1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện pác nặm tỉnh bắc kạn

96 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, đã có sự thay đổi đáng kể về nhận thức của cộng đồng trong xây dựng NTM, họ tích cực tham gia đóng góp nhiều hơn, họ không mong chờ nhà nước cho không mà chỉ mong được vay vốn

Trang 1

NGUYỄN XUÂN NON

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA

BÀN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Thái Nguyên - Năm 2019

Trang 2

NGUYỄN XUÂN NON

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA

BÀN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN

Ngành: Phát triển nông thôn

Mã số: 8.62.01.16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ THỊ HÒA

Thái Nguyên - Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Bắc Kạn, ngày 15 tháng 08 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Non

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi

lời cảm ơn đến cô giáo TS Hà Thị Hòa - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp

đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các Thầy Cô thuộc phòng Đào tạo, Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn UBND huyện Pác Nặm; UBND các xã: Cổ Linh, Giáo Hiệu, Bộc Bố huyện Pác Nặm và các hộ gia đình ở 3 xã trên đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài

Bắc Kạn, ngày 15 tháng 08 năm 2019

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa của đề tài 3

4.1 Ý nghĩa khoa học 3

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Cộng đồng và nguồn lực cộng đồng 4

1.1.2 Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển nông thôn 5

1.1.3 Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn 7

1.1.4 Cơ chế chính sách huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM 8

1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 10

1.2.1 Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng 10

1.2.2 Quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng 11

1.2.3 Cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng trong chương trình thí điểm xây dựng NTM thời kỳ CNH-HĐH 12

1.2.4 Cơ chế huy động cộng đồng trong chương trình MTQG xây dựng NTM 14

Trang 6

1.2.5 Quy chế dân chủ cơ sở 15

1.2.6 Nội dung chủ yếu về chương trình xây dựng nông thôn mới 17

1.3 Một số nghiên cứu về vấn đề huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn 24

1.3.1 Trên thế giới 24

1.4.2 Trong nước 29

1.4 Đánh giá chung rút ra từ tổng quan tài liệu 33

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Pác Nặm 34

2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội của huyện Pác Nặm 37

2.1.2.2 Tình hình dân số - lao động và việc làm 38

2.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Pác Nặm 41

2.2 Nội dung nghiên cứu 43

2.3 Phương pháp nghiên cứu 43

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 43

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 45

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu thống kê 45

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 46

2.4.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình chung 46

2.4.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội 46

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

3.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Pác Nặm 48

3.1.1 Kết quả 3 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Pác Nặm 48

Trang 7

3.1.2 Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn

huyện Pác Nặm 50

3.1.3 Tình hình phân bổ nguồn vốn xây dựng nông thôn mới của huyện Pác Nặm 51

3.1.2 Đánh giá chung sau 3 năm (2016-2018) triển khai xây dựng NTM huyện Pác Nặm 52

3.2 Tình hình huy động nguồn lực cộng đồng cho chương trình xây dựng NTM của 3 xã nghiên cứu 53

3.2.1 Khái quát chung 3 xã nghiên cứu 53

3.2.2 Sự hiểu biết của người dân và cán bộ xã, thôn về chương trình xây dựng nông thôn mới 55

3.2.3 Tình hình huy động nguồn lực xây dựng NTM ở xã Giáo Hiệu 57

3.2.4 Tình hình huy động nguồn lực xây dựng NTM ở xã Bộc Bố 60

3.2.5 Tình hình huy động nguồn lực xây dựng NTM ở xã Cổ Linh 63

3.2.6 Những đóng góp của người dân và cộng đồng vào chương trình xây dựng NTM 65

3.2.7 Những khó khăn trong việc huy động nguồn lực cộng đồng vào chương trình xây dựng NTM 67

3.3 Một số nguyên nhân, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức cho việc huy động nguồn lực cộng đồng cho chương trình xây dựng NTM huyện Pác Nặm 70

3.3.1 Một số nguyên nhân dẫn đến việc huy động nguồn lực cộng đồng cho chương trình xây dựng NTM huyện Pác Nặm còn khó khăn 70

3.3.2 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) cho việc huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới huyện Pác Nặm 71

3.4 Những giải pháp để huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Pác Nặm 72

Trang 8

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Kiến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 9

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

PTNT Phát triển nông thôn

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Pác Nặm 36 Bảng 2.2 Tình hình dân số, lao động của huyện Pác Nặm 39 năm 2016 – 2018 39 Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả rà soát các tiêu chí NTM huyện Pác Nặm tính đến tháng 12/2018 50 Bảng 3.2: Kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM huyện Pác Nặm giai đoạn 2016 - 2018 50 Bảng 3.3 Phân bố nguồn vốn xây dựng nông thôn mới của huyện Pác Nặm giai đoạn 2016-2018 51 Bảng 3.4: Một số thông tin 3 xã nghiên cứu thời điểm cuối năm 2018 55 Bảng 3.5: Sự hiểu biết của người dân về chương trình xây dựng NTM 56 Bảng 3.6: Đánh giá của cán bộ và người dân về việc triển khai xây dựng NTM tại địa phương 57 Bảng 3.7: Nguồn vốn cho xây dựng NTM tại xã Giáo Hiệu tính đến tháng 12/2018 59 Bảng 3.8: Nguồn vốn cho xây dựng NTM tại xã Bộc Bố tính đến tháng 12/2018 62 Bảng 3.9: Nguồn vốn xây dựng NTM tại xã Cổ Linh đến tháng 12/2018 64 Bảng 3.10: Những công việc người dân tham gia vào xây dựng nông thôn mới tại địa phương mình (n=135) 65 Bảng 3.11: Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng NTM (n = 30) 66 Bảng 3.12: Ý kiến của các hộ dân về việc huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng NTM 67 Bảng 3.13: Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động nguồn lực đóng góp bằng tiền (n = 30) 69 Bảng 3.14: Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động nguồn lực đóng góp bằng đất đai (n = 30) 69

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Xuân Non

Tên luận văn: Giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

Ngành: Phát triển nông thôn Mã số: 8.62.01.16

Tên cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

1 Mục tiêu của đề tài

1.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn Từ đó, đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng NTM trên địa bàn huyện

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiện cứu của luận văn là việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: Luận văn được nghiên cứu tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

Trang 12

Phạm vi về thời gian: Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 12/2017 đến tháng 2/2019

3 Kết luận

Kết quả nghiên cứu trong luận văn này khẳng định lại việc huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng NTM là đặc biệt quan trọng, có tính quyết định cho sự thành công đối với xây dựng NTM ở mỗi xã, mỗi địa phương

Những bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế cũng cho thấy nếu phát huy tốt nguồn lực từ cộng đồng thì mới thực hiện được mục tiêu của xây dựng NTM

Xây dựng NTM gồm nhiều nội dung, mỗi nội dung đều cần có sự tham gia đóng góp của cộng đồng theo nhiều hình thức khác nhau Thực tế nghiên cứu tại 3 xã cũng đã chỉ rõ cộng đồng đã góp tiền, góp sức, góp tài sản, góp ý kiến của mình trong hầu hết các hoạt động xây dựng NTM Tuy nhiên, việc huy động nguồn lực cộng đồng vẫn tồn tại hai mặt: Một mặt, một bộ phận người dân và cán bộ vẫn tồn tại tâm lý ỷ lại, mong chờ sự hỗ trợ từ bên ngoài Mặt khác, đã có sự thay đổi đáng kể về nhận thức của cộng đồng trong xây dựng NTM, họ tích cực tham gia đóng góp nhiều hơn, họ không mong chờ nhà nước cho không mà chỉ mong được vay vốn ưu đãi cho phát triển sản xuất, họ sẵn sàng góp vốn, góp sức nhiều hơn khi mà đầu tư nhà nước giảm dần…

Việc triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, bất cập nhưng huyện Pác Nặm cũng đã đạt được những kết quả nhất định: Công tác quy hoạch được triển khai quyết liệt và cơ bản đáp ứng được yêu cầu đặt ra; Công tác tuyên truyền vận động nhân dân hiến đất, hiến tài sản, đóng góp tiền, ngày công lao động có bước chuyển biến tích cực; Công tác chỉ đạo và ban hành văn bản được triển khai và thực hiện đồng bộ

Về việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới thì cả 3 xã được lựa chọn nghiên cứu cũng như huyện Pác Nặm nói chung vẫn chủ yếu là

Trang 13

nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước; còn nguồn vốn tín dụng; vốn doanh nghiệp và vốn nhân dân đóng góp vẫn chiểm tỷ trọng rất thấp

Đề tài nghiên cứu cũng chỉ ra 6 nguyên nhân chính dẫn đến những khó khăn trong việc huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới của huyện Pác Nặm, đó là: Nhận thức của một bộ phận cán bộ tham gia chỉ đạo, quản lý chương trình xây dựng NTM còn hạn chế; Việc tuyên truyền về chương trình NTM còn chưa hiệu quả, người dân chưa hiểu rõ về chương trình xây dựng NTM; Cơ chế chính sách về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng NTM còn chưa đầy đủ, cụ thể; Nhiều hộ gia đình trên địa bàn huyện còn có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp; Việc triển khai lấy ý kiến của người dân chưa hợp lý nên chưa thu hút được người dân tham gia đóng góp ý kiến cho chương trình xây dựng nông thôn mới

Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng cho thấy để huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới các xã được lựa chọn nghiên cứu trên địa bàn huyện Pác Nặm đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau Có nhiều cách làm hay, sáng tạo, và đề tài cũng đưa ra một số giải pháp về huy động nguồn lực cộng đồng có thể áp dụng cho các địa phương khác được, đó là:

- Để huy động tốt các nguồn lực từ cộng đồng ở mỗi xã khi xây dựng NTM cần thực hiện tốt các công việc sau: nâng cao năng lực cán bộ cơ sở; coi trọng công tác truyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân; cần có các văn bản quy định cụ thể về sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM

Các giải pháp cụ thể để huy động người dân đóng góp các nguồn lực: tiền mặt, tài sản, ý kiến:

+ Đối với những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn việc đóng góp bằng tiền mặt gặp khó khăn thì có thể chuyển sang hình thức đóng góp bằng công lao động đối với nhóm hộ này Muốn làm được như vậy thì các công trình của thôn, xã thì phải giao cho người dân thôn, xã đó trực tiếp thi công và

Trang 14

thực hiện Hoặc có một số thôn trên địa bàn huyện đã đưa việc này ra bàn bạc trước cuộc họp thôn và quyết định những hộ có hoàn cảnh khó khăn sẽ đóng ít hơn so với các hộ còn lại

+ Đối với các hộ không đồng ý hiến đất thì các tổ chức đoàn thể thôn,

xã nên vào tận các hộ gia đình để vận động họ hiến đất Hoặc có thể nhờ người nhà của họ vận động và nên có những hình thức biểu dương những hộ tích cực hiến đất qua đài phát thanh, các cuộc họp thôn, xã để động viên các

hộ tham gia hiến đất

+ Để huy động sự tham gia đóng góp ý kiến của người dân thì nên chia

nhỏ và cụ thể các nội dung cần lấy ý kiến, có sự hướng dẫn chi tiết về cách tham gia ý kiến của người dân có như vậy thì người dân mới có thể tham gia ý kiến vào các nội dung của chương trình xây dựng NTM

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05 tháng

08 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Thực hiện Nghị quyết 26, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về xây dựng NTM giai đoạn 2010-

2020 Đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị

và an ninh quốc phòng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, được thực hiện trên phạm vi cả nước

Có thể thấy, mặc dù xây dựng NTM trên tất cả các tỉnh trong cả nước đều nhấn mạnh việc phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng nhưng vai trò đó chưa được phát huy đầy đủ Chưa có giải pháp cụ thể thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong khi đây chính là nguồn lực đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công của chương trình xây dựng NTM Nguồn lực cộng đồng không chỉ gồm tiền của, vật chất, sức lao động mà người dân đóng góp cho các nội dung xây dựng NTM mà còn là trí tuệ, tinh thần, kiến thức bản địa, sự tham gia ý kiến, sự đồng thuận, mối quan hệ tương tác bên trong và bên ngoài cộng đồng… Nhu cầu vốn cho xây dựng NTM ở mỗi xã là hàng chục, hàng trăm tỷ đồng Ngân sách nhà nước không thể đầu tư cho xây dựng NTM tại tất cả các xã trên cả nước như các chương trình thí điểm Việc huy động một cách đa dạng các nguồn vốn ngoài ngân sách đóng vai trò hết sức quan trọng

Huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn là một huyện miền núi, cách trung tâm thành phố Bắc Kạn 90 km về phía bắc, huyện có diện tích đất tự nhiên 47.539

ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 9,35%; đất lâm nghiệp chiếm 74%, đất chưa sử dụng chiếm 14,06%, đất phi nông nghiệp chiếm 2,18% Huyện bao

Trang 16

gồm 10 đơn vị hành chính xã với 118 thôn, dân số 31.236 người, có 6.283 hộ bao gồm 7 dân tộc cùng sinh sống (Tày, Mông, Dao, Nùng, Sán Chỉ, Kinh, Hoa)

Trong gần 5 năm qua, huyện Pác Nặm đã tập trung cả hệ thống chính trị vào cuộc để thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện, song kết quả đạt được ở mức độ chưa cao, nhiều tiêu chí chưa đạt so với kế hoạch như các tiêu chí về văn hóa, an ninh trật tự…và có sự chênh lệch về nhận thức dẫn đến sự tham gia đóng góp nguồn lực của cộng đồng Do vậy, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp huy động nguồn lực của cộng dồng, nguời dân trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn theo huớng huy động tối đa nguồn lực của cộng dồng, nguời dân trong xây dựng NTM là một giải pháp phát triển nông thôn bền vững Xuất phát từ thực

tiễn đó, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng trong

xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn”

làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn Từ đó, đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng NTM trên địa bàn huyện

Trang 17

- Đề xuất một số giải pháp để huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Pác Nặm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiện cứu của luận văn là việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu tốt cho chính quyền địa phương, các cấp, các ngành của huyện Pác Nặm nói riêng và tỉnh Bắc Kạn nói chung sử dụng cho việc thực hiện xây dựng chương trình nông thôn mới tại các

xã trên địa bàn tỉnh

Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các Bộ, Ngành có liên quan xem xét trong việc điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách trong việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại các xã trong cả nước

Trang 18

vị như làng/bản, xã, huyện những người chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới tính, thân phận xã hội [12]

Từ điển tiếng Việt giải thích: “cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối” [20] Hiểu một cách đơn giản, cộng đồng là một nhóm người có cùng

những đặc điểm chung, ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung, Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm

lý, tác động qua lại và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung

1.1.1.2 Nguồn lực cộng đồng

Một cách khái quát nhất, nguồn lực từ cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực tế trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng cuộc sống cho chính họ (Gord Cunningham, 2006) Nguồn lực cộng đồng được khái niệm một cách toàn vẹn bao gồm các thành phần sau:[7]

Trang 19

- Các nguồn tài sản về con người: gồm các kỹ năng, kiến thức và năng lực của các thành viên trong cộng đồng

- Các nguồn tài sản xã hội: mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, ví dụ như niềm tin

- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên: là các nguồn tài nguyên thiên nhiên tồn tại trong cộng đồng Ví dụ: đất sản xuất, tài nguyên rừng, thuỷ sản…

- Các nguồn tài sản vật chất: là các công trình được xây dựng phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống nhân dân tại cộng đồng (và các cộng đồng lân cận) Ví dụ: cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm)

- Các nguồn tài sản tài chính là các nguồn lực kinh tế tồn tại trong cộng đồng như hệ thống ngân hàng đang hoạt động trong vùng, khả năng kinh tế của các thành viên trong cộng đồng

1.1.2 Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển nông thôn

1.1.2.1 Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng

Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng là phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để phát triển các lĩnh vực khác nhau ở khu vực nông thôn Phương pháp tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được nhiều chương trình/dự án sử dụng phổ biến Mỗi chương trình/dự án có mục tiêu riêng, có thể là nhằm tăng cường vai trò của phụ nữ trong cộng đồng, phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, quản lý nguồn tài nguyên rừng, cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn…

Tuy nhiên, có một điểm chính vẫn còn đang có nhiều tranh luận, đó là cách hiểu như thế nào là “dựa vào cộng đồng Có ý kiến cho rằng, ở các nước đang phát triển, vấn đề phát triển nông thôn là rất quan trọng do phần lớn dân

cư sống ở khu vực nông thôn và hoạt động chính là sản xuất nông nghiệp, vì thế rất nhiều tổ chức khác nhau áp dụng các biện pháp phát triển cộng đồng khác nhau đã được thực hiện tại các quốc gia này Hầu hết những nỗ lực hỗ trợ phát triển này được tạo ra từ phía bên ngoài cộng đồng (nhà nước, tổ chức

Trang 20

phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu – phát triển) chứ bản thân cộng đồng không tự tổ chức phát triển Điều này tạo đặt ra vấn đề là “sự tham gia” hay

“dựa vào cộng đồng” nằm ở đâu? Nhiều câu hỏi cũng được đặt ra về sự bền vững của những tác động phát triển này cũng như câu hỏi về việc cộng đồng

có được tăng cường sức mạnh để tự ra quyết định của mình hay không

Cũng có nhiều câu trả lời cho những tranh luận trên, trong đó đáng chú

là khái niệm phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng đồng do Jody Kretzmann và John McKnight (1993) đưa ra Đây là một cách tiếp cận phát triển cộng đồng đề cao việc sử dụng những kỹ năng và sức mạnh đã và đang hiện hữu ngay trong cộng đồng nông thôn hơn là việc lôi kéo, trông chờ vào

sự trợ giúp từ bên ngoài Cụm từ “dựa vào cộng đồng” ở đây đề cập đến tính chủ động, tự phát triển, trong đó khuyến khích các thành viên trong cộng đồng tạo ra sự tiến triển cho chính bản thân họ, đối lập với cách tiếp cận truyền thống là dựa theo nhu cầu mà đã khiến cho cộng đồng phụ thuộc vào các hỗ trợ bên ngoài [22]

1.1.2.2 Vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn, là cơ sở cho phát triển nông thôn bền vững vì:

- Kỹ năng, truyền thống, kiến thức và năng lực của họ là tiềm năng chính để phát triển

- Sự cam kết của họ là sống còn (nếu như họ không ủng hộ một kế hoạch nào, kế hoạch đó sẽ không thực hiện được)

- Hơn thế nữa, một cộng đồng càng phát triển và năng động, thì càng có khả năng thu hút người dân ở lại, và giữ họ không di chuyển đi nơi khác

- Họ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình

- Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương mà quá trình phát triển phải dựa vào đó

Trang 21

1.1.3 Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn

Các lĩnh vực tham gia thay đổi tuỳ theo mục tiêu của người nghiên cứu Tuy nhiên, việc ra quyết định luôn được xem là lĩnh vực quyết định nhất cho bất kỳ mục tiêu nào và không được bỏ qua Cohen và Uphoff (1979) đã đưa ra khung phân tích để giám sát vai trò của sự tham gia trong các dự án và chương trình phát triển Họ thấy có 4 lĩnh vực tham gia: (1) ra quyết định; (2) thực hiện; (3) hưởng lợi; (4) đánh giá

Trong khi đó, Finsterbusch và Wiclin (1987) nhận thấy dự án có 3 pha

và 5 hình thức tham gia là: (1) lập kế hoạch (nguyên gốc và thiết kế); (2) thực hiện (thực hiện và thiết kế lại); (3) bảo dưỡng

Trong nghiên cứu sự tham gia của địa phương về các hoạt động phát triển ở nông thôn Thái Lan, Pong Quan (1992) quan sát thấy tham gia bao gồm: đóng góp, hưởng lợi, liên quan đến ra quyết định và đánh giá

Khung phân tích Cohen và Uphoff có mục tiêu tham gia và khung phân tích Finsterbusch và Wiclin có mục tiêu dự án, nhưng chúng tương hợp

để phù hợp với thực tế

Khi áp dụng vào thực tế, sự tham gia dường như thể hiện ở nhiều dạng khác nhau Sự tham gia là một khái niệm khó nắm bắt mà sự phân biệt giữa các dạng khác nhau là không dễ dàng Tuy nhiên trong bản tóm tắt của các dự

án phát triển của các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ, Oakley (1987) có gợi ý rằng ba dạng khác nhau của sự tham gia trong thực tế là: đóng góp, tổ chức và trao quyền

- Tham gia tổ chức: đã có các cuộc tranh luận rất lâu về phạm vi của lý thuyết và thực tế phát triển rằng sự tổ chức là công cụ cơ bản của sự tham gia Rất

ít người tranh luận về luận điểm này nhưng sẽ không đồng ý về bản chất và phát triển của sự tổ chức Sự phân biệt giữa nguồn gốc của dạng tổ chức mà sẽ dùng như là phương tiện cho sự tham gia, hoặc các tổ chức này được giới thiệu và hình thành bên ngoài như HTX, Hội nông dân… hay các tổ chức này xuất hiện và tự cơ

Trang 22

cấu mình như là kết quả của quá trình có sự tham gia Cán bộ phát triển nhìn nhận

có nhu cầu lớn về hỗ trợ hình thành các tổ chức thích hợp của người nông dân, tuy vậy chỉ khuyến khích để người dân nông thôn tự quyết định bản chất và cấu trúc của tổ chức

- Tham gia trao quyền: khái niệm về sự tham gia như là sự áp dụng trao quyền cho người dân đã được ủng hộ rộng rãi hơn trong những năm gần đây Tuy nhiên, đó là một khái niệm khó định nghĩa và gây ra nhiều cách giải thích khác nhau Một số coi trao quyền là sự phát triển các kỹ năng và khả năng giúp người dân nông thôn quản lý tốt hơn, có tiếng nói và đàm phán với hệ thống tổ chức, dịch vụ phát triển hiện có, một số khác lại coi đó là cơ bản và cần thiết liên quan đến cho phép người dân quyết định và tự thực hiện những việc mà họ cho rằng cần thiết cho sự phát triển của mình

- Tham gia đóng góp: theo cách hiểu này, sự tham gia nhấn mạnh đến

sự tự nguyện hay các dạng khác của sự đóng góp của người dân nông thôn để quyết định trước các chương trình và dự án Ví dụ như các dự án về y tế, cấp nước, lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu nhằm vào sự đóng góp của người dân nông thôn trong sự tham gia và thực sự là cơ sở để thành công [7]

1.1.4 Cơ chế chính sách huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM

1.1.4.1 Cơ chế, chính sách phát triển nông thôn:

Ở Việt Nam, từ “cơ chế” được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng những năm 70 của thế kỷ trước, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những quy định về quản lý Ngày nay, từ “cơ chế” thường đi đôi với từ “chính sách”, thể hiện những biện pháp của nhà nước để tác động tới xã hội (thông qua pháp luật, thông qua các công cụ tiền tệ, các công cụ quản lý hành chính khác, các công

cụ kinh tế) Chính sách chính là động lực được nhà nước hỗ trợ, cho phép hoặc cấm đoán

Trang 23

Vai trò của Chính phủ trong phát triển nông thôn là vai trò lãnh đạo Chính phủ tổ chức, chỉ đạo và phối hợp hành động của hàng loạt các cơ quan,

tổ chức và các lợi ích, những người đóng góp cho quá trình phát triển nông thôn to lớn này Việc xây dựng cơ chế chính sách cho xây dựng NTM cũng chính là một vai trò của Chính phủ

Như vậy, “cơ chế, chính sách” nhấn mạnh đến nguyên tắc, cách làm, luật chơi và các quan hệ ứng xử giữa các tác nhân “Cơ chế, chính sách” được thiết lập bởi các quy định chính thức (quy tắc, luật pháp, hiến pháp) hoặc không chính thức (quy tắc ứng xử, các hành vi đạo đức tự áp đặt) với các đặc tính buộc phải tuân thủ theo [12]

1.1.4.2 Nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM

Trong cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM cấp xã” do Bộ NN&PTNT xuất bản tháng 8 năm 2010, “nguồn lực cộng đồng” trong xây dựng NTM gồm:

- Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao

- Đóng góp xây dựng các công trình công cộng của làng, xã như: đường giao thông thôn, xóm; kiên cố hoá kênh mương; vệ sinh công cộng…

- Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn NTM; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp đẽ, khang trang,…

Theo giải thích trong cuốn sổ tay này thì “nguồn lực” hay “nội lực” của cộng đồng chính là những đóng góp bằng tiền và công sức của người dân và cộng đồng Cách hiểu này chưa thật đầy đủ vì ngoài đóng góp bằng tiền và công sức, người dân và cộng đồng còn có thể đóng góp cho xây dựng NTM bằng các nguồn lực khác như: đất đai, các tài sản khác (nguyên vật liệu, cây

Trang 24

cối, hoa màu, công trình), trí tuệ, năng lực, sự tham gia ý kiến hoặc các mối quan hệ xã hội mà người dân có được để tạo ra sự phát triển chung cho cộng đồng [4]

1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Liên quan đến công tác huy động sự tham gia của người dân trong các hoạt động phát triển nông thôn ở Việt Nam, có một số cơ chế chính sách đáng chú ý sau đây:

1.2.1 Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng

Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng được ban kèm Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 04 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ [8] Đây là một hoạt động tự nguyện của dân cư sinh sống trên địa bàn xã nhằm theo dõi, đánh giá việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan

có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, các nhà thầu

và đơn vị thi công dự án trong quá trình đầu tư… Một số nét chính là:

- Quyền giám sát đầu tư của cộng đồng là quyền mà người dân sinh sống trên địa bàn xã được giám sát các dự án đầu tư thông qua Ban giám sát đầu tư của cộng đồng

- UBND các cấp có trách nhiệm xem xét, giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật mà cộng đồng yêu cầu

- Ban giám sát của cộng đồng có trách nhiệm yêu cầu chủ đầu tư, các nhà thầu báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin làm rõ những vấn đề mà cộng đồng có ý kiến

- Chủ đầu tư có trách nhiệm công khai hoá thông tin về quản lý đầu tư theo quy định của pháp luật, trả lời, giải trình, cung cấp các thông tin khi cộng đồng yêu cầu

Các quy định được nêu trong quy chế này hiện nay vẫn đang được áp dụng trong Chương trình MTQG xây dựng NTM Ở các xã điểm cũng đã hình thành Ban giám sát của cộng đồng để giám sát các hoạt động đầu tư xây dựng

Trang 25

NTM Quy chế này nêu rõ vai trò giám sát của cộng đồng và trách nhiệm của các đơn vị liên quan Tuy nhiên, quy chế chưa đề cập đến năng lực giám sát của cộng đồng, đặc biệt đối với các công trình kỹ thuật phức tạp, hoặc thù lao cho cộng đồng khi tham gia giám sát Vấn đề đặt ra là liệu cộng đồng có đủ khả năng giám sát không, có được hướng dẫn, đào tạo để giám sát các hoạt động đầu tư tại địa phương không, và có sẵn sàng tham gia giám sát mà không có hỗ trợ kinh phí không…[12]

1.2.2 Quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp

tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng

Ngày 16 tháng 04 năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/1999/NĐ-CP [8] về quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các

xã, thị trấn

Nghị định xác định rõ một số vấn đề sau:

- Việc huy động các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để đầu tư

cơ sở hạ tầng (CSHT) phải do nhân dân bàn bạc và quyết định trên cơ sở dân chủ, công khai, quyết định theo đa số

- Mức độ huy động đóng góp của nhân dân, mức miễn, giảm cho các đối tượng chính sách xã hội do nhân dân bàn bạc và quyết định căn cứ vào thu nhập bình quân và khả năng đóng góp của nhân dân trên địa bàn

- Việc huy động đóng góp tự nguyện của nhân dân, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp đó để xây dựng CSHT của xã được thực hiện theo phương thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp

- Các xã thành lập Ban giám sát công trình để giám sát quá trình huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân Các thành viên của Ban giám sát do nhân dân bàn và quyết định cử ra trong số đại diện hộ gia đình trong xã

Trang 26

- Hình thức huy động đóng góp của nhân dân có thể bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công lao động

- Việc thi công công trình phải ưu tiên sử dụng lao động và lực lượng thi công tại xã, chỉ mời thầu và tổ chức đấu thầu với lực lượng thi công ngoài địa bàn xã trong trường hợp công trình đòi hỏi kỹ thuật cao, tính chất phức tạp

mà lực lượng của xã không đảm nhận được

Có thể thấy, Nghị định 24 đã nêu rõ vai trò của nhân dân khi được vận động tham gia đóng góp các khoản tự nguyện phục vụ xây dựng CSHT ở địa phương Khi đóng góp tiền của, sức lao động, người dân được quyền thảo luận mức đóng góp, được quản lý các khoản đóng góp của mình và được ưu tiên trực tiếp tham gia các hoạt động xây dựng CSHT từ nguồn lực mà mình đóng góp [12]

1.2.3 Cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng trong chương trình thí điểm xây dựng NTM thời kỳ CNH-HĐH

Chương trình thí điểm xây dựng NTM thời kỳ CNH-HĐH do Ban bí thư chỉ đạo thực hiện tại 11 xã điểm trong 3 năm (2009-2017), nhằm xây dựng các xã điểm trở thành mô hình thực tế về NTM, đồng thời thử nghiệm đổi mới một số cơ chế, chính sách không phù hợp với phương pháp tiếp cận xây dựng NTM dựa vào nội lực cộng đồng như cơ chế quản lý sử dụng vốn ngân sách hỗ trợ, cơ chế quản lý xây dựng cơ bản… Trên cơ sở đó tổng kết rút kinh nghiệm về nội dung, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy nhanh, đảm bảo tính nhân rộng của mô hình khi thực hiện chương trình MTQG trên phạm

vi cả nước [1]

Phương châm thực hiện mô hình NTM cấp xã là dựa vào nội lực của cộng đồng địa phương Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần trực tiếp cho các xã điểm để phát huy sự đóng góp của người dân và cộng đồng Các hoạt động cụ thể của từng mô hình thí điểm do chính người dân ở mô hình tự đề xuất và thiết kế trên cơ sở bàn bạc dân chủ, công khai và quyết định thông qua cộng

Trang 27

đồng Các cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần… cho người dân thực hiện vai trò làm chủ thông qua cộng đồng

Để huy động các nguồn lực cho hoạt động thí điểm tại 11 xã điểm, Bộ Tài chính đã có Thông tư số 174/2009/TT-BTC ngày 08 tháng 09 năm 2009 hướng dẫn cơ chế huy động và quản lý các nguồn vốn tại 11 xã điểm [8] Thông tư xác định nguồn lực và ngày công lao động của nhân dân, cộng đồng trong xã là một trong những nguồn lực để tổ chức thực hiện Đề án của Ban bí thư Việc quản lý vốn được thực hiện như sau: (i) đối với các đối tượng mà ngân sách nhà nước hỗ trợ chiếm từ 50% trở lên thì thực hiện theo quy định của Thông tư này; (ii) Đối với các đối tượng mà ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn chiếm dưới 50% thì việc thực hiện quản lý vốn do cộng đồng và Ban quản lý xây dựng NTM xã tự bàn bạc thống nhất

Cơ chế huy động vốn thực hiện trên nguyên tắc huy động tối đa nguồn lực của địa phương; huy động sức dân (nhân lực, vật lực) đóng góp tự nguyện, tích cực để xây dựng làng quê của mình (với phương châm Nhà nước

và nhân dân cùng làm); huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp

Điểm đáng lưu ý trong cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước cho xây dựng NTM là [12]:

- Các đối tượng (dự án) ngân sách trung ương hỗ trợ 100% gồm: chi

phí cho công tác quy hoạch; đường giao thông đến trung tâm xã; xây dựng trụ

sở xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng NTM cho cán bộ

xã, thôn, cán bộ HTX và chủ trang trại

- Các đối tượng còn lại, căn cứ trên cơ sở điều kiện KTXH, cũng như điều kiện tự nhiên của từng vùng, ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ một phần từ nguồn bổ sung có mục tiêu để thực hiện Đề án; phần còn lại do ngân sách địa

Trang 28

phương hỗ trợ, doanh nghiệp đầu tư, nhân dân đóng góp và huy động từ cộng đồng

- Mức hỗ trợ cho từng đối tượng (dự án) cụ thể do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định, đảm bảo nguyên tắc số tiền hỗ trợ từ ngân sách trung ương tối đa không quá 70% tổng chi phí thực hiện của từng đối tượng của Đề án

Như vậy, trong Chương trình thí điểm xây dựng NTM của Ban bí thư, ngân sách Trung ương hỗ trợ 100% kinh phí cho các công trình hạ tầng cấp xã đường giao thông, và 02 hoạt động (công tác quy hoạch, công tác đào tạo kiến thức NTM cho cán bộ) Các nội dung khác trong Đề án NTM của mỗi xã, nguyên tắc hỗ trợ từ ngân sách trung ương tối đa không quá 70% Phần còn lại (30%) các địa phương huy động nguồn lực từ cộng đồng, doanh nghiệp,… Trong thông tư không nêu rõ 30% này có thể quy từ việc hiến đất làm công trình hay công lao động hay tiền mặt [8]

1.2.4 Cơ chế huy động cộng đồng trong chương trình MTQG xây dựng NTM

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định về chương trình MTQG xây dựng NTM, Bộ NN&PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 26/2017/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13 tháng 04 năm 2017 hướng dẫn một số nội dung thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM [8] Nguyên tắc thực hiện cũng xác định phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để ra quyết định và tổ chức thực hiện

Trong hướng dẫn của Thông tư 26 không chỉ rõ các bước huy động nguồn lực cộng đồng hay cơ chế khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, chỉ

có một số nội dung đề cập đến vai trò tham gia của người dân và cộng đồng là:

Trang 29

- Trong nội dung về nhiệm vụ và quyền hạn của ban quản lý NTM xã

có xác định ban quản lý xã có nhiệm vụ tổ chức và tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia thực hiện, giám sát các hoạt động thực thi các dự án đầu tư trên địa bàn xã

- Ở cấp thôn, cộng đồng thôn trực tiếp bầu Ban phát triển thôn Khi xây dựng NTM, ban phát triển thôn tổ chức lấy ý kiến của người dân tham gia góp ý vào bản quy hoạch, bản đề án xây dựng NTM của xã; tổ chức vận động nhân dân tham gia các phong trào thi đua; tự giám sát cộng đồng các công trình xây dựng

cơ bản trên địa bàn thôn

- Đề án NTM của xã bắt buộc phải được người dân, cộng đồng và các đối tượng có liên quan tham gia, đóng góp ý kiến

- Đối với các dự án phát triển hạ tầng KT-XH: chương trình khuyến khích người dân, cộng đồng tự nguyện hiến đất để xây dựng các công trình hạ tầng KT-XH trên địa bàn xã Khi lựa chọn nhà thầu xây dựng CSHT, chương trình khuyến khích thực hiện hình thức giao cộng đồng dân cư hưởng lợi trực tiếp từ công trình, nhóm thợ, cá nhân trong xã có đủ năng lực thực hiện xây dựng

- Về vốn đầu tư cho chương trình, ngoài vốn ngân sách và các nguồn vốn tín dụng, doanh nghiệp, còn có các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân trong xã, các khoản huy động từ cộng đồng Cơ chế huy động vốn xác định huy động tối đa nguồn lực của địa phương Tuy nhiên, chương trình MTQG chưa có thông tư hướng dẫn về cơ chế tài chính (Thông tư 174/TT-BTC chỉ mới áp dụng cho 11 xã điểm), nên các địa phương chưa nắm được cách thức cụ thể trong việc huy động, quản lý, sử dụng và thanh quyết toán vốn cho xây dựng NTM

1.2.5 Quy chế dân chủ cơ sở

Nhằm đảm bảo quyền của nhân dân được biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp xã, ngày 20 tháng

Trang 30

04 năm 2007, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn [8] Một số nội dung trong thực hiện dân chủ cơ sở là:

- Những nội dung phải công khai cho dân biết: gồm 11 nội dung như kế hoạch phát triển KT-XH, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách xã hàng năm; dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện; việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư; chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất… Hình thức công khai có thể bằng cách niêm yết tại trụ sở Hội đồng nhân dân, UBND xã, công khai lên hệ thống truyền thanh, công khai thông qua trưởng thôn để báo đến nhân dân

- Những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp là: chủ trương

và mức đóng góp xây dựng CSHT, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí

và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật

- Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định gồm hương ước, quy ước của thôn bản; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn; bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng

- Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định gồm các dự thảo kế hoạch phát triển KT-XH cấp xã; quy hoạch sử dụng đất; kế hoạch triển khai các chương trình, dự án; dự thảo đề án thành lập mới, chia đơn vị hành chính…

- Những nội dung nhân dân giám sát gồm tất cả các hoạt động mà chính nhân dân được biết qua công khai, những hoạt động dân bàn và quyết định, biểu quyết hoặc tham gia ý kiến

Trang 31

Như vậy, theo Pháp lệnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, người dân được biết công khai tất cả các chương trình, kế hoạch phát triển ở địa phương mình sinh sống, được tham gia bàn và quyết định, được tham gia góp ý kiến

và được giám sát mọi hoạt động mà mình có quyền tham gia Pháp lệnh cũng nêu rõ trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, thôn của cơ quan,

tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã [8]

1.2.6 Nội dung chủ yếu về chương trình xây dựng nông thôn mới

Mục tiêu của chương trình:

Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp và dịch vụ; Gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn dân chủ, ổn định giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; An ninh trật tự được giữ vững; Đời sống vật chất

và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa [3]

Một xã đạt NTM thì cần phải đạt những tiêu chí sau:

1.2.6.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Quy hoạch nông thôn mới là vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định thành công của chương trình xây dựng NTM Theo TT 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới [8], xây dựng quy hoạch NTM có 7 bước gồm:

Bước 1: Xác định nội dung quy hoạch: Quy hoạch NTM là quy hoạch

không gian và quy hoạch hạ tầng kinh tế-xã hội trên địa bàn xã, bao gồm: Quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn và vùng sản xuất nông nghiệp với thời hạn 10-15 năm

Bước 2: Quy trình thẩm định, phê duyệt quy hoạch: Do UBND xã làm

Trang 32

chủ đầu tư và trình UBND huyện phê duyệt quy hoạch

Bước 3: Công bố quy hoạch: Hồ sơ công bố quy hoạch gồm quyết định

phê duyệt quy hoạch, báo cáo thuyết minh, các văn bản pháp lý liên quan

Bước 4: Cấp giấy phép xây dựng tại xã: Sở Xây dựng có thẩm quyền

cấp phép công trình của tổ chức được xây dựng ven quốc lộ, tỉnh lộ UBND huyện cấp phép xây dựng của các tổ chức xây dựng tại xã UBND xã cấp phép xây dựng nhà ở của dân theo quy hoạch được phê duyệt

Bước 5: Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: UBND xã thực hiện chức

năng kiểm tra, giám sát trực tiếp hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng trên địa bàn mình quản lý Quyết định xử lý theo quy định của pháp luật

Bước 6: Hồ sơ quy hoạch xây dựng NTM: Hồ sơ quy hoạch chung gồm

bản vẽ với sơ đồ vị trí xã và liên hệ vùng, tỷ lệ 1/5.000-1/10.000 thể hiện liên kết hệ thống hạ tầng kỹ thuật vùng, các yếu tố tác động đến phát triển kinh tế

- xã hội của xã Định hướng phát triển điểm dân cư nông thôn và vùng sản xuất nông nghiệp được lập theo tỷ lệ 1/5.000 Bản vẽ định hướng hạ tầng kỹ thuật, kể cả thuỷ lợi và giao thông nội đồng…

Bước 7: Kinh phí lập quy hoạch xây dựng: Định mức chi phí lập quy

hoạch chung NTM từ 80-115 triệu đồng tuỳ theo quy mô dân số mỗi xã Chi phí lập quy hoạch chi tiết trung tâm xã và từng điểm dân cư trên địa bàn xã là 8,5 triệu đồng/ha Chi phí lập quy hoạch chi tiết hệ thống thuỷ lợi, giao thông nội đồng cho mỗi xã khoảng 10-15 triệu đồng

1.2.6.2 Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội

Nội dung tiếp theo cần thiết cho một địa phương xây dựng nông thôn mới là nông thôn có một bộ mặt đổi mới, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội là yếu tố thiết yếu Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế mà còn nâng cao đời sống cho người dân Đối với cơ sở hạ tầng như đường giao thông: liên xóm, liên xã,

Trang 33

đường nối các cụm dân cư với hệ thống trục giao thống, hệ thống thuỷ lợi, các công trình chăm sóc y tế, trường học, công trình văn hoá được xếp thứ tự là các hạng mục ưu tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêu cầu thiết yếu của đời sống và sản xuất

Những công trình phát triển cơ sở hạ tầng trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất như hệ thống thuỷ lợi, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập trung để thay đổi phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư, các hộ có khả năng chăn nuôi lớn có thể mở rộng chăn nuôi ở khu tập trung này thường được quan tâm và đầu tư thích đáng để nhanh chóng đẩy mạnh sản xuất và tạo ra các động lực cho việc phát triển các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống Việc phát triển cơ sở hạ tầng đẩy mạnh phát triển kinh tế là việc đưa các ngành nghề mới vào địa phương hoặc trang bị những thiết bị mới những biện pháp sản xuất mới gắn liền với tìm kiếm và định hướng thị trường

Xây dựng NTM không chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá mà còn đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội khác, trong đó các công trình y tế, giáo dục, văn hoá cũng cần được ưu tiên phát triển Tuy nhiên, cần phải xác định rõ quy mô và mức độ phục vụ của các công trình an sinh xã hội để đảm bảo các công trình đó

có quy mô phù hợp với nhu cầu thực sự của xã hội và cộng đồng

1.6.2.3 Phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất và nâng cao thu nhập

Sản xuất phát triển, nhất là sản xuất hàng hoá là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế của cộng đồng mỗi địa phương Kinh tế có phát triển thì những yếu tố xã hội mới có cơ hội phát triển theo và đây là động lực chính cho những tiến bộ xã hội được thực hiện Sau khi đã có thu nhập bảo đảm cuộc sống, người dân mới có điều kiện xây dựng những công trình phục vụ đời sống cho gia đình họ và đóng góp cho sự phát triển chung

Trong các nội dung xây dựng NTM thì nội dung phát triển sản xuất hàng hoá là quan trọng nhất Tuy vậy không phải bất cứ địa phương nào cũng

Trang 34

có điều kiện để sản xuất hàng hoá mà phải tạo ra hoặc lựa chọn những sản phẩm nhất định có thể sản xuất hàng hoá Nói một cách cụ thể, những địa phương đã phát triển ngành nghề thì đẩy mạnh hơn nữa các ngành nghề là biện pháp để nâng cao sản xuất hàng hoá; địa phương nào có điều kiện phát triển trang trại là đã có điều kiện sản xuất nông sản hàng hoá và cần phải đẩy mạnh các hoạt động sản xuất hàng hoá quy mô trang trại để tạo cơ sở cho phát triển nông thôn và xây dựng NTM

Phát triển kinh tế nông thôn trước hết là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá với năng suất và hiệu quả ngày càng cao, đồng thời phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, phát triển dịch vụ nông thôn để từng bước giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ, phân công lại lao động, phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, khuyến thương trong xây dựng NTM cần được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và ngành nghề Trong những năm qua, công tác khuyến nông khuyến lâm, khuyến ngư đã được triển khai mạnh mẽ và thu được nhiều kết quả, nhưng công tác khuyến công còn là những lĩnh vực tương đối mới mẻ, chưa được triển khai nhiều trên địa bàn nông thôn Có điều này là

do bản thân ngành nghề nông thôn, hoạt động kinh doanh trên địa bàn nông thôn nói chung còn rất hạn chế Để có thể đẩy mạnh khuyến công thì các địa phương phải có ngành nghề và nhiều người hoạt động ngành nghề (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ) Thông qua hoạt động khuyến công, các xã xây dựng nông thôn mới có thể phát triển nguồn lực con người để từ đó không những nâng cao trình độ nhiều mặt nhất là phát triển các ngành nghề mới, khôi phục các ngành nghề truyền thống có sự kết hợp bổ xung các công nghệ mới phù hợp với tiến trình hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 35

1.6.2.4 Phát triển văn hoá - xã hội - môi trường

Việc phát triển văn hoá là một trong những động lực để giải phóng sức lao động, giải phóng sức tư duy sáng tạo trong việc đẩy mạnh sản xuất cho chính người dân và cho cộng đồng Giải phóng tư duy trí tuệ được xem là sức mạnh nội sinh của cộng đồng cư dân nông thôn trong công cuộc phát triển nông nghiệp và nông thôn nói chung và xây dựng NTM nói riêng Người nông dân có kinh tế ổn định, có trình độ văn hoá khoa học cao, có phong cách sống văn minh hiện đại là mẫu người nông dân mới trong nông thôn đổi mới không những là mục tiêu trước mắt mà còn là mục tiêu lâu dài của công cuộc phát triển nông thôn ở nước ta

Để thực hiện được yêu cầu này, việc xây dựng các cơ sở văn hoá xã hội tốt hơn, khang trang hơn chỉ là một trong nhiều yếu tố mang tính hình thức Cần có những nội dung thiết thực trong việc xây dựng con người vừa có trình

độ chuyên môn vừa có văn hoá là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và có tính lâu dài Trong xây dựng NTM, không chỉ tạo ra các nhà văn hoá, các công trình phúc lợi công cộng mà điều cốt yếu là phải xây dựng các phong trào hoạt động văn hoá, thể thao, phát triển dân trí có tính thiết thực và được cộng đồng tham gia Do đó xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá xã hội luôn luôn phải

đi đôi với những nội dung của những hoạt động này

Địa phương xây dựng NTM cần phải là địa phương có phong trào văn hoá mới, vì văn hoá mới là tiêu chí cần thiết trong xây dựng con người mới, phát huy nền dân chủ nhân dân, xây dựng một cuộc sống văn hoá tinh thần lành mạnh

Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là điều kiện thiết yếu để phát triển nông thôn, song điều đó không có nghĩa là phát triển kinh tế với bất cứ giá nào Trong phát triển kinh tế, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng

để tăng trưởng một cách bền vững Bên cạnh đó, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường cũng là một trong những nội dung đảm bảo cho cuộc sống tốt đẹp hơn,

Trang 36

hơn nữa nếu có điều kiện kết hợp giữa bảo vệ môi trường với phát triển cảnh quan thiên nhiên ở khu vực nông thôn còn tạo điều kiện lớn cho mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch sinh thái Trong nội dung giữ gìn và bảo vệ môi trường của xây dựng NTM, trước mắt đó là cuộc vận động về một nông thôn mới xanh - sạch - đẹp, không có rác thải vứt bừa bãi, không có phế thải của sản xuất và sinh hoạt thải thẳng ra các cánh đồng, ao hồ mà không được xử lý Tiếp theo là việc

cả cộng đồng cùng tham gia đầu tư xây dựng hệ thống cống rãnh trong các xóm làng, xây dựng hệ thống xử lý nước thải và thu gom rác thải Về lâu dài, nông thôn phải đúng là nơi cảnh quan và môi trường thực sự lý tưởng cho cuộc sống

và là lá phổi xanh trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước

1.6.2.5 Củng cố và xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh

Yêu cầu cấp thiết trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là xây dựng được hệ thống chính trị, xã hội ở địa phương thật sự trong sạch và vững mạnh là điều rất quan trọng, mà điều quan trọng ở đây là nâng cao trình độ, đào tạo nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ tại địa phương về chuyên môn nghiệp vụ để có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của người dân Người nông dân giờ đây đang tự chủ vươn lên, nắm bắt thị trường, chuyển đổi mục đích, phương pháp canh tác để làm giàu trên mảnh đất của mình rất cần có sự định hướng, có người dẫn dắt Để nông dân làm được như vậy, Nhà nước cần đầu tư và giúp đỡ nhiều hơn, cụ thể hơn cho nông dân nâng cao trình

độ về sản xuất, quản lý, thị trường…

Xây dựng hệ thống chính trị tại địa phương không thể không nhắc đến tính dân chủ ở cơ sở Đặc biệt sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong xây dựng NTM (trong đó tất cả những nội dung của chương trình xây dựng này đều cần có sự tham gia góp ý kiến cũng như sự đồng thuận của cộng đồng) là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn và từ đó mở rộng hơn nữa vấn đề dân chủ ở nông thôn trong nhiều lĩnh vực khác kể cả những vấn đề về kinh tế, chính trị,

Trang 37

xã hội Từ đó cộng đồng dân cư sẽ được tham gia vào mọi quá trình ra quyết định cũng như thực hiện các quyết sách của các cấp chính quyền ở địa phương mà mục tiêu cuối cùng cũng là để dân giàu, nước mạnh, văn minh và hiện đại

Như vậy năm nội dung chủ yếu của xây dựng nông thôn mới bao

gồm: (1) Làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch; (2) Xây dựng

hạ tầng kinh tế-xã hội; (3) Phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân; (4) Phát triển văn hóa xã hội-môi trường; (5) Củng cố

và xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh tại cơ sở là năm yêu cầu

cơ bản phải luôn được gắn kết với nhau Trong quá trình xây dựng NTM cũng phải đánh giá xem một địa phương có khả năng xây dựng mô hình NTM hoặc đã trở thành một mô hình NTM hay chưa? Tuy nhiên đây là vấn

đề rất phức tạp, hơn nữa trong hoàn cảnh nông thôn nước ta nhìn chung còn nghèo và cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật lạc hậu thì yêu cầu đồng thời phải đạt tất cả các các nội dung sẽ trở nên khó khả thi Tuỳ từng điều kiện

cụ thể của mỗi địa phương mà thứ tự ưu tiên của mỗi nội dung sẽ được thay đổi cho phù hợp và đảm bảo để công cuộc xây dựng NTM theo chủ trương của Đảng thu được thắng lợi

1.6.2.6 Các tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới

Tiêu chí để xây dựng mô hình NTM đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 gồm 19 tiêu chí [8], được chia thành 5 nhóm cụ thể:

Trang 38

Và được thể hiện qua 19 tiêu chí xây dựng mô hình NTM là: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và

1.3.1.1 Phong trào làng mới Saemaul Undong của Hàn Quốc

Chiến dịch Saemaul Undong của Hàn Quốc bắt đầu từ năm 1970 với mục tiêu nâng cao điều kiện sống của người dân nông thôn Chính phủ Hàn Quốc tập trung vào các dự án đem lại sức sống mới cho cộng đồng làng xã như sửa sang nhà cửa, mở rộng đường, xây cầu, đường nội đồng, trung tâm cộng đồng, các cơ sở cung cấp nước, tăng thu nhập cho người dân thông qua trồng trọt để thu hoa lợi, thực hiện và duy trì chiến dịch xóm làng sạch sẽ và chiến dịch tiết kiệm, cải thiện chế độ ăn uống, thực hiện các chiến dịch chi tiêu thông minh, đọc sách, đào tạo…Các nội dung của Saemaul Undong gần tương đồng với chiến lược phát triển đồng bộ kinh tế - xã hội trong chương trình MTQG về NTM hiện nay ở Việt Nam Cách làm của Hàn Quốc, chủ trương hỗ trợ một phần nguồn vốn từ ngân sách, phần còn lại dựa vào sự tích cực và năng động của cộng đồng Người dân được chủ động quyết định nội dung ưu tiên cho phát triển và tự chịu trách nhiệm toàn bộ về thiết kế, thi công, nghiệm thu công trình Mức hỗ trợ của nhà nước giảm dần song song với mức gia tăng các nguồn vốn do cộng đồng đóng góp Nhờ sự tích cực của

Trang 39

cộng đồng cũng như chính sách hỗ trợ hợp lý của nhà nước, phong trào Saemaul Undong được đẩy mạnh, chỉ sau 4 năm thu nhập của người dân nông thôn đã cao hơn thành thị, hầu hết các xã đã có thể độc lập về mặt kinh tế [13], [23]

Một số bài học chính rút ra từ kinh nghiệm của chương trình Saemaul Undong của Hàn Quốc là:

- Chính phủ có một quyết tâm chính trị cao, đặt ra mục tiêu và thường xuyên dùng nhiều hình thức, chính sách để tác động, can thiệp, tạo điều kiện

để đạt được các mục tiêu đó

- Saemaul Undong được phát động thành một phong trào rộng khắp toàn quốc, được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt, quyết tâm tham gia thi đua Các cơ chế chính sách thực hiện giúp người dân phát huy vai trò, năng lực của mình Hình thức biểu dương, khen thưởng giúp các làng xã tích cực phấn đấu (làng nào làm tốt được hỗ trợ nhiều thêm, làng nào không đạt kết quả tốt sẽ không được nhà nước hỗ trợ)

- Cán bộ các làng được tập trung đào tạo, được trang bị đầy đủ nhận thức về trách nhiệm, vai trò của mình để dẫn dắt làng xã của mình xây dựng làng mới

- Nỗ lực của chính bản thân người dân Trong cái đói khổ, được sự hỗ trợ một phần của nhà nước, họ càng quyết tâm lao động để vượt khó Họ không mang tâm lý trông chờ, ỷ lại sự đầu tư của nhà nước mà xác định nếu không tự phát huy nội lực bản thân thì không thể thoát nghèo

- Cơ chế chính sách thực hiện Saemaul Undong của Hàn Quốc tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân phát huy vai trò làm chủ, tự bàn bạc, lựa chọn ưu tiên làm gì [13], [24]

1.3.1.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

Năm 1997, Trung Quốc chính thức có văn kiện quy định cụ thể về hệ thống chính sách với vấn đề “tam nông”, mặc dù thực tế vấn đề tam nông đã

Trang 40

tồn tại và phát triển ở Trung Quốc từ năm 1949, khi nhà nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời Giai đoạn trước đây, do thực hiện “cơ chế khoán” nên người dân phải đóng góp quá nhiều Do vậy, chính phủ Trung Quốc đã có những chính sách mới từ năm 1997 để giảm nhẹ đóng góp của nông dân và ổn định tình hình, hạn chế hiện tượng lao động nông nghiệp bỏ đồng ruộng đi ra thành thị [6]

Xây dựng “NTM xã hội chủ nghĩa” được trung ương đảng cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc nêu ra vào năm 2006, với phương châm “cho nhiều, lấy ít, nuôi sống” Cũng giống như Việt Nam, nông nghiệp Trung Quốc chưa đảm bảo mức sống của nhân dân, khoảng cách đô thị và nông thôn ngày càng xa, nông dân thiếu đất sản xuất Do vậy, mục tiêu của xây dựng NTM ở Trung Quốc là: tăng năng suất sản xuất ở nông thôn, xây dựng CSHT nông thôn, phát triển xã hội và mức sống Trong kế hoạch 5 năm (2006-2010), Trung Quốc đề ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nông dân và 32 biện pháp có lợi cho nông dân để phát triển nông nghiệp hiện đại [7]

Trung Quốc không xây dựng Bộ tiêu chí NTM cụ thể như Việt Nam mà chỉ đặt ra 5 tiêu chí chung: sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc, diện mạo sạch sẽ, thôn xóm văn minh, quản lý dân chủ Vấn đề đất đai được đặc biệt quan tâm trong xây dựng NTM ở Trung Quốc Ruộng đất ở các thôn do doanh nghiệp đứng ra tổ chức sản xuất tập trung một hoặc vài loại sản phẩm Người nông dân cho doanh nghiệp thuê đất rồi vào làm công nhân, được doanh nghiệp hướng dẫn, tập huấn nghề Nông dân vừa có thu nhập từ tiền lương, và

có thu nhập từ tiền cho thuê đất Công tác quy hoạch trong xây dựng NTM ở Trung Quốc cũng rất bài bản, đồng bộ Cấp thôn được chọn làm đơn vị quy hoạch Việc công khai quy hoạch với dân được coi trọng đặc biệt, tại bất cứ

mô hình NTM nào được triển khai cũng đều có đầy đủ sơ đồ, bản vẽ thiết kế được treo nơi công cộng Khi thu hồi đất, cách làm cũng dân chủ, công khai, bàn bạc với dân trên nguyên tắc “không để cho dân thiệt”

Ngày đăng: 29/05/2020, 22:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w