
có công tác, không có đấu tranh thì kiến thức sách vở về chủ nghĩa cộng sảnrút ra từ các sách và các tác phẩm về chủ nghĩa cộng sản sẽ không có một giátrị nào cả, vì rằng kiến thức đó cũng chỉ là tiếp tục tách rời giữa lý luận vàthực tiễn…” [47, tr.358-359] Như vậy, tuy chưa đề cập trực tiếp tới bồidưỡng KNXH, song quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin về giáo dục,bồi dưỡng thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng là cơ sở phương pháp luậntrong nghiên cứu quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên
Có một số công trình khoa học dưới dạng sách, đề tài, bài viết đã bàn
về giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng sống, KNXH cho học sinh, sinh viên ở cáckhía cạnh khác nhau Chẳng hạn, Hội thảo lần thứ XXI về GD,ĐT kỹ thuậtphần mềm, tác giả Taran.G đã có bài viết: “Giảng dạy một cách sáng tạo các
Trang 21kỹ năng giao tiếp trong các lớp học đa dạng ngày nay” [112] Bài viết của tácgiả đề cao vai trò của việc thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng phát triểncác kỹ năng cho sinh viên
Ở Mỹ, Bộ Lao động Mỹ cùng Hiệp hội Đào tạo và phát triển Mỹ gần đây đãthực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc và đưa ra kếtluận cần có 13 kỹ năng cơ bản để thành công trong công việc [Dẫn theo 39, tr.8].Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc và Phòng Thương mại và công nghiệp Úc dưới
sự bảo trợ của Bộ GD, ĐT, Khoa học và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc đã xuấtbản cuốn sách “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) Nội dung cuốn sáchchỉ rõ các kỹ năng hành nghề - 8 kỹ năng [Dẫn theo 51, tr.18]
Ở Canada, Chính phủ Canada cũng có một bộ phận phụ trách về việc bồi
dưỡng, phát triển kỹ năng cho người lao động Bộ Phát triển Nguồn nhân lực và
Kỹ năng Canada có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lựccạnh tranh, giúp cho lực lượng lao động trẻ ở Canada nâng cao năng lực ra quyếtđịnh và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống Tổ chức này cũng
có nghiên cứu và đưa các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ 21 bao gồm các kỹ năng
cơ bản sau: kỹ năng giao tiếp (Communication); kỹ năng giải quyết vấn đề(Problem solving); kỹ năng tư duy và hành vi tích cực (Positive attitudes andbehaviours); kỹ năng thích ứng (Adaptability); kỹ năng làm việc với con người(Working with others); kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán(Science, technology and mathematics skills) [Dẫn theo 52, tr.21]
Tại Vương quốc Anh, Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách
về bồi dưỡng, phát triển kỹ năng cho người lao động Bộ Đổi mới, Đại học và
kỹ năng được Chính phủ thành lập từ ngày 28/6/2007, đến tháng 6/2009 thìđược ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới Pháp chế để tạo nên bộmới là Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng Bộ này chịu trách nhiệm về các vấn
đề liên quan đến việc học tập của lớp trẻ, một phần của giáo dục nâng cao, kỹnăng, khoa học và đổi mới Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn
Trang 22cũng đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng bao gồm: kỹ năng tính toán(Application of number); kỹ năng giao tiếp (Communication); kỹ năng tự học
và nâng cao năng lực cá nhân (Improving own learning and performance); kỹ năng
sử dụng CNTT và truyền thông (Information and communication technology); kỹnăng giải quyết vấn đề (Problem solving); kỹ năng làm việc với con người(Working with others) [Dẫn theo 52, tr.26]
Cuốn sách “Phương pháp dạy và học hiệu quả” của nhà tâm lý học MỹCarl Roger đã trình bày chi tiết về các phương pháp dạy học để hình thành
kỹ năng tự học cho sinh viên như: cung cấp tài liệu, dùng bảng giao ước,chia nhóm dạy học, hướng dẫn sinh viên cách nghiên cứu tài liệu, tự hoạchđịnh mục tiêu,… Tác giả A.A.Goroxepxki, M.I.Lubixowra (1987) với côngtrình nghiên cứu “Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học”, NxbĐHSP Hà Nội cũng đánh giá cao vai trò tự học, kỹ năng tự học của sinhviên Kixegof X.I (1976-1977), “Hình thành kỹ năng, kỹ xảo sư phạmcho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục của đại học”, (Lê KhánhBằng dịch), Trường ĐHSP Hà Nội
Như vậy, trong các công trình khoa học của các tác giả nước ngoài đãbàn bàn đến các kỹ năng, bồi dưỡng các kỹ năng cho học sinh, sinh viên.Những nội dung tổng luận trên đây sẽ góp phần cung cấp các tư liệu có liênquan đến đề tài luận án
1.1.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở Việt Nam
* Các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống, kỹ năng xã hội
Kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc, trong một hoàn cảnh,điều kiện cụ thể, đạt được một chỉ tiêu nhất định Các kỹ năng có thể là kỹnăng nghề nghiệp (các kỹ năng kỹ thuật cụ thể, như: hàn, tiện, lái xe, lãnhđạo, quản lý, giám sát…) và kỹ năng sống (kỹ năng giao tiếp, tư duy, giảiquyết xung đột, hợp tác, chia sẻ…)
Trang 23Hiện nay, vấn đề kỹ năng sống, KNXH cũng đang thu hút sự quan tâmcủa xã hội Tác giả Hoàng Thị Anh [1], với công trình nghiên cứu “Kỹ nănggiao tiếp sư phạm của sinh viên” cho rằng, các trường sư phạm cần phát triểncác nhóm kỹ năng như nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp, nhóm kỹ năngđịnh vị và nhóm kỹ năng điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp Cuốn sách
“Bạn trẻ và kỹ năng sống” của tác giả Huỳnh Văn Sơn [71] đã hệ thống hóacác kỹ năng sống cho hành trang của sinh viên, của thế hệ trẻ là kỹ năng tựđánh giá, hợp tác, kỹ năng lắng nghe, phán đoán cảm xúc của người khác, kỹnăng kiềm chế cảm xúc Tác giả Nguyễn Thanh Bình [7], [8] đã chỉ ra nhữngvấn đề lý luận cốt lõi về kỹ năng sống Tác giả Đào Thị Oanh [63], đã kháiquát một số vấn đề chung về kỹ năng sống và đã đưa ra 10 cách thức rèn kỹnăng sống cho sinh viên Cuốn sách, “Sổ tay cán bộ Đoàn cơ sở” của Lê VănCầu đã cung cấp cho cán bộ, đoàn viên những kiến thức kỹ năng cơ bản vềnghiệp vụ công tác Đoàn, Hội, Đội Theo tác giả, “kỹ năng công tác thanhthiếu niên, có thể cụ thể hóa thành những nội dung: kỹ năng giao tiếp; kỹnăng tuyên truyền vận động; kỹ năng nói trước công chúng; kỹ năng tổ chứccác hoạt động kinh tế; kỹ năng tổ chức các hoạt động chính trị-xã hội; kỹnăng tổ chức các hoạt động văn hóa - thể thao” [11, tr.104-105]
Bàn về thực trạng bồi dưỡng KNXH cho thế hệ trẻ, tác giả Nguyễn ĐắcVinh cho rằng, việc “bồi dưỡng các kỹ năng hội nhập ngày nay được nâng lênnhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế; trong đó một
bộ phận học sinh, sinh viên đang thiếu hụt cả về kiến thức lịch sử và văn hóadân tộc cũng như kỹ năng, khả năng tư duy độc lập, chưa có thói quen trongmôi trường lao động và đời sống công nghiệp” [90] Như vậy, nội dung,phương pháp tiếp cận bàn luận những vấn đề liên quan đến sinh viên của cácbài viết là khá đa dạng Điều này chứng tỏ sinh viên là đối tượng nghiên cứucủa nhiều chuyên ngành khoa học Trong tính phong phú, nhiều vẽ về nộidung, sự khác nhau về cách tiếp cận luận bàn của các công trình khoa học, cónội dung liên quan đến KNXH của sinh viên
Trang 24Bên cạnh những cuốn sách, đề tài còn có các bài báo khoa học ([31];
[37]; [64]; [63]; [87] ) đã bàn về KNXH, bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở
những nội dung cụ thể Chẳng hạn: bài viết của tác giả Trần Anh Tuấn [87,tr.10-12, 19] đã khái quát bức tranh toàn cảnh về giáo dục kỹ năng sống ởViệt Nam; rút ra bài học, định hướng nghiên cứu cho xây dựng một chươngtrình giáo dục kỹ năng sống hiện nay của Bộ GD,ĐT Còn trong bài viết củamình, tác giả Đào Thị Oanh [64, tr.24-28] đã phân tích những yêu cầu nghềnghiệp của người sinh viên sư phạm và những nét tâm lý đặc thù của họ, qua
đó đề xuất một số KNXH cơ bản cần bồi dưỡng cho sinh viên sư phạm để cóthể phát huy tốt khả năng nghề nghiệp trong tương lai
Đi sâu nghiên cứu những kỹ năng cụ thể về nhóm kỹ năng sống, kỹnăng mềm, KNXH trong công trình khoa học của tác giả Nguyễn Hoàng KhắcHiếu, Huỳnh Văn Sơn [34, tr.112-116] đã đề cập đến thói quen sử dụng thờigian của sinh viên, chỉ ra hạn chế, nguyên nhân của nó, đề xuất các giải phápkhắc phục những thói quen không tốt trong sự dụng thời gian ảnh hưởng đếnhọc tập, nghiên cứu của một bộ phận không nhỏ sinh viên
Bàn về giải pháp rèn luyện KNXH cho sinh viên, tác giả Nguyễn ThịQuỳnh Phương [64, tr.17-20], cho rằng, cần tăng cường tổ chức hoạt độngnhóm, thường xuyên báo cáo kết quả và đánh giá hoạt động này… Bàn về vaitrò của hoạt động dạy và rèn luyện kỹ năng tư duy phản biện cho sinh viên,tác giả Bùi Loan Thùy [80, tr.76-81] cho rằng, một trong những hạn chế củasinh viên là thiếu kỹ năng tư duy phản biện Vì vậy, hoạt động bồi dưỡngKNXH cho sinh viên, trước hết chú trọng lòng ghép, tích hợp trong dạy học
để bồi dưỡng kỹ năng tư duy phản biện cho sinh viên
Chi tiết hóa biện pháp giáo dục KNXH cho sinh viên, tác giả Lê ThịThu Hà có bài viết, “Các biện pháp giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinhviên” [26, tr.19-21] Theo tác giả, việc giáo dục kỹ năng ra quyết định ở các
Trang 25trường đại học được xem là cốt lõi trong các hoạt động giáo dục cho sinh viên.Các phương pháp giáo dục kỹ năng ra quyết định không thể thiếu cho sinh viênbao gồm các môn học tích hợp, giảng dạy các môn tự chọn hoặc các môn họcđặc biệt, các thành viên tương ứng và các hoạt động ngoại khóa Tác giả TrầnThị Bích Liên [49, tr.1-2, 9], trong bài viết của mình đã đề xuất một số giải phápđào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên hiện nay: (1) bổ sung môn học kỹ năng vàochương trình đào tạo; (2) lồng ghép giữa kiến thức chuyên môn cơ bản với kỹnăng nghề nghiệp; (3) khuyến khích sinh viên tham gia nhiều chương trình ngoạikhóa, giao lưu với các câu lạc bộ nghề nghiệp Tác giả Trần Ngọc Lương [62,tr.20-21], nhấn mạnh vai trò của người dạy và người học trong việc giáo dục kỹnăng cho sinh viên Theo đó, bản thân sinh viên cần chủ động tự trang bị chomình đủ các kỹ năng cần thiết cho công việc sau này như kỹ năng: làm việcnhóm, ngoại ngữ, giao tiếp,…; các tổ chức, trung tâm đào tạo kỹ năng cho sinhviên cần xây dựng chương trình học hiệu quả, đào tạo đội ngũ người giảng dạy
có đủ năng lực, tổ chức các hoạt động có hiệu quả
Ngoài ra, còn có một số bài viết đã bàn trực tiếp về KNXH, như ĐặngThành Hưng và Trần Thị Tố Oanh, “Bản chất và đặc điểm của KNXH” [39,tr.9-10, 38]; Lê Minh, “Rèn luyện một số KNXH trong học tập cho sinh viên
sư phạm” [59, tr.16-17];… Các bài viết đã đưa ra quan niệm về KNXH, cácnhóm KNXH, vai trò, các KNXH cần có ở sinh viên Tuy nhiên, các bài viếtchưa bàn đến sâu về các KNXH của sinh viên
Nhìn chung, KNXH ở mỗi con người nói chung, sinh viên nói riêng rấtcần cho công việc, cuộc sống KNXH bao gồm các nhóm kỹ năng cơ bản sau:
kỹ năng tự học; kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân; kỹ năng tưduy sáng tạo và mạo hiểm; kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc; kỹnăng lắng nghe; kỹ năng thuyết trình; kỹ năng giao tiếp ứng xử; kỹ năng giảiquyết vấn đề; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng đàm phán [39, tr.93-95]
Trang 26* Các công trình nghiên cứu về giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng sống, kỹ năng xã hội
Sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡngnhân cách thế hệ trẻ Trong các tác phẩm, bài viết, bài phát biểu của Hồ ChíMinh tuy chưa bàn trực tiếp đến vấn đề bồi dưỡng KNXH cho sinh viên,nhưng Người luôn nhìn nhận, đánh giá đúng vai trò của sinh viên, của thế hệtrẻ; khẳng định tính tất yếu giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, cũng như sinh viênbởi một lẽ họ là “người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnhhay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên” [57, tr.224] Trong
Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau làviệc rất quan trọng và rất cần thiết” [58, tr.510]
Có những công trình khoa học đã nghiên cứu về giáo dục phẩm chấtnhân cách cũng như bồi dưỡng các kỹ năng cần thiết cho thanh niên, sinhviên Chẳng hạn: Nguyễn Thị Hường, nghiên cứu: “Kỹ năng dưới góc độ khaithác trên môn học giáo dục sống khoẻ mạnh và tích hợp nội dung giáo dụcKNXH trong dạy môn Tự nhiên - Xã hội trong nhà trường” Tác giả NguyễnThị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa đã nghiên cứu công trình “Giáo dục giá trịsống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên” Cuốn sách được viết lồngghép giữa giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống với các kỹ năng thành phầnthuộc KNXH Các tác giả của cuốn sách khẳng định, giáo dục giá trị sống, kỹnăng sống luôn là nền tảng cho việc nâng cao các kỹ năng thành phần thuộcKNXH cho sinh viên; còn bồi dưỡng KNXH là công cụ và phương tiện đểsinh viên tiếp nhận, thể hiện giá trị sống một cách tốt nhất trong một môitrường xã hội năng động như hiện nay
Cuốn sách, “Sổ tay giảng viên năm học 2014-2015, những vấn đề tâm
huyết và giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục hiện nay”, do tác giả Thùy
Linh -Việt Trinh (Sư tầm và hệ thống hóa) đã tổng hợp nhiều bài viết bàn về
Trang 27bồi dưỡng kỹ năng sống cũng như KNXH cho học sinh, sinh viên Bàn về kỹnăng sống đã chỉ ra các nhóm kỹ năng: nhóm kỹ năng sống nhận biết và sốngvới chính mình; nhóm kỹ năng sống nhận biết và sống với người khác; nhóm
kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả; nhóm KNXH [52, tr.61-76] Trongtài liệu “Xây dựng mô hình câu lạc bộ giáo dục giá trị sống và phát triển kỹnăng sống” [32], tác giả Nguyễn Công Khanh đưa ra các mô hình lý thuyết,kinh nghiệm thực tiễn để tổ chức hiệu quả các hoạt động của câu lạc bộ họcsinh Cuốn sách giúp các nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục giá trị sống
và phát triển các kỹ năng cần thiết cho học sinh thông qua các loại hình câulạc bộ Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập mô hình câu lạc bộ phát triểnKNXH cho sinh viên ở trường đại học
Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số Trung tâm đào tạo
kỹ năng ở các thành phố lớn, các trường cao đẳng, đại học Các cơ sở này đã
tổ chức huấn luyện một số KNXH cho sinh viên, người lao động ở độ tuổithanh niên Các nhóm KNXH cơ bản bao gồm: kỹ năng tự học; kỹ năng tưduy sáng tạo và mạo hiểm; kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc; kỹnăng lắng nghe; kỹ năng thuyết trình; kỹ năng giao tiếp ứng xử; kỹ năng giảiquyết vấn đề; kỹ năng làm việc nhóm [51, tr.93-95]
1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý bồi dưỡng
kỹ năng xã hội cho sinh viên
1.2.1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở nước ngoài
Sự phát triển của xã hội từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiệnmột dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức, điều khiển các hoạt động laođộng theo những yêu cầu nhất định Hoạt động này được gọi là hoạt độngquản lý Ngày nay, mọi hoạt động của tổ chức, xã hội đều cần tới quản lý Bởivậy, hoạt động quản lý càng trở nên phổ biến, được diễn ra trong mọi lĩnhvực, mọi cấp độ và liên quan đến con người
Trang 28Quản lý trở thành một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề trong
xã hội hiện đại - nghề quản lý Theo đó, lý luận về quản lý ngày càng phongphú và phát triển Trước đây, bàn về quản lý, F.Taylor cho rằng: Quản lý làbiết rõ ràng, chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu đượcrằng họ đã hoàn thành tốt công việc như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất,
rẻ nhất F.Taylor đã đưa ra các nguyên tắc quản lý mà cho đến nay vẫn còn
được nhiều tác giả nhắc đến: Nhà quản lý phải lựa chọn nhân viên một cáchkhoa học, cho học hành để họ phát triển hết khả năng của mình; nhà quản lýphải am hiểu khoa học (KHTN, KHXH&NV); nhà quản lý phải cộng tác vớinhân viên theo một nguyên tắc nhất định; trách nhiệm và công việc được phânchia rõ ràng giữa nhà quản lý và nhân viên Cũng tiếp theo hướng này,
Harold Koont quan niệm: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Mục tiêucủa nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt đượccác mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất.Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thìquản lý là một khoa học” [109, tr.138],… Có thể nhận thấy, tuy có các quanniệm khác nhau, nhưng các học giả nêu trên đều quan niệm: quản lý là mộtquá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch và hệ thống củachủ thể quản lý đến khách thể quản lý dựa trên những thông tin về tình trạngcủa đối tượng nhằm phát huy một cách hiệu quả các tiềm năng, cơ hội của cánhân, tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra
Nghiên cứu các tài liệu nước ngoài cho thấy, lý luận về quản lý tronglĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có nhiều công trình khoa học đãcông bố dưới dạng sách, bài viết, chuyên đề chuyên khảo, Trong khi đó, córất ít tài liệu, công trình khoa học bàn về vấn đề quản lý bồi dưỡng KNXHcho sinh viên ở các trường đại học Tuy vậy, một khía cạnh nào đó cũng đã cómột vài bài viết, đề tài, sách đề cập đến vấn đề này
Trang 29Công trình khoa học bàn về “kỹ năng mềm, KNXH của giới trẻ”, tác
giả Alex K [94] đã phân tích tác động của toàn cầu hoá tới giới trẻ; đặt ra yêucầu mới về vấn đề quản lý bồi dưỡng không chỉ về kỹ năng mền mà còn vềKNXH cho người học trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Sự tiếp cậnnghiên cứu về bồi dưỡng kỹ năng mềm, KNXH của tác giả là theo quan điểmkhoa học tổ chức quản lý
Dựa vào kết quả nghiên cứu của nhiều chuyên ngành khoa học (giáo dục
học, tâm lý học, xã hội học,…) các tác giả Johnnie Johnson Hafemik; Dorothy S.
Messerschmitt; Stephanie Vandrick của cuốn sách [99] cho rằng: KNXH chủ yếu tùy thuộc vào 4 đặc điểm cơ bản là sự tự nhận thức, độ nhảy cảm đối với người khác, hiểu biết xã hội, tự chủ Sự tự nhận thức là kiểm soát những hành
động của chúng ta ảnh hưởng đến hành vi của người xung quanh như thếnào Độ nhạy cảm đối với người khác là sự quan tâm đối với nhu cầu và cảmgiác của người khác Hiểu biết xã hội là hiểu biết các phương pháp tác động đếnhành vi và nhận thức của người khác Tự chủ là có khả năng kiểm soát hànhđộng, cảm xúc của chúng ta, nhất là khi bị căng thẳng Để có KNXH, một ngườikhông nhất thiết phải tinh thông hết các đặc điểm đó Tuy nhiên, sự thiết sótnghiêm trọng ở một lĩnh vực có thể dẫn đến những rắc rối trong mối quan hệ vớingười khác ở nơi làm việc [99] Các tác giả của công trình nêu trên có bàn đếnviệc quản lý bồi dưỡng KNXH nhưng chưa thật sự sâu sắc
Về tổng thể, các công trình khoa học đã công bố ít bàn về quản lý bồidưỡng KNXH; tuy chưa đi sâu nghiên cứu con đường, cách thức quản lý bồidưỡng, song bước đầu cung cấp các tư liệu có giá trị cho việc kế thừa nghiêncứu quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học tại ViệtNam trong bối cảnh hiện nay
1.2.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở Việt Nam
Có những công trình khoa học nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản
lý GD,ĐT ở dưới dạng sách, đề tài khoa học, bài viết, luận án ([5]; [27]; [30];
Trang 30[25]; [45]; [50]; [67]; [69]; [89]; ) Trong đó, có những công trình đã bàn đến quản lý bồi dưỡng sinh viên về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cũng như
các kỹ năng cho sinh viên, như: tác giả Trần Thị Thu Hiền, “Internet và việcquản lý Internet trong đời sống và học tập của sinh viên hiện nay” [30] Tác giảtrình bày kết quả điều tra về việc sinh viên sử dụng Internet tại 3 trường đại họctrên địa bàn Hà Nội, qua đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lýInternet trong đời sống và học tập của sinh viên Tác giả Ngô Xuân Bình, “Đàotạo nguồn nhân lực ở Tp.HCM hướng tới thị trường tuyển dụng lao động” [5].Bài viết đề cập đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thịtrường lao động, trong đó đã bàn về thực trạng đào tạo nguồn nhân lực tạiTp.HCM là chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng KNXH cho người học; đồngthời đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng các KNXH cho sinh viênnhằm thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thị trường lao động
Tác giả Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thành Nhân, “Đánh giá kết quả họctập của sinh viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học Việt Nam: Nhữngđịnh hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn” [45] Theo các tác giả, tronglĩnh vực giáo dục đại học Việt Nam, việc chuyển từ niên chế sang học chếtín chỉ đang đặt ra những bài toán cả trên bình diện thực tiễn lẫn lý luận cầnquan tâm nghiên cứu Bài viết đề cập đến đánh giá kết quả học tập của sinhviên trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học là phải quan tâm đến kỹ năngtay nghề, KNXH của sinh viên và đề xuất hướng nghiên cứu về vấn đề này.Tác giả Phạm Văn Sơn, với công trình “Vai trò của Trung tâm hỗ trợ đào tạo
và cung cấp nhân lực trong việc gắn kết giữa đào tạo và sử dụng sinh viêntốt nghiệp” [73] Theo đó, từ thực trạng chất lượng nguồn nhân lực, mốiquan hệ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, tác giả đã làm rõ vai tròcủa Trung tâm hỗ trợ đào tạo và cung ứng nhân lực trong việc gắn kết giữađào tạo và sử dụng sinh viên tốt nghiệp, đó là việc đặt ra nhiệm vụ cụ thể
Trang 31cho các trung tâm này; triển khai công tác tư vấn hướng nghiệp, bồi dưỡngcác kỹ năng, trong đó có KNXH cho sinh viên.
Tác giả Nguyễn Quang Giao, “Quản lý chất lượng trong giáo dục đại
học và vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam” [25] Tác giả bài viết cho rằng,
chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã hội, bởi lẽ nó là động lực để
con người không ngừng vươn lên và phát triển Đối với giáo dục đại học chất
lượng là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của quốc gia, và là nguồn đầu tư manglại lợi lớn nhất đối với từng cá nhân Trong hội nhập quốc tế, phát triển vàcạnh tranh, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ của bất kỳtrường đại học nào trên thế giới Vì vậy, các trường đại học quan tâm đầu tưđến công tác quản lý chất lượng đào tạo cũng như bồi dưỡng các kỹ năng cầnthiết cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay
Cuốn sách “Bồi dưỡng kỹ năng sống cho sinh viên hiện nay” của tácgiả Nguyễn Ngọc Hà đã bàn đến kỹ năng và cách phân loại kỹ năng Theo tácgiả, quản lý bồi dưỡng những kỹ năng cần thiết cho sinh viên là quá trình tíchcực, chủ động của chính sinh viên và của các cơ quan, chức năng ban ngànhvới những nội dung, hình thức, biện pháp khác nhau của việc quản lý bồidưỡng nhằm hình thành ở sinh viên những kiến thức nhất định trong giao tiếp,ứng xử, quan hệ xã hội, xử lý có hiệu quả những tình huống, công việc trongcuộc sống hàng ngày Tài liệu “Bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng công
tác đoàn, hội, đội (Khối kiến thức lý luận)”, do Học viện Thanh thiếu niên
Việt Nam biên tập đã khẳng định sự cần thiết và nội dung quản lý giáo dụccác kỹ năng cho đội ngũ cán bộ đoàn, đội trong nhà trường, trong đó có bàn
về quản lý bồi dưỡng KNXH Nội dung của tài liệu luận chứng khá sâu sắc về
“Những kỹ năng cần có của người cán bộ đoàn ở nhà trường” là: kỹ năng nói;khả năng thuyết phục; kế hoạch hóa, cụ thể hóa, cảm hóa, và đặt ra yêu cẩu
về quản lý bồi dưỡng những kỹ năng đã nêu cho cán bộ đoàn Bài viết “Đồng
Trang 32hành cùng thanh niên phát triển KNXH” của tác giả Vân Anh đã khẳng định:Quản lý bồi dưỡng và rèn luyện, phát triển kỹ năng sống, KNXH là một trongnhững hình thức để đoàn kết, tập hợp thanh trong nhà trường và ngoài xã hộitham gia sinh hoạt trong tổ chức Đoàn [2] Nhìn chung, kết quả nghiên cứu vềquản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở nước ta đã đề cập đến một phần nộidung của việc quản lý bồi dưỡng này Các tác giả chưa nghiên cứu có hệthống, chuyên sâu vấn đề lý luận về quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên.
1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề đặt ra đề tài luận án cần tập trung giải quyết
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài
Về KNXH: bàn về KNXH là một trong những vấn đề thực tiễn cấp thiết
trong giáo dục cũng như đời sống KNXH gắn liền với quan hệ cá nhân-xã hội
và cần thiết cho con người dù làm việc hay sống ở môi trường hay hoàn cảnhnào, trong đó có đối tượng là sinh viên Theo đó, các công trình khoa học đãnghiên cứu nhận diện và mô tả một số yếu tố thuộc về KNXH Tuy nhiên, bàn
về vấn đề KNXH trong lý luận quản lý giáo dục mặc dù được xem xét nhiềukhía cạnh khác nhau, nhưng hiện nay vẫn chưa thực sự sáng tỏ Do mọi kỹ năngđều có bản chất xã hội và xét đến cùng chúng đều phục vụ cuộc sống con ngườinên hầu hết những ý kiến trong các khoa học trên đây bàn về KNXH chưa thật
sự rõ ràng, thiếu triệt để; đồng nhất KNXH với một số kỹ năng khác
Về bồi dưỡng KNXH: chủ yếu các công trình khoa học đã phân tích làm
rõ thực trạng trước đòi hỏi cấp bách đối với vấn đề bồi dưỡng kỹ năng sống,
kỹ năng mềm cho học sinh, sinh viên nói chung; chưa tập trung giải quyếtnhiệm vụ nghiên cứu lý luận mang tính hệ thống về nội dung, phương pháp,hình thức, điều kiện bảo đảm cho hoạt động bồi dưỡng KNXH cho sinh viên
ở các trường đại học Mặc dù việc bồi dưỡng KNXH cho sinh viên đã được
Trang 33định hướng bởi mục tiêu, nội dung chương trình ở trường đại học, song thực
tế triển khai thực hiện còn nhiều hạn chế, kết quả còn thấp Tuy một số ítcông trình khoa học có đề cập đến những phương pháp, hình thức bồi dưỡngKNXH, nhưng chưa có kết quả thử nghiệm rõ ràng, cụ thể nên tính thuyếtphục chưa cao Về tổng thể, nhiều công trình khoa học nghiên cứu tương đốiđầy đủ các nhiệm vụ: nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất cácbiện pháp bồi dưỡng các kỹ năng (kỹ năng sống, kỹ năng mền,…) cho nhiềuđối tương Tuy vậy, bàn về công tác bồi dưỡng KNXH cho đối tượng là sinhviên ở các trường đại học còn mờ nhạt Như vậy, việc đi sâu nghiên cứu mộtcách toàn diện, hệ thống về bản chất, đặc trưng của KNXH, nội dung, phươngthức bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học là vấn đề đặt ra cấpthiết cả về lý luận và thực tiễn
Về quản lý bồi dưỡng KNXH: Nhìn chung, các công trình khoa học xã
bàn sâu về vấn đề quản lý nhà trường, vai trò của chủ thể quản lý giáo dục,chức năng, nhiệm vụ, nội dung quản lý quán trình GD,ĐT ở các trường đạihọc Có nhiều công trình khoa học bàn về quản lý bồi dưỡng kỹ năng sống, kỹnăng mềm; đồng thời, có đề cập đến những khía cạnh khác của quản lý giáodục, bồi dưỡng KNXH cho sinh viên Một số công trình khoa học đã bàn đếnmột nội dung cụ thể của quản lý giáo dục, bồi dưỡng KNXH cho sinh viên.Tuy nhiên, việc bàn về quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên còn tản mạn,chưa thành hệ thống Hầu hết các công trình khoa học chỉ tiếp cận ở khía cạnhtâm lý học, giáo dục học, chưa tiếp cận từ góc độ quản lý giáo dục trongnghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với côngtác bồi dưỡng KNXH cho sinh viên Do vậy, trong nghiên cứu quản lý bồidưỡng KNXH cho sinh viên cần có sự kế thừa hợp lý các kết quả của cáccông trình khoa học đã công bố Đồng thời, luận chứng sâu sắc cả về lý luận
và thực tiễn về quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên Nghĩa là, bản chất,
Trang 34mục đích, nội dung, phương thức, chủ thể, cơ chế của quản lý bồi dưỡngKNXH cho sinh viên là vấn đề cần làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn.
1.3.2 Những vấn đề đặt ra mà đề tài luận án cần tập trung giải quyết
Một là, luận chứng cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh
viên Ở vấn đề này đặt ra là cần làm rõ một số khái niệm, như: nội hàm của kháiniệm KNXH và phân biệt KNXH với các kỹ năng khác Đặt trọng tâm xây dựngkhái niệm (bồi dưỡng KNXH và quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên); luậngiải nội dung, hình thức, bồi dưỡng KNXH cho sinh viên; luận chứng mộtcách có hệ thống “nội dung quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên”
Hai là, nhận thức và lựa chọn phương pháp giải quyết các vấn đề nảy sinh
từ thực tiễn về bồi dưỡng, quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trườngđại học trên địa bàn Tp.HCM Phương pháp tiếp cận trong phân tích, đánh giá cácvấn đề thực tiễn nảy sinh là xuất phát từ tính hai mặt của một vấn đề, từ đó rút ranhững kết luận Đó là: mô tả và đánh giá mặt tích cực và hạn chế về nội dung cơbản của bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn
Tp.HCM; mô tả và đánh giá mặt tích cực và hạn chế về nội dung quản lý bồi
dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM
Ba là, xây dựng hệ thống biện pháp quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinhviên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM Để đề xuất các biện pháp phùhợp, có tính khả thi cần dựa vào khung lý luận ở (thứ nhất); tập trung giảiquyết (mặt hạn chế của thực trạng được đề cập ở nội dung (thứ hai) Đồngthời, chỉ ra mục đích, nội dung yêu cầu, điều kiện thực hiện trong trình bàycác biện pháp quản lý bồi dưỡng bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở cáctrường đại học trên địa bàn Tp.HCM trong bối cảnh hiện nay
Bốn là, kiểm chứng những biện pháp đã đề xuất bằng phương phápkhảo nghiệm và thử nghiệm kết quả nghiên cứu Dựa vào nội dung, yêu cầu,điều kiện và biện pháp cụ thể của các biện pháp đã xác định để tiến hành kiểmchứng cả tính cấp thiết, tính khả thi các giải pháp sẽ đề cập trong luận án Sosánh giữa tính cấp thiết và tính khả thi, từ đó rút ra kết luận
Trang 35Kết luận chương 1
Sinh viên ở các trường đại học là một phận không nhỏ, nòng cốt trongthanh niên; là lực lượng đại diện cho nguồn nhân lực trẻ Trước sự tác độngcủa cách mạng công nghiệp (4.0), của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, hộinhập,… đặc biệt là yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới căn bản,toàn diện GD,ĐT đại học thì việc bồi dưỡng KNXH và quản lý bồi dưỡngKNXH cho sinh viên là yêu cầu tất yếu, có tính thực tiễn sâu sắc
Kỹ năng nói chung, KNXH nói riêng cũng như quản lý bồi dưỡng KNXHcho học sinh, sinh viên là vấn đề luôn quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả cảtrên thế giới và ở Việt Nam Qua nghiên cứu sách, các công trình khoa học, luận
án, các bài báo khoa học,… của tác giả trong nước và nước ngoài về kỹ năng, kỹnăng sống và quản lý giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng sống, KNXH cho sinh viên
đã được nghiên cứu làm sáng tỏ ở các mức độ khác nhau
Tuy nhiên, quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đại họccòn là một nội dung mới cả về mặt lý luận và thực tiễn, chưa được nghiên cứu đầy
đủ, hệ thống Việc khái quát các vấn đề lý luận, xây dựng và làm rõ nội hàm kháiniệm quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên sẽ tạo cơ sở ban đầu cho nhữngnghiên cứu tiếp theo về quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở các trường đạihọc; đồng thời là tiền đề, nền tảng lý luận và thực tiễn để tác giả luận án tiếp tụcnghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý bồi dưỡng KNXH cho sinh viên ở cáctrường đại học trên địa bàn Tp.HCM trong bối cảnh hiện nay
Trang 36Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG XÃ HỘI
CHO SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
2.1 Những vấn đề lý luận về bồi dưỡng kỹ năng xã hội cho sinh viên ở các trường đại học trong bối cảnh hiện nay
2.1.1 Những khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm kỹ năng xã hội
Kỹ năng là khả năng của mỗi người về một hoặc nhiều khía cạnh nào
đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phát sinh trong cuộcsống; là “khả năng vận dụng các kiến thức thu nhận được vào thực tế” [92,tr.934] Kỹ năng là “khả năng sử dụng các tri thức hay khái niệm đã có, nănglực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật vàgiải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn nhất định” [65,tr.5] Kỹ năng là “sự thực hiện có hiệu quả một động tác nào đó hay một hànhđộng phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúngđắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [46, tr.32] Theo đó, kỹ năngchính là hành động có mục đích của con người Nhờ có kỹ năng mà con ngườimới thực hiện có kết quả các nhiệm vụ của mình, khi con người có kỹ năngbậc cao thì sẽ biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức, kinh nghiệm để giảiquyết nhiệm vụ đặt ra trong điều kiện biến đổi, phức tạp của đời sống hiệnthực Kỹ năng luôn gắn liền với những hành động cụ thể, như: kỹ năng lãnhđạo, kỹ năng sư phạm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nghề nghiệp… Không có
kỹ năng chung chung, trừu tượng, tách khỏi hành động của chủ thể
Các khái niệm kỹ năng trên đây được tiếp cận ở những phương diệnkhác nhau, song đều phản ánh các dấu hiệu cơ bản: (1) kỹ năng chính là kếtquả của quá trình tư duy, tích luỹ kinh nghiệm của con người trong hoạt độngthực tiễn; (2) kỹ năng là sự phản ánh bậc cao của thao tác kỹ thuật mang tính
Trang 37thành thạo, chủ động và có kết quả ổn định; là khả năng sử dụng tri thức,phương tiện, cách thức hành động linh hoạt, sáng tạo phù hợp với điều kiệnthực tiễn; (3) kỹ năng bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở các lĩnhvực khác nhau; (4) chủ thể có kỹ năng có nghĩa là đã hiểu biết về hành động
đó (hiểu mục đích, cách làm, điều kiện cần có để thực hiện được hành động)
và có thể tiến hành hành động theo đúng yêu cầu, đạt kết quả nhất định
Như vậy, luận án tiếp cận kỹ năng với tính cách là chủ thể đã nhận thức và biết vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm để thực hiện có kết quả các hoạt động nhất định trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử - cụ thể
Bàn về khái niệm KNXH trong lịch sử cũng như hiện nay có nhữngquan điểm khác nhau Trong tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “Socialskills” – (KNXH) là khái niệm dùng để chỉ khả năng vận dụng linh hoạt,
sáng tạo những tri thức ở chủ thể về giao tiếp, thuyết phục và tương tác với
các thành viên khác trong xã hội mà không tạo ra xung đột hay bất hòa
KNXH cũng được hiểu là tập hợp các kỹ năng con người sử dụng để tương
tác và giao tiếp với người khác Mỗi người sinh ra trong các nền văn hóa vớinhững phong tục, tập quán, chuẩn mực xã hội khác nhau quyết định cáchthức hành xử không hoàn toàn giống nhau Người có KNXH tốt thường cócác mối quan hệ quen biết ở phạm vi rộng; họ có tài tìm ra được tiếng nóichung với nhiều các kiểu người khác nhau trong xã hội Nói cách khác,người càng có KNXH cao, càng có sở trường đối với việc tạo nên sự đồngthuận trong cuộc sống, sinh hoạt, quan hệ xã hội; hội nhập và thích nghi tốtvới những môi trường sống khác nhau
Tác giả Lamont, Van Horn khẳng định: “KNXH được định nghĩa như
là “một thuật ngữ chung để mô tả một chùm của các kỹ năng làm tăng tínhhiệu quả của cá nhân trong tình huống xã hội” [102, tr.384] Tác giả Lê Minhđịnh nghĩa: “KNXH là khả năng vận dụng kiến thức và những năng lực tâm lý
Trang 38- xã hội vào việc giao tiếp và tương tác với người khác nhằm tạo ra những thuậnlợi cho cá nhân trong các mối quan hệ xã hội” [59, tr.16] Theo đó, tác giả khẳngđịnh KNXH được thể hiện qua việc giao tiếp, tương tác với người khác Đây làđiểm cơ bản để phân biệt KNXH với các kỹ năng khác; đồng thời, tác giả chorằng những kỹ năng không có tính tương tác, giao tiếp không phải là KNXH.
Tác giả Đàm Thị Kim Thu định nghĩa: KNXH được hiểu là kỹ năng liênquan tới sự tương tác xã hội với các cá nhân khác, bao gồm các kỹ năng thiếtlập và duy trì sự tương tác với người khác, giải quyết các tình huống và nhậnthức, phản hồi lại những xúc cảm, tình cảm… [79, tr.9] Tác giả Đặng ThànhHưng và Trần Thị Tố Oanh quan niệm, “KNXH là loại kỹ năng hướng tới và
áp dụng trực tiếp vào những quan hệ, hoàn cảnh, quá trình và đời sống cộngđồng xã hội để giúp cá nhân nhận thức, ứng xử, giao tiếp và thích ứng xã hộithành công, hiệu quả ở mức độ nhất định” [38, tr.9] Tác giả Nguyễn Thị HảiYến khẳng định: “KNXH là loại kỹ năng được con người sử dụng để tươngứng với một hoạt động nào đó nhằm giúp cho cá nhân thực hiện các mối quanvới mọi người xung quanh, trên cơ sở nằm vững phương thức thực hiện và vậndung trí thức, KNXH phù hợp với điều kiện hoàn cảnh” [93, tr.14]
Kỹ năng xã hội còn được hiểu là kỹ năng sống, nhưng không đồng nhấtvới kỹ năng sống Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội của cá nhân, giúpcon người có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với nhữngngười xung quanh, với xã hội và khả năng ứng phó tích cực trước các tìnhhuống của cuộc sống Trong khi đó, KNXH là tổng hợp và chọn lọc tập hợpcác kỹ năng sống cho phép chủ thể hoạt động, giao tiếp, tương tác và hòanhập, thích nghi với xã hội KNXH còn được xem là một trong các yếu tố củachỉ số thông minh cảm xúc (EQ)
Kỹ năng xã hội góp phần quyết định thành công, tăng năng suất, chấtlượng, hiệu quả công việc và cuộc sống cá nhân; điều khiển, tác động thúc đẩy
Trang 39các thay đổi về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, góp phần xây dựngmôi trường xã hội ổn định, trật tự, thân thiện và hài hòa hơn KNXH có các kỹnăng thành phần, bao gồm kỹ năng gây ảnh hưởng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
xử lý xung đột, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng khởi xướng thay đổi, kỹ năng xâydựng quan hệ, kỹ năng cộng tác và hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm Kỹ nănggây ảnh hưởng là vận dụng thành thạo các chiến thuật hiệu quả để thuyết phục
Kỹ năng giao tiếp là lắng nghe cởi mở và tạo thông điệp thuyết phục Kỹ năngquản lý xung đột là đàm phán và giải quyết các bất đồng Kỹ năng lãnh đạo làkhích lệ và dẫn dắt các cá nhân và nhóm Kỹ năng khởi xướng thay đổi là khởiđầu thay đổi hoặc quản lý thay đổi Kỹ năng xây dựng quan hệ là nuôi dưỡngcác mối quan hệ ràng buộc Kỹ năng cộng tác và hợp tác là làm việc với nhữngngười khác vì mục tiêu chung Kỹ năng làm việc nhóm là tạo sự cộng hưởng sứcmạnh trong đội để theo đuổi các mục tiêu tập thể
Kế thừa các khái niệm trên, có thể hiểu: KNXH là sự vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm của con người vào những điều kiện, hoàn cảnh, quan
hệ xã hội, quá trình xã hội, được biểu hiện thông qua hành động, ứng xử, giao tiếp và thích ứng xã hội với những hiệu quả ở các mức độ nhất định.
2.1.1.2 Khái niệm kỹ năng xã hội của sinh viên đại học
Sinh viên là một khái niệm được hiểu, định nghĩa theo nhiều cách Vềmặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi sinh viên là một giai đoạn xác địnhtrong quá trình “tiến hóa” của cơ thể Các nhà tâm lý học thường nhìn nhậnsinh viên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt độngđộc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm Dưới góc độ kinh tế học,sinh viên được xem là một lực lượng thanh niên đang học tập ở các trường đạihọc; là nguồn bổ sung cho nguồn nhân lực có chất lượng cao trong tương lai.Tùy nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người tađưa ra các định nghĩa khác nhau về sinh viên
Trang 40Trong Từ điển tiếng Việt, “sinh viên” là thuật ngữ dùng để chỉ những
người đang học tập ở các trường đại học và cao đẳng [92, tr.860] Với quanniệm sinh viên là tất cả những người đang học đại học và cao đẳng, ở bất cứloại hình nào, lứa tuổi nào thì khái niệm sinh viên sẽ quá rộng Trong phạm vinghiên cứu của đề tài luận án, khái niệm sinh viên ở các trường đại học đượcgiới hạn bởi một số nét cơ bản sau:
Một là, sinh viên đại học là những người tốt nghiệp phổ thông trung
học, đã trúng tuyển đại học, đang học các chuyên ngành khác nhau ở cáctrường đại học; có độ tuổi khoảng từ 18 đến 25 tuổi Đây là độ tuổi có nhữngbước trưởng thành nhất định về mặt sinh học và mặt xã hội ở mỗi sinh viên Ởgóc độ sinh học, họ được coi là một cấp độ phát triển hoàn thiện về mặt thểchất, có khả năng phát triển trí tuệ, nhân cách
Sinh viên đại học có hội tụ đủ những điều kiện nhất định và qua lần thituyển theo quy định của Luật Giáo dục ở nước ta hiện nay Do được thi tuyển chặtchẽ, nên sinh viên có uy tín xã hội ưu trội hơn so với các nhóm thanh niên khác vềtrình độ học vấn Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt, xuất thân từ các giai tầng,thành phần dân tộc khác nhau, đang trong quá trình học tập, chuẩn bị “hànhtrang” nghề nghiệp cần thiết để bước vào cuộc sống tự lập Họ có thể trở thànhnhững cán bộ, công chức, viên chức, những người lao động trình độ chuyên môn,nghề nghiệp, các kỹ năng ngày càng phát triển trong tương lai
Đang học tập, rèn luyện ở các trường đại học, do vậy sinh viên sẽ lànguồn nhân lực có chất lượng cao trong tương lai Sinh viên là lực lượng quantrọng trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước, mang sứ mệnh khẳngđịnh trí tuệ và tầm vóc Việt Nam với bạn bè thế giới Tuy vậy, sinh viên cóphát huy được năng lực tiềm ẩn của mình hay không, điều đó không chỉ phụthuộc vào khả năng của cá nhân, mà còn chịu sự quy định bởi quá trình đàotạo, cũng như công tác bồi dưỡng KNXH ở các trường đại học