1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bước đầu nghiên cứu tác dụng ức chế nấm Sclerotium rolfsii của dịch chiết một số cây dược liệu trong phòng thí nghiệm

9 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 478,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này công bố kết quả khảo sát bƣớc đầu tác dụng của dịch chiết từ một số cây dƣợc liệu trong phòng trừ nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng địa hoàng.

Trang 1

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG ỨC CHẾ NẤM Sclerotium rolfsii

CỦA DỊCH CHIẾT MỘT SỐ CÂY DƯỢC LIỆU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM Preliminary Research into The Effects of Extracts from Some Medicinal Plants

on Sclerotium rolfsii in The Laboratory

Chu Thị M 1 , Đặng Thị Hà 1 , Trần Hữu Khánh Tân 1 , Nguyễn Thị Duyên 1 , Đào Văn Núi 1

, Nguyễn Văn Hùng 1 , Trần Văn Lộc 2 và Phan Thúy Hiền 1

Ngày nhận bài: 07.9.2018 Ngày chấp nhận: 28.9.2018

Abstract

To test the ability to control Sclerotium rolfsii on PDA media, powdered medicinal materials such as dutara, garlic, sophora, camphor, and Artermisia annua were collected and extracted using sterile distilled water at room

temperature at different concentration levels of 5%, 10%, 15% and 20% The effect of peppermint oil was also tested at varying concentrations of 0.1%, 0.5% and 1% The results showed that garlic extract at concentration of

10%, 15% and 20%, the A annua extract at 15% and 20%, peppermint oil at 0.5 and 1%, and extract of camphor 20% completely suppressed the mycelin growth of S rolfsii on PDA after 72 hours Additionally, 5% garlic extract, 10% A annua extract, and 15% camphor extract could control the growth of S rolfsii The extracted formulations

of the dutara and sophora at the studied concentrations had no effect on the inhibition of S rolfsii in the

conditional study

Keywords: Control Sclerotium rolfsii, extract, medicinal materials

1 ĐẶT VẤN ĐỀ *

Hiện nay, áp dụng biện pháp sinh học trong

phòng trừ bệnh hại đang là xu hướng được quan

tâm bởi sự an toàn, hiệu quả, đảm bảo tiêu chí

trong phát triển và trồng dược liệu sạch, thân thiện

với môi trường Đã có nhiều công trình nghiên cứu

sử dụng dịch chiết thực vật như hành, tỏi, sả, xoan

Ấn Độ, rau ngải trong phòng trừ bệnh trên cây

trồng, và có hiệu quả cao trong phòng trừ một số

nấm đất và nấm lá như Rhizoctonia sp., Sclerotium

sp., Sclerotinia sp., Fusarium sp (Dissanayaka và

Jan Jayasinghe, 2013)

Ở một số nước trên thế giới phòng trừ bệnh

bằng dịch chiết từ thực vật đã bước đầu mang lại

hiệu quả rõ rệt Nghiên cứu đã chỉ ra rằng rễ

gừng và lá đu đủ có tác dụng hạn chế sự phát

triển của nấm Ceratocystis sp gây thối quả

(Dewa và cộng sự (2001) Tinh dầu của 12 cây

thuốc trong đó có húng quế, bạc hà, cúc vạn thọ

có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và sản

xuất độc tố của nấm Aspergillus flavus, A

parasiticus (Solimana, 2002) Tinh dầu từ cây

quế, nụ đinh hương có hoạt tính kháng đối với

nấm Botrytis cinerea (Wlisoon, 1997)

1 Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc

Hà Nội - Viện Dược Liệu

2 Trung tâm nghiên cứu nguồn gen và giống dược

liệu - Viện Dược Liệu

Nấm Sclerotium rolfsii là một loài nấm đa thực

có nguồn gốc trong đất Nấm này được biết đến như là một trong những tác nhân gây mất mùa trong nhiều thế kỉ Cho đến nay đã có hơn 2000 báo cáo xác nhận sự xuất hiện và gây hại của

nấm Sclerotium rolfsii trên toàn thế giới Dịch chiết

có nguồn gốc thực vật cũng đã được các nước

trên thế giới nghiên cứu trong phòng trừ nấm S

rolfsii Hai loại dầu đinh hương và bạc hà ở nồng

độ 50 ppm hoàn toàn ức chế sự tăng trưởng của

S rolfsii trong ống nghiệm.Trong tinh dầu của đinh

hương (Syzygium aromaticum) có các hợp chất

như kháng sinh (eugenol, eugenol acetate, iso-eugenol và caryophyllene) Các hợp chất này ức chế tất cả các quá trình trao đổi chất của nấm gây bệnh Trong bạc hà có chứa :tinh dầu bạc hà, menthone, 1,8- cineole, methyl acetate, furan metho, isomenthone, limonene, b-pinen, một-pinen, germacrene-d, trans, sabinene hydrate và pulegone Các chất này ức chế sự sinh trưởng

của nấm S rolfsii Cũng theo một nghiên cứu khác nấm S rolfsii có thể bị kiểm soát bởi các hợp

chất kháng nấm tự nhiên có trong chiết xuất từ quả của cà độc dược ở các nồng độ 0,5; 1,0; 1,5; , 4% (Jabeen và cộng sự, 2009) Nghiên cứu cho thấy chiết xuất từ trái cây thì là, hạt cỏ cà

ri, hạt đậu nành, lá cây lục bình có hiệu quả chống

lại Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, Fusarium

moniliforme và Macrophomina phaseolina trên cây

bông (Ismaild và Ahmed, 2000)

Trang 2

Ở Việt Nam Nấm Sclerotium rolfsii là nấm có

phổ ký chủ rộng, có khả năng lây nhiễm trên

500 loài cây ký chủ thuộc lớp một lá mầm và hai

lá mầm, đặc biệt là trên các cây thuộc họ đậu

đỗ, bầu bí, cà và một số loài rau trồng luân canh

với cây họ đậu Bên cạnh đó, những năm gần

đây theo điều tra của Trung tâm nghiên cứu

trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, nấm S

rolfsii gây hại trên một số cây thuốc sinh địa,

cúc hoa, mã đề, gấc, nghệ đặc biệt là trên cây

sinh địa điều tra tại Bắc Giang năm 2014 cho

thấy tỷ lệ bệnh có thể lên đến 50% (Ngô Quốc

Luật và cs, 2005) Trong khi đó những nghiên

cứu về ứng dụng dich chiết thảo mộc trong

phòng trừ nấm bệnh trên cây dược liệu chưa

được quan tâm nghiên cứu

Bài báo này công bố kết quả khảo sát bước

đầu tác dụng của dịch chiết từ một số cây dược

liệu trong phòng trừ nấm Sclerotium rolfsii gây

bệnh héo rũ gốc mốc trắng địa hoàng

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu, thời gian, địa điểm nghiên cứu

Lá tươi các loài cây dược liệu cà độc dược,

thanh hao hoa vàng, khổ sâm, long não, tỏi, bạc

hà đã được thu thập tại các vùng trồng dược liệu

ở Hà Nội, Vĩnh Phúc năm 2016 được rửa sạch

dưới vòi nước sau đó rửa bằng nước cất vô

trùng 2, 3 lần và được phơi khô dưới bóng râm

Cuối cùng nguyên liệu được nghiền nhỏ thành

dạng bột mịn để tạo dịch chiết

Tất cả các thí nghiệm được thực hiện năm

2016 – 2017 tại phòng thí nghiệm bệnh cây -

Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây

thuốc Hà Nội, Viện Dược liệu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chuẩn bị dịch chiết từ b t dược liệu

Sử dụng bột lá dược liệu đã thu thập đối với

từng loại lá pha với nước cất vô trùng ở điều kiện

nhiệt độ phòng để tạo các loại dịch chiết với các

nồng độ 5% (5 gram bột lá dược liệu / 100 ml

nước), 10% (10 g bột lá dược liệu/ 100 ml), 15%

(15g bột lá dược liệu/ 100ml) và 20% (20 g bột lá

dược liệu/ 100ml) Lọc lấy phần nước bằng vải

lọc 2 lớp sau đó lọc bằng giấy lọc thu được dịch

chiết thô Dịch chiết được bảo quản ở nhiệt độ

4oC Hoặc tạo dung dịch mẹ với 100g bột lá

dược liệu/100ml Lọc lấy phần nước bằng vải lọc

2 lớp sau đó lọc bằng giấy lọc thu được dịch

chiết thô Sau đó pha loãng dịch chiết với nước

cất - Pha loãng dịch chiết mỗi loại với nước cất

để thu được dịch chiết 5%, 10%, 15%, 20% bằng cách lấy tương ứng 5ml, 10ml, 15 ml và 20ml dịch chiết + 95 ml, 90 ml, 85ml và 80ml nước để thu được nồng độ mong muốn (Jalender và cộng sự, 2012)

Phương pháp chuẩn bị dịch chiết từ dược liệu tươi (đối với tỏi)

- Lấy 100g tỏi đã được làm sạch nghiền nát

và ngâm trong 100ml nước tinh khiết Lọc lấy phần nước bằng vải lọc 2 lớp sau đó lọc bằng giấy lọc thu được dịch chiết thô Dịch chiết được bảo quản ở nhiệt độ 4oC (Jalender và cộng sự, 2012)

- Pha loãng dịch chiết mỗi loại với nước cất

để thu được dịch chiết 5 %, 10%, 15%, 20% bằng cách lấy tương ứng 5ml, 10ml, 15 ml và 20ml dịch chiết tỏi + 95 ml, 90 ml, 85ml và 80ml nước để thu được nồng độ mong muốn

Phương pháp chuẩn bị nguồn nấm Sclerotium rolfsii

Nguồn nấm S rolfsii gây bệnh héo rũ gốc

mốc trắng được phân lập từ mẫu bệnh cây địa hoàng được thu thập tại Dĩnh Trì, Bắc Giang năm 2016 Sau đó được làm thuần và nuôi cấy trên môi trường PDA

Phương pháp nghiên cứu ác định loại dịch chiết dược liệu và nồng đ dịch chiết dược liệu

có khả năng ức chế nấm S.rolfsii

Phương pháp được tiến hành trong phòng thí nghiệm qua thử nghiệm khả năng ức chế của

dịch chiết dược liệu với nấm S rolfsii trên môi

trường PDA có bổ sung streptomycin sunphat và neuomycin sunphat để ức chế sự phát triển của

vi khuẩn trên môi trường nuôi cấy, sau đó định lượng từng loại dịch chiết đã được vô trùng (bằng phương pháp ly tâm) theo từng nồng độ

bổ sung vào môi trường nuôi cấy và môi trường không bổ sung dịch chiết để làm đối chứng (lấy 5ml, 10ml, 15 ml và 20ml dịch chiết + 95 ml, 90

ml, 85ml và 80ml môi trường sau khi hấp khử trùng để thu được nồng độ mong muốn)

Cấy miếng thạch chứa sợi nấm S rolfsii đã

được làm thuần với đường kính 5mm lên giữa đĩa môi trường Đặt đĩa nuôi cấy trong môi trường có nhiệt độ 25oC và theo dõi sự phát triển của tản nấm thông qua đường kính tản nấm và

số lượng hạch nấm được hình thành sau 25 ngày Thí nghiệm được thực hiện 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 3 đĩa (Burgess, 2008)

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thu thập một số dược liệu có tác dụng phòng trừ nấm bệnh trong bảo vệ thực vật

Trang 3

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã thu

thập được các dược liệu cà độc dược, tỏi, bạc

hà, khổ sâm, long não, thanh hao hoa vàng Các

loại dược liệu này đều được chiết bằng phương

pháp chiết nguội sử dụng nước cất Thành phần hoạt chất chính của các dược liệu này được thể hiện ở bảng 1

Bảng 1 Dược liệu có tác dụng phòng trừ nấm bệnh được thu thập

STT Cây dược liệu sử dụng Tên khoa học Hoạt chất chính Bộ phận sử dụng

1 Cà độc dược Datura metel L

Alcaloid, scopolamine, hyoscyamin, atropine, norhyoscyamin

Lá, quả

3 Long não

Cinnamomum camphora (L.) Sieb

Tinh dầu gồm những thành phần d-camphor,α pinen, cineol, safrol, campherenol

4 Thanh hao hoa vàng Artemisia annua L Ancaloit, tinh dầu cam pho

3.2 Ảnh hưởng của dịch chiết thanh hao

hoa vàng đến sự phát triển của tản nấm

S rolfsii

Ảnh hưởng của dịch chiết thanh hao hoa

vàng ở các nồng động 5%, 10%, 15%, 20% đến

sự phát triển của tản nấm S.rolfsii trên môi PDA

sau 24 h đến 72h được thể hiện qua bảng 3.2 và

hình 1

Bảng 2 Ảnh hưởng của dịch chiết thanh hao hoa vàng đến sự phát triển

của tản nấm S rolfsii trên môi trường PDA

(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 9 năm 2016)

THHV: dịch chiết thanh hao hoa vàng

Hình 1 Ảnh hưởng của dịch chiết thanh hao hoa vàng đến sự phát triển của nấm S.rolfsii trên môi trường PDA sau 24h: a: đối chứng, b: môi trường thanh hao hoa vàng 5%; c: Môi trường

thanh hao hoa vàng 15%; d: môi trường thanh hao hoa vàng 20%

Trang 4

Qua bảng số liệu và hình ảnh trên cho thấy

dịch chiết thanh hao hoa vàng khi chiết bằng

nước cất ở cả 4 nồng độ 5%, 10%, 15% và 20%

đều có tác dụng ức chế nấm S.rolfsii trên môi

trường PDA, ở ngay sau 24 h cấy nấm so với đối

chứng, đường kính tản nấm tương ứng là 8,56

mm, 6,53 mm, 5,31 mm và 0 mm, ở công thức đối

chứng là 21,37 mm Sau 72 h theo dõi dịch chiết

thanh hao ở các nồng độ 10%, 15%, và 20% vẫn

có tác dụng ức chế nấm S rolfsii cụ thể với bán

kính của tản nấm ở các nồng độ này lần lượt là

37,36 mm, 33,59 mm và 0 mm trong khi ở các

công thức đối chứng và dịch chiết thanh hao hoa

vàng nồng độ 5% tản nấm đã mọc gần kín đĩa

Như vậy dịch chiết thanh hao hoa vàng ở các

nồng độ 10%, 15%, 20% có tác dụng ức chế nấm

S.rolfsii sau 72 h nuôi cấy so với đối chứng, đặc biệt dịch chiết từ lá thanh hao hoa vàng ở nồng độ 20% có tác dụng ức chế hoàn toàn sự phát triển

của tản nấm S.rolfsii sau 72 giờ theo dõi

3.3 Ảnh hưởng của dịch chiết khổ sâm

đến sự phát triển của tản nấm S rolfsii

Dịch chiết từ lá khổ sâm ở các nồng độ 5%, 10%, 15% và 20% đã được thử đánh giá khả

năng ức chế sự phát triển của nấm S rolfsii Ảnh

hưởng của dịch chiết lá khổ sâm đến sự phát

triển của tản nấm S rolfsii trên môi PDA được

thể hiện qua bảng 3 và hình 2

Bảng 3 Ảnh hưởng của dịch chiết khổ sâm đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii

trên môi trường PDA

(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 10 năm 2016)

Ghi chú: KS: dịch chiết lá khổ s m

Hình 2 Ảnh hưởng của dịch chiết khổ sâm đến sự phát triển của nấm S.rolfsii trên môi trường

PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trường khổ sâm 5%; c: Môi trường khổ sâm 15%;

d: môi trường khổ sâm 20%

Qua bảng số liệu 3 và hình ảnh cho thấy môi

trường có bổ sung dịch chiết lá khổ sâm ở các

nồng độ 5%, 10%, 15%, 20% nhìn chung ít có

tác dụng ức chế sự phát triển của tản nấm S

rolfsii trên môi trường PDA Sau 72h nuôi cấy

đường kính tản nấm tương ứng lá 89,8 mm,

72,26 mm 72,35mm và 66,41 mm nhưng ở nồng

độ 15% và 20% tản nấm bắt đầu phát triển bất thường so với đối chứng, tản nấm mọc dày hơn

và bông xốp hơn (hình 2 c, d)

3.4 Ảnh hưởng của dịch chiết long não

đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii

Ảnh hưởng của dịch chiết long não ở các

Trang 5

nồng độ 5%, 10%, 15% và 20% đến sự phát

triển của tản nấm S rolfsii trên môi PDA theo dõi qua 72 h được thể hiện qua bảng 3.4 và hình 3

Bảng 3 Ảnh hưởng của dịch chiết long não đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii

trên môi trường PDA

(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 11 năm 2016)

Ghi chú: LN: dịch chiết long não

Hình 3 Ảnh hưởng của dịch chiết long não đến sự phát triển của nấm S.rolfsii trên môi trường PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trường 5%; c: Môi trường 15%; d: môi trường 20%

Qua bảng số liệu và hình ảnh trên cho thấy

cả 4 loại nồng độ dịch chiết long não 5%, 10%,

15% và 20% khi bổ sung vào môi trường PDA

đều có tác dụng ức chế sự phát triển của tản

nấm S.rolfsii nhưng ở nồng độ 10%, 15% và

20% có tác dụng ức chế nấm này tốt hơn, làm

đường kính tản nấm giảm đi 50% so với công

thức đối chứng (đường kính tản nấm lần lượt

là 49,3 mm, 45,14 mm và 35,27 mm) Trong khi

đó đường kính tản nấm ở công thức môi

trường không bổ sung dịch chiết long não và

bổ sung nồng độ 5% có đường kính tản nấm

trên 84mm

Như vậy dịch chiết nong lão nồng độ 20% có

tác dụng ức chế nấm nấm S rolfsii sau đó đến

nồng độ 15% và 10% Dịch chiết long não nồng

độ 5% không có tác dụng ức chế nấm S rolfsii

3.5 Ảnh hưởng của dịch chiết cà độc dược

đến sự phát triển của tản nấm S rolfsii

Dịch chiết từ cà độc dược đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới và có tác dụng trong phòng trừ nấm bệnh hại cây trồng khi chiết dịch chiết từ lá và quả Do vậy, chúng tôi cũng đánh giá ảnh hưởng của các bộ phận lá và quả cà độc dược dùng làm dịch chiết đến khả năng ức chế

nấm S.rolfsii

a Ảnh hưởng của dịch chiết từ lá cà đ c dược đến sự phát triển của tản nấm S.vrolfsii

Dịch chiết từ lá cà độc dược ở các nồng độ 5%, 10%, 15% và 20% đã được đánh giá khả

năng ức chế sự phát triển của nấm S rolfsii

Ảnh hưởng của dịch chiết lá cà độc dược đến sự

phát triển của tản nấm S rolfsii trên môi PDA

được thể hiện qua bảng 5 và hình 4

Trang 6

Bảng 4 Ảnh hưởng của lá cà độc dược đến sự phát triển của tản nấm S rolfsii

trên môi trường PDA

(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 11 năm 2016)

Công thức Đường kính tản nấm (mm)

Ghi chú: LCĐD: Dịch chiết từ lá cà đ c dược

Hình 4 Ảnh hưởng của dịch chiết lá cà độc dược đến sự phát triển của nấm S.rolfsii trên môi

trường PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trường 5%; c: Môi trường 15%; d: môi trường 20%

Qua bảng 4.5 và các hình ảnh cho thấy dịch

chiết lá cà độc dược ở 3 nồng độ nghiên cứu là

5%, 10%, 15% đều có tác dụng ức chế nấm S

rolfsii kém với đường kính tản nấm sau 72 h lần

lượt là 89,51 mm, 73,26 mm và 70,17 mm Dịch

chiết 20% khi bổ sung vào môi trường PDA làm

giảm sự phát triển của đường kính tản nấm 50%

so với đối chứng sau 72h theo dõi Tuy nhiên sự

ức chế này không phải quá cao để có thể ứng

dụng ngoài đồng ruộng Do đó, dịch chiết từ lá

của cà độc dược bằng phương pháp chiết nguội

chưa cho hiệu quả ức chế nấm S.rolfsii cao

b Ảnh hưởng của dịch chiết từ quả cà đ c dược đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii

Dịch chiết từ quả cà độc dược ở các nồng độ 5%, 10%, 15% và 20% đã được đánh giá khả

năng ức chế sự phát triển của nấm S rolfsi trên

môi trường PDA Sự phát triển của tản nấm cũng được đánh giá qua 72 h Kết quả thử nghiệm được thể hiện tại bảng 6 và hình 5

Bảng 5 Ảnh hưởng của quả cà độc dược đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii

trên môi trường PDA

(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 11 năm 2016)

Ghi chú: QDĐD: Dịch chiết từ quả cà đ c dược.

Trang 7

Hình 5 Ảnh hưởng của dịch chiết quả cà độc dược đến sự phát triển của nấm S rolfsii trên môi trường PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trường 15%; c: môi trường 20%

Qua bảng 6 và hình 5 cho thấy cũng giống

như dịch chiết lá cà độc dược dịch chiết quả cà

độc dược ở các nồng độ nghiên cứu cũng ít

ảnh hưởng đến sự phát triển của tản nấm

S.rolfsii Sau 72 h nuôi cấy đường kính tản

nấm S.rolfsii trên môi trường có bổ sung dịch

chiết cà độc dược nồng độ 5%, 10%, 15% có

đường kính tương ứng lá 88,36 mm, 74,8 mm,

74,71 mm; đường kính này gần bằng với

đường kính của tản nấm ở công thức đối

chứng (88,63mm) Riêng ở nồng độ 20% có tác dụng ức chế sự phát triển của tản nấm (42,8mm)

3.6 Ảnh hưởng của dịch chiết tỏi đến sự

phát triển của tản nấm S rolfsii

Ảnh hưởng của dịch chiết tỏi đến sự phát

triển của tản nấm S rolfsii trên môi PDA được

thể hiện qua bảng 7 và hình 6

Bảng 6 Ảnh hưởng của dịch chiết tỏi đến sự phát triển của tản nấm S rolfsii

trên môi trường PDA

(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 01 năm 2017)

Hình 6 Ảnh hưởng của dịch chiết tỏi đến sự phát triển của nấm S rolfsii trên môi trường PDA

sau 72h: a: đối chứng, b: môi trường 5%; c: Môi trường 15%; d: môi trường 20%

Trang 8

Dịch chiết tỏi có tác dụng ức chế mạnh sự

phát triển của tản nấm S rolfsii Ngay ở nồng

độ 5% đã ức chế sự phát triển của tản nấm

hơn 50% so với đối chứng và ở nồng độ 10%,

15% và 20% ức chế hoàn toàn sự phát triển

của tản nấm sau 72 h nuôi cấy

3.8 Ảnh hưởng của tinh dầu bạc hà đến sự

phát triển của tản nấm S rolfsii

Ảnh hưởng tinh dầu bạc hà ở các nồng độ 0,1

%; 0,5% và 1% đã được dùng để nghiên cứu sự

ức chế của bạc hà đến sự sinh trưởng của nấm

S.rolfsii trên môi trường PDA Đường kính tản nấm cũng được ghi nhận sau 72 h theo dõi Kết quả thể hiện tại bảng 8 và hình 7

Bảng 8 Ảnh hưởng của dịch chiết tỏi đến sự phát triển của tản nấm S rolfsii

trên môi trường PDA

(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 02 năm 2017)

Ghi chú: BH: tinh dầu bạc hà

Hình 7 Ảnh hưởng của tinh dầu bạc hà đến sự phát triển của nấm S rolfsii trên môi trường PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trường 0,1%; c: Môi trường 0,5%; d: môi trường 1%

Tinh dầu bạc hà có tác dụng ức chế tốt sự phát

triển của tản nấm S rolfsii trên môi trường PDA sau

72h nuôi cấy Ngay ở nồng độ 0,1% sau 72 h nuôi

cấy đường kính tản nấm S rolfsii là 38,7 mm trong

khi đường kính tản nấm ở công thức đối chứng là

88,63 mm, còn ở nồng độ 0,5% và 1% đều ức chế

hoàn toàn sự phát triển của tản nấm này

4 KẾT LUẬN

Các loại dịch chiết dược liệu nghiên cứu, ở

các nồng độ khác nhau đều có tác dụng ức chế

nấm S rolfsii

Các loại dịch chiết tỏi ở nồng độ 10%, 15% và

20%, dịch chiết thanh hao hoa vàng 15% và

20%, tinh dầu bạc hà 0,5% và 1%, và dịch chiết

long não 20% đều có tác dụng ức chế nấm S

rolfsii cao và có trường hợp ức chế hoàn toàn nấm này trên môi trường PDA sau 72 h theo dõi Sau đó đến các loại dịch chiết tỏi 5%, thanh hao hoa vàng 10%, long não 15% Các dịch chiết từ

cà độc dươc và khổ sâm ở các nồng độ nghiên cứu đều ức chế ít hoặc không ức chế sự phát triển của tản nấm S rolfsii

Các nồng độ đã được nghiên cứu có tác dụng tốt trong phòng thí nghiệm sẽ được tiếp tục thử nghiệm trong phạm vi nhà lưới và phòng thí nghiệm để đánh giá hiệu quả thực tế của các loại dịch chiết trên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ngô Quốc Luật và cộng sự, 2005 Nghiên cứu

biện pháp phòng trừ s u bệnh trên m t số c y thuốc

Trang 9

quan trọng Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học đề

tài cấp bộ Y tế

2 Burgess L W., Knight T E., Tesoriero L and

Phan H T., 2008 Diagnostic manual for plant

diseases in Vietnam, ACIAR Monograph, 210 ACIAR:

Canberra, 129

3 Dewa Ngurah Suprapta and Khamdan Khalimi,

2009 Efficacy of plant plant extract formulation to

suppress stem rot disease on vanilla seedlings, J

Issaas vol 15, 2:34-41

4 Dissanayake, M L M C and J A N Jayasinghe,

2013 Antifungal activity of selected medicinal plant

extracts against plant pathogenic fungi; Rhizoctonia

oxysporum Int J Sci Inven Today, 2(5):421-431

5 K.M Solimana, R.I Badeaab, 2002 Effect of oil

extracted from some medicinal plants on different

mycotoxigenic fungi, Food and Chemical Toxicology,

40: 1669–1675

6 Nadia Jabeen, Arshad Javaid, Ejaz Ahmed, Ahsan Sharif, 2014 Managment of casual organism of

collar rot of bell pepper (sclerotium rolfsii) by organic solvents ectracts of datura metel fruit, Park J

Phytopathol., Vol 26 (01) 15-20

7 Ismail, A.A., and Ahmed, F.A., 2000 Antifungal activites of some plant extracts on damping- off and root- rot diseases of cotton seedlings J Agri Res Tanta Univ., 26 (4): 728- 738

8 V Jalander và BD Gachande, 2012, "effect of aqueous leaf extract of datura sp against two plant

pathogenic fungi", International journal of food, agriculture

and veterinary sciences, vol 2 (3), pp 131 – 134

9 Wilson, C L., Solar, J M., El Ghaouth, A., and Wisniewski, M E., 1997 Rapid evaluation of plant extracts and essential oils for antifungal activity against

Botrytis cinerea Plant Dis 81:204-210

Phản biện: TS Nguyễn Thị Nhung

XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH LEM LÉP HẠT LÚA TRÊN ĐỒNG RUỘNG

TẠI THỪA THIÊN HUẾ Identify the Cause of Grain Discoloration Disease on Rice

in Thua Thien Hue Province

Cái Văn Thám 1 , Huỳnh Thị Tâm Thúy 1 , Lê Minh Trí 1 và Hà Minh Thanh 2

Ngày nhận bài: 20.8.2018 Ngày chấp nhận: 30.11.2018

Abstract

Identification of pathogens caused grain discoloration disease was carried out in 2017 at laboratories of Cultivation and Plant Protection Sub-departement of Thua Thien Hue and Plant Protection Research Institute Samples were collected in the delta (Huong Tra, Huong Thuy and Phu Vang districts), the lagoon areas (Phu Loc, Phong Dien and Quang Dien dist.) in the Winter-spring crop 2016-2017 and Summer-autumn crop 2017

Microorganisms were diagnosed and identified basing on classified key of Barnett and Hunter (1973); Agrawal et

al., (1989); Mew and Misra, (1994); Miguel and Richard (2006) Harmful spider was viewed under microscope

The results showed that five fungal species were found to be the cause of grain discoloration such as Fusarium sp., Alternaria sp., Curvularia spp., Bipolaris oryzae and Sarocladium oryzae

Keywords: grain discoloration disease, pathogens

1 ĐẶT VẤN ĐỀ *

Bệnh lem lép hạt lúa là một trong những bệnh

gây hại quan trọng ở các nước trồng lúa trên thế

giới (Ou, 1985) Từ năm 1991- 1995, Nguyễn

Văn Tuất và ctv đã nghiên cứu bệnh biến màu

hạt lúa và xác định nguyên nhân bao gồm 2

1 Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Thừa Thiên Huế

2 Viện Bảo vệ thực vật

nhóm gây bệnh chính là vi khuẩn gây thối đen

hạt (Bukholderia glumae) và nấm gây đen lép hạt (Bipolaris oryzae, Curvularia sp., Fusarium sp.,

Alternaria sp., Cecospora oryzae, Pyricularia grisea, Rhizoctonia solani…) Hai loại nấm

Bipolaris oryzae và Curvularia lunata gây hiện

tượng đốm nâu và xám đen hạt lúa, gây lép, làm giảm phẩm chất gạo Bệnh do nấm có thể phát sinh và gây hại ở tất cả các thời vụ gieo cấy trên

Ngày đăng: 29/05/2020, 12:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm