LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và kết quả trong khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được Xác nhận của GVHD Ngườ
Trang 1- -
NGÔ QUỐC HƯNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA
LOÀI THẢO QUẢ (Amomum aromaticum Roxb)
TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo :Chính quy Chuyên nghành : Lâm Nghiệp
Trang 2NGÔ QUỐC HƯNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC,
SINH THÁI CỦA LOÀI THẢO QUẢ (Amomum aromaticum Roxb)
TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành : Lâm Nghiệp
Khóa học : 2015 – 2019 Giảng viên hướng dẫn : TS.Lê Văn Phúc
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và kết quả trong khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được
Xác nhận của GVHD Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học
Ngô Quốc Hưng
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi đặc biệt xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm sâu sắc của cô giáo TS Lê Văn Phúc đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Trong quá trình nghiên cứu do có những chủ quan và khách quan nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các sinh viên để tôi hoàn thành khóa luận được tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Ngày 25 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Ngô Quốc Hưng
Trang 5DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 4.1 Hình thái lá cây Thảo quả 33
Hình 4.2 Hình thái thân cây Thảo quả 33
Hình 4.3 Hình thái hoa Thảo quả 34
Hình 4.4 Hình thái quả Thảo quả 34
Hình 4.5 Hình thái thân, quả Thảo quả 35
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện tần suất gặp cây thảo quả 36
của các tuyến điều tra 36
Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ phân bố cây Thảo quả theo đai cao 37
Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ phân bố cây Thảo quả theo vị trí 38
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Phân bố Thảo quả trên các tuyến điều tra 35 Bảng 4.2 Đặc điểm phân bố cây Thảo quả theo đai cao 36 Bảng 4.3 Đặc điểm phân bố cây Thảo quả theo vị trí chân, sườn, đỉnh 37 Bảng 4.4 Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản tại Huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 38 Bảng 4.5 Đặc điểm phẩu diện đất 40
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Những nghiên cứu về dược liệu trên thế giới 3
2.1.1 Những nghiên cứu về phát triển cây dược diệu 3
2.1.2 Những nghiên cứu về bảo tồn cây dược liệu 5
2.2 Những nghiên cứu về dược liệu ở Việt Nam 6
2.2.1 Những nghiên cứu về phát triển cây dược diệu 6
2.2.2 Những nghiên cứu về bảo tồn cây dược liệu 11
2.3 Những nghiên cứu về loài Thảo quả 14
2.3.1 Những nghiên cứu về thảo quả trên thế giới 14
2.3.2 Những nghiên cứu về thảo quả ở Việt Nam 17
2.3.3 Những nghiên cứu về cây dược liệu và thảo quả ở Hà Giang 20
2.4 Khái quát đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 25
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Nội dung nghiên cứu 27
3.3 Phương pháp nghiên cứu 27
Trang 83.3.1 Phương pháp tiếp cận 27
3.3.2 Phương pháp luận 29
3.3.3 Phương pháp điều tra thực địa 29
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 31
Phần 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 32
4.1 Đặc điểm sinh học cây Thảo quả 32
4.1.1 Đặc điểm hình thái loài thảo quả 32
4.2 Đặc điểm sinh thái của cây Thảo quả tại huyện Vị Xuyên, Hà giang 35
4.2.1 Đặc điểm phân bố theo tuyến 35
4.2.2 Đặc điểm phân bố theo đai cao 36
4.2.3 Đặc điểm phân bố theo vị trí 37
4.2.4 Đặc điểm khí hậu nơi cây Thảo quả sinh sống 38
4.2.5 Các dạng sinh cảnh nơi cây Thảo quả phân bố 39
4.2.6 Đặc điểm phẫu diện đất dưới tán rừng nơi có cây Thảo quả phân bố 39
4.3 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển cây Thảo quả tại địa phương 41
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của vấn đề
Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới phía Bắc của Tổ quốc, với tổng diện tích tự nhiên là 7.914,8 km2, trong đó đất lâm nghiệp có rừng là 437.217,9 ha, chủ yếu là rừng tự nhiên Do đặc thù về điều kiện địa hình với dải núi cao Tây Côn Lĩnh và Cao nguyên Đồng Văn đã tạo nên địa hình cao dần về phía Tây Bắc, thấp dần về phía Đông Nam và chia thành 3 tiểu vùng mang đặc điểm khác nhau Vùng núi đất phía Tây gồm 2 huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần và vùng núi cao phía bắc gồm 4 huyện: Đồng Văn, Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc với kiểu thời tiết á nhiệt đới và ôn đới, rất phù hợp cho đầu tư phát triển cây dược liệu mang lại giá trị kinh tế cao Tiểu vùng thấp bao gồm thành phố
Hà Giang và các huyện còn lại có thể phát triển cây dược liệu ngắn ngày và cây thân gỗ đa tác dụng (Quế, Hồi ) làm sản phẩm hàng hóa
Đồng thời, Hà Giang có vị trí địa lý thuận lợi; tiếp giáp với tỉnh Vân Nam là nơi nuôi, trồng và chế biến dược liệu hàng đầu của Trung Quốc nên rất thuận tiện trong việc giao lưu trao đổi hàng hóa và kinh nghiệm sản xuất với nước bạn Nhờ hệ thống giao thông tương đối phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút khách du lịch đến các địa điểm nổi tiếng như vùng cao nguyên đá Đồng Văn, vùng du lịch sinh thái Hoàng Su Phì, Xín Mần vv; kết hợp với giao lưu văn hóa chăm sóc sức khỏe và tiêu thụ sản phẩm dược liệu Ngoài ra, tỉnh Hà Giang đã có chủ trương về việc xây dựng phát triển sản xuất dược liệu trở thành ngành sản xuất hàng hóa mũi nhọn; là trung tâm cây dược liệu của cả nước; là cây trồng không những xóa đói giảm nghèo mà tiến tới làm giàu cho người dân địa phương Cùng với sự hỗ trợ của nhà nước, bước đầu tỉnh đã có những chính sách thu hút đầu tư, hỗ trợ cho cải tạo, trồng mới và phát triển cây Thảo quả trên địa bàn
Thảo quả loài dược liệu bản địa có giá trị kinh tế cao của tỉnh Hà Giang
Trang 10Thảo quả đang được nuôi trồng quy mô hàng chục nghìn ha, góp phần phát triển kinh tế cải thiện đời sống đồng bào của tỉnh Hà Giang Tuy nhiên cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về bảo tồn, phát triển nguồn gen của loài này Nguồn giống chưa được tuyển chọn, chủ yếu nguồn giống tạp cho nên năng suất, chất lượng còn chưa cao Hiện nay, ở nước ta các loài cây dược liệu chủ yếu được nhân giống bằng hom, hoặc hạt theo kỹ thuật nhân giống truyền thống Nhân giống cây trồng bằng nuôi cấy mô chưa triển khai rộng rãi
do đòi hỏi công nghệ cao, chi phí lớn Trong khi nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô có ưu điểm vượt trội hơn hẳn phương pháp truyền thống Với nhu cầu về nguồn dược liệu lớn như hiện nay thì các phương pháp nhân giống thủ công khó có thể đáp ứng được nguồn giống để cung cấp cho sản xuất thương mại theo chuỗi hàng hóa
Xuất phát từ những thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đặc điểm sinh học và sinh thái của loài Thảo quả làm cơ sở cho việc nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb) có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Hà Giang.”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các đặc điểm sinh học loài Thảo quả tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Xác định được các đặc điểm sinh thái loài Thảo quả tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững loài Thảo quả
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn và vận dụng vào thực tế sản xuất
- Cung cấp thông tin về các đặc điểm sinh học, sinh thái của cây Thảo quả
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Những nghiên cứu về dược liệu trên thế giới
2.1.1 Những nghiên cứu về phát triển cây dược diệu
Cây cỏ trong thiên nhiên có rất nhiều tác dụng tốt cho sức khoẻ của con người Để có cơ sở khoa học cho việc thu hái và sử dụng các loài cây thuốc này, các nhà khoa hoc trên Thế giới dã có những công trình nghiên cứu về cây thuốc vô cùng to lớn và hữu ích
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô (cũ) đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả A.I.Ermakov, V.V.Arasimovich, M.I.Smirnova-Iconikova… đã nghiên cứu thành công công trình “Phương pháp nghiên cứu hoá sinh – sinh lý cây thuốc“ Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammerman, M.D.Choupinxkaia và A.A.Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N.G.Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách "Chữa bệnh bằng cây thuốc" tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loài cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn
James A.Dule- nhà dược lý học người Mỹ- đã có nhiều đóng góp cho tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loài cây thuốc
Trên thế giới, nghiên cứu về cây thuốc có nhiều thành công và quy mô rộng lớn phải kể đến Trung Quốc Có thể khẳng định Trung Quốc là quốc gia
đi dầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ 16 Lý Thời
Trang 12Trân đã đưa ra "Bản thảo cương mục" sau đó đến năm 1955 cuốn bản thảo này đã được in ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa tới cho người cách sử dụng các loài cây cỏ để chữa bệnh Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình "Dược dụng thực vật cập sinh lý học" Cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loài cây thuốc, tác dụng sinh lý sinh hoá của chúng, công dụng cách phối hợp các loài cây thuốc để có một thang thuốc chữa bệnh Ngoài ra còn có tuyển tập các loài cây thuốc theo từng địa phương như "Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí", "Giang Tô trung dược danh thực đồ khảo", "Quảng Tây trung dược trí"…
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số tại các quốc gia đang phát triển chăm sóc sức khỏe bằng các thuốc y học cổ truyền Ở Trung Quốc doanh số thị trường thuốc từ dược liệu đạt 26 tỷ USD (2008, tăng trưởng hàng năm đạt trên 20%), Mỹ đạt 17 tỷ USD (2004), Nhật Bản đạt 1,1
tỷ USD (2006), Hàn Quốc 250 triệu USD (2007), châu Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004) Tính trên toàn thế giới, hàng năm, doanh thu thuốc từ dược liệu ước đạt khoảng trên 80 tỷ USD
Dược liệu có giá trị kinh tế to lớn hơn bất kỳ cây lương thực, thực phẩm nào Theo thống kê của WHO, những năm gần đây, nhiều công ty, nhà sản xuất đã có hướng đi mới là sản xuất các thuốc bổ trợ, các thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hương liệu… từ dược liệu Chính vì vậy, dược liệu đã và đang mang lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc
Dự báo nhu cầu dược liệu để sản xuất thuốc trong các năm tới sẽ tiếp tục tăng, phù hợp với xu hướng sử dụng thuốc và thực phẩm chức năng có nguồn gốc thiên nhiên trong việc phòng và chữa bệnh ở nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ, các nước EU, … Sử dụng nguồn dược liệu để chiết xuất các hoạt chất mới tạo ra những thuốc mới với chi phí nghiên
Trang 13cứu phát triển kinh tế hơn rất nhiều so với việc nghiên cứu bào chế thành công một thuốc hóa dược mới (WHO, 2010)
Nhận thức được tầm quan trọng của dược liệu, Hội nghị môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (UNCED) năm 1992 đã thông qua Chương trình nghị sự 21 đã xác định vài trò quan trọng của cây dược liệu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và là nguồn nuôi sống người dân miền núi Do đó các tổ chức thế giới như FAO, UNCED, WB, … đã xây dựng nhiều chương trình, giúp các nước bảo tồn, nuôi trồng và khai thác cây dược liệu theo hướng phát triển bền vững, tạo nguồn thu nhập, nâng cao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi
Từ những nhận thức về tầm quan trọng của dược liệu, Chiến lược bảo tồn, khai thác và phát triển cây cây dược liệu đã được thực hiện ở nhiều Quốc gia (FAO, 2000) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vần để cần giải quyết như nguồn gen chưa được đánh giá, tuyển chọn, thiếu quy trình công nghệ nhân giống hiệu quả; quy trình nhân giống còn ở quy mô nhỏ; thiếu quy trình nuôi trồng hoặc quy trình công nghệ sản xuất ở quy mô nhỏ, thiếu nguồn cây giống, hạt giống tốt
2.1.2 Những nghiên cứu về bảo tồn cây dược liệu
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe con người, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là một vấn đề cấp thiết Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền
đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc
Trên thế giới, nghiên cứu về cây thuốc có nhiều thành công và quy mô rộng phải kể đến Trung Quốc Có thể khẳng định Trung Quốc là quốc gia đi
Trang 14đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ 16 Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này đã được in
ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa tới cho người cách sử dụng các loại cây cỏ
để chữa bệnh Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” Cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, sinh hoá của chúng, công dụng, cách phối hợp các loài cây thuốc theo từng địa phương như
“Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược danh thực đồ
khảo”, “Quảng Tây trung dược trí” (Dẫn theo Trần Hồng Hạnh, 1996)
Theo ước tính của Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hoá Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược
35.000-liệu hoặc qua các chất chiết xuất từ dược 35.000-liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006)
2.2 Những nghiên cứu về dược liệu ở Việt Nam
2.2.1 Những nghiên cứu về phát triển cây dược diệu
Theo kết quả điều tra đánh giá tại một số vùng trong cả nước, nuôi trồng sản xuất dược liệu nói chung, cây thuốc nói riêng có thể thu nhận trên
100 triệu đồng/ha Phát triển trồng cây thuốc đã giúp cho nhiều vùng nông thôn, miền núi xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội
và bảo vệ môi trường Cây thuốc tồn tại cùng với thế hệ sinh thái rừng, nông nghiệp và nông thôn, lại có mối tương quan chặt chẽ giữa đa dạng sinh học cây thuốc và đa dạng văn hóa, y học cổ truyền, là nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Trang 15Vai trò của cây thuốc trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và đem lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân là điều không thể phủ nhận, nhưng việc sử dụng nguồn nguyên liệu này hiện nay có rất nhiều vấn đề báo động Theo ước tính, nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc thảo mộc được sử dụng hàng năm tại cộng đồng, tại các cơ sở y tế, phòng khám đông y, sản xuất và kinh doanh .khoảng 50.000 tấn/năm thì 1/3 nguyên liệu do thu hái và khai thác tự nhiên, 1/3 do trồng trọt và còn lại do nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc , Đài Loan , Hồng Công Thực trạng của nguyên liệu này hiện nay : (i) Đối với nguyên liệu tự nhiên, mọc hoang dại vấn đề khai thác quá mức, không có sự kiểm soát của các cấp các ngành đã làm cho không phát triển và bảo tồn bền vững được (ii) Đối với nguồn nguyên liệu được trồng trọt tại các khu vực, làng nghề truyền thống như Thanh Trì, Ninh Hiệp (Gia Lâm), Nghĩa Trai (Hưng Yên), Lục Yên (Yên Bái), Trà My (Quảng Nam), Núi Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Sa Pa (Lào Cai) , Sìn Hồ (Lai Châu) , Đà Lạt (Lâm Đồng) do không có kế hoạch điều tiết nên việc trồng trọt biến thiên tăng, giảm thất th-ường theo cơ chế thị trường, có khi đột biến về giá cả tăng gấp hai, ba chục lần vì trồng ít mà nhu cầu sử dụng và xuất khẩu tăng dẫn đến việc tư thương làm hàng giả để chạy theo lợi nhuận, dẫn đến chất lượng dược liệu giảm và không an toàn cho người sử dụng, hay có khi bị mất mối nhập khẩu nguyên liệu (ví dụ như: Quế, Sả) thì người dân lại phá đi một diện tích lớn cây thuốc
đã đựơc trồng lâu đời vì ế không có ai mua (iii) Đối với dược liệu nhập từ Trung Quốc hay còn gọi là thuốc bắc thì tình hình còn tồi tệ hơn Dường như việc nhập các vị thuốc bắc qua biên giới Trung Quốc và Việt Nam, Nhà nước chỉ coi là một loại hàng hóa bình thường như đồ gia dụng, chứ không tính đến
đó là một sản phẩm đặc biệt, đó là thuốc ảnh hưởng đến tính mệnh của con người Theo đánh giá của các nhà kiểm nghiệm dược liệu thì trên thị trường thuốc đông dược (nguyên liệu thô) hiện nay có rất nhiều vị dược liệu chỉ là hàng trung phẩm hay thứ phẩm của Trung Quốc được bán sang Việt Nam và
Trang 16do thiếu nguyên liệu nên rất nhiều dược liệu bị dùng thay thế bởi các nguyên liệu rẻ tiền hơn, chất lượng kém hơn Ví dụ như vị Hoài sơn, dược liệu là rễ của cây củ mài nhưng hiện nay trên thị trường chỉ có củ cọc, củ mỡ được bán dưới tên là Hoài sơn Hay vị thuốc Đan sâm, nếu mua ở phố Lãn Ông các thời
kỳ khác nhau thì nguyên liệu hoàn toàn khác nhau, có những đợt nguyên liệu được nhuộm màu đỏ để có màu nâu đỏ tự nhiên của vị Đan sâm, nhưng khi dùng rửa nước thì màu đỏ này thôi ra và dược liệu không có vỏ màu đỏ nữa
Một số đề tài dự án các cấp nhân giống và nuôi trồng thử nghiệm một
số cây dược liệu đã được tiến hành ở nước ta, như dự án: “Hoàn thiện quy
trình nhân giống và trồng thử nghiệm cây dược liệu Hà thủ ô đỏ (Polygonum
multiflorum), cây Thảo quả(Anoetochilus) tại Phú Yên” giai đoạn 2014-2016
Dự án: “Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện quy trình nhân giống một số loài dược liệu và xây dựng mô hình sản xuất giống để xây dựng vùng trồng dược liệu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” giai đoạn 2015-2017.Dự án: “Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật nhân giống Thảo
quả(Anoectochilus setaceus) và Lan Thạch hộc tía (Dendrobium officinale
Kimura et Migo) tại Hải Phòng” giai đoạn 2016-2018 Một số nhiệm vụ khai thác phát triển nguồn gen cây Khôi tía, Hà thủ ô đỏ, Đẳng sâm, Đinh lăng, Hoàng tinh hoa đỏ, Hoàng tinh hoa trắng, v.v Các Nhiệm vụ này tập trung vào xây dựng được quy trình nhân giống bằng giâm hom hoặc sản xuất cây giống từ hạt, xây dựng mô hình trồng, thu hái và sơ chế, chế biến Nhìn chung, các Nhiệm vụ đã được thực hiện chưa quan tâm đến tuyển chọn, chọn lọc nguồn gen tốt có năng suất, chất lượng cao, xây dựng vườn giống gốc tại vùng sinh thái bản địa để cung cấp nguồn giống chất lượng cao cho sản xuất tại vùng miền núi nước ta Vì vậy, các Nhiệm vụ sau khi kết thúc, nguồn gen
đã bị thất thoát, chết dần do không được bảo tồn trong vườn giống, phát triển nhân giống và mở rộng vùng sản xuất sau đó Đồng thời các Nhiệm vụ chưa đầu tư cho xây dựng quy trình nhân giống ở quy mô công nghiệp, sử dụng giá
Trang 17thể siêu nhẹ, giúp cho cây giống có tỷ lệ sống cao Nguồn giống cung cấp cho sản xuất còn hạn chế, chưa ban hành được tiêu chuẩn cây giống và giống gốc cho các loài cây dược liệu
Hiện nay trên địa bàn các tỉnh miền núi có các Trung tâm nhân giống
và nuôi trồng một số cây dược liệu Để phát triển cây dược liệu có giá trị kinh
tế cao với quy mô lớn, không chỉ cần nguồn giống chất lượng cao, mà cả số lượng lớn cho nuôi trồng Nhu cầu về giống cây dược liệu trên địa bàn các tỉnh là rất lớn, trong khi khả năng sản xuất và cung ứng cây giống còn rất hạn chế, chủ yếu là sản xuất theo phương pháp truyền thống và nhập khẩu giống Quy trình trồng trọt và thu hái chưa hoàn chỉnh
Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ rất lâu đời Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc kiếm tìm thức ăn có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc đi ỉa lỏng có khi dẫn đến chết người Do đó dần dần có kinh nghiệm phân biệt cây nào sử dụng được cây nào không sử dụng được
Từ đó con người đã biết lợi dụng cây cỏ để làm thuốc chữa bệnh Nên có thể khẳng định việc phát hiện ra cây thuốc có từ rất lâu đời, qua thời gian con người mới biết tổng kết và đặt ra nguyên tắc sử dụng
Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về cây thuốc như công trình nghiên cứu thu thập các loài cây thuốc của G.S Đỗ Tất Lợi Công trình này đã nghiên cứu tỷ mỉ về từng loại cây thuốc vai trò, tác dụng, dạng sống Cuốn sách này đã giúp cho nhiều người quan tâm tới cây thuốc có thể tra, xem một cách dễ dàng
Nghiên cứu của tác giả Trần Khắc Bảo (2002) đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như diện tích rừng bị thu hẹp chất lượng rừng suy thoái Hay quản lý rừng còn nhiều bất cập chồng chéo, kém hiệu quả Theo đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái Sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuỵêt chủng) và sự đa
Trang 18dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức y học cổ truyền và y học dân giã gắn với sử dụng bền vững và phát triển cây thuốc
Khi nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ tại Vườn quốc gia Hoàng Liên tác giả Ninh Khắc Bản (2003)
đã thống kế được 29 loài cây dùng làm thuốc và cây lấy tinh dầu Trong đó tác giả đã lựa chọn được một số loài có triển vọng để đưa vào phát triển như: Thảo quả, Thiên niên kiện, Xuyên khung
Theo Ninh Khắc Bản (2003) khi điều tra về nguồn thực vật phi gỗ tại Hương Sơn- Hà Tĩnh bước đầu đã xây dựng được khoảng 300 loài cây có thể
sử dụng để làm thuốc Tuy nhiên trong quá trình điều tra thấy có khoảng 25 loài cây được sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Thạch xương bồ, Ngũ gia bì, Sa nhân
Năm 2006, Lê Thị Diên và nghiên cứu kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam dưới tán rừng tự nhiên trong bối cảnh nguồn tài nguyên dược liệu thiên nhiên đang bị khai thác cạn kiệt cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dược liệu do chính người dân sống gần rừng thực hiện nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này trong tương lai
Kỹ thuật tạo cây con và gây trồng các loài cây Bách bệnh, Bình vôi, Bồng Bồng, Lá khôi, Vàng đắng đã được người dân tại thôn Hà An áp dụng rộng rãi Các cây thuốc nam được gây trồng có tỷ lệ sống cao, sức sinh trưởng tốt, hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể vào nguồn thu nhập cho các hộ gia đình tham gia gây trồng Công trình nghiên cứu này nhằm cung cấp kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam được người dân sử dụng nhiều dựa trên kinh nghiệm của họ kết hợp với những thử nghiệm từ đề tài để phát triển cây thuốc
nam tại thôn Hà An (Lê Thị Diên, 2006)
Khi nghiên cứu về trồng cây nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình và cs đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới
Trang 19tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình nhận khoán, bảo
vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa
nhân, Thảo quả, Trám trắng, Mây nếp,… (Nguyễn Ngọc Bình, 2000)
2.2.2 Những nghiên cứu về bảo tồn cây dược liệu
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về cây dược liệu trong khu vực Đông Nam Á Điều này thể hiện ở sự đa dạng về chủng loại cây dược liệu (trong số hơn 12.000 loài thực vật Việt Nam thì có gần 4.000 loài cho công dụng làm thuốc), vùng phân bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới Mặc dù có tiềm năng to lớn, song công cuộc bảo tồn và phát triển các cây dược liệu cũng đang gặp phải một số hạn chế, khó khăn Hà Giang có trên 1.100 loài cây dược liệu quý hiếm khác nhau Các loài dược liệu sống chủ yếu ở độ cao từ 1.000 - 1.600m so với mực nước biển Các loài cây dược liệu đang có thị trường tiêu thụ lớn song chưa đáp ứng đủ Nguồn nguyên liệu hiện nay chủ yếu khai thác
từ tự nhiên Hầu hết các loài cần được bảo tồn, nuôi trồng, song gặp nhiều khó khăn về nguồn giống, công nghệ nuôi trồng Do đó, công tác phát triển nguồn gen gặp nhiều khó khăn
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam rừng nhiệt đới ở địa hình thấp không còn nguyên vẹn nữa vì phần lớn các khu rừng thấp này đã bị biến đổi do các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và định cư, làm cho sự giàu có vốn có về tài nguyên sinh học ở đây đã bị suy thoái nghiêm trọng Cũng vì thế mà các khu rừng nguyên sinh phần lớn chỉ còn sót lại ở các vùng núi cao, những nơi hiểm trở Đó là những nơi cư trú cuối cùng của các loài đặc hữu và các loài có nguy cơ bị tiêu diệt
Nguyên nhân gây nên sự suy giảm tài nguyên rừng, nhất là các loài dược liệu ở Việt Nam cũng đúng như hầu hết các nước khác trên thế giới: đó
là sự mâu thuẫn giữa cung và cầu Tài nguyên thiên nhiên thì có hạn mà nhu
Trang 20cầu của nhân dân thì ngày càng tăng, một mặt là để đáp ứng cuộc sống cho sô dân tăng thêm một cách nhanh chóng, mặt khác là mức độ tiêu dùng của người dân cũng tăng thêm không ngừng
Việc nối lại thông thương qua biên giới với Trung Quốc đã gây những sức ép mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên Giá của nhiều thú hoang đã tăng lên 5 đến 10 lần Vì nhu cầu của Trung Quốc về các tài nguyên rừng, đặc biệt là thú rừng và cây thuốc là rất lớn và hầu như không bao giờ được thoả mãn, nên các loài đang bị khai thác một cách không bền vững và triến vọng bảo vệ tính đa dạng sinh học về lâu dài là không thuận lợi Về mặt tích cực, các cơ hội để xuất khẩu hoa quả, sản phẩm gỗ và gia súc vùng cao sang Trung Quốc có thể rất lớn Nếu điều kiện chuyên trở được cải thiện và sự kiểm soát hành chính bị nơi lỏng, việc buôn bán qua biên giới có thể trở thành nguồn ảnh hưởng chính đến tài nguyên trong vùng
Theo “Nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở vườn quốc gia Bạch Mã, do tác giả Trần Thiện An (Vườn quốc gia Bạch Mã) Trần Khắc Bảo (Viện dược liệu) đã cho chúng ta có thêm một số kết quả về nguồn tự nhiên cây thuốc như sau: Qua nghiên cứu ở cộng đồng dân cư sống trong vùng đệm vườn quốc gia Bạch Mã đã thống kê được 520 loài cây cỏ sử dụng làm thuốc (thuộc 127 họ)
Có 26 loài được đưa vào sách đỏ Việt Nam như các loài quý hiếm bị đe doạ tuyệt chủng Trong đó có tới 13 loài có giá trị sử dụng lớn và thường bị người dân khai thác vì lợi ích kinh tế
Đề tài nghiên cứu bảo tồn cây thuốc dân tộc khu vực Sapa- Lào Cai do hai tác giả Lưu Đàm Cư (Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật) và Trần Khắc Bảo (Viện dược liệu) tiến hành đã thu được một số kết quả Qua điều tra cho thấy cây thuốc xuất hiện ở các dạng mô hình bảo tồn như sau: Mô hình bảo tồn vườn rừng trong nguyên sinh núi cao; Mô hình bảo tồn tại núi Hàm Rồng;
Mô hình vườn rừng ở độ cao >1500m; Khu bảo tồn tại sườn núi đá nơi tại xã
xã Sa Pa [18] Qua việc phân khu đối với việc bảo tồn cây thuốc là cơ sở
Trang 21cho việc bảo vệ và trồng mới các loại cây thuốc cho phù hợp với điều kiện của từng khu vực
Nguyễn Tập và cs đã tiến hành khảo sát, thu thập các loài cần được ưu tiên bảo tồn, dựa trên các tiêu chí: loài có ranh giới, phạm vi phân bố hẹp và
số lượng cá thể ít hoặc loài tiêu biểu cho một dòng tiến hóa, có mức độ khác biệt cao về di truyền Trong số 134 loài được coi là có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta, nhóm nghiên cứu đã phân cấp mức độ ưu tiên theo ba nhóm Nhóm cực kỳ nguy cấp (CR) có 18 loài như: Ba gạc hoa đỏ, Sâm vũ điệp, Bình vôi, Hoàng liên Nhóm nguy cấp (EN) có 42 loài Đa số các loài như sâm Ngọc Linh, Mã đâu linh, Hoàng tinh vòng vốn không thật hiếm song đã bị khai thác kiệt quệ, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời chúng sẽ chuyển sang nhóm cực kỳ nguy cấp 74 loài còn lại được xếp ở dạng sẽ bị nguy cấp (VU) đó là các loài vốn phân bố phổ biến nhưng bị khai thác tàn phá đến mức
nghiêm trọng như Hà thủ ô đỏ, Đẳng sâm (Viện Dược liệu, 2002)
Từ nhiều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập hơn 500 loài cây thuốc đem về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến thuốc Hà Nội (Thanh Trì), Vườn trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn - Hà Giang) Các vườn thuốc này có đủ điều kiện giống như điều kiện sống tự nhiên của chúng và lý lịch thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa - quả được ghi lại để đánh giá khả năng bảo
tồn (Lê Văn Giỏi, 2006)
Theo Nguyễn Văn Tập, để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường bảo tồn cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy thì
Trang 22các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng, đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm thuốc ngay tại các vùng phân bố vốn có
của chúng (Nguyễn Văn Tập, 2005)
Theo Nguyễn Văn Tập trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và
307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó, trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua, cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam
đã bị giảm sút nghiêm trọng
2.3 Những nghiên cứu về loài Thảo quả
2.3.1 Những nghiên cứu về thảo quả trên thế giới
Năm 1968, một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc
đã xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc” Cuốn sách đã đề cập đến cây thảo quả với một số nội dung chủ yếu sau:
- Phân loại thảo quả: gồm có tên khoa học (Amomum tsao-ko Crevost Lemaire), tên họ (Zingiberceae)
- Hình thái: dạng sống, thân, gốc, rễ, lá, hoa, quả
- Vùng phân bố ở Trung Quốc
- Đặc điểm sinh thái: khí hậu và đất đai
- Kỹ thuật trồng: nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại
- Thu hoạch và chế biến, phẩm chất quy cách, bao gói, bảo quản
- Công dụng: dùng làm thuốc trị các bệnh đường ruột
Trang 23Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đã giới thiệu một cách tổng quát và có hệ thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, kỹ thuật gây
trồng, thu hái chế biến và bảo quản (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Năm 1992, J.H de Beer - một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới – khi nghiên cứu về vai trò và thị trường của lâm sản ngoài
gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm xoá đói giảm nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội vùng núi và bảo tồn phát triển tài nguyên rừng Về nhu cầu thị trường của thảo quả là rất lớn, chỉ tính riêng ở Lào, hàng năm xuất khẩu khoảng 400 tấn sang Trung Quốc và Thái Lan Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về vai trò thảo quả đối với con người, xã hội cũng như tình hình sản xuất buôn bán và dự báo thị trường, tiềm
năng phát triển của thảo quả (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Năm 1996, Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc ở Trung Quốc, một trong số đó là thảo quả Nội dung đề cập là: Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và
thành phần hoá học của thảo quả (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.S
de Padua, N Bunyapraphatsara và R.H.M.J Lemmens đã tổng kết các nghiên
cứu về các cây thuộc chi Amomum trong đó có thảo quả Ở đây tác giả đề cập
đến đặc điểm phân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và
buôn bán thảo quả trên thế giới (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Thảo quả dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách ẩm thiện chính yếu, là quả chín phơi hay sấy khô của cây Thảo quả, tên thực vật là Amomum
Trang 24Tsao-Ko Crevost et Lemaire thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) Thảo quả được trồng và mọc hoang ở những vùng khí hậu mát ở miền Bắc nước ta như Hoàng liên sơn, Hà Giang, Tây Bắc ở Trung quốc Thảo quả có mọc ở các tỉnh Vân nam, Quảng tây, Quí châu Thảo quả có nguồn gốc ở các tỉnh phía nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông), là một loài cây đặc sản đã được gây trồng từ hàng trăm năm trước đây ở Trung Quốc Thảo quả được coi là một trong những vị thuốc quý của Trung Quốc Trong mỗi vị thuốc bổ của người Trung Quốc không thể thiếu thảo quả, thảo quả còn là hương vị cho các món ăn đặc sản của dân tộc Trung Quốc cũng như ở Việt Nam
Thảo quả: có tên khoa học là Amomum aromaticum Roxb, tên gọi
khác là Cardamomum aromaticum (Roxb.) Kuntze, Amomum tsaoko Crévost
& Lemarie thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) Cây Thảo quả được phân bố ở Ấn
Độ, Nê pan, Nam Trung Quốc, Campuchia Ở Ấn Độ, hạt và dầu được dùng
như loài Amomum subulatum Roxb để làm thuốc lợi tiêu hóa, dùng chữa đau
thần kinh, dùng trong bệnh lậu như kích dục và giải độc khi bò cạp đốt hoặc rắn cắn Dầu hạt thơm, kích thích, lợi tiêu hóa và dùng đắp lên mí mắt để tiêu viêm Ở Trung Quốc, Thảo quả được dùng chữa ho, đau ngực có đờm loãng, bụng dạ lạnh đau, tỳ hư ỉa chảy, và sốt rét
Thảo quả dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách ẩm thiện chính yếu, là quả chín phơi hay sấy khô của cây Thảo quả thuộc họ Gừng (Zingiberaceae)
Thảo quả có nguồn gốc ở các tỉnh phía nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông), là một loài cây đặc sản đã được gây trồng từ hàng trăm năm trước đây ở Trung Quốc Thảo quả được coi là một trong những vị thuốc quý của Trung Quốc Trong mỗi vị thuốc bổ của người Trung Quốc không thể thiếu thảo quả, thảo quả còn là hương vị cho các món ăn đặc sản của dân tộc Trung Quốc cũng như ở Việt Nam
Trang 25Nhân giống Thảo quả có thể thực hiện bằng phương pháp giâm hom, hữu tính bằng hạt, hoặc nuôi cấy mô tế bào Trên thế giới có một số công
trình nghiên cứu bảo tồn và nhân giống in vitro chi Amomum Sajina et al., (1997) đã nhân giống Amomum subulatum Roxb, đây là loài cây có giá trị kinh tế quan trọng nhất ở Bengal - Ấn Độ Amomum tsao-ko Crevost et Lemaire Hongdong (2006) đã được nhân giống nuôi cấy mô in vitro từ chồi
đỉnh Môi trường thích hợp cho nhân chồi là MS+BA 6 mg/L+NAA 0.1 mg/L+TDZ 0.05 mg/L (hệ số nhân đạt 2.34 lần) Môi trường ra rễ là môi trường 1/2MS+IBA 0.2 mg/L hoặc 1/2MS+NAA 0.2 mg/l Nói chung, các công trình nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và phát triển nguồn gen về thảo quả chủ yếu được công bố bởi các nhà khoa học Trung Quốc và Ấn Độ
2.3.2 Những nghiên cứu về thảo quả ở Việt Nam
Trước những giá trị của cây Thảo quả, từ năm 2004, các nhà khoa học
ở Phòng nghiên cứu tài nguyên thực vật rừng (Viện khoa học Lâm nghiệp) đã bắt tay vào xây dựng kỹ thuật trồng Thảo quả dười tán rừng Theo đánh giá của Phòng nghiên cứu tài nguyên thực vật rừng, Thảo quả là cây cung cấp một lượng hạt khá quý hiếm Hạt Thảo quả có hàm lượng tinh dầu từ 1 - 1,5%, màu vàng nhạt, mùi thơm, vị ngọt, nóng cay dùng làm gia vị thực phẩm Đặc biệt, Thảo quả là một loại dược liệu dùng làm thuốc để chữa trị bệnh đau bụng, đầy trướng, đau ngực, sốt rét Nếu xét về mặt giá trị và hiệu quả kinh tế, Thảo quả có ưu điểm vượt trội so hơn hẳn so với nhiều loài cây trồng khác Vì Thảo quả là cây lâu năm, trồng một lần thu hoạch nhiều lần và thu hoạch hàng năm nên đầu tư cho tái tạo lại rừng trồng Thảo quả là rất thấp
Vì thế, sau khi đã xây dựng hoàn chỉnh kỹ thuật trồng Thảo quả, hiện các nhà khoa học ở Viện khoa học Lâm nghiệp đang đề nghị lên Bộ NN&PTNT nên
mở rộng diện tích trồng Thảo quả ra các tỉnh khác như: Lâm Đồng, Đắc Nông
và Kon Tum Đây là những nơi có điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với cây Thảo quả
Trang 26Trong những năm gần đây, Thảo quả đã trở thành mặt hàng xuất khẩu
có giá trị đem lại lợi ích kinh tế cao cho người lao động Lợi dụng thế mạnh
do diện tích rừng nguyên sinh khá phong phú, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp nên huyện Bát Xát - Lào Cai đã đẩy mạnh công tác gây trồng và phát triển cây Thảo quả Cụ thể trong những năm qua, toàn huyện đã gây trồng được 1576,57ha Thảo quả (năm 2007), góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho đồng bào trong khu vực
Từ năm 1994 trở lại đây, Thảo quả bắt đầu được thu mua và xuất khẩu sang Trung Quốc nên đồng bào trong huyện đã chuyển hướng từ canh tác cây lương thực (ngô, lúa nương, sắn, ) sang trồng cây Thảo quả Loại cây này vốn được đồng bào trồng từ lâu nhưng do giá trị thấp nên không được chú trọng phát triển Khi kinh tế thị trường mở cửa, Thảo quả bán được giá nên địa phương đã khuyến khích, vận động và hỗ trợ nhân dân nhanh chóng phát triển diện tích và coi đây là cây trồng mũi nhọn đối với đồng bào dân tộc vùng cao
Nhờ chuyển dịch cơ cấu cây trồng mà các xã biên giới của huyện Bát Xát đã đẩy lùi được đói nghèo, góp phần quan trọng vào sự nghiệp kinh kế -
xã hội của tỉnh Lào Cai Tuy nhiên, chính quyền địa phương và cán bộ kỹ thuật cũng phải cần có những biện pháp hướng dẫn người dân về kỹ thuật trồng, chăm sóc và chế biến Tránh tình trạng chặt phá rừng bừa bãi lấy củi làm chất đốt để sấy sản phẩm, đồng thời cần phải giữ lớp cây tái sinh của các cây gỗ lớn để có lớp cây kế cận tạo điều kiện cho Thảo quả phát triển lâu dài
Ở Cao Bằng, thảo quả chỉ có tại 2 xã Phan Thanh, Quang Thành của huyện Nguyên Bình và được coi là một trong những cây “xóa đói giảm nghèo” tiềm năng của địa phương ở Lũng Cam xã Quang Thành, và một số nơi khác trong huyện Nguyên Bình, thảo quả được phát hiện dưới dạng tự nhiên Trước đây, người dân thấy thị trường có nhu cầu đã khai thác mang đi bán Được giá, lại không bị ai quản lý nên hạt thảo quả được khai thác một
Trang 27cách tự do Từ đó bãi thảo quả lụi dần, kém chất lượng Nhận thấy đây là một loại cây đem lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định, có khả năng làm chuyển dịch
cơ cấu cây trồng và xóa đói giảm nghèo tại địa phương, huyện Nguyên Bình
đã tiến hành xây dựng quy hoạch vùng trồng và thí điểm triển khai thực hiện
từ năm 2004 tại 4 xóm: Tài Xoỏng (xã Phan Thanh) và Nà Pùng, Cốc Bó, Lũng Mười (xã Quang Thành) Đến năm 2006, toàn huyện đã trồng được gần
40 ha với 90 hộ tham gia Qua nghiên cứu, chỉ có một số nơi vùng cao trong huyện Nguyên Bình mới thích hợp trồng loại cây này Nếu trồng ở những nơi khác thì cây vẫn phát triển tốt nhưng không ra quả (Theo báo Hà Nội mới Online, ngày 19/8/2006)
Xã Dào Dan, huyện Phong Thổ, Lai Châu có 15 bản với gần 6000 nhân khẩu gồm các dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Kinh sinh sống Hiện nay có tới 95% dân số ở Dào San sống bằng nghề trồng thảo quả Chính người dân ở đây
họ cũng không biết ai đã đưa giống cây thảo quả về trồng trên những cánh rừng này Chỉ biết rằng từ xa xưa trong tín ngưỡng của người Mông đã có truyền thống thờ “Dược Vương”, và cây thảo quả bây giờ chính là “Dược Vương”, đưa đồng bào Mông nói riêng và các dân tộc anh em khác ở nơi đây tới no ấm, hạnh phúc (Đèo Thị Tuyết Nhung – Báo điện tử dân tộc và phát triển 21/10/2005)
Khi đánh giá khả năng phát triển các loài cây thuốc tại huyện Sa Pa - tỉnh Lào Cai, tác giả Hoàng Văn Thắng và cộng sự cho biết số hộ trồng cây Thảo quả là nhiều nhất (chiếm 69,5 %) và diện tích trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên là chủ yếu Diện tích trồng các loài cây thuốc khác rất ít, chủ yếu nằm trong vườn của các hộ gia đình Việc thu hái, chế biến cây thuốc của các hộ gia đình rất đơn giản, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên chất lượng sản phẩm không cao Từ đó tác giả cũng đã đưa ra một số kiến nghị để phát triển loài cây thuốc nói chung và cây Thảo quả nói riêng
Trang 28Vào những năm 1960 đến những năm 1980, một số nhà khoa học khi nghiên cứu về cây thuốc ở nước ta đề cập đến thảo quả Do thảo quả là cây “truyền thống”, có đặc thù riêng khác với một số loài lâm sản ngoài gỗ là có phạm vi phân
bố hẹp, chúng được trồng chủ yếu dưới tán rừng ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang nên các nhà khoa học ít quan tâm Các công trình nghiên cứu
liên quan còn tản mạn (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
Tác giả Phan Văn Thắng, khi nghiên cứu về cây Thảo quả ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã cho rằng: Phát triển cây Thảo quả là hướng đi đúng đắn nhằm nâng cao đời sống cho người dân miền núi nói chung, nhưng các cơ quan liên quan cần nỗ lực nhiều hơn nữa để vừa nâng cao được giá trị kinh tế của cây Thảo quả, vừa bảo vệ được rừng trong tự nhiên Bởi nếu cứ mở rộng diện tích trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên thì hậu quả là rừng tự nhiên
sẽ ngày càng bị tàn phá nghiêm trọng
Năm 1982, Giáo sư Đoàn Thị Nhu công bố kết quả nghiên cứu của mình
về “Bảo vệ, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triển trồng cây thuốc trên rừng ở Việt Nam” Trong đó tác giả kết luận: “Thảo quả
là cây dược liệu quý và thích nghi tốt ở điều kiện dưới tán rừng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về kỹ thuật gây trồng thảo quả dưới tán
rừng” ( Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002)
2.3.3 Những nghiên cứu về cây dược liệu và thảo quả ở Hà Giang
Cây dược liệu đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu ở nước ta Nhiều công trình nghiên cứu đã mô tả các loài cây dược liệu làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay từ những loài dược liệu có sẵn trong tự nhiên Các loài cây dược liệu có giá trị cao đang được gây trồng và phát triển mạnh như Thảo quả, Tam thất, Đẳng sâm, … đang có xu hướng mở rộng diện tích ở nhiều vùng sinh thái trong đó có tỉnh Hà Giang
Nghiên cứu về cây dược liệu tỉnh Hà Giang đã được tiến hành từ những năm 1968 – 1975 (thực hiện chỉ thị 210/TTg – VG của hội đồng chính phủ về