Bài viết này cung cấp kết quả giám định tên khoa học và đặc điểm nhận dạng của loài rệp sáp giả mới ghi nhận hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội.
Trang 111 ManiChellappan L.L., M.T Ranjith, 2013
Entomon, 38(2): 97-110
12 Mastoi M I., Nur Azura A., R Muhamad, A.B
Idris, A.G Arfan, Y Ibrahim, 2014 Sci.Int.(Lahore),
26(5): 2323-2329
13 Miller D R., D.J Williams, A.B Hamon, 1999
Insecta Mundi, 13: 179-181
14 Lê Thị Tuyết Nhung, Phạm Văn Lầm, Kris
Wyckhuys, 2014 Báo cáo khoa học H i nghị Côn
tr ng học Quốc gia lần thứ 8, Hà Nội, ngày 10-11
tháng 4 năm 2014 Nxb Nông nghiệp: 140-146
15 Nisha N., J.S Kennedy, 2014 Trends in
Biosciences, 7(12): 1346-1349
16 Selvaraju N.G., N Sakthivel, 2011 Karnataka
J Agric Sci., 24(4): 567-569
17 Seni A., S Chongtham, 2013 Agri Review,
34(3): 216-222
18 Seni A., A.K Sahoo, 2014 Inter Jour of Agriculture, Environment&Biotechnology, 7(4):
875-881
19 Tanwar R K., P Jeyakumar, S Vennila, 2010
Technical Bulletin, 22 National Center for Integrated
Pest Management, New Delhi
20 Williams D J., M.C Granara de Willink, 1992
Mealybugs of Central and South America CAB
International, London, England
Phản biện: TS Nguyễn Văn Liêm
GIÁM ĐỊNH LOÀI RỆP SÁP GIẢ THUỘC HỌ Pseudococcidae (Homoptera)
GÂY HẠI TRÊN CÂY ĐU ĐỦ Ở VÙNG HÀ NỘI Result of Identification of The Mealybug, Pseudococcidae (Homoptera)
Infesting Papaya around the Suburb of Ha Noi
Đoàn Thị Lương 1 , Phạm Văn Lầm 2 , Lê Thị Tuyết Nhung 3 và Trương Thị Hương Lan 3
Ngày gửi bài: 03.7.2018 Ngày chấp nhận: 17.8.2018
Abstract
This paper presents the findings on identification of mealy bug species, collected on papaya at the suburb of
Ha Noi All collected speciments of the mealy bug were identified as papaya mealy bug, Paracoccus marginatus
Williams and Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) The papaya mealy bug is native to Mexico,
Central America It was recorded from the South of Vietnam for the first time, when it was found on cassava in
2014 But, this is a new recorded insect-pest damaging papaya crop in Vietnam In addition, the morphological
characteristics of all stages of papaya mealy bug, Paracoccus marginatus were given
Key words: Morphological characteristics, papaya, papaya mealy bug, Paracoccus marginatus
1 ĐẶT VẤN ĐỀ *
Trong những năm gần đây, người trồng cây
đu đủ ở trong cả nước nói chung và ở ngoại ô
thành phố Hà Nội nói riêng phải đối mặt với sự
gây hại nặng nề của một loài rệp sáp giả (họ
Pseudococcidae) Loài rệp sáp giả này mới xuất
hiện và phát sinh rất mạnh, trở thành một loài
sâu hại chính trên cây đu đủ Mức độ xâm nhiễm
của loài rệp sáp giả này phổ biến ở mức khá cao
với tỷ lệ bị nhiễm từ 20-30% trên lá đu đủ và
1 NCS Viện KHNN Việt Nam,
3 Viện Bảo vệ thực vật,
2 Hội Côn trùng học Việt Nam
50% trên quả đu đủ Cả rệp sáp non và trưởng thành cái đều chích hút dinh dưỡng từ lá, quả đu
đủ Khi phát sinh mạnh với số lượng lớn, nếu không có biện pháp phòng chống kịp thời, chúng làm cho cây đu đủ còi cọc, sinh trưởng, phát triển kém, có thể gây rụng lá, rụng quả hàng loạt, dẫn đến làm giảm năng suất và chất lượng thương phẩm quả đu đủ, cuối cùng dẫn tới thất thu lớn cho người trồng cây đu đủ Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tài liệu nào công bố chính thức tên loài rệp sáp giả này Bài viết này cung cấp kết quả giám định tên khoa học và đặc điểm nhận dạng của loài rệp sáp giả mới ghi nhận hại cây
đu đủ ở vùng Hà Nội
Trang 22 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguồn rệp sáp giả đu đủ dùng trong nghiên
cứu này được thu trong vườn cây đu đủ ở ngoại
thành Hà Nội Mẫu rệp sáp giả được thu cùng
với bộ phận cây đu đủ bị hại đưa về phòng thí
nghiệm Đối với các mẫu rệp sáp giả còn ở giai
đoạn trước trưởng thành thì được nuôi tiếp trong
phòng thí nghiệm bằng lá đu đủ sạch cho đến khi
xuất hiện pha trưởng thành Các cá thể trưởng
thành này được thu để làm mẫu tiêu bản Những
trưởng thành rệp sáp giả đu đủ (thu trực tiếp ở
thực địa và nuôi trong phòng thí nghiệm) đều
được bảo quản trong dung dịch cồn 75-80% có
ghi đầy đủ thông tin về cây thức ăn, địa điểm,
thời gian và người thu mẫu
Mẫu tiêu bản được làm tiêu bản theo phương
pháp của Waston và Chandler (1999) Việc giám
định tên của chúng được tiến hành theo khóa
phân loại của Williams (2004), Williams và
Watson (1988), cũng như tài liệu mô tả đặc điểm
phân loại của Galanihe và nnk (2010), Williams
và Willink (1992), Wu và nnk (2014),… Sau khi
giám định, mẫu tiêu bản đã được TS Natalia von Ellenrieder (Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và Thực phẩm bang California) thẩm định
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả giám định rệp sáp giả hại cây
đu đủ
Những đặc điểm nhận dạng đến giống thuộc
họ Pseudococcidae được quan sát kỹ trên mẫu lam làm từ trưởng thành cái rệp sáp giả hại cây
đu đủ (hình 1) Đối chiếu với khóa phân loại cho thấy các đặc điểm phân loại đến giống quan sát được trên mẫu lam đều thỏa mãn với các đặc
điểm phân loại đến giống Paracoccus trong khóa
phân loại của Williams (2004), Williams và Watson (1988) (bảng 1)
Bảng 1 Đặc điểm phân loại đến giống quan sát được trên mẫu lam và đặc điểm phân loại
của giống Paracoccus trong các khóa phân loại
Đặc điểm phân loại quan sát được
trên mẫu lam Đặc điểm phân loại đến giống theo Williams (2004) & Williams, Watson (1988)
- Cơ thể trưởng thành cái có hình ô van rộng,
râu đầu có 8 đốt
- Chân khá phát triển; vuốt to khỏe, cong, không
có răng nhỏ, mấu phụ của bàn chân hơi nở ở
phía đỉnh Có lỗ trong mờ (translucent pores)
trên chân sau
- Có 17 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi
miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông
cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở
cerarii trên thùy hậu môn
- Thùy hậu môn phát triển, mỗi thùy ở mặt bụng
có một gờ nhỏ hóa cứng (anal lobe bar)
- Có ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên
(oral rim tubular ducts) với vòng khuyên khá
phát triển
- Cơ thể trưởng thành cái có hình ô van rộng, râu đầu có 8 đốt
- Chân khá phát triển; vuốt to khỏe, cong, không
có răng nhỏ, mấu phụ của bàn chân hơi nở ở phía đỉnh Có lỗ trong mờ (translucent pores) trên chân sau
- Có 9-18 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở cerarii trên thùy hậu môn
- Thùy hậu môn phát triển, mỗi thùy ở mặt bụng
có một gờ nhỏ hóa cứng (anal lobe bar)
- Có ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên (oral rim tubular ducts) với vòng khuyên khá phát triển
Như vậy, loài rệp sáp giả hại cây đu đủ thuộc
giống Paracoccus Ezzat & McConnell Giống
Paracoccus có phân bố rộng rãi ở vùng ôn đới và
nhiệt đới Đến nay, trên thế giới đã phát hiện, mô
tả đặt tên được khoảng 80 loài thuộc giống này
Trong đó, vùng địa động vật Đông Phương và
vùng Nam Á, mỗi vùng đã ghi nhận được 10 loài
thuộc giống Paracoccus (Moghaddam,
Esfandiari, 2014; Williams, 2004)
Khóa phân loại của Williams (2004), Williams
và Watson (1988) có tổng số 16 loài Paracoccus
ở vùng Nam Á và vùng nhiệt đới Nam Thái Bình Dương Mẫu lam loài rệp sáp giả hại cây đu đủ không thỏa mãn với đặc điểm của bất cứ một loài
nào trong số 16 loài Paracoccus ở hai khóa phân loại nêu trên Điều này hợp lý vì loài P
marginatus có nguồn gốc phát sinh ở Mexico, Trung Mỹ và mới xâm nhập vào châu Á từ năm 2008-2009 Mẫu lam loài rệp sáp giả hại cây đu
đủ thỏa mãn với đặc điểm của loài Paracoccus
marginatus được mô tả trong nhiều tài liệu nghiên cứu phân loại (bảng 2)
Trang 3Bảng 2 Đặc điểm phân loại đến loài quan sát được trên mẫu lam và đặc điểm của loài
Paracoccus marginatus trong các tài liệu phân loại Đặc điểm phân loại quan sát được
trên mẫu lam đến loài P marginatus theo tài liệu * Đặc điểm phân loại nhận dạng
- Kích thước cơ thể trưởng thành cái với chiều dài
là 2,39±0,06 mm và chiều rộng là 1,29±0,05 mm
- Ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên (oral
rim tubular ducts) chỉ có ở sát mép cơ thể trên
mặt lưng và mặt bụng
- Ở chân sau, lỗ trong mờ (translucent pores)
chỉ có trên đốt chậu mà không có trên đốt chày
- Lông cứng ở trên mặt lưng cơ thể mảnh
khảnh, bằng hoặc ngắn hơn lông cứng ở
cerarii
- Có 17 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi
miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông
cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở
cerarii trên thùy hậu môn
- Kích thước cơ thể trưởng thành cái trong các tài liệu rất biến động: chiều dài là 1,5-3,0 mm; chiều rộng là 1,4-1,5 mm
- Ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên (oral rim tubular ducts) chỉ có ở sát mép cơ thể trên mặt lưng và mặt bụng
- Ở chân sau, lỗ trong mờ (translucent pores) chỉ
có trên đốt chậu mà không có trên đốt chày
- Lông cứng ở trên mặt lưng cơ thể mảnh khảnh, bằng hoặc ngắn hơn lông cứng ở cerarii
- Có 17 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở cerarii trên thùy hậu môn
Ghi chú: * Chen et al (2011), Galanihe et al (2010), Miller and Miller (2002), Muniappan (2014), Seni and Chongtham (2013), Sharma et al (2013), Williams, Willink (1992), Wu et al (2014)
So sánh các đặc điểm hình thái chính quan
sát được trên mẫu lam của rệp sáp giả hại cây
đu đủ với các đặc điểm trong tài liệu mô tả phân
loại nêu trên cho phép khẳng định loài rệp sáp
giả hại cây đu đủ thu thập tại vùng ngoại ô Hà
Nội là loài Paracoccus marginatus Williams and
Granara de Willink Sau khi giám định, mẫu lam
của loài rệp sáp giả hại cây đu đủ được gửi tới
Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và Thực phẩm bang California để thẩm định TS Natalia von Ellenrieder cũng khẳng định loài rệp sáp giả hại cây đu đủ là loài
Paracoccus marginatus Williams and Granara de
Willink Loài rệp sáp giả này có tên tiếng Anh là
“papaya mealybug”, vì vậy tên tiếng Việt của loài này được đề nghị gọi là “rệp sáp giả đu đủ”
Hình 1 Hình mẫu lam của rệp sáp giả đu đủ thu thập ở vùng Hà Nội
(H ình bên trái là mẫu nghiên cứu; Hình bên phải là từ Williams and Willink, 1992)
Trang 4Rệp sáp giả đu đủ là loài côn trùng ngoại lai đối
với Việt Nam Cho đến năm 2013, chưa có tài liệu
nghiên cứu nào về côn trùng ở Việt Nam ghi nhận
có sự hiện diện của loài rệp sáp giả này (Phạm Văn
Lầm, 2013) Đến năm 2014, loài rệp sáp giả đu đủ
P marginatus chính thức được ghi nhận hiện diện
trong khu hệ rệp sáp giả ở Việt Nam, nhưng ở trên
cây sắn, không phải ở trên cây đu đủ (Lê Thị Tuyết
Nhung và nnk., 2014) Như vậy, kết quả nghiên
cứu này là tài liệu chính thức ghi nhận loài
Paracoccus marginatus là sâu hại cây đu đủ ở
vùng Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung
3.2 Đặc điểm chính về hình thái các pha/giai
đoạn của loài Paracoccus marginatus
Trứng
Trứng màu vàng xanh, hình bầu dục dài khoảng
0,2mm Trứng được đẻ trong túi trứng Trên bề mặt
túi trứng được phủ một lớp sáp trắng (hình 2) Túi
trứng được lộ dần ra ở phía cuối cơ thể trưởng
thành cái và chiều dài túi trứng có thể dài gấp 3 lần
chiều dài cơ thể trưởng thành cái
Rệp sáp non
Rệp sáp non tuổi 1: Rệp sáp non mới nở có
cơ thể hình ô van, màu vàng xanh, chưa có lớp
bột sáp trắng bao phủ (hình 2) Lớp bột sáp trắng
trên mặt lưng cơ thể của rệp sáp non được tích
lũy theo thời gian (sự tạo lớp sáp trên mặt lưng
cơ thể vào thời gian đầu tuổi thường chậm hơn
so với vào thời gian cuối tuổi) Đến cuối tuổi 1,
trên mặt lưng cơ thể của rệp sáp non được phủ
một lớp bột sáp trắng dày đặc, nhưng các đôi tua
sáp xung quanh cơ thể không rõ ràng chỉ có một
đôi tua sáp ngắn ở phía cuối cơ thể Rệp sáp
non tuổi 1 chưa phân biệt được theo giới tính Rệp sáp non tuổi 1 có kích thước khá nhỏ, cơ thể chỉ dài 0,5±0,01 mm và chỗ rộng nhất của cơ thể chỉ 0,21±0,01 mm
Rệp sáp non tuổi 2: Bắt đầu từ tuổi 2, rệp sáp non giới tính đực và rệp sáp non giới tính cái đã
có sự phân biệt khá rõ về màu sắc và hình dáng (hình 2) Rệp sáp non tuổi 2 giới tính cái có hình dáng, màu sắc không khác so với rệp sáp non tuổi 1 Cơ thể của rệp sáp non tuổi 2 giới tính cái với chiều dài là 0,84±0,021 mm và chiều rộng là 0,43±0,01 mm Rệp sáp non tuổi 2 giới tính đực ngay từ những ngày đầu với màu vàng xanh (ở rệp sáp non tuổi 1) chuyển dần sang màu hồng nhạt, sau đó đậm dần lên thành màu đỏ đậm vào cuối tuổi 2 Cơ thể rệp sáp non tuổi 2 giới tính đực phát triển theo chiều dài, chỉ có một đôi tua sáp ở cuối cơ thể và ít tạo sáp ở trên mặt lưng cũng như ở hai mép cơ thể Đến cuối tuổi 2, rệp sáp non giới tính đực tạo ra những sợi sáp dài, màu trắng đục bao xung quanh cơ thể, những sợi sáp này nhiều lên theo ngày tuổi của rệp sáp non tuổi 2 Kích thước cơ thể của rệp sáp non tuổi 2 giới tính đực đã tăng lên gấp hơn hai lần đến ba lần so với ở sáp non tuổi 1, với chiều dài
là 1,2±0,05 mm và chiều rộng 0,61±0,02 mm Rệp sáp non tuổi 3 chỉ có ở giới tính cái, có hình dáng, màu sắc không khác so với rệp sáp non tuổi 1 và tuổi 2 Tuy nhiên, xung quanh cơ thể có các đôi tua sáp dày hơn, dài hơn so với tuổi 2 Kích thước cơ thể của rệp sáp non tuổi 3 lớn hơn gấp khoảng 1,5 lần so với rệp sáp non tuổi 2 giới tính cái và có chiều dài cơ thể là 1,20±0,05 mm với chiều dài là 0,61±0,03 mm
Trưởng thành cái
Tuổi 3
Tuổi 2
Tuổi 2 Tuổi 1
Trứng
Hình 2 Các pha và giai đoạn phát triển của rệp sáp giả đu đủ P marginatus
Trang 5Tiền nhộng và nhộng
Tiền nhộng là giai đoạn mà rệp sáp non giới
tính đực ngừng ăn, tạo ra rất nhiều sợi sáp màu
trắng đục để làm thành kén hình trụ bao quanh
cơ thể (hình 2) Cơ thể rệp sáp non giới tính
đực lúc này có hình trụ, chuyển từ màu đỏ đậm
sang màu vàng nhạt, nhưng cơ thể chưa phân
biệt rõ các phần đầu, ngực và bụng Cơ thể tiền
nhộng có chiều dài, chiều rộng tương ứng là
1,42±0,02 và 0,36±0,01 mm
Nhộng nằm trong kén, có cơ thể hình trụ,
màu vàng nhạt Cơ thể nhộng đã phân biệt rõ
rệt 3 phần là phần đầu, ngực, bụng và có
mầm cánh (hình 2) Cơ thể nhộng có chiều
dài là 1,04±0,03 mm và chiều rộng là
0,37±0,02 mm
Trưởng thành
Trưởng thành đực có cơ thể nhỏ bé, thon
dài, chiều dài chỉ khoảng 1 mm, màu đỏ nâu
Râu đầu có 10 đốt Trưởng thành đực có một
đôi cánh màu xám trong và một đôi tua ở phía
cuối cơ thể dài gần bằng chiều dài cơ thể
(hình 2)
Trưởng thành cái, ngoài các đặc điểm được
mô tả từ mẫu lam ở trên (bảng 1, bảng 2), mẫu
sống có cơ thể căng mọng, màu sắc tương tự
như rệp sap non tuổi 3 giới tính cái Trưởng
thành cái có kích thước cơ thể với chiều dài là
2,39±0,06 mm và chiều rộng là 1,29±0,05 mm
Trưởng thành cái đẻ càng nhiều thì cơ thể càng
co lại, đến cuối chu kỳ sinh sản cơ thểtrưởng
thành cái chỉ còn lại lớp vỏ xác màu xám tối
4 KẾT LUẬN
Loài rệp sáp giả mới xuất hiện trên cây đu đủ
ở nhiều vùng trồng cây đu đủ ở ngoại thành Hà
Nội được xác định là loài Paracoccus marginatus
Williams and Granara de Willink Loài rệp sáp giả
đu đủ này có nguồn gốc ở Mexico và Trung Mỹ
Đây là loài côn trùng ngoại lai đối với Việt Nam
và được tài liệu hóa chính thức về sự hiện diện
của nó trong khu hệ côn trùng Việt Nam từ năm
2014 với góc độ là sâu hại cây sắn Kết quả
nghiên cứu này là tài liệu chính thức lần đầu ghi
nhận loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus là
sâu hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chen S.P., J.Y Wong, W.J Wu, 2011 J
Taiwan Agric.Res., 60(1): 72-76
2 Galanihe L.D., M.U.P Jayasundera, A Vithana,
N Asselaarachchi, G.W Watson, 2010 Trop Agric
Research & Extension, 13(3): 81-86
3 Phạm Văn Lầm, 2013 Các loài côn tr ng và nhện nhỏ g y hại c y trồng phát hiện ở Việt Nam
Quyển 1 Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
4 Miller D.R and G.L Miller, 2002 Proc of the Entomol Soc of Washington., Vol 104(1): 1-23
5 Muniappan R., 2014 Papaya mealybug, Paracoccus marginatus CRP-IPM Virginia Tech,
USAID May 15
6 Lê Thị Tuyết Nhung, Phạm Văn Lầm, Kris Wyckhuys, 2014 Báo cáo khoa học H i nghị Côn
tr ng học Quốc gia lần thứ 8, Hà Nội, ngày 10-11
tháng 4 năm 2014 Nxb Nông nghiệp: 140-146
7 Seni A., S Chongtham, 2013 Agri Review,
34(3): 216-222
8 Sharma S., S Bhatia, J Sharma, S Andotra,
M Sudan, K Sharma, 2013 Munis Entomology &
Zoology, 8(2): 664-671
9 Williams D J., 2004 Mealybug of southern Asia United Selangor Press Sdn.Bhd
10 Waston G.W and L.R Chandler, 1999
Identification of mealybugs important in Caribean Region Egham, CABI, UK
11 Williams and Watson, 1988 The scale insects
of the Tropical South Pacific Region Part 2 The Mealybugs (Pseudococcidae) CAB International Institute of Entomology
12 Williams D.J and M.C Granara de Willink,
1992 Mealybugs of Central and South America CAB International, Wallingford, Oxon, UK
13 Wu F.Z, Z.H Liu, H Shen, F Yu, J Ma, X.N Hu, L
Zeng, 2014 Florida Entomologist, 97(4): 1469-1473
Phản biện: TS Nguyễn Thị Thủy