1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng suất sinh sản của lợn nái ông bà, bố mẹ và sự sinh trưởng của lợn con đến 60 ngày tuổi nuôi tại trung tâm giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản tỉnh hòa bình

90 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học Cung cấp tư liệu giúp đánh giá được năng suất sinh sản của đàn nái ông bà, bố mẹ và khả năng sinh trưởng của lợn con đến 60 ngày tuổi được sinh ra từ đàn nái bố mẹ khi

Trang 1

PHÙNG THỊ MY

NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ÔNG BÀ,

BỐ MẸ VÀ SỰ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON ĐẾN 60 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI VÀ THỦY SẢN

TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHÙNG THỊ MY NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ÔNG BÀ,

BỐ MẸ VÀ SỰ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON ĐẾN 60 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI VÀ THỦY SẢN

TỈNH HÒA BÌNH

Ngành: Chăn nuôi

Mã ngành: 8.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ THỊ BÍCH NGỌC

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết

quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ

công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các tài

liệu tham khảo trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc xuất xứ thực tế và đã

được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Phùng Thị My

Trang 4

Trong quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo nhà trường, bộ phận quản lý đào tạo Sau đại học, khoa chăn nuôi thú y, giáo viên hướng dẫn cùng các bạn đồng nghiệp

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, bộ phận quản lý đào tạo Sau đại học, các thầy cô khoa chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn khoa học: TS Hồ Thị Bích Ngọc đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các cán bộ làm việc tại Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản tỉnh Hòa Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin kính chúc các thầy cô lãnh đạo Nhà trường và toàn thể thầy cô giáo trong bộ phận quản lý đào tạo Sau đại học, khoa chăn nuôi thú y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt, chúc các bạn học viên mạnh khỏe, học tập và thành công trong cuộc sống

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Phùng Thị My

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Một vài đặc điểm của giống lợn Landrase, Yorkshire, Duroc 4

1.1.2 Tính trạng số lượng và các yếu tố ảnh hưởng 5

1.1.3 Lai giống và ưu thế lai 7

1.1.4 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái 10

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 14

1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con và các yếu tố ảnh hưởng 19

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 20

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

2.3 Nội dung nghiên cứu 25

2.3.1 Năng suất sinh sản của đàn nái ông bà 25

2.3.2 Năng suất sinh sản của đàn nái bố mẹ 25

2.3.3 Sinh trưởng của lợn con thương phẩm 26

2.3.4 Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản 26

Trang 6

2.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 26

2.4.1 Phương pháp đánh giá năng suất trên đàn nái sinh sản 26

2.4.2 Sinh trưởng của lợn con đến 60 ngày tuổi 28

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 Năng suất sinh sản đàn nái ông bà 30

3.1.1 Năng suất sinh sản của nái ông bà giống Landrace (♀L x ♂L) và Duroc (♀Du x ♂Du ) 30

3.1.2 Năng suất sinh sản của nái ông bà giống Landrace (♀L x ♂L) qua các lứa đẻ 36

3.1.3 Năng suất sinh sản của nái ông bà giống Duroc (♀Du x ♂ Du) qua các lứa đẻ 40

3.2 Năng suất sinh sản của đàn nái bố mẹ 43

3.2.1 Năng suất sinh sản của nái F1(YL) được phối với đực Duroc và đực PiDu75 43

3.2.2 Năng suất sinh sản của nái bố mẹ F1(YL) phối với đực Duroc và đực Pidu 75 qua các lứa đẻ 49

3.2.3 Năng suất sinh sản của nái bố mẹ F1(YL) phối với đực PiDu 75 qua các lứa đẻ 52

3.3 Các chỉ tiêu khảo sát trên sự sinh trưởng của lợn con 56

3.3.1 Sinh trưởng của lợn con trong giai đoạn theo mẹ của đàn nái bố mẹ 56

3.3.2 Sinh trưởng của lợn con sau cai sữa của đàn nái bố mẹ 57

3.4 Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản 59

3.4.1 Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản của nái ông bà 59

3.4.2 Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản của nái bố mẹ 64

3.4.3 Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản của nái bố mẹ 66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Đề nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LUẬN VĂN 80

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Một số kết quả nghiên cứu về hệ số di truyền của các tính trạng

sinh sản 16

Bảng 1.2 Hệ số tương quan kiểu gien tính trạng năng suất sinh sản của lợn 16

Bảng 3.1 Năng suất sinh sản đàn ông bà ♀L x ♂L và ♀Du x ♂Du 30Bảng 3.2 Ảnh hưởng của lứa đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái ông bà

giống Landrace 36Bảng 3.3 Năng suất sinh sản của lợn nái ông bà giống Duroc qua 5 lứa đẻ 40Bảng 3.4 Năng suất sinh sản của nái F1(YL) được phối với đực Duroc và đực

PiDu75 43Bảng 3.5 Năng suất sinh sản của nái bố mẹ F1(YL) phối với đực Duroc

qua 5 lứa đẻ 49Bảng 3.6 Ảnh hưởng của lứa đẻ đến năng suất sinh sản của nái bố mẹ

F1(YL) phối với đực PiDu 75 53Bảng 3.7 Sinh trưởng của lợn con trong giai đoạn theo mẹ của đàn bố mẹ 57Bảng 3.8 Sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của lợn con sau cai sữa đến 60 ngày

tuổi đàn bố mẹ 57Bảng 3.9 Hệ số tương quan kiểu hình giữa một số tính trạng năng suất sản

của lợn nái ông bà (♀Landrace × ♂ Landrace) 60Bảng 3.10 Hệ số tương quan kiểu hình giữa một số tính trạng năng suất sản

của lợn nái ông bà (♀Du × ♂Du) 62Bảng 3.11 Hệ số tương quan kiểu hình giữa một số tính trạng năng suất sản của

lợn nái bố mẹ 64Bảng 3.12 Hệ số tương quan kiểu hình giữa một số tính trạng năng suất sản của

lợn nái bố mẹ 66

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1:Số con/ổ của lợn nái ông bà L x L và Du x Du 31Hình 3.2: Khối lượng sơ sinh/con, khối lượng cai sữa/con của lợn nái ông bà

L x L và Du x Du 33Hình 3.3: Số con trên ổ qua các lứa đẻ của lợn nái ông bà Landrase 37Hình 3.4: Khối lượng sơ sinh/con và Khối lượng cai sữa/con qua các lứa đẻ

của lợn nái ông bà Landrase 38Hình 3.5: Số con/ổ của lợn nái ông bà Duroc qua các lứa đẻ 41Hình 3.6: Số con/ổ của lợn nái bố mẹ F1(YL) x Du và F1 x Pidu75 44Hình 3.7: Khối lượng sơ sinh/con, khối lượng cai sữa/con của lợn nái Bố mẹ

F1 x Du và F1 x Pidu 75 47Hình 3.8: Số con/ổ của lợn nái bố mẹ F1 x Duroc qua các lứa đẻ 50Hình 3.9: Số con/ổ của lợn nái bố mẹ F1 x Pidu75 qua các lứa đẻ 54

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, chăn nuôi lợn là ngành chiếm vị trí quan trọng nhất trong cơ cấu ngành chăn nuôi nước ta Chăn nuôi lợn không những đáp ứng nhu cầu trong nước

mà còn phục vụ xuất khẩu Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 10/2017, tổng đàn lợn trên 27,4 triệu con, giảm khoảng 5,7%, tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 3,73 triệu tấn, tăng 1,9 % so với cùng kỳ năm 2016 Tính đến tháng 12/2018 đàn lợn tăng 3,2%; sản lượng thịt lợn đạt 3,8 triệu tấn, tăng 2,2% (quý IV đạt 1.072,2 nghìn tấn, tăng 7,1%) Tính đến thời điểm 26/12/2018, cả nước không còn dịch tai xanh trên lợn; Dịch lở mồm long móng còn ở Bắc Ninh, Hà Nội Đầu năm 2019, dịch tả lợn châu Phi lây lan trên diện rộng tổng số lợn phải tiêu hủy trên cả nước là 2,82 triệu con, chiếm 10% tổng đàn Tổng đàn lợn của cả nước tháng 6 giảm 10,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đạt 1.801,2 nghìn tấn, giảm 4,7% (quý II đạt 796,8 nghìn tấn, giảm 12,4%) (Cục Thống kê, 2019) Bên cạnh những lý do khách quan do dịch bệnh làm giảm năng suất của ngành chăn nuôi lợn thì so với các nước trong khu vực và trên thế giới năng suất và chất lượng giống lợn của chúng ta vẫn còn thấp, nguyên nhân do chất lượng nguồn gen, công nghệ chọn lọc và nhân giống Tại các quốc gia có ngành chăn nuôi lợn phát triển hàng đầu thế giới như Đan Mạch chỉ cần duy trì đàn trên 1 triệu con giống vẫn có thể sản xuất gần 28 triệu lợn thịt hàng năm Theo công

bố của Danbred (2014) cho biết lợn Landrace và Yorkshire có khả năng sinh sản rất tốt, các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của cá thể tốt nhất đạt được như sau: Số con cai sữa/nái/năm đạt 38,4 con; Số con sơ sinh sống/ổ đạt 18 con; Số con cai sữa/ổ đạt 16,1 con; Số ngày cai sữa là 28 ngày thì khối lượng cai sữa/con đạt 7,0 kg Hòa Bình là một tỉnh miền núi, kinh tế còn khó khăn nên ngành chăn nuôi lợn còn kém phát triển, chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ, nguồn gốc không rõ ràng Trước thực trạng đó, Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Hòa Bình đã nhập đàn lợn ông

bà và bố mẹ từ Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp tỉnh Ninh Bình Đàn lợn ông bà và bố mẹ nhập về sẽ góp phần cải thiện năng suất và chất lượng đàn lợn giống của Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Hòa Bình, từ đó cải

Trang 11

thiện năng suất và chất lượng đàn lợn giống trong tỉnh thông qua việc chuyển giao con giống vào sản xuất

Đánh giá được năng suất sinh sản của lợn nái ông bà và bố mẹ trong điều kiện nuôi dưỡng tại Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Hòa Bình là rất cần thiết Vì thế, tôi

tiến hành thực hiện đề tài "Năng suất sinh sản của lợn nái ông bà, bố mẹ và sự sinh trưởng của lợn con đến 60 ngày tuổi nuôi tại trung tâm giống vật nuôi tỉnh Hòa Bình"

2 Mục tiêu của đề tài

* Mục tiêu chung: Đánh giá năng suất sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản tỉnh Hòa Bình, nhằm đề xuất ý kiến góp

phần nâng cao chất lượng cũng như cải thiện con giống trên địa bàn tỉnh

* Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá được khả năng sinh sản của đàn nái ông bà thông qua công thức lai ♀Landrace x ♂Landrace và ♀Duroc x ♂Duroc

- Đánh giá được khả năng sinh sản của đàn nái bố mẹ thông qua công thức lai

♀F1 (YL) x ♂PiDu75, ♀F1 (YL) x ♂Duroc

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của

2 công thức lai: ♀F1 (YL) x ♂PiDu75, ♀F1 (YL) x ♂Duroc

- Đánh giá được tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản của nái ông bà, bố mẹ

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Cung cấp tư liệu giúp đánh giá được năng suất sinh sản của đàn nái ông bà,

bố mẹ và khả năng sinh trưởng của lợn con đến 60 ngày tuổi được sinh ra từ đàn nái

bố mẹ khi nuôi tại trại giống lợn ngoại, Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản tỉnh Hòa Bình

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Đánh giá được khả năng sinh sản của nái ông bà thông qua công thức lai:

♀L x ♂L, ♀Du x ♂Du

Trang 12

- Đánh giá được khả năng sinh sản của nái bố mẹ thông qua công thức lai:

♀F1(YL) x ♂Pidu 75, ♀F1 (YL) x ♂Duroc

- Đánh giá được sự sinh trưởng của lợn con đến 60 ngày tuổi của các công thức lai: ♀F1 (YL) x ♂Du và ♀F1(YL) x ♂Pidu75

- Đánh giá được tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản của nái ông bà, bố mẹ

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một vài đặc điểm của giống lợn Landrase, Yorkshire, Duroc

* Lợn Landrase

- Lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch, được nuôi phổ biến ở các nước châu Âu, được tạo thành do lai tạo giữa giống lợn Youtland (Đức) với lợn Yorkshire (Anh) Lợn Landrace được nhập vào Việt Nam từ năm 1970 từ Cuba,

là một trong những giống lợn được sử dụng trong chương trình nạc hoá đàn lợn

ở Việt Nam

- Lợn Landrace (LR) có hình như quả tên lửa, lông da trắng tuyền, mõm dài thẳng, hai tai to ngả về phía trước che cả mắt, mình lép, bốn chân hơi yếu, đẻ sai (trừ LR Bỉ), tỷ lệ nạc cao, nhưng thích nghi kém hơn Yorkshire trong điều kiện nóng ẩm

* Lợn Yorkshire

- Lợn Yorshire được chọn lọc, nhân giống tại vùng Yorkshire - nước Anh từ thế kỷ 19 và hiện nay được nuôi ở khắp nơi trên thế giới Khả năng thích nghi của lợn Yorshire tốt hơn các giống khác Ở nước ta, lợn Yorkshire được nhập vào từ năm 1920 ở miền Nam để tạo ra giống lợn Thuộc Nhiêu Nam Bộ Đến năm 1964, lợn được nhập vào miền Bắc thông qua Liên Xô cũ Năm 1978, nước ta nhập lợn Yorkshire từ Cuba Những năm sau 1990, nhiều dòng lợn Yorkshire được nhập vào Việt Nam từ nhiều nước khác nhau

- Lợn Yorkshire có lông trắng tuyền, tai đứng (có nhóm giống tai hơi nghiêng), trán rộng, ngực rộng, ngoại hình thể chất chắc chắn, nuôi con khéo, chịu được kham khổ, chất lượng thịt tốt, khả năng chống chịu stress cao Khối lượng trưởng thành của con đực đạt 300-400 kg, con cái khoảng 230-300kg

* Lợn Duroc

Lợn Duroc có nguồn gốc từ miền Đông nước Mỹ và vùng Corn Belt Dòng Duroc được tạo ra ở vùng New York năm 1823, bởi Isaac Frink Giống Duroc-Jersey có nguồn của hai dòng khác biệt Jersey đỏ của New Jersey và Duroc của

Trang 14

New York Còn dòng Jersey đỏ được tạo ra vào năm 1850 vùng New Jersey bởi Clark Pettit Chủ yếu được nuôi ở vùng New Jersey và vùng New York, nước Mỹ

Đây là giống có nguồn gốc từ Mỹ, nhưng hiện nay đã hiện diện khắp nơi trên thế giới vì chúng cho năng suất cao và tỷ lệ nạc khá lớn, ít mở Lợn Duroc được coi

là giống lợn tốt trên thế giới hiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt nuôi theo hướng nạc và sử dụng thịt nướng Tuy nhiên, nuôi Lợn Duroc cần có chế độ dinh dưỡng cao và chăm sỏc tốt mới đạt được kết quả tốt nhất

Duroc có khả năng sinh sản tương đối cao Trung bình đạt 1,7 – 1,8 lứa/năm Mỗi lứa đẻ từ 9 đến 11 con, heo con trung bình đạt 1,2 – 1,3 kg, Pcs 12 – 15 kg Sức tiết sữa của lợn đạt 5 – 8 kg/ngày Khả năng sinh trưởng của heo tốt Tuy nhiên khả năng sinh sản của nái không cao, đẻ khoảng 7-9 con/lứa, nuôi con kém Lợn nái đẻ mỗi năm 1,8 lứa, mỗi lứa 8 – chín con, nái tiết sữa kém, nuôi con kém, nhu cầu dinh dưỡng cao, sức kháng bệnh kém

1.1.2 Tính trạng số lượng và các yếu tố ảnh hưởng

Các tính trạng sản xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất của con vật Giá trị kiểu hình của các tính trạng sản xuất có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi yếu tố ngoại cảnh

Giá trị kiểu hình (P) của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E) Giá trị kiểu hình (P) được biểu thị như sau:

P = G + E

P: Giá trị kiểu hình (Phenotypic value)

G: Giá trị kiểu gen (Genotypic value)

E: Sai lệch môi trường (Enviromental deviation)

Giá trị kiểu gen (G) của tính trạng số lượng do nhiều cặp gen qui định Giá trị kiểu gen bao gồm các thành phần khác nhau: giá trị cộng gộp A (Additive value) hoặc giá trị giống (Breeding value), sai lệch trội D (Dominance deviation) và sai lệch tương tác gen hoặc sai lệch át gen I (Interaction deviation hoặc Epistatic deviation)

G = A + D + I

Trang 15

Giá trị cộng gộp (A): Bố mẹ chỉ truyền cho con cái các gen của chúng chứ không phải truyền kiểu gen cho thế hệ sau Để đo lường giá trị truyền đạt từ bố mẹ sang đời con phải có một giá trị đo lường có quan hệ với gen chứ không phải có liên quan với kiểu gen.Trong một tập hợp các gen qui định một tính trạng số lượng nào đó thì mỗi gen đều có một hiệu ứng nhất định đối với tính trạng số lượng đó Tổng các hiệu ứng mà các gen nó mang (tổng các hiệu ứng được thực hiện với từng cặp gen ở mỗi locus và trên tất cả các locus) được gọi là giá trị cộng gộp hay còn gọi là giá trị giống của cá thể

Giá trị giống là thành phần quan trọng của kiểu gen vì nó cố định và có thể di truyền được cho thế hệ sau Do đó, nó là nguyên nhân chính gây ra sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc, nghĩa là nó là yếu tố chủ yếu sinh ra đặc tính di truyền của quần thể và sự đáp ứng của quần thể với sự chọn lọc Hơn nữa, đó là thành phần duy nhất mà người ta có thể xác định được từ sự đo đạc các tính trạng đó ở quần thể

Tác động của các gen được gọi là cộng gộp khi giá trị kiểu hình của kiểu gen

dị hợp luôn là trung gian so với kiểu hình của hai kiểu gen đồng hợp, bố mẹ luôn truyền một nửa giá trị cộng gộp của mỗi tính trạng của chúng cho đời con Tiềm năng di truyền do tác động cộng gộp của gen bố và mẹ tạo nên gọi là giá trị di truyền của con vật hay giá trị giống Chọn lọc căn cứ vào giá trị giống nghĩa là chọn lọc khả năng di truyền cho đời sau

Sai lệch trội (D): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các cặp alen ở cùng một locus, đặc biệt là các cặp alen dị hợp tử (Đặng Hữu Lanh và cs, 1999) Sai lệch trội cũng là một phần thuộc tính của quần thể Sai lệch trội có thể là: trội hoàn toàn: AA=Aa >aa; siêu trội: Aa >AA>aa và trội không hoàn toàn: AA

>Aa > aa Quan hệ trội của bố mẹ không truyền được sang con cái

Sai lệch át gen (I): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các gen thuộc các locus khác nhau Sai lệch át gen không có khả năng di truyền cho thế

Trang 16

Sai lệch môi trường riêng (Es): là sai lệch do loại môi trường chỉ tác động lên một số con vật trong một giai đoạn nào đó trong đời sống của chúng

Như vậy, kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai locus trở lên có giá trị kiểu hình chi tiết như sau:

P = A + D + I + Eg + Es

Qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng cho thấy, muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải:

- Tác động về mặt di truyền (G) bao gồm:

+ Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc

+ Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách lai giống

- Tác động về mặt môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi: thức ăn, chuồng trại, quản lý, thú y,

1.1.3 Lai giống và ưu thế lai

Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai các dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau (Nguyễn Hải Quân và cs., 1995)

Ưu thế lai là từ ngữ biểu thị sức sống của con lai vượt trội hơn cha mẹ Khi cha mẹ là những cá thể không có quan hệ huyết thống Ưu thế lai không chỉ thể hiện

ở sức chịu đựng mà còn bao gồm cả ưu thế về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản và tỷ lệ chết

Có thể giải thích ưu thế lai bằng các giả thiết sau:

- Thuyết trội: Giả thiết này cho rằng mỗi bên cha mẹ có những cặp gen trội

đồng hợp tử khác nhau Khi tạp giao ở thế hệ F1 sẽ có các gen trội ở tất cả các locus Nếu bố có kiểu gen AABBCCddeeff và mẹ có kiểu gen aabbccDDEEFF thì thế hệ

F1 có kiểu gen là: AaBbCcDdEeFf

Do tính trạng số lượng được quyết định bởi nhiều gen, nên xác suất xuất hiện một kiểu gen đồng hợp hoàn toàn là thấp Ngoài ra, vì sự liên kết giữa các gen trội

và gen lặn trên cùng một nhiễm sắc thể, nên xác suất tổ hợp được kiểu gen tốt nhất

Trang 17

cũng thấp Hiện tượng này và thuyết trội đã được bổ sung thông qua giả thiết sự liên kết của các gen

- Thuyết siêu trội: Mỗi alen trong một locus sẽ thực hiện chức năng riêng của

mình Ở trạng thái dị hợp tử thì cả hai chức năng này đồng thời được biểu lộ Mỗi gen có khả năng tổng hợp riêng, quá trình này được thực hiện trong những điều kiện môi trường khác nhau Do vậy, kiểu gen dị hợp tử sẽ có khả năng thích nghi tốt hơn với những thay đổi của môi trường

Ưu thế lai có thể do hiện tượng siêu trội của một locus, hiện tượng trội tổ hợp nhiều locus hoặc do các nguyên nhân khác gây ra Khả năng thích ứng với môi trường của các thể dị hợp tử tạo nên hiện tượng siêu trội là cơ sở của ưu thế lai

- Tương tác gen: Tương tác gen trong cùng một locus dẫn tới hiện tượng trội

không hoàn toàn Tương tác giữa các gen trong cùng các locus khác nhau, bao gồm

vô số các kiểu tương tác phức tạp, đa dạng, phù hợp với tính chất phức tạp, đa dạng của sinh vật

Cơ sở thống kê của ưu thế lai

Cơ sở thống kê của ưu thế lai do Falconer đưa ra từ năm 1964 Ưu thế lai ở

F1: H F1 = dy2, trong đó d là giá trị của kiểu gen dị hợp, y là sai khác về tần số gen giữa hai quần thể bố, mẹ Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus:

Trang 18

Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng tốt xấu do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con ảnh hưởng của mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do sự khác nhau về di truyền, về ngoại cảnh hoặc

sự phối hợp giữa di truyền và ngoại cảnh ảnh hưởng của mẹ có thể được thực hiện trong quá thụ tinh, có chửa, tiết sữa và nuôi con Các ảnh hưởng này chỉ có thể xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài suốt đời của con vật và được thể hiện ở nhiều cơ chế sinh học khác nhau Theo Đặng Vũ Bình (2002), có 5 loại ảnh hưởng của mẹ:

- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất nhưng không phải là ADN ngoài nhân

- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất do ADN ngoài nhân

- Ảnh hưởng của mẹ trong giai đoạn trước khi đẻ

- Ảnh hưởng của mẹ thông qua sự truyền kháng thể từ mẹ sang con

- Ảnh hưởng của mẹ sau khi sinh

Theo Dickerson (1974), khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ưu thế lai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1 Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ 3, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1 Trong lai 4 giống, con lai có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố

Tính ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định từ các giá trị trung bình của đời con và giá trị trung bình của bố mẹ theo công thức sau:

100)

(21

)(

2

1)(

BB AA AB

BA H

Trong đó, H: ưu thế lai, BA: F1 (bố B, mẹ A), AB: F1 (bố A, mẹ B), AA: bố

Trang 19

Theo Trần Kim Anh (2001), ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con /ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ

lệ thụ thai Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10%, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa /nái /năm tăng tới 10 - 15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 - 1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1 kg ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin, 1998)

- Tính trạng

Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có khả năng di truyền cao nhưng cũng có những tính trạng có khả năng di truyền thấp Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn

Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau; số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai

cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa có ưu thế lai cá thể 9%, ưu thế lai của mẹ là 11%; khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể 12%; ưu thế lai của mẹ 18% (Richard, 2000)

- Sự khác biệt giữa bố và mẹ

Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu

Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý thì ưu thế lai càng cao Ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh Có nhiều yếu

tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến gia súc, cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện của ưu thế lai

1.1.4 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái

Hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa /nái/ năm và tổng khối lượng lợn con cai sữa Hai chỉ tiêu này phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, thể vóc, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra, số lứa đẻ/ năm, tỷ lệ nuôi sống con theo mẹ, sản lượng sữa của mẹ, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc Do đó để

Trang 20

tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản thì phải cải tiến nâng cao số lợn con cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa Đồng thời cũng phải làm giảm khoảng cách giữa hai lứa đẻ bằng cách cai sữa sớm lợn con và làm giảm số ngày động dục lại sau cai sữa của lợn mẹ ở những lứa sau

Các tính trạng phản ánh năng suất sinh sản có hệ số di truyền thấp Để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn cái cần phải xác định được các chỉ tiêu

cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước đo để định ra thời gian sử dụng lợn cái hiệu quả Các chỉ tiêu này cần phải được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn cái

từ lứa đẻ đầu tiên đến lứa đẻ cuối cùng Một số ý kiến về vấn đề này như:

Vandersteen (1986) cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu cho phép đánh giá lợn nái bao gồm: tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số con/ổ, thời gian động dục trở lại Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy các tính trạng năng suất sinh sản có hệ số di truyền thấp

Kết quả các nghiên cứu khác cho rằng, các chỉ tiêu ảnh hưởng đến số lượng lợn con cai sữa của 1 nái/1 năm là: tính đẻ nhiều con (số lợn sơ sinh), tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau

Gordon (2004) cho rằng: trong các trại chăn nuôi hiện đại, số lợn con cai sữa

do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái

Theo Ducos và cs (1996), các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống khi cai sữa gồm: Số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợn con sống tới lúc cai sữa

Kết quả các nghiên cứu khác cho rằng, các chỉ tiêu ảnh hưởng đến số lượng lợn con cai sữa/nái/năm là: số lợn sơ sinh, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau

Theo Marby và cs (1997), các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn

nái bao gồm: Số con sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi

và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái

Gordon (2004) cho rằng, trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, số lượng

Trang 21

con cai sữa do một nái sản xuất trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất khả năng sinh sản của lợn nái

Theo Nguyễn Khắc Tích (1993), khả năng sinh sản của lợn nái chủ yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào

2 yếu tố là số con đẻ ra và số lứa đẻ/nái/năm

Theo Van der Steen (1986), sức sinh sản của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra /ổ và thời gian từ khi cai sữa đến động dục lại, phối giống có kết quả

Ở Việt Nam, Tiêu chuẩn nhà nước về lợn giống (TCVN 1980 – 1981 – TCVN 1982 – 1981) đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái tại các cơ sở giống nhà nước là: Số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày, khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày, tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách lứa đẻ đối với nái

đẻ từ lứa thứ 2 trở đi

Theo Nguyễn Khắc Tích (2002), khả năng sinh sản của lợn nái chủ yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào

2 yếu tố là số con sơ sinh và số lứa đẻ/nái/năm

Số con đẻ ra còn sống là số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng Chỉ tiêu này cho biết khả năng đẻ nhiều hay ít của lợn nái, kỹ thuật chăm sóc lợn nái chửa, kỹ thuật thụ tinh của người chăn nuôi Số lợn con cai sữa là chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá trình độ chăn nuôi lợn nái sinh sản, quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh tế của quá trình chăn nuôi Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng bệnh, khả năng tiết sữa của lợn mẹ và khả năng phòng bệnh của lợn con Mặt khác, số lợn con cai sữa còn phụ thuộc vào số con để nuôi, tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa Lợn con trước cai sữa thường bị chết với các nguyên nhân và tỷ lệ khác nhau như di truyền, nhiễm khuẩn, mẹ đè, thiếu sữa, dinh dưỡng kém hay những nguyên nhân khác

Số lứa đẻ/nái/năm chịu ảnh hưởng quan trọng của thời gian nuôi con và số ngày bị hao hụt của lợn nái Hiện nay, thời gian nuôi con được rút ngắn, trung bình

là 21-25 ngày Sau khi mang thai, đẻ và nuôi con, lợn mẹ thay đổi về khối lượng, nếu gầy sút quá sẽ ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau cai sữa và ảnh

Trang 22

hưởng tới năng suất của lứa tiếp theo Do đó, trong quá trình nuôi dưỡng, lợn mẹ cần được quan tâm để hạn chế đến mức thấp nhất sự hao hụt thể trạng, rút ngắn tối

đa thời gian động dục lại sau cai sữa Điều này sẽ giúp rút ngắn khoảng cách lứa đẻ

và nâng cao số lứa đẻ/nái/năm Như vậy, có rất nhiều ý kiến đưa ra các chỉ tiêu khác nhau trong việc đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Tuy nhiên, quá trình đánh giá và chọn lọc nên tập trung vào các chỉ tiêu chính là: số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ

Năng suất sinh sản của lợn nái được cấu thành bởi nhiều yếu tố, do đó cũng

có nhiều chỉ tiêu để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Nhưng người ta thường quan tâm đến 1 số chỉ tiêu quan trọng về năng suất mà qua đó có thể đánh giá được khả năng cũng như năng suất sinh sản của lợn nái Các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái:

- Tuổi động dục lần đầu (ngày): là thời gian từ sơ sinh đến khi lợn cái hậu bị

động dục lần đầu Tùy theo từng giống và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng khác nhau mà tuổi dộng dục khác nhau Lợn ngoại có tuổi động dục muộn hơn lợn nội, chăm sóc, nuôi dưỡng không hợp lý thì tuổi động dục cũng muộn hơn chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý

- Tuổi phối giống lần đầu (ngày): thông thường người ta phối giống lần đầu

vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 vì ở lần động dục đầu cơ thể phát triển chưa đầy

đủ, chưa tích lũy đủ dinh dưỡng nuôi bào thai và trứng rụng ít, chưa đều nên thường

bỏ qua không phối giống

- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): là tuổi khi lợn nái đẻ lứa thứ nhất Tuổi đẻ lứa đầu

nói lên tuổi thành thục về tính, thể vóc đảm bảo về khối lượng của lợn nái khi đưa vào phối giống

- Số con đẻ ra/ổ (con): là tổng số con đẻ ra trong 1 ổ bao gồm cả số con đẻ ra

sống và số con đẻ ra chết

- Số con đẻ ra sống/ổ (con): Là số con đẻ ra sống được đến khi lợn mẹ đẻ ra

con cuối cùng Đây là chỉ tiêu thể hiện khả năng đẻ sai hay đẻ ít con của giống đồng thời đánh giá được kỹ thuật chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai và kỹ thuật phối giống

Trang 23

- Số con đẻ ra chết/ổ (con): Có thể là thai chết, thai non, thai gỗ, chết trong

quá trình đỡ đẻ, chết trong khoảng thời gian từ khi đẻ con đầu tiên đến con cuối cùng (thường được tính trong vòng 24 giờ)

- Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg): Là khối lượng cân sau khi lợn con đẻ ra, lau

khô, cắt rốn, bấm răng nanh và chưa cho bú sữa đầu Đây là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc, quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi Khối lượng sơ sinh cao hay thấp ảnh hưởng đến các giai noãn sau này

- Số con 21 ngày tuổi (con): Đánh giá chất lượng sữa và khả năng nuôi con

khéo của lợn mẹ

- Số con cai sữa/ổ (con): Đây là chỉ tiêu đánh giá rất quan trọng trong chăn

nuôi lợn nái sinh sản, vì số con cai sữa/ổ cao thì số con cai sữa/nái/năm cao, như vậy hiệu quả chăn nuôi sẽ cao hơn Chỉ tiêu này cho biết chất lượng của giống, trình

độ chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như quy trình vệ sinh, phòng bệnh dịch của các nhà chăn nuôi

- Khối lượng cai sữa/ổ (kg): Đánh giá khả năng tăng trọng của lợn con, khả

năng tiết sữa của lợn mẹ và kỹ thuật cho ăn của người chăn nuôi Đây là chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất đối với người chăn nuôi, khối lượng cai sữa toàn ổ ảnh hưởng đến khối lượng khi xuất bán

- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa (ngày): Là thời gian từ lúc cai sữa đến

lúc động dục trở lại Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn nuôi con và sau cai sữa

- Khoảng cách 2 lứa đẻ (ngày): Khoảng cách 2 lứa đẻ = thời gian nuôi con +

thời gian chờ phối + thời gian mang thai Trong đó, thời gian mang thai thường cố định hoặc biến đổi rất nhỏ nên khoảng cách hai lứa đẻ phụ thuộc vào thời gian nuôi con và thời gian chờ phối

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau thì có tính năng sản xuất khác nhau Yếu tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại Mặt khác năng suất sinh sản của

Trang 24

lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: số trứng rụng, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra

còn sống, số con cai sữa/lứa, thời gian chờ phối Các chỉ tiêu này có hệ số di truyền

thấp nên chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện ngoại cảnh

* Yếu tố di truyền

Giống là yếu tố di truyền ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất sinh sản của lợn nái Các giống khác nhau có năng suất sinh sản khác nhau Điều này đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước công bố Theo Legault (trích từ Rothschild và cs., 1998), căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính như sau:

- Các giống đa dụng như Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá

- Các giống chuyên dụng "dòng bố" như Pietrain, Landrace của Bỉ, Hampshire, Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao

- Các giống chuyên dụng "dòng mẹ", đặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém

- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường

- Các giống "dòng bố" thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống

đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace và Large white (Blasco và cs.,1995)

Sự thành thục về tính ở các giống lợn khác nhau là khác nhau Các giống lợn

có tầm vóc, khối lượng nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn các giống lợn có tầm vóc, khối lượng lớn Sự thành thục về tính ở lợn cái là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên và xảy ra lúc 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm như các giống lợn nội và 6 - 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn ngoại phổ biến ở các nước phát triển Một số nghiên cứu trên đàn lợn Landrace và Yorkshire đều cho rằng yếu tố Giống ảnh hưởng đến các tính trạng như: số con đẻ ra, số con sơ sinh sống, số con để nuôi và số con cai sữa, khoảng cách lứa đẻ và khối lượng toàn ổ giai

Trang 25

đoạn sơ sinh, cai sữa (Tạ Thị Bích Duyên, 2003) Trong khi đó, tác giả Đặng Vũ Bình (1999) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại (Landrace và Yorkshire) được nuôi tại Xí nghiệp

lợn giống Mỹ Văn thì cho kết quả giống chỉ ảnh hưởng tới số con để nuôi (P<0,05)

Các chỉ tiêu về khả năng sinh sản thường có hệ số di truyền thấp nên năng suất sinh sản chịu ảnh hưởng lớn bởi tác động của các yếu tố môi trường Một số kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 1.1:

Bảng 1.1 Một số kết quả nghiên cứu về hệ số di truyền

của các tính trạng sinh sản Chỉ tiêu Hệ số di truyền ( h 2 )

Tuổi đẻ lứa đầu 0,27

Số con cai sữa/ổ 0,12 Khối lượng sơ sinh/con 0,21 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ 0,08

- Các chỉ tiêu sinh sản lại có mối quan hệ với nhau, hệ số tương quan di truyền giữa các chỉ tiêu sinh sản ở lợn theo các tác giả khác nhau được trình bày ở bảng 1.2:

Bảng 1.2 Hệ số tương quan kiểu gien tính trạng

năng suất sinh sản của lợn Hệ số tương quan kiểu gen

Số con sơ sinh và

số con sơ sinh còn sống

Số con sơ sinh sống và số con

21 ngày tuổi

Số con sơ sinh sống và số con cai sữa

Trang 26

* Yếu tố ngoại cảnh

Ngoài ảnh hưởng của yếu tố di truyền thì yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất rõ ràng đến năng suất sinh sản của lợn nái Cụ thể bao gồm:

- Ảnh hưởng của dinh dưỡng

Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng, đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái Trong giai đoạn chửa và nuôi con, nếu lợn nái được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cả về số lượng và chất lượng, kết quả sinh sản sẽ tốt Chế độ dinh dưỡng tốt sẽ cải thiện được số trứng rụng và tỷ

lệ thụ thai Lợn nái ăn gấp đôi lượng thức ăn ở giai đoạn trước khi phối giống và ở ngày phối giống so với bình thường có tác dụng làm tăng số trứng rụng và số con đẻ ra/ổ Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống

Mục tiêu của việc nuôi dưỡng lợn nái là sao cho số ngày không sản xuất ít, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và khối lượng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con Vì vậy, cần phải đưa ra khẩu phần ăn khoa học để làm tăng sữa Khẩu phần ăn thiếu lysine và protein làm bao noãn phát triển kém, khả năng thành thục của tế bào trứng giảm, số con sơ sinh và số con sơ sinh sống/ổ giảm, tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ tăng và khả năng sinh trưởng tối đa của lợn con giảm (Yang và cs., 2000) Tuy nhiên, mức protein quá cao trong khẩu phần cũng đều không tốt cho lợn nái chửa và nái nuôi con

- Ảnh hưởng của tuổi phối giống lần đầu và khối lượng phối giống lần đầu Tuổi đẻ lứa đầu quá sớm hay quá muộn, khối lượng phối giống lần đầu quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Khi lợn hậu bị được đưa vào khai thác quá sớm, cơ thể chưa phát triển hoàn thiện, nên số trứng rụng ít, tỷ lệ thụ thai kém Hơn nữa vấn đề này còn ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, thể vóc sau này Còn nếu lợn hậu bị được đưa vào khai thác quá muộn, hiệu quả kinh tế sẽ giảm

- Ảnh hưởng của tuổi và lứa đẻ

Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con sơ sinh/ổ Số con sơ sinh liên quan với số trứng rụng Trong lần động dục đầu, số trứng rụng

Trang 27

thường thấp nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ 2 và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ 3 Như thế thường ở lứa đẻ 1và 2 số con sơ sinh/ổ ít hơn

so với các lứa tiếp theo Sau đó, từ lứa 2 trở đi, số con sơ sinh/ổ sẽ tăng dần cho đến lứa 6, lứa thứ 7 thì bắt đầu giảm dần Trong sản xuất, người ta thường chú ý giữ vững số con sơ sinh/ổ từ lứa 6 trở đi bằng kỹ thuật chăn nuôi, quản lý, chăm sóc sao cho lợn mẹ không tăng cân quá mà cũng không gầy sút quá

- Ảnh hưởng của tỷ lệ thụ tinh và thụ thai

Tỷ lệ thụ tinh của các trứng rụng trong chu kỳ động dục của lợn nái chủ yếu phụ thuộc vào thời điểm phối giống Trong điều kiện bình thường, tỷ lệ thụ tinh là

90 - 100% nếu số trứng rụng ở mức bình thường và tỷ lệ thụ tinh sẽ không ảnh hưởng gì tới sự phát triển của các trứng đã được thụ tinh Người ta đã chứng minh rằng, nếu số trứng rụng quá mức bình thường thì tỷ lệ trứng phát triển bình thường ngay sau khi thụ tinh sẽ giảm đi, tức là tỷ lệ lợn con đẻ ra/số trứng rụng sẽ giảm khi

số trứng rụng tăng lên Thời điểm phối giống thích hợp nhất không phải có khoảng cách dài mà chỉ ở một biên độ thời gian nhất định Thời gian động dục kéo dài 5 -7 ngày, nhưng thời gian chịu đực chỉ khoảng 2,5 ngày Muốn nâng tỷ lệ thụ thai phải nắm được thời điểm rụng trứng và quãng thời gian trứng rụng Nguyễn Thiện (1998), đã xác định thời điểm rụng trứng và thụ tinh thích hợp nhất: phối giống tại các thời điểm: 18, 24, 30, 36 và 42 giờ kể từ khi con vật bắt đầu chịu đực cho tỷ lệ thụ thai lần lượt là 80%, 100%, 100%, 80%, 70% và số con đẻ ra tương ứng là: 8,20; 11,80; 10,50; 9,80; 7,80 con Tác giả đã kết luận: thời điểm phối giống thích hợp nhất vào lúc 24-30 giờ tính từ giờ chịu đực đầu tiên, dao động từ 15 - 45 giờ

Để có kết quả cao, cần phối giống cho lợn nái bằng phương thức phối kép (2 lần), lần sau cách lần trước 10-12 giờ trong ngày hoặc cuối ngày hôm trước và đầu ngày hôm sau

Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai Có 2 phương pháp phối giống là nhảy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo

- Ảnh hưởng của thời gian nuôi con

Thời gian nuôi con dài hay ngắn ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng cách giữa hai lứa đẻ Thời gian bú sữa dài, số con để nuôi trong ổ cao, thời gian động dục trở lại sau cai sữa dài, khoảng cách từ khi đẻ đến khi phối giống trở lại dài là những

Trang 28

nguyên nhân kéo dài khoảng cách lứa đẻ Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, do làm giảm số lứa đẻ/nái/năm Thường lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục lại 4-5 ngày có thể phối giống thì thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998)

- Số con cai sữa/ổ: Năng suất của đàn lợn giống được xác định bởi số con cai sữa/nái/năm Vì vậy, số lợn con cai sữa/nái/năm là tính trạng sinh sản quan trọng Số con cai sữa/nái/năm có thể giảm, do một số trứng rụng không được thụ tinh, một số thai chết khi chửa và đẻ, một số lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa

- Sức sống của lợn con

Năng suất sinh sản của nái không chỉ phụ thuộc vào sức sản xuất của chúng

mà còn phụ thuộc vào lợn con Vì kết quả cuối cùng của năng suất sinh sản là số con sơ sinh sống, số con sống đến cai sữa, khối lượng cai sữa và số lứa đẻ/năm có liên quan trực tiếp đến lợn con Lợn con mới sinh có hệ tiêu hoá chưa phát triển

pH dịch dạ dày còn cao hơn 3,5.Trong dịch dạ dày chưa có HCl tự do, nên chưa ngăn cản được các loại vi khuẩn xâm nhập và cũng chưa tiêu hoá được những loại thức ăn khó tiêu Khả năng điều tiết thân nhiệt kém, các phản xạ có điều kiện mới được thiết lập, hệ thống miễn dịch chưa phát triển nên khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh hoàn toàn phụ thuộc vào kháng thể do lợn mẹ cung cấp qua sữa đầu

1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con và các yếu tố ảnh hưởng

* Đặc điểm sinh trưởng

Lợn con có khả năng sinh trưởng rất mạnh, thể hiện bằng khả năng tăng khối lượng của cơ thể Sau khi đẻ ra 1 tuần khối lượng lợn con gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, đến khi cai sữa ở 60 ngày tuổi gấp 10- 15 lần Khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng và có liên quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối lượng cai sữa càng lớn Trong chăn nuôi lợn nái chửa, việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt để có khối lượng sơ sinh cao là cần thiết, làm tiền đề cho khối lượng cai sữa Tốc độ sinh trưởng của lợn con lớn nhất ở 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần và giảm nhanh hơn cho đến 60 ngày tuổi Điều này phù hợp với quy luật tiết sữa của lợn mẹ (cao nhất về số lượng và chất lượng ở 21 ngày sau đẻ, giảm dần đến 45 ngày sau đó giảm rất nhanh) Mặt khác sau 21 ngày tuổi, lượng sắt trong máu lợn con rất thấp do lượng dự trữ trong gan đã hết làm cho lợn con mắc bệnh thiếu máu, ảnh

Trang 29

hưởng đến khả năng sinh trưởng phát dục của lợn Để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng mà dinh dưỡng từ sữa mẹ giảm, cần tập cho lợn con ăn sớm vào giai đoạn từ 7 - 10 ngày tuổi Việc này có tác dụng rất lớn trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, vừa đảm bảo đáp ứng dinh dưỡng cho con vừa làm giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm cho lợn con quen dần với các loại thức

ăn sau này

* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn con

- Khối lượng lợn con sơ sinh còn sống (kg): Là tổng khối lượng của lợn con sơ sinh còn sống theo dõi trong 24 giờ sau khi lợn nái đẻ xong con cuối cùng

- Khối lượng cai sữa/lứa (kg): Là tổng khối lượng của tất cả lợn con còn sống

ở thời điểm cai sữa mẹ nuôi riêng của 1 lứa đẻ

- Bình quân tăng khối lượng của lợn con (g/con/ngày)

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Giống lợn Y và L đã và đang phát triển mạnh hầu hết ở các nước (trừ nước, tôn giáo không sử dụng thịt lợn), cùng với sự phát triển đó là những tiến bộ trong công tác nghiên cứu, chọn lọc giống đã cải thiện được tính năng sản xuất của chúng Đó là nguyên liệu để sản xuất con lai và là nguồn cung cấp giống lợn thương phẩm lớn cho xã hội

Để nâng cao hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi lợn và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng các nhà chọn giống trên thế giới đã sử dụng các phương pháp lai, tạo ưu thế lai nhằm tạo ra con lai thương phẩm nhiều máu có năng suất và tỷ lệ nạc cao Nhiều giống lợn cao sản đã được sử dụng làm nguyên liệu cho các công thức lai như Y, L, Pi, Du…

Trong nhiều thập kỷ trở lại đây, lai giống là một trong những biện pháp quan trọng để sản xuất lợn thịt có năng suất chất lượng cao ở nhiều nước trên thế giới Lúc đầu mới chỉ áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa hai giống lợn,

về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp 3, 4, 5 giống lợn và cao hơn nữa là các chương trình lai tạo lợn hybrid

Trang 30

Hiện có nhiều công trình nghiên cứu ở trên nhiều nước về tính năng sản xuất của các giống lợn nhằm nâng cao khả năng sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm, phục vụ lợi ích kinh tế của người chăn nuôi và người tiêu dùng

White và cs (1991), nghiên cứu trên lợn Yorkshire cho thấy: tuổi động dục lần đầu là 201 ngày (số mẫu nghiên cứu là 444), số con sơ sinh sống của 20 ổ ở lứa

1 trung bình là 7,2 con/ổ

Nghiên cứu của Koketsu và cs (1997), cho biết tuổi phối giống lần đầu của lợn Landrace và Yorkshire là 237 và 249 ngày; số con sơ sinh/ổ là 12 và 12,22 con;

số con sơ sinh sống/ổ ở cả hai giống Landrace và Yorkshire là 11,3 con

Gerasimov và cs (1997) qua nghiên cứu cho thấy lai hai, ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 so với 10,1 con), tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa

Xue và cs (1997) nhận thấy lai ba giống Du×(LW×L) có tốc sinh trưởng, chất lượng thân thịt tốt Do đó việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm

Để nâng cao chất lượng đàn lợn thịt, Trung Quốc đã nhập một số giống lợn

có khả năng sản xuất cao, phẩm chất thịt tốt như lợn Yorkshire, Duroc, Hampshire, Landrace cho phối với lợn nái Meishan của Trung Quốc, vì vậy đã làm tăng khả năng sinh sản của lợn nái, đạt trung bình 12,5 con/ổ Lợn vỗ béo đạt khối lượng 90

kg lúc 180 ngày tuổi, tiêu tốn 3,4kg thức ăn/1kg tăng khối lượng, độ dày mỡ lưng trung bình là 26mm và đạt tỷ lệ thịt nạc trên 48% (Đỗ Thị Tỵ, 1994)

Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản và cho thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan Tuz và cs (2000), nhận thấy lai ba giống đạt được số con/lứa ở 1, 21, 42 ngày tuổi cũng như khối lượng sơ sinh/con cao hơn hẳn

so với giống thuần Sử dụng nái lai để phối với lợn đực thứ ba có hiệu quả nâng cao khối lượng khi cai sữa và khả năng tăng trọng khi nuôi thịt (Kamyk và cs., 1998)

Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997), cho biết lai ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/ổ, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Gerasimov và cs (2000) cho biết nái lai có chất lượng tốt

Trang 31

về sản xuất sữa, khối lượng sơ sinh, con lai sinh trưởng tốt và có năng suất thịt xẻ cao Việc sử dụng lai ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm Việc sử dụng nái lai (L×Y) phối với lợn Du để sản xuất con lai ba giống, sử dụng nái lai (L×Y) phối với lợn đực lai (P×Du) để sản xuất con lai 4 giống khá phổ biến tại Bỉ (Leroy và cs., 1996)

Theo Vangen và cs (1997), trong số 1,2 triệu lợn giết mổ hàng năm tại Nauy thì lợn lai chiếm trên 60% Nái lai (L×Y) có tỷ lệ đẻ, số con đẻ ra /lứa cao hơn lợn nái thuần L, nái lai (L×Y) được sử dụng nhiều trong các công thức lai (Gaustad-Aas

và cs., 2004)

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở nước ta phần lớn các tác giả tập trung vào nghiên cứu khả năng sản xuất, đặc điểm sinh học, quy trình nuôi dưỡng, các công thức lai kinh tế giữa lợn nội và lợn ngoại, lợn ngoại và lợn ngoại ở các cơ sở giống Nhà nước với quy mô lớn

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về các giống lợn nhập nội vào nước ta đặc biệt là nghiên cứu về con lai giữa 2 giống L và Y, tạo ra F1 (LY), F1 (YxL), giữa F1 (LY), F1 (YxL) lai với đực Pi, Du, PiDu tạo ra con thương phẩm cho năng suất, chất lượng thịt cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng

Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (1995), trên nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống gia súc Hà Tây cho kết quả như sau: tuổi phối giống lần đầu của Landrace và Yorkshire là 254,11 và 282 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 367,1 và 396,3 ngày; số con sơ sinh sống/ổ là 8,2 và 8,3 con; khối lượng sơ sinh/ổ

là 9,12 và 10,89 kg; khối lượng 21 ngày/ổ là 40,7 và 42,1 kg; khối lượng 21 ngày/con là 5,1 và 5,2 kg

Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân (1998), về khả năng sinh sản của giống lợn Landrace cho biết: trên 140 ổ đẻ có số con sơ sinh sống/ổ đạt 8,66 con với khối lượng trung bình 1,42 kg/con Số con sơ sinh/ổ đạt cao nhất ở dòng lợn Landrace của Nhật (9,02 con), nhưng khối lượng sơ sinh/con thấp nhất (1,29 kg)

Phan Xuân Hảo và cs (2001), cho biết lợn Landrace và Yorkshire có tuổi động dục lần đầu là 197,36 và 203,39 ngày; tuổi phối giống lần đầu là 264,71 và 251,74 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 367,91 và 374,49 ngày; lứa đầu có số con sơ sinh/ổ

Trang 32

là 10,05 và 9,6 con; số con 21 ngày/ổ là 8,95 và 8,44 con; khối lượng cai sữa/con là 5,38 và 5,35 kg

Lê Đình Phùng và cs (2011), thông báo lợn Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace x Yorkshire) có tuổi phối lần đầu tương ứng là 269,6; 269 và 275,7 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 385,2; 384,2 và 391,6 ngày; số con sơ sinh/ổ là 10,9; 11,2; 11.3 con; số con cai sữa/ổ là 9,8; 9,8 và 10,3 con; khối lượng sơ sinh/con là 1,44; 1,41; 1,38 kg; khối lượng cai sữa/con là 6,25; 6,14; 6,03 kg; thời gian cai sữa là 24,7; 24,4 và 23,8 ngày; tỷ lệ sống đến cai sữa đạt 89,8; 86,3; 89,3%

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) cho biết năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LY) phối giống với lợn đực Pi và Du có số con đẻ ra/ổ lần lượt là 10,6 và 10,34 con, số con đẻ ra còn sống/ổ tương ứng là 10,34 và 10,02 con, số con để nuôi/ổ tương ứng là 10,05 và 9,63 con, số con 21 ngày tuổi/ổ 9,70 và 9,23 con, khối lượng sơ sinh/ổ 15,46 và 14,91 kg, khối lượng cai sữa/ổ 69,94 và 67,65 kg

Kết quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo (2006) cho biết khoảng cách lứa đẻ

ở L, Y, F1(LY) tương ứng là: 158,49; 160,11 và 159,02 ngày và số con cai sữa/ổ cũng lần lượt là 9,45; 9,16 và 9,32 con

Các kết quả của Trương Hữu Dũng và cs (2004) cho thấy tổ hợp lai giữa hai giống Y, L và ngược lại, ba giống Y, L và Du đạt mức tăng KL và tỷ lệ nạc cao Con lai (LY) đạt mức tăng KL từ 650,90 đến 667,70 g/ngày và tỷ lệ nạc từ 57,69 đến 60,00%; con lai (YxL) đạt mức tăng KL từ 601,50 đến 624,40 g/ngày, tỷ lệ nạc

từ 56,24 đến 56,80% Con lai ba giống Du x (LY) đạt mức tăng KL từ 617,80 đến 694,10 g/ngày và tỷ lệ nạc từ 57,00 đến 61,81%; con lai ba giống Du x (YxL) đạt mức tăng KL từ 628,40 đến 683,10 g/ngày và tỷ lệ nạc từ 56,86 đến 58,71%

Theo Từ Quang Hiển và Lương Nguyệt Bích (2005), lợn nái F1(YL) nuôi tại tỉnh Thái Nguyên có số con sơ sinh còn sống/lứa là 9,02 con, khối lượng sơ sinh/con: 1,31 kg, số lứa đẻ/năm là 1,93 lứa

Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006) cho biết năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) phối với lợn đực Pi và Du có số con 21 ngày tuổi/ổ lần lượt là 9,7 và 9,23 con; khối lượng cai sữa /ổ 69,94 và 67,65 kg

Trang 33

Nguyễn Thị Huệ (2009) cho biết nái F1(LY), F1(YL) phối với đực PiDu có

số con đẻ/ổ lần lượt là 10,80 và 11,09 con với khối lượng sơ sinh/ổ tương ứng 14,73

và 15,55 kg; số con cai sữa/ổ lần lượt 9,71 và 10,17 con với khối lượng cai sữa tương ứng 63,44 và 67,13 kg

Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) thông báo PiDu x F1(LY) có số con cai sữa/ổ: 10,15 con; tăng khối lượng: 735,33 g/con/ngày; TTTĂ/kg tăng khối lượng: 2,48 kg; tỷ lệ nạc: 60,93%; dày mỡ lưng là 19,12 mm

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lợn nái lai F1(YL): phối với đực giống Duroc (15 con từ lứa 1 đến lứa 5)

- Lợn nái lai F1(YL): phối với đực giống PiDu75 (15 con từ lứa 1 đến lứa 5)

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại Trại giống lợn ngoại, Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản tỉnh Hòa Bình

Thời gian từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Năng suất sinh sản của đàn nái ông bà

- Lợn nái Landrace (15 con từ lứa 1 đến lứa 6) và nái Duroc (5 con từ lứa 1 đến lứa 5) đảm bảo nguyên tắc đồng đều về nuôi dưỡng, chăm sóc, phương thức phối

giống, quy trình vệ sinh thú y phòng bệnh

- Chế độ nuôi dưỡng: Tiêu chuẩn ăn cho lợn nái theo tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn hỗn hợp của lợn nái (TCVN 1547 - 1994)

- Theo dõi và thu thập các số liệu về năng suất sinh sản của các con lợn nái Landrace phối với đực giống Landrace qua sổ giống của trại và số liệu trong thời

gian nghiên cứu

2.3.2 Năng suất sinh sản của đàn nái bố mẹ

- Lợn nái F1 (30 con từ lứa 1 đến lứa 6) đảm bảo nguyên tắc đồng đều về nuôi

dưỡng, chăm sóc, phương thức phối giống, quy trình vệ sinh thú y phòng bệnh

- Chế độ nuôi dưỡng: Tiêu chuẩn ăn cho lợn nái theo tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn hỗn hợp của lợn nái (TCVN 1547 - 1994)

Trang 35

- Theo dõi và thu thập các số liệu về năng suất sinh sản của các con lợn nái F1(YL) phối với đực giống Duroc và Pidu75 qua sổ giống của trại và số liệu trong

thời gian nghiên cứu

2.3.3 Sinh trưởng của lợn con thương phẩm

Lợn con thương phẩm được sinh ra từ đàn bố mẹ được đảm bảo nguyên tắc đồng đều về độ tuổi, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng

Theo dõi và thu thập các số liệu của 80 lợn con về các chỉ tiêu: khối lượng sơ sinh, Khối lượng cai sữa, Thời gian cai sữa, Khối lượng 60 ngày tuổi, sinh trưởng của lợn con theo mẹ và tăng khối lượng trên ngày

2.3.4 Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản

- Đánh giá Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản của nái ông bà: ♀L x ♂L, ♀Du x ♂Du

- Đánh giá Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản của

nái bố mẹ: ♀F1(YL) x ♂Pidu 75, ♀F1 (YL) x ♂Duroc

2.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

2.4.1 Phương pháp đánh giá năng suất trên đàn nái sinh sản

a) Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được thu thập và theo dõi trực tiếp: Để đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở trung tâm, chúng tôi căn cứ vào hệ thống sổ sách theo dõi của trung tâm tại thời gian trước và bản thân trực tiếp theo dõi tại cơ sở từ tháng 7 năm

2018 đến tháng 6 năm 2019 Lợn nái được nuôi theo phương thức công nghiệp, chuồng trại đảm bảo yêu cầu thiết kế kỹ thuật, đảm bảo nguyên tắc đồng đều về các yếu tố dinh dưỡng, chế độ chăm sóc, quy trình vệ sinh thú y phòng bệnh

- Thức ăn sử dụng cho lợn nái ở các giai đoạn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh của công ty C.P Việt Nam

b) Các chỉ tiêu theo dõi, đánh giá

Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)

Số con đẻ ra/ổ (con)

Số con đẻ ra sống/ổ (con)

Trang 36

Số con để nuôi/ổ (con)

Số con cai sữa/ổ (con)

Khối lượng sơ sinh/con (Kg)

Khối lượng cai sữa/con (Kg)

Thời gian cai sữa (ngày)

TL sống đến cai sữa (%)

Thời gian phối giống lại sau cai sữa (ngày)

Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)

Hệ số lứa đẻ (lứa/năm)

Số con cai sữa/nái/năm (con)

c) Phương pháp xác định các chỉ tiêu đánh giá

Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): Là tuổi tại thời điểm lợn đẻ lứa đầu

Số con đẻ ra/ổ (con): là tổng số con đẻ ra trong 1 ổ bao gồm cả số con đẻ ra sống và số con đẻ ra chết

Số con đẻ ra sống/ổ (con): là số con đẻ ra sống được đến khi lợn mẹ đẻ ra con cuối cùng

Số con để nuôi/ổ (con): là số con để lại nuôi của ổ đẻ

Số con cai sữa/ổ (con): Là tất cả số con còn sống đến cai sữa

Khối lượng sơ sinh/con (kg): Là khối lượng lợn con được cân ngay sau khi đẻ

ra, đã được cắt rốn, lau khô, bấm số tai và trước khi cho bú lần đầu tiên

Khối lượng cai sữa/con (kg): Cân khối lượng lợn lúc cai sữa

Thời gian cai sữa (ngày): là số ngày từ khi lợn con được sinh ra đến khi lợn con được cai sữa

TL sống đến cai sữa (%):

Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa = Số con còn sống đến cai sữa  100

Số con sơ sinh còn sống để lại nuôi Thời gian động dục lại sau cai sữa (ngày): là thời gian từ lúc cai sữa đến lúc động dục trở lại

Trang 37

Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày): Được tính ngày đẻ lứa trước với thời gian nuôi con, thời gian động dục lại sau đẻ, thời gian mang thai và đến khi đẻ lứa sau

Hệ số lứa đẻ (lứa/năm): là số lứa đẻ của lợn nái tính trong một năm

Hệ số lứa đẻ = 365

Khoảng cách lứa đẻ

Số con cai sữa/nái/năm: là số con còn sống đến cai sữa của một nái trong một năm Theo dõi khối lượng thức ăn: Lượng thức ăn tiêu thụ: Hàng ngày theo dõi lượng thức ăn của từng ô chuồng thí nghiệm Ghi chép sổ sách để tính lượng thức

ăn tiêu thụ Lượng thức ăn được sử dụng bao gồm: Thức ăn lợn nái ở các thời điểm (thời kỳ chửa + thời kỳ nuôi con + thức ăn lợn con)

Tính tiêu tốn thức ăn theo các công thức sau:

TTTA/kg lợn con CS = Lượng TĂ sử dụng x (lợn nái + lợn con đến khi CS)

Số kg lợn con CS

2.4.2 Sinh trưởng của lợn con đến 60 ngày tuổi

Tiến hành theo dõi sinh trưởng của lợn con đến 60 ngày tuổi ở 02 công thức:

♀F1(YL) x ♂PiDu75, ♀F1(YL) x ♂Du

a) Bố trí thí nghiệm:

* Giai đoạn lợn con theo mẹ

Dùng phương pháp phân lô so sánh, theo dõi 80 con lợn con theo mẹ của 2 công thức từ lúc sinh đến 21 ngày tuổi Mỗi công thức 40 lợn con theo mẹ, được đánh dấu để tiếp tục theo dõi ở giai đoạn sau cai sữa Lợn nái nuôi con, lợn con theo

mẹ ở mỗi lô được đảm bảo nguyên tắc đồng đều về độ tuổi, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng

* Giai đoạn lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi

Dùng phương pháp phân lô so sánh, nuôi thí nghiệm 72 con lợn con sau cai sữa (Lợn con được cai sữa sau 21 ngày theo mẹ) cho 2 công thức lai, mỗi công thức

36 con Lợn con ở mỗi lô đảm bảo các nguyên tắc đồng đều về số lượng, tính biệt,

độ tuổi, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, tiêm phòng, tẩy giun sán vệ sinh phòng dịch như nhau

b) Phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng

Cân lợn khi bắt đầu thí nghiệm và kết thúc thí nghiệm vào buổi sáng trước khi cho lợn ăn, dùng cân có độ chính xác 0,1kg, cân lần lượt từng con

Trang 38

Tính tăng khối lượng trung bình trong thời gian nuôi (g/con/ngày)

A = W2- W1

T2 - T1

A : Tăng khối lượng tuyệt đối của lợn con (g/con/ngày)

W1: Khối lượng ứng với thời gian T1

W2: Khối lượng ứng với thời gian T2

Tính tiêu tốn thức ăn theo các công thức sau:

TTTA/kg TKL = Lượng TĂ tiêu thụ trong thời gian theo dõi

Tổng khối lượng tăng trong thời gian theo dõi

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm minitab16, Microsoft Excel 2007

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Năng suất sinh sản đàn nái ông bà

3.1.1 Năng suất sinh sản của nái ông bà giống Landrace (♀L x ♂L) và Duroc (♀Du x ♂Du )

Kết quả theo dõi năng suất sinh sản của đàn nái ông bà giống Landrace phối với đực giống Landrace, nái giống Duroc phối với đực giống Duroc tại Trung tâm giống Cây trồng, Vật nuôi và Thủy sản tỉnh Hòa Bình được trình bày qua bảng 3.1

Bảng 3.1 Năng suất sinh sản đàn ông bà ♀L x ♂L và ♀Du x ♂Du

Chỉ tiêu theo dõi

♀L x ♂L (n= 15 con)

♀Du x ♂Du (n= 5 con) p Mean SE Mean SE

Tuổi đẻ lứa đầu (ngày) 387,20 3,76 369,00 2,02 0,065

Số con đẻ ra/ổ (con) 9,61 0,27 8,33 0,30 0,005

Số con đẻ ra sống/ổ (con) 8,82 0,27 7,86 0,25 0,051

Số con để nuôi/ổ (con) 8,32 0,28 7,35 0,26 0,078

Số con cai sữa/ổ (con) 7,80 0,26 6,97 0,22 0,172 Khối lượng sơ sinh/con (kg) 1,26 0,01 1,32 0,013 0,018 Khối lượng cai sữa/con (kg) 6,91 0,101 8,16 0,13 0,000 Thời gian cai sữa (ngày) 25,28 0,24 24,67 0,33 0,221

TL sống đến cai sữa (%) 92,73 1,65 94,69 2,81 0,366 Thời gian động dục lại sau cai sữa

Trang 40

Tuổi đẻ lứa đầu

Tuổi đẻ lứa đầu có mối quan hệ mật thiết với tuổi động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, tỉ lệ phối giống có chửa lứa đầu và thời gian mang thai Do vậy, tuổi

đẻ lứa đầu được quyết định bởi tuổi phối giống lần đầu Tuổi đẻ lứa đầu của nái L và

Du trong theo dõi của chúng tôi nằm trong khoảng tương ứng từ 369,00 - 387,20

ngày, sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P >0,05) đối với 2 giống Kết quả

nghiên cứu này cũng phù hợp với thông báo của tác giả Phạm Văn Thái (2010) cho biết tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái Landrace dao động 374,13 - 397,04 ngày

Khả năng sinh sản của lợn nái không chỉ được đánh giá qua các chỉ tiêu sinh sản trên lợn mẹ mà còn được đánh giá thông qua các chỉ tiêu trên đàn con của nó Chỉ tiêu về số con sơ sinh và số con sơ sinh sống phản ánh chất lượng tinh của lợn đực, khả năng bộ máy sinh dục của lợn nái, kỹ thuật phát hiện động dục, thụ tinh,

kỹ thuật chăm sóc lợn nái mang thai cũng như khả năng đề kháng với các yếu tố ngoại cảnh của lợn nái

Số con sơ sinh sống/ổ, số con để nuôi và số con cai sữa/ổ của 2 giống được biểu hiện trên Hình 3.1:

Hình 3.1: Số con/ổ của lợn nái ông bà L x L và Du x Du

Ngày đăng: 29/05/2020, 22:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đặng Vũ Bình (2002), Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi, Giáo trình sau đại học, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
4. Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Trần Xuân Việt, Vũ Ngọc Sơn (1995), “Năng suất sinh sản của lợn nái Y và L nuôi tại Trung tâm giống gia súc Hà Tây”, Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa Chăn nuôi- Thú y (1991- 1995), Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Năng suất sinh sản của lợn nái Y và L nuôi tại Trung tâm giống gia súc Hà Tây”
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Trần Xuân Việt, Vũ Ngọc Sơn
Năm: 1995
5. Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Hải Quân, Phan Xuân Hảo, Hoàng Sĩ An (1999), “Kết quả bước đầu xác định khả năng sinh sản của lợn nái L và F1(L×Y) có các kiểu gen halothan khác nhau nuôi tại xí nghiệp thức ăn chăn nuôi An Khánh”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi-Thú y (1996-1998), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả bước đầu xác định khả năng sinh sản của lợn nái L và F1(L×Y) có các kiểu gen halothan khác nhau nuôi tại xí nghiệp thức ăn chăn nuôi An Khánh”
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Hải Quân, Phan Xuân Hảo, Hoàng Sĩ An
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
6. Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Trung (2001), "Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống vật nuôi Phú Lãm- Hà Tây", Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật - Khoa chăn nuôi thú y (1999-2001), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, trang 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống vật nuôi Phú Lãm- Hà Tây
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Trung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
7. Phạm Hữu Doanh (1995), “Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái lai ngoại và ngoại thuần chủng”, Tạp chí Chăn nuôi, 02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái lai ngoại và ngoại thuần chủng
Tác giả: Phạm Hữu Doanh
Năm: 1995
9. Trương Hữu Dũng, PhùngThị Vân, Nguyễn Khánh Quắc (2004), “Khả năng sinh trưởng và thành phần thịt xẻ của tổ hợp lai Dx(LY) và Dx(YL)", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (4), tr.471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh trưởng và thành phần thịt xẻ của tổ hợp lai Dx(LY) và Dx(YL)
Tác giả: Trương Hữu Dũng, PhùngThị Vân, Nguyễn Khánh Quắc
Năm: 2004
10. Nguyễn Văn Đức (2000), “Ưu thế lai thành phần của tính trạng số con sơ sinh.0 sống/lứa trong các tổ hợp lai giữa lợn MC, L và Y nuôi tại miền Bắc và Trung Việt Nam”, Kết quả nghiên cứu KHKT 1969-1999, Viện Chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, Tr. 40-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưu thế lai thành phần của tính trạng số con sơ sinh.0 sống/lứa trong các tổ hợp lai giữa lợn MC, L và Y nuôi tại miền Bắc và Trung Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Đức
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
12. Phan Xuân Hảo, Đinh Văn Chỉnh, Vũ Ngọc Sơn (2001), “Đánh giá khả năng sinh sản và sinh trưởng của lợn nái Landrace và Yorkshire tại trại giống lợn ngoại Thanh Hưng - Hà Tây”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa CNTY (1999 -2001), Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản và sinh trưởng của lợn nái Landrace và Yorkshire tại trại giống lợn ngoại Thanh Hưng - Hà Tây
Tác giả: Phan Xuân Hảo, Đinh Văn Chỉnh, Vũ Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
16. Phan Văn Hùng, Đặng Vũ Bình (2008), “Khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa lợn đực Duroc, L19 với nái F1(LxY) và F1(YxL) nuôi tại Vĩnh Phúc”, Tạp chí Khoa học và Phát triển (2008), Trường Ðại học Nông Nghiêp I Hà Nội, Tập VI, số 6: 537-541 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa lợn đực Duroc, L19 với nái F1(LxY) và F1(YxL) nuôi tại Vĩnh Phúc
Tác giả: Phan Văn Hùng, Đặng Vũ Bình (2008), “Khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa lợn đực Duroc, L19 với nái F1(LxY) và F1(YxL) nuôi tại Vĩnh Phúc”, Tạp chí Khoa học và Phát triển
Năm: 2008
21. Lê Đình Phùng, Nguyễn Trường Thi, (2009), “Khả năng sinh sản của lợn nái lai F1 (Yorkshire × Landrace) và năng suất của lợn thị lai 3 máu (Duroc × Landrace) × (Yorkshire x Landrace)”, Tạp chí khoa học Đại Học Huế, 22(56), 53-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh sản của lợn nái lai F1 (Yorkshire × Landrace) và năng suất của lợn thị lai 3 máu (Duroc × Landrace) × (Yorkshire x Landrace)
Tác giả: Lê Đình Phùng, Nguyễn Trường Thi
Năm: 2009
22. Lê Đình Phùng, Trương Tấn Huệ (2011), “Năng suất sinh sản của lợn nái cấp giống ông bà C1230 và C1050 trong hệ thống giống của PIC nuôi tại Quảng Bình”, Tạp Chí Nông Nghiệp và phát Triển Nông Thôn, 14, 55-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái cấp giống ông bà C1230 và C1050 trong hệ thống giống của PIC nuôi tại Quảng Bình
Tác giả: Lê Đình Phùng, Trương Tấn Huệ
Năm: 2011
23. Lê Đình Phùng, Đậu Thị Tương, (2012), “Năng suất sinh sản của lợn nái F1 (Landrace x Yorkshire) được phối tinh giống Landrace, Yorkshire, Omega, PIC337 và PIC408 trong chăn nuôi lợn công nghiệp”, Tạp Chí Nông Nghiệp và phát Triển Nông Thôn, 10, 95-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái F1 (Landrace x Yorkshire) được phối tinh giống Landrace, Yorkshire, Omega, PIC337 và PIC408 trong chăn nuôi lợn công nghiệp
Tác giả: Lê Đình Phùng, Đậu Thị Tương
Năm: 2012
24. Lê Đình Phùng, Văn Ngọc Phong, Phùng Thăng Long, Lê Lan Phương, Hoàng Ngọc Hảo, Ngô Mậu Dũng, và Phạm Khánh Từ, (2016), “Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L×Y) được phối với PIC280 và PIC399 trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp ở Quảng Bình”, Tạp Chí Hội Chăn Nuôi, 213, 18-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L×Y) được phối với PIC280 và PIC399 trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp ở Quảng Bình
Tác giả: Lê Đình Phùng, Văn Ngọc Phong, Phùng Thăng Long, Lê Lan Phương, Hoàng Ngọc Hảo, Ngô Mậu Dũng, và Phạm Khánh Từ
Năm: 2016
25. Nguyễn Ngọc Phục, Lê Thanh Hải, Đinh Hữu Hùng, (2009), “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thuần LR, YS, nái lai F1 (LY/YL), nái VNC22 và khả năng sinh trưởng, cho thịt của lợn thương phẩm 2, 3 và 4 giống trong điều kiện chăn nuôi trang trại tại Quảng Bình”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, 16, 21-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thuần LR, YS, nái lai F1 (LY/YL), nái VNC22 và khả năng sinh trưởng, cho thịt của lợn thương phẩm 2, 3 và 4 giống trong điều kiện chăn nuôi trang trại tại Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phục, Lê Thanh Hải, Đinh Hữu Hùng
Năm: 2009
28. Đoàn Văn Soạn, Đặng Vũ Bình, (2011), “Khả năng sinh sản của các tổ hợp lợn lai giữa nái F1 (Landrace x Yorkshire), F1 (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19”, Tạp chí Khoa học và phát triển 9, 614-621 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khả năng sinh sản của các tổ hợp lợn lai giữa nái F1 (Landrace x Yorkshire), F1 (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19”, Tạp chí Khoa học và phát triển 9
Tác giả: Đoàn Văn Soạn, Đặng Vũ Bình
Năm: 2011
29. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010), “Khả năng sinh trưởng của các tổ hợp giữa nái lai F1 (Landrace x Yorkshire), F1 (Yorkshire x Landrace) phối với lợn đực Duroc và Landrace”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khả năng sinh trưởng của các tổ hợp giữa nái lai F1 (Landrace x Yorkshire), F1 (Yorkshire x Landrace) phối với lợn đực Duroc và Landrace”, Tạp chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình
Năm: 2010
30. Đỗ Thị Tỵ (1994), “Tình hình chăn nuôi lợn ở Hà Lan”, Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi 2/1994 , Viện Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp &amp; Công nghiệp thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình chăn nuôi lợn ở Hà Lan”, Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi 2/1994
Tác giả: Đỗ Thị Tỵ
Năm: 1994
31. Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình (2005), “So sánh khả năng sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace × Yorkshire) phối với lợn Đực Duroc và Pietrain”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà nội, Tập III số 2, tr. 140- 143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “So sánh khả năng sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace × Yorkshire) phối với lợn Đực Duroc và Pietrain”
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình
Năm: 2005
32. Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình (2006), “Năng suất sinh sản, sinh trưởng, chất lượng thân thịt của các công thức lai F1(Landrace × Yorkshire) phối với lợn đực Duroc và Pietrain”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà nội, Tập IV số 6, tr. 48- 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản, sinh trưởng, chất lượng thân thịt của các công thức lai F1(Landrace × Yorkshire) phối với lợn đực Duroc và Pietrain"”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà nội
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình
Năm: 2006
33. Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007), Kỹ thuật chăn nuôi và chuồng trại nuôi lợn, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi và chuồng trại nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm