1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tieu luan chinh tri hoc nang cao vận động nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị địa bàn ở các xã đặc biệt khó khăn (tiểu luận cao học)

34 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 220,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC NỘI DUNG Trang PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích, yêu cầu 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu 6. Cơ sở nghiên cứu PHẦN II: NỘI DUNG I. Thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay 1. Thể chế chính trị 2. Khái niệm thể chế chính trị 3. Hệ thống chính trị ở Việt Nam 4. Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta 5. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay II. Tư tưởng công tác dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh 1. Khái niệm Dân vận: 2. Quy trình công tác dân vận: 3. Đối tượng phụ trách dân vận: 4. Thực hiện công tác Dân vận: III. Quan điểm của Đảng ta trong Nghị Quyết Số 25NQTW, ngày 03 tháng 6 năm 2013 hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành TW khoá XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảngđối với công tác dân vận trong tình hình mới IV. Kết quả thực tiễn thực hiện công tác dân vận xây dựng cơ sỏ chính trị địa bàn ở xã Tân Minh, Đông Cửu, Yên Lãng, Yên Sơn của huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ (Từ năm 20112014) 1. Đặc điểm tình hình: 2. Kết quả thực tiễn: V. Những nhiệm vụ và giải pháp 1. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ công tác dân vận 2. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân là bản chất của công tác dân vận 3. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong công tác vận động, tập hợp quần chúng 4. Tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận PHẦN III: KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày 0321930, ngay sau khi Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị Trung ương lần thứ nhất của Ðảng đã họp và thông qua luận cương chính trị, điều lệ Ðảng và Án Nghị quyết về công tác vận động quần chúng nhân dân. Trong Nghị quyết của Trung ương chỉ rõ: Trong các Ðảng bộ (từ tỉnh và thành ủy) phải tổ chức ra các ban chuyên môn về giới vận động để làm công tác vận động và giác ngộ quần chúng đứng lên làm cách mạng. Từ đó, các ban chuyên môn về các giới vận động của Ðảng được thành lập, bao gồm: Công vận, nông vận, thanh vận, phụ vận, quân đội vận và Mặt trận phản đế; ghi dấu ngày ra đời công tác dân vận, mở ra một trang mới trong sự nghiệp công tác dân vận của Ðảng. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Ðảng ta đã đặc biệt quan tâm đến công tác vận động quần chúng. Các phong trào cách mạng như: Xôviết Nghệ Tĩnh (19301931), Mặt trận Dân chủ Ðông Dương (19361939), Phản đế (19391941), Mặt trận Việt Minh (19411945)... đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Ðảng ta trong việc tập hợp, chuẩn bị lực lượng cách mạng để tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính quyền công nông đầu tiên ở Ðông Nam Á. Ngày 3181947, Thường vụ Trung ương Ðảng ra Nghị quyết về xây dựng Ðảng đoàn, các ban chuyên môn, trong đó có Ban Dân vận (ở Trung ương gọi là Bộ Dân vận). Ngày 15101949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài báo Dân vận đăng trên Báo Sự thật, nội dung bài báo được coi là cương lĩnh về công tác dân vận của Ðảng. Chính vì vậy, ngày 14101999, Bộ Chính trị đã quyết định lấy ngày 1510 là Ngày Truyền thống công tác dân vận của Ðảng và cũng từ đó, ngày 1510 hằng năm được lấy làm Ngày Dân vận của cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đầy gian khổ, hy sinh và đã giành được thắng lợi vẻ vang. Trong suốt 30 năm kháng chiến, với tinh thần Không có gì quý hơn độc lập, tự do, công tác dân vận của Ðảng đã góp phần tuyên truyền, vận động, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong nhân dân, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc; góp phần làm nên những chiến công hiển hách, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó cũng là thắng lợi của đường lối mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc theo tư tưởng của Bác Hồ: Vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Ðoàn thể đã giao cho. Ðể thống nhất tư tưởng và phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác dân vận, ngày 2522010, Bộ Chính trị khóa X đã ra Quyết định số 290QÐT.Ư về Ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, xác định rõ tầm quan trọng của công tác dân vận và nội dung, phương thức, trách nhiệm thực hiện công tác dân vận của từng tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong quá trình đổi mới, bên cạnh thời cơ, thuận lợi là cơ bản, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Sự chuyển đổi cơ cấu giai cấp, vấn đề lợi ích, khoảng cách giàu nghèo, một số vấn đề xã hội... đang có sự thay đổi sâu sắc và diễn biến mới, đòi hỏi công tác dân vận phải có sự đổi mới nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 25NQT.Ư ngày 362013 về Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, trong đó bổ sung những quan điểm mới về công tác dân vận. Ðây là dấu mốc có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử công tác dân vận của Ðảng, nhất là đối với quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Ðảng về công tác dân vận hiện nay. 85 năm qua, công tác dân vận của Ðảng đã đạt được những thành tích to lớn, góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Ðảng với nhân dân, giúp cho Ðảng ta tập hợp được sức mạnh của nhân dân để vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược và thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những thành tích to lớn ấy là niềm tự hào, là động lực to lớn, đồng thời cũng đặt ra trách nhiệm nặng nề, đòi hỏi phải tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Ðảng, đáp ứng yêu cầu thời kỳ đất nước hội nhập, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðể không ngừng nâng cao hiệu quả công tác dân vận, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh trong tình hình mới, các cấp ủy đảng, chính quyền tiếp tục triển khai Nghị quyết 25NQT.Ư Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) một cách thiết thực, cụ thể; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và với thực tế công việc tôi đang công tác tại Ban Dân vận Huyện ủy Thanh Sơn, Phú Thọ. Tôi chọn đề tài tiểu luận: “Vận động nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị địa bàn ở các xã đặc biệt khó khăn của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”. Với mục đích xây dựng đảng xây, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh phát triển kinh tếvăn hóaxã hội bền vững.

Trang 1

NỘI DUNG Tran

g PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích, yêu cầu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tượng nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Cơ sở nghiên cứu

PHẦN II: NỘI DUNG

I Thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay

1 Thể chế chính trị

2 Khái niệm thể chế chính trị

3 Hệ thống chính trị ở Việt Nam

4 Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta

5 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội

trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay

II Tư tưởng công tác dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1 Khái niệm Dân vận:

2 Quy trình công tác dân vận:

3 Đối tượng phụ trách dân vận:

4 Thực hiện công tác Dân vận:

III Quan điểm của Đảng ta trong Nghị Quyết Số 25-NQ/TW,

ngày 03 tháng 6 năm 2013 hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành TW khoá

XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảngđối với công tác dân

vận trong tình hình mới

IV Kết quả thực tiễn thực hiện công tác dân vận xây dựng cơ sỏ chính trị

địa bàn ở xã Tân Minh, Đông Cửu, Yên Lãng, Yên Sơn của huyện Thanh Sơn

tỉnh Phú Thọ (Từ năm 2011-2014)

1 Đặc điểm tình hình:

2 Kết quả thực tiễn:

V Những nhiệm vụ và giải pháp

1 Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa - sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ

công tác dân vận

2 Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng mối quan hệ

gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân là bản chất của công tác dân vận

3 Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

trong công tác vận động, tập hợp quần chúng

Trang 2

4 Tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ

Chí Minh về công tác dân vận

PHẦN III: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày 03/2/1930, ngay sau khi Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, tạiHương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị Trung ương lần thứ nhất của Ðảng đã họpvà thông qua luận cương chính trị, điều lệ Ðảng và Án Nghị quyết về công tácvận động quần chúng nhân dân Trong Nghị quyết của Trung ương chỉ rõ: Trongcác Ðảng bộ (từ tỉnh và thành ủy) phải tổ chức ra các ban chuyên môn về giới vậnđộng để làm công tác vận động và giác ngộ quần chúng đứng lên làm cách mạng

Từ đó, các ban chuyên môn về các giới vận động của Ðảng được thành lập,bao gồm: Công vận, nông vận, thanh vận, phụ vận, quân đội vận và Mặt trậnphản đế; ghi dấu ngày ra đời công tác dân vận, mở ra một trang mới trong sựnghiệp công tác dân vận của Ðảng

Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Ðảng ta đã đặc biệt quan tâm đếncông tác vận động quần chúng Các phong trào cách mạng như: Xô-viết NghệTĩnh (1930-1931), Mặt trận Dân chủ Ðông Dương (1936-1939), Phản đế (1939-1941), Mặt trận Việt Minh (1941-1945) đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạocủa Ðảng ta trong việc tập hợp, chuẩn bị lực lượng cách mạng để tiến hành cuộcTổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủCộng hòa, chính quyền công nông đầu tiên ở Ðông - Nam Á

Ngày 31-8-1947, Thường vụ Trung ương Ðảng ra Nghị quyết về xây dựngÐảng đoàn, các ban chuyên môn, trong đó có Ban Dân vận (ở Trung ương gọi là

Bộ Dân vận) Ngày 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài báo Dân vậnđăng trên Báo Sự thật, nội dung bài báo được coi là cương lĩnh về công tác dânvận của Ðảng Chính vì vậy, ngày 14-10-1999, Bộ Chính trị đã quyết định lấyngày 15-10 là Ngày Truyền thống công tác dân vận của Ðảng và cũng từ đó,ngày 15-10 hằng năm được lấy làm "Ngày Dân vận của cả nước"

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành các cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đầy gian khổ, hy sinh và đã giành được thắnglợi vẻ vang Trong suốt 30 năm kháng chiến, với tinh thần "Không có gì quý hơn

Trang 4

độc lập, tự do", công tác dân vận của Ðảng đã góp phần tuyên truyền, vận động,

tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong nhân dân, huy động được sứcmạnh của toàn dân tộc; góp phần làm nên những chiến công hiển hách, giànhđộc lập, tự do, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Thắnglợi đó cũng là thắng lợi của đường lối mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì

sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc theo tư tưởng của Bác Hồ: "Vận động tất cảlực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thànhlực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việcChính phủ và Ðoàn thể đã giao cho"

Ðể thống nhất tư tưởng và phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thốngchính trị đối với công tác dân vận, ngày 25-2-2010, Bộ Chính trị khóa X đã raQuyết định số 290-QÐ/T.Ư về "Ban hành Quy chế công tác dân vận của hệthống chính trị", xác định rõ tầm quan trọng của công tác dân vận và nội dung,phương thức, trách nhiệm thực hiện công tác dân vận của từng tổ chức trong hệthống chính trị

Trong quá trình đổi mới, bên cạnh thời cơ, thuận lợi là cơ bản, chúng tađang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Sự chuyển đổi cơ cấu giaicấp, vấn đề lợi ích, khoảng cách giàu nghèo, một số vấn đề xã hội đang có sựthay đổi sâu sắc và diễn biến mới, đòi hỏi công tác dân vận phải có sự đổi mớinhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hànhTrung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/T.Ư ngày 3-6-2013 về

"Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác dân vận trong tìnhhình mới", trong đó bổ sung những quan điểm mới về công tác dân vận Ðây là dấumốc có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử công tác dân vận của Ðảng, nhất là đốivới quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Ðảng về công tác dân vận hiện nay

85 năm qua, công tác dân vận của Ðảng đã đạt được những thành tích tolớn, góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Ðảng với nhân dân,giúp cho Ðảng ta tập hợp được sức mạnh của nhân dân để vượt qua muôn vànkhó khăn, thử thách, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược và thực hiện thành công

Trang 5

Những thành tích to lớn ấy là niềm tự hào, là động lực to lớn, đồng thờicũng đặt ra trách nhiệm nặng nề, đòi hỏi phải tiếp tục tăng cường và đổi mớicông tác dân vận của Ðảng, đáp ứng yêu cầu thời kỳ đất nước hội nhập, thựchiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ðể không ngừng nâng cao hiệu quả công tác dân vận, góp phần thực hiệnthắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh trong tìnhhình mới, các cấp ủy đảng, chính quyền tiếp tục triển khai Nghị quyết25-NQ/T.Ư Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) một cách thiết thực, cụ thể; tạo sựchuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động trên các lĩnh vựccủa đời sống xã hội Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và với thực tế công việctôi đang công tác tại Ban Dân vận Huyện ủy Thanh Sơn, Phú Thọ Tôi chọn đềtài tiểu luận: “Vận động nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị địa bàn ở các xã đặc biệt khó khăn của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ” Với mục đích xây dựng đảng xây, xây dựng chính quyền

trong sạch vững mạnh phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội bền vững

2 Mục đích, yêu cầu

Đề tài này đề cập tới nhiệm vụ nâng cao chất lượng vận động quần chúnghuy động sức dân thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận để thực nhiệm vụ chínhtrị của Đảng bộ huyện Thanh Sơn thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-văn hoá-

xã hội trong toàn huyện và đặc biệt là các xã đặc biệt khó khăn Nghiên cứu tìm

ra nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót, đề xuất các biện pháp từ đó rút rakinh nghiệm trong công tác này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nâng cao chất lượng công tác dân vận xây dựng cơ sở chính trị địa bàn tạicác xã đặc biệt khó khăn của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

4 Đối tượng nghiên cứu

Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ở các xã đặc biệt khó khănhuyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lịch sử - thực tiễn, phân tích - tổng hợp, chứng minh, thống

kê, so sánh

6 Cơ sở nghiên cứu

Cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiên cứu đề tài này là dựa trên cơ sở lý luậnMác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước,của tỉnh, của huyện về công tác vận động quần chúng

Trang 7

PHẦN II: NỘI DUNG

I Thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay

1 Thể chế chính trị

Thể chế có 2 nghĩa: theo nghĩa hẹp, thể chế là những quy định, luật lệ,chuẩn mực, giái trị của một cấu trúc xã hội hoặc của xã hội buộc mọi ngườituân theo và theo đó các thiết chế được dựng lên, các quan hệ xã hội hoặc của xãhội được điểu chỉnh Theo nghĩa rộng, thể chế gần như là kháoi niện hệ thốngbao gồm cả những chế định và cả những thành tố cấu thành hệ thống

Thể chế còn được hiểu là hệ thống những quy định, luật lệ, giá trị phảnánh mặt tinh thần và hình thức biểu hiện các thành tố của một cấu trúc xã hộihay một lĩnh vực nào đó của các quan hệ xã hộ; còn thiết chế là tổng thể các yếutốt hợp thành một cấu trúc xã hội, hoặc một lĩnh vực nào đó của các quan hệ xãhội, phản ánh mặt vật chất của cấu trúc xã hội, được dựng nên và vận hành phùhợp với thể chế chính trị tương ứng

2 Khái niệm thể chế chính trị

Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các giá trị tạo thành nhữngnguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ chính trị, là hìnhthức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc,bao gồm các cấu trúc tổ chức, các bọ phận chức năng cấu thành của hệ thốngchính trị nhất định và vai trò, ảnh hưởng lẫn nhau của chúng trong hệ thốngchính trị đó

3 Hệ thống chính trị ở Việt Nam

Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thựchiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định Đó là hệ thốngchính trị

Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội baogồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp phápđược liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá

Trang 8

trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thờiphù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.

Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nướcvà thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trịmang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền

- Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủthể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nộidung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chínhcủa quyền lực Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công cụ thựchiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng

Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiếnbinh Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp khác của nhân dân đượcthành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân

4 Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta

a Bản chất:

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giaicấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấyquyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình Vì vậy, hệ thống chính trị ởnước ta có những bản chất sau:

Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân,

nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quanđiểm của giai cấp công nhân Từ đó đã quy định chức năng, nhiệm vụ, phương

Trang 9

hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ củagiai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước hết

ở chỗ: Quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của nhân dân, do nhândân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong của giai cấpcông nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóclột

Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước

ta Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sựthống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và toàn thể dân tộc

b Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay:

Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam chohành động Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõtrong hoạt động của từng tổ chức

Hai là, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng

sản Việt Nam Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai tròlãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị Trong điều kiện cụ thể ở nước ta,

do những phẩm chất của mình - Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhấtcủa các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựu rất tolớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạocủa Đảng làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tậphợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tựnguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tế Đây làđặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta

Trang 10

Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên

tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thốngchính trị ở nước ta thực hiện

Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bảnđảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành độngnhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chứctrong hệ thống chính trị

Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp

công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi

Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệthống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ

xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân laođộng cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh

5 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay

Ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang là chủthể chân chính của quyền lực Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo củaĐảng là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động Hệ thốngchính trị của nước ta gồm nhiều tổ chức, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau

do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tác động vào các quátrình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân

a Đảng Cộng sản Việt Nam:

Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểutrung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo củatoàn bộ hệ thống chính trị Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nộidung chủ yếu sau:

Trang 11

Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm,chủ trương phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổchức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng.

Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quầnchúng Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận,thể chế hoá cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch,chương trình cụ thể Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nướcvà bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các Nghịquyết của Đảng

Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và đội ngũcán bộ, đảng viên của Đảng Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác địnhđường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩnvào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng và các tổchức chính trị - xã hội

Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêugương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dânchủ

b Nhà nước:

-Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thựchiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trướcnhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Đó chính là Nhà nướccủa nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạocủa giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng Đảng lãnh đạoNhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân

Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máychính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân.Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các

cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Trang 12

-Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lựcNhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội donhân dân trực tiếp bầu ra, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập ra Hiếnpháp và luật pháp (lập hiến và lập pháp) Quốc hội quyết định những chính sách

cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyêntắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội vàhoạt động của công dân

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhànước

Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp Chính phủ là cơquan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước Chính phủlà cơ quan chấp hành, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tácvới Quốc hội Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp

-Cơ quan tư pháp gồm: Toà án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra Đâylà những cơ quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lý những

tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luật một cáchnghiêm minh, chính xác

-Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chícủa Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuân theo phápluật Toà án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai bịcoi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã cóhiệu lực pháp luật

Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét xửđúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tậptrung thống nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quankhác của Nhà nước Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều

Trang 13

tra, truy tố Với ý nghĩa đó, các tổ chức Toà án, Viện kiểm sát được gọi là cơquan tư pháp.

Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáodục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân Vì vậy, cần tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa

c Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội

Đây là những tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được tổ chức để tập hợprộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cholợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ,mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quantrọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước;phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các hội viên, đoàn viên,giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệgiữa nhân dân với Đảng và Nhà nước

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị củachính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năngtham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động nhândân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sátcủa nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộnhân dân

Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị

tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân,góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợppháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội,giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân,góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thựchiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

Trang 14

Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức theo một hệ thống từ Trungương đến cơ sở Cơ sở phân cấp theo quản lý hành chính gồm có xã, phường, thịtrấn Hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm: Tổ chức cơ sở Đảng, Hội đồng Nhândân xã, phường; Uỷ ban Nhân dân xã, phường; Mặt trận Tổ quốc xã, phường vàcác tổ chức chính trị-xã hội khác như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn… Tất cảcác tổ chức trên đều có vị trí, vai trò và nhiệm vụ được quy định trong Luật Tổchức của hệ thống chính trị ở nước ta.

Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức vàvận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhândân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống củacộng đồng dân cư

II Tư tưởng công tác dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1 Khái niệm Dân vận:

"Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sótmột người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việcChính phủ và Đoàn thể giao cho"

2 Quy trình công tác dân vận:

+ Phải cho dân biết: Quyền làm chủ của nhân dân, đường lối, chính sách

của Đảng, Nhà nước, thông tin thời sự, chính sách, cán bộ lãnh đạo, quản lýmình

+ Giải thích cho dân hiểu: "Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho

mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ,

họ phải hăng hái làm cho kỳ được".

+ Bày cách cho dân làm: "phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm

của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương,

Trang 15

rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành" Và "Trong lúc thi hành phải theo

dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân"

+ Tiến hành kiểm tra, kiểm soát: "Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng".

Theo Hồ Chí Minh, mục đích có đồng, chí mới đồng, chí có đồng, tâm mớiđồng, tâm đã đồng lại phải biết cách làm, thì làm mới chóng Đó chính là khẩu

hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà ngày nay chúng ta thường đề cập tới.

3 Đối tượng phụ trách dân vận:

Hồ Chí Minh chỉ rõ ai (lực lượng) làm công tác dân vận là: “tất cả cán bộchính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân(Liên Việt, Việt Minh,v.v.) đều phải phụ trách dân vận”.Như vậy, lực lượng làm

công tác dân vận không chỉ là những người chuyên trách công tác này, mà rất đông đảo, với nhiều tổ chức, cá nhân cùng tham gia Đó chính là sức mạnh

nói chung, trên các phong trào cách mạng nói chung, trên các mặt trận và lĩnhvực cụ thể nói riêng, trong đó có lĩnh vực dân vận

Lực lượng làm công tác dân vận là lực lượng của cả hệ thống chính trị trước hết là của chính quyền Điều ấy có nghĩa là, tất cả cán bộ chính quyền đềuphải làm dân vận Đây là đặc điểm nổi bật của công tác dân vận khi Đảng ta cóchính quyền Chính quyền của ta là công cụ chủ yếu của nhân dân Chính quyềnkhông những chỉ phải làm dân vận mà còn có nhiều điều kiện làm công tác dânvận thuận lợi hơn

-4 Thực hiện công tác Dân vận

Đây chính là vấn đề được Hồ Chí Minh đặt ra về phương pháp dân vận vớinhững yêu cầu rất cụ thể với cán cán bộ dân vận Người đúc kết thành 12 từ: Đó

là “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.

Trang 16

- Óc nghĩ: Điều này được Hồ Chí Minh đặt ở vị trí hàng đầu, cho thấy

người đặc biệt đề cao trí tuệ và yêu cầu về sự “động não” của người làm côngtác dân vận

Bác Hồ muốn khẳng định, công tác dân vận không chỉ là những thao tác cụ

thể, những công thức có sẵn mà bản thân nó là một khoa học -khoa học về con

người, một nghệ thuật - nghệ thuật tiếp cận và vận động con người, phải dày

công tìm tòi suy nghĩ để phân tích chính xác tình hình nhân dân, vận dụng sángtạo lý luận vào thực tiễn sinh động để vận động nhân dân có hiệu quả

- Mắt trông: Là quan sát mọi sự việc, hiện tượng từ thực tiễn phong trào

cách mạng của quần chúng, để “trăm nghe không bằng một thấy” Với sự nhạycảm, tinh tế trong quan sát, kết hợp với “óc nghĩ” xác định được đúng, sai, nhận

rõ bản chất và hiện tựợng của từng sự việc, từng vấn đề để làm đúng, tham mưukịp thời cho Đảng và Nhà nước để có cách giải pháp đúng đắn kịp thời đưaphong trào của quần chúng đi đúng hướng Ở điểm này, Hồ Chí Minh muốnnhắc nhở cán bộ, đảng viên làm công tác dân vận phải thường xuyên sâu sát cơsở Vì chỉ có sát cơ sở mới có thể “thấy” mọi sự việc, vấnđề Theo đó, muốn vậnđộng quần chúng một cách thiết thực, muốn làm tốt vai trò tham mưu phải “mụcsở thị” được các sự việc và vấn đề liên quan đến công tác dân vận

- Tai nghe: là một phương pháp khoa học của công tác dân vận, theo Hồ

Chí Minh cũng với “óc nghĩ”, “mắt trông”, người làm công tác dân vận còn phảiđồng thời nắm bắt kịp thời các thông tin từ quần chúng Đòi hỏi phải biết nghedân nói, từ đó mà hiểu được những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của dân;loại trừ những thông tin thiếu chân thực, chính xác Nghe dân nói, cũng là đểbiết dân đã hiểu gì, hiểu đến mức như thế nào, đã làm như thế nào và làm đượcđến đâu Về bản thân, mình cũng thấy được những gì cần phải bổ sung, điềuchỉnh khi thực hiện công tác dân vận

- Chân đi: là yêu cầu gắn với cơ sở, một đòi hỏi bức thiết, luôn đặt ra đối

với cán bộ dân vận, đây cũng là một yếu tố chống căn bệnh quan liêu, hành

chính, làm việc theo kiểu giấy tờ của các cơ quan Hồ Chí Minh là tấm gương

Trang 17

mẫu mực luôn luôn hướng về cơ sở và gắn bó với cơ sở Sinh thời, dù bận trămcông, nghìn việc nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn dành thời gian đi cơ sở

để khảo sát tình hình thực tế, lắng nghe ý kiến của dân và trực tiếp tháo gỡnhững khó khăn nẩy sinh trong dân Xuống với dân như về gia đình mình, ngườituyệt đối không muốn “cờ rong, trống mở” xe đưa xe đón.Nhiều lần người đếnthăm cơ sở nhưng không báo trước người hết sức nghiêm khắc với bệnh tô vẽ,thổi phồng thành tích dẫn tới lừa dân, hại dân, dối trên, lừa dưới của một số cán

bộ mắc bệnh thành tích

- Miệng nói: Là thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, nhất là tuyên tuyền miệng, một hình thức tuyên truyền không thể thiếu của người làm công tác dân

vận Người cán bộ dân vận phải thường xuyên có trách nhiệm tuyên truyền, cổđộng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa, xãhội và an ninh quốc phòng Theo Hồ Chí Minh, để dân hiểu, dân tin, dân ủng

hộ và làm theo thì công tác tuyên truyền miệng phải đúng và phải khéo Nói vớivới dân phải đơn giản, rõ ràng, thiết thực và cụ thể, tránh mệnh lệnh, hơn thế,còn phải có thái độ mềm mỏng; đối với người già, các bậc lão thành phải cungkính, lễ độ, với đồng chí, đồng bào phải đúng mực, nghiêm trang, với nhi đồngphải thương yêu, quý mến

- Tay làm:là thể hiện quan niệm học đi đôi với hành, là gương mẫu,làm

gương trước cho quần chúng Nếu nói là để dân nghe, thì làm là để dân thấy, dântin, dân học làm theo Lời nói đi đôi với hành độnglà một yêu cầu, một phươngpháp hết sức quan trọng đối với cán bộ nói chung, cán bộ làm công tác dân vậnnói riêng Sinh thời, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến hai mặt của một vấn đềnày Người từng có hàng loạt bài viết, bài nói phê phán những cán bộ, đảng viên

“nói không đi đôi với làm”, “nói hay mà làm dở” hoặc “đánh trống bỏ dùi”.Người chỉ rõ “cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói, taylàm để làm gương cho nhân dân Nói hay mà không làm thì nói vô ích”

Như vậy: “Mắt trông, tai nghe, chân đi” là yêu cầu sát cơ sở, sát thực tế,

đến với nhân dân để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân mà giúp dân

Ngày đăng: 29/05/2020, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w