Bài báo này cung cấp kết quả điều tra thành phần sâu bệnh hại và thiên địch của chúng trên 10 loại cây trồng (lúa, ngô, sắn, cà chua, dưa chuột, ớt cay, đậu tương, mía, chuối và chanh leo) và các loại sản phẩm sau thu hoạch của các cây trồng này do Viện Bảo vệ thực hiện trong giai đoạn 2012–2017.
Trang 1KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN SÂU, BỆNH HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN MỘT SỐ CÂY TRỒNG CHÍNH VÀ SẢN PHẨN SAU THU HOẠCH Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2012 - 2017 Results of Surveys on Species Composition of Arthropod Pests, their Natural Enemies and Plant Diseases Associated with Major Crops
and Post-Harvest Products in Viet Nam During 2012 - 2017
Nguyễn Văn Liêm, Lê Thu Hiền, Bùi Thị Hải Yến, Hà Minh Thanh, Trần Thanh Tháp,
Nguyễn Kim Hoa và Nguyễn Việt Hà
Viện Bảo vệ thực vật Ngày nhận bài: 15.07 2018 Ngày chấp nhận: 15.09.2018
Abstract
The species composition of arthropod pests, their natural enemies and plant diseases associated with 10 major crops (rice, maize, cassava, tomato, cucumber, hot chilli, sugarcane, soybean, banana and passion fruit) and post-harvest products in Viet Nam was investigated and identified by Plant Protection Research Institute during 2012 – 2017 A total of 203 arthropod pest species was recorded, of which 188 arthropod pest species belonging to 46 families under 7 insect orders and acarina were identified Besides that, a total of 83 natural enemy species were also recorded, of which 70 natural enemy species belonging to 31 families under 10 insect orders, acarina, araneida, moniliales bacillales and virus were identified At the same time, a total of 110 pathogengic agents also was recorded on these crops and their post-harvest products The number of arthropod pests and pathogenic agents damaging on each crop and post-harvest products surveyed in the field and in the store was given Notes on arthropod pest species, natural enemies and pathogenic agents which were recorded
on crops and post-harvest products for the first time were given
Key words: Arthropod pest, crops, natural enemy, plant disease, post-harvest products, species composition,
survey
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sản xuất cây trồng nông nghiệp, sâu
bệnh hại luôn luôn là một trong các nguyên nhân
gây thất thu lớn cho năng suất, sản lượng và
chất lượng cây trồng trong suốt quá trình sản
xuất và bảo quản nông sản trồng trọt Theo ý
kiến của nhiều nhà khoa học và quản lý, trong
những năm gần đây, quá trình tổ chức lại sản
xuất, đầu tư thâm canh tăng năng suất, chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng nhiều giống cây
trồng mới và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật mới trong trồng trọt đã làm thay đổi rõ rệt
thành phần sâu bệnh hại trên nhiều loại cây trồng
ở các vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam
Những thay đổi này cùng với những tác động
của biến đổi khí hậu đã dẫn đến sự bùng phát
thành dịch trên diện rộng của một số sâu hại như
rầy nâu, rầy nâu nhỏ, rầy lưng trắng, sâu năn hại
lúa, nhện gié hại lúa, bọ xít vv… và một số bệnh
hại như bệnh chổi rồng hại sắn, bệnh chồi cỏ
mía, bệnh đốm nâu thanh long, bệnh lúa lùn sọc
đen phương Nam,… gây ra những thiệt hại
nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp nước ta Những hiểu biết cơ bản về thành phần sâu bệnh hại và thiên địch của chúng là cơ sở khoa học để xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng chống sâu hại cây trồng một cách hiệu quả và an toàn Việc điều tra cơ bản thành phần sâu bệnh hại và thiên địch của sâu hại trên các cây trồng nông nghiệp của nước ta đã được thực hiện từ nhiều năm trước đây và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Cho đến nay, đã có một số lần điều tra cơ bản về côn trùng và bệnh hại cây trồng được tiến hành trên quy mô rộng tại Việt Nam (1961, 1967-1968, 1977-1979, 1997-1998
và 2006-2010) Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về thành phần sâu bệnh hại và thiên địch của chúng trên các cây trồng nông nghiệp ở nước ta cũng đã được thực hiện Các cuộc điều tra cơ bản nêu trên và các nghiên cứu chuyên biệt này đã xây dựng được danh lục thành phần sâu bệnh hại và thiên địch của chúng trên các cây trồng điều tra Tuy nhiên, việc điều tra cơ bản đồng thời cả thành phần sâu hại và thiên địch cũng như các tác nhân gây bệnh cây
Trang 2trồng mới chỉ được tiến hành trên một số loại cây
trồng, một số cây trồng mới được nhập nội/cây
trồng mới chưa rõ thành phần sâu bệnh hại và
thiên địch của chúng Đồng thời, trong bối cảnh
hội nhập quốc tế hiện nay vấn đề minh bạch sinh
vật hại cây trồng và sản phẩm cây trồng sau thu
hoạch (đặc biệt đối với cây trồng phục vụ xuất
khẩu) và việc ngăn chặn sự xâm nhập của các
sinh vật hại ngoại lai đang là vấn đề cấp thiết của
nước ta với tư cách là thành viên của tổ chức
WTO Để giải quyết được những vấn đề này thì
việc điều tra cơ bản thành phần sâu bệnh hại và
thiên địch trên cây trồng ở nước ta cần phải
được thực hiện thường xuyên và liên tục
Bài báo này cung cấp kết quả điều tra thành
phần sâu bệnh hại và thiên địch của chúng trên
10 loại cây trồng (lúa, ngô, sắn, cà chua, dưa
chuột, ớt cay, đậu tương, mía, chuối và chanh
leo) và các loại sản phẩm sau thu hoạch của các
cây trồng này do Viện Bảo vệ thực hiện trong giai
đoạn 2012 – 2017
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Các loài động vật chân khớp, thiên địch của
chúng và các tác nhân gây bệnh cây trồng thu
thập được trên 10 loại cây trồng và các sản
phẩm sau thu hoạch của các cây trồng này được
điều tra
- Các vật liệu và dụng cụ được sử dụng trong
điều tra cơ bản, làm mẫu và giám định sâu bệnh
hại và thiên địch của chúng, các hóa chất sử
dụng trong làm tiêu bản côn trùng và nhện, vi
sinh vật gây bệnh cây trồng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra
Được tiến hành điều tra trong phạm vi cả
nước theo 7 vùng sinh thái (trung du miền núi
Bắc bộ, đồng bằng sông Hồng, duyên hải Bắc
Trung bộ, duyên hại Nam Trung bộ, Tây
nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu
Long) Thành phần sâu bệnh hại cây trồng và
thiên địch của sâu hại trên cây trồng ngoài
đồng ruộng được điều tra theo tuyến trong
từng vùng sinh thái Tại mỗi vùng sinh thái
chọn 1 - 3 tỉnh có diện tích lớn đại diện cho
từng loại cây trồng chính của vùng để làm
điểm điều tra Tại mỗi tỉnh đã chọn cho từng
loại cây trồng, chọn 3 huyện và mỗi huyện
chọn 3 xã đại diện để điều tra Thành phần sâu
bệnh hại và trên địch của chúng trên các sản
phẩm sau thu hoạch được tiến hành cùng địa phương với các cây trồng ngoài đồng ruộng, tại khu vực bảo quản nông sản ở các nông hộ
và các kho tập trung Các điều tra được tiến hành theo phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp của Viện Bảo vệ thực vật (1997) và các tiêu chuẩn ngành có liên quan (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010a) Tiến hành điều tra thực địa ở các điểm
đã chọn, ghi chép số liệu, thu thập, xử lý mẫu vật, ghi nhận mức độ phổ biến của chúng và các thông tin về điều kiện canh tác, sinh thái có liên quan
Phương pháp làm mẫu tiêu bản và giám định tên khoa học
Mẫu tiêu bản sâu bệnh hại và thiên địch được
làm theo phương pháp của Viện Bảo vệ thực vật
(1997) Các mẫu vật được các cán bộ chuyên môn của Viện Bảo vệ thực vật giám định tên khoa học theo các khóa phân loại ở các tài liệu của Hoàng Đức Nhuận (1982), William (2004, 2007), Wilson và Claridge (1991), Blackman và Eastop (1994), Gressitt và Kimoto
(1963) và Towners et al., (1961), Nguy n Vũ
Thanh và nnk (1983), Trịnh Tam Kiệt và nnk (2001), Barnett và Hunter (1998), Bradbury
(1986), Braun (1987, 1995, 1998), Brunt et al
(1996), Burgess và Nelson (1983), Burgess et al (1994), Sutton (1980, 1992), Waterhouse (1968),…và đối chiếu với bộ mẫu côn trùng và bệnh cây bảo quản tại Viện Bảo vệ thực vật
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tổng số các loài sâu, bệnh hại và thiên địch của chúng đã phát hiện được
a Số lượng các loài sâu hại
Kết quả điều tra thành phần sâu hại (côn trùng và nhện nhỏ) trên 10 loại cây trồng (lúa, ngô, sắn, cà chua, dưa chuột, ớt cay, đậu tương, mía, chuối và chanh leo) và sản phẩm sau thu hoạch (thóc, ngô hạt, sắn lát khô, đậu tương hạt) trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2012 –
2017 đã phát hiện và thu thập được 203 loài sâu hại thuộc 46 họ của 7 bộ côn trùng và bộ vet bét (Acarina) Các loài đã phát hiện và thu thập được tập trung nhiều nhất ở bộ cánh cứng Coleopter (49 loài, chiếm 24,14% tổng số loài đã phát hiện được), tiếp theo là bộ cánh vảy Lepidoptera (47 loài, chiếm 23,15%), bộ cánh đều Homoptera (33 loài, chiếm 16,26%), bộ cánh nửa Hemiptera (27 loài, chiếm 13,30%), bộ Cánh cứng Orthoptera (21 loài, chiếm 10,34), bộ hai cánh Dipera (12
Trang 3loài, chiếm 5,91%), bộ Cánh tơ Thysanoptera (9
loài, chiếm 4,44%), cuối cùng là bộ ve bét
Acarina có số loài phát hiện được là ít nhất (5
loài, chiếm 2,46%) Trong đó, đã định danh được
188 loài (chiếm 92,61% tổng số loài thu thập
được) và có 15 dạng loài (chiếm 7,39%) chưa xác định được tên Các loài chưa xác định được tên chủ yếu tập trung ở bộ cánh cứng Coleoptera (9 loài), còn lại các bộ khác chỉ có 1 – 2 loài (bảng 1)
Bảng 1 Số lƣợng loài sâu hại chân khớp đã đƣợc phát hiện trên một số cây trồng
và sản phẩm sau thu hoạch ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2017
STT Tên các bộ
Số họ
đã thu thập
Số loài đã thu thập Số loài đã xác định được tên Số loài chưa xác định được tên
Số loài
Tỷ lệ so với tổng
số Số loài
Tỷ lệ so với tổng
số
Số loài
Tỷ lệ so với tổng
số
1 Orthoptera – Cánh cứng 4 21 10,34 19 10,11 2 13,33
2 Homoptera – Cánh đều 6 33 16,26 32 17,02 1 6,67
3 Hemiptera – Cánh nửa 5 27 13,30 26 13,83 1 6,67
5 Coleoptera – Cánh cứng 12 49 24,14 40 21,28 9 60,0
6 Lepidoptera – Cánh vảy 10 47 23,15 46 24,47 1 6,67
8 Acari - Ve bét (nhện nhỏ) 2 5 2,46 4 2,13 1 6,67
b Số lượng các loài thiên địch
Song song với việc điều tra thành phần sâu
hại, thành phần thiên địch của các sâu hại trên
các cây trồng và sản phẩm sau thu hoạch nêu
trên cũng đã được thực hiện Đã phát hiện và
thu thập được 83 loài thiên địch thuộc 32 họ
của 10 bộ côn trùng, bộ ve bét Acarina, bộ
nhện lớn Araneida, bộ vi khuẩn Bacillales, bộ
nấm Moniliales và virus gây bệnh cho sâu hại
Các loài thiên địch đã phát hiện và thu thập
được tập trung chủ yếu ở bộ cánh màng Hymenoptera (22 loài, chiếm 26,51% tổng số loài đã thu thập được), bộ cánh cứng Coleoptera (19 loài, chiếm 22,89%) và bộ nhện lớn Araneida (17 loài, chiếm 20,48%), đa số các bộ còn lại chỉ có 1 - 3 loài đại diện (bảng 2) Có 13 dạng loài (chiếm 15,66% tổng số loài
đã phát hiện được) chưa xác định được trên khoa học, trong đó nhiều nhất là bộ Araneida
có 7 loài (bảng 2)
Bảng 2 Số lƣợng loài thiên địch của sâu hại trên một số cây trồng và sản phẩm
sau thu hoạch đã đƣợc phát hiện ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2017
TT Tên các bộ Số họ đã thu thập
Số loài đã thu thập Số loài đã xác định được tên Số loài chưa xác định được tên
Số loài với tổng Tỷ lệ so
số
Số loài so với Tỷ lệ
tổng số
Số loài so với Tỷ lệ
tổng số
I Nhóm động vật chân khớp
Trang 4TT Tên các bộ Số họ đã thu thập
Số loài đã thu thập Số loài đã xác định được tên Số loài chưa xác định được tên
Số loài với tổng Tỷ lệ so
số
Số loài so với Tỷ lệ
tổng số
Số loài so với Tỷ lệ
tổng số
II Nhóm vi sinh vật gây bệnh cho sâu hại
c Số lượng các loại bệnh hại cây trồng
Kết quả điều tra thành phần vi sinh vật gây
bệnh hại cây trồng trên 10 loại cây trồng (lúa,
ngô, sắn, cà chua, dưa chuột, ớt cay, đậu tương,
mía, chuối và chanh leo) và sản phẩm sau thu
hoạch (thóc, ngô hạt, sắn lát khô, ớt quả khô,
đậu tương hạt, cây mía và quả chuối tươi) trên
phạm vi cả nước trong giai đoạn 2012 – 2017 đã
ghi nhận 110 loại bệnh hại Tất cả các loại bệnh
phát hiện được đều đã giám định được tên khoa
học của các tác nhân gây bệnh (chiếm 100% số
loại bệnh ghi nhận được) Các tác nhân gây
bệnh của 110 loại bệnh hại thuộc 44 họ của 20
bộ nấm ký sinh thực vật, 4 bộ vi khuẩn hại thực vật, 1 bộ Phytoplasma, vi-rút và 1 bộ tuyến trùng
ký sinh thực vật Các tác nhân gây bệnh hại cây trồng và sản phẩm cây trồng sau thu hoạch tập trung chủ yếu vào nhóm nấm ký sinh thực vật với
88 loài thuộc 33 họ của 20 bộ khác nhau (chiếm 80,0% tổng số các loài vi sinh vật gây hại đã ghi nhận được), tiếp theo là các loài thuộc nhóm vi khuẩn hại thực vật (16 loài, chiếm 14,55%), nhóm vi-rút hại thực vật (15 loài, 13,63%),(4 loài, chiếm 3,64%) và cuối cùng là nhóm tuyến trùng
ký sinh thực vật(3 loài, chiếm 2,73%) (bảng 3)
Bảng 3 Số lƣợng loài vi sinh vật gây bệnh trên một số cây trồng và sản phẩm
sau thu hoạch đã đƣợc phát hiện ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2017
STT
Tên các bộ Số họ đã thu thập
Số loài đã thu thập Số loài đã xác định được tên
Số loài Tỷ lệ so với tổng số Số loài Tỷ lệ so với tổng số
II Vi khuẩn
Trang 5STT Tên các bộ Số họ đã thu thập
Số loài đã thu thập Số loài đã xác định được tên
Số loài Tỷ lệ so với tổng số Số loài Tỷ lệ so với tổng số
III Phytoplasma
IV Vi-rút hại thực vật
V Tuyến trùng hại thực vật
3.2 Số lƣợng các loài sâu, bệnh hại và
thiên địch của chúng trên từng cây trồng và
sản phẩm sau thu hoạch ở Việt Nam đã điều
tra năm 2012 - 2017
Thành phần sâu bệnh hại và thiên địch của
chúng trên các cây trồng và sản phẩm sau thu
hoạch rất khác nhau Đối với sâu hại, trong các
cây trồng và sản phẩm sau thu hoạch đã điều tra,
cây ngô và ngô hạt có số loài sâu hại thu thập
được nhiều nhất (88 loài), tiếp đến là cây lúa và
thóc (63 loài) Các cây chanh leo, chuối và ớt cay
có số loài sâu hại phát hiện được là ít nhất và lần
lượt tương ứng là 13, 14 và 15 loài Đối chiếu với
các kết quả điều tra đã công bố trước đây, kết
quả điều tra lần này đã bổ sung vào danh lục sâu
hại sắn trước và sau thu hoạch ở nước ta 22
loài, cà chua 5 loài, dưa chuột 24 loài, ớt cay 2
loài, mía 1 loài, chuối 3 loài và chanh leo 8 loài
Đối với thiên địch, số lượng loài thiên địch phát
hiện được trên cây ngô cũng là nhiều nhất (47
loài), đứng thứ thứ hai là đậu tương (34 loài) và
thứ ba là lúa (29 loài), ít nhất là trên cây chuối (8 loài) và chanh leo (9 loài) Đồng thời, đối chiếu với các kết quả đã công bố trước đây, kết quả điều tra lần này cung cấp lần đầu những ghi nhận về danh lục thiên địch của sâu hại các cây
ớt (10 loài), chanh leo (9 loài), chuối (7 loài); bổ sung thiên địch trên cà chua (5 loài), dưa chuột (13 loài), sắn (13 loài) (bảng 3) Đối với bệnh hại, cây lúa và thóc bảo quản có số lượng tác nhân gây bệnh hại nhiều nhất (37 loài), tiếp theo là mía
và đậu tương và sản phẩm sau thu hoạch của 2 loại cây trồng này (cùng có 20 loài), ngô và ngô hạt bảo quản (17 loài) Trong khi đó, cà chua, dưa chuột và chuối và các sản phẩm sau thu hoạch của các cây trồng này đều có 12 tác nhân gây hại Cây sắn và sắn lát khô có số tác nhân gây hại thấp nhất trong các cây trồng đã điều tra (5 loài) Kết quả điều tra lần này bổ sung vào danh lục bệnh hại trên ngô trước và sau thu hoạch 3 loài, sắn 2 loài, dưa chuột 1 loài, quả chuối sau thu hoạch 1 loài và, chanh leo 6 loài (bảng 4)
Bảng 4 Số lƣợng các loài sâu bệnh hại và thiên địch của chúng trên các cây trồng
và sản phẩm sau thu hoạch đã điều tra năm 2012 – 2017
Cây trồng và sản phẩm sau
thu hoạch A Sâu hại (loài) B C A Thiên địch (loài) B C A Bệnh hại (loại) B C
Đậu tương và hạt đậu tương 41 41 0 34 33 0 20 20 0
Ghi chú: A = Số loài đã thu thập được; B = Số loài đã giám định được tên khoa học;
C = Ghi nhận lần đầu trên cây trồng/sản phẩm sau thu hoạch được điều tra
Trang 6Sâu hại lúa trước và sau thu hoạch (thóc):
Đã thu thập được 63 loài sâu hại trong đó có 61
loài đã giám định được tên khoa học, chiếm
96,83 % trong tổng số loài thu thập được, gồm
48 loài gây hại trên cây lúa và 13 loài gây hại trên
thóc thuộc 30 họ của 7 bộ côn trùng và bộ
Acarina Đối chiếu với các công bố trước đây
(Viện Bảo vệ thực vật, 1976, 1999; Phạm Văn
Lầm, 2013; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, 2010b), trong lần điều tra này đã không ghi
nhận được thêm loài sâu hại mới nào trên lúa
trước và sau thu hoạch ở nước ta, các loài sâu
hại trên lúa trên đồng ruộng và trên thóc trong
bảo quản đều là những loài đã được ghi nhận
trước đây
Thiên địch trên sâu hại lúa: Đã thu thập
được 29 loài thiên địch sâu hại lúa, trong đó đã
giám định được tên khoa học của 26 loài (chiếm
89,66% tổng số loài đã thu thập được) thuộc 15
họ của 5 bộ côn trùng và bộ nhện Araneida Đối
chiếu với kết quả đã công bố về thành phần thiên
địch của sâu hại lúa (Phạm Văn Lầm, 2002), điều
tra lần này cũng không ghi nhận thêm loài
thiên địch mới nào trên sâu hại lúa trước và
sau thu hoạch
Bệnh hại lúa và thóc bảo quản: Đã ghi nhận
sự hiện diện và gây hại của 24 loại bệnh hại trên
cây lúa và và 13 bệnh hại trên thóc bảo quản sau
thu hoạch Cả 37 loại bệnh này dều đã giám định
được tên khoa học (chiếm 100% số bệnh đã ghi
nhận được) Đối chiếu với kết quả đã công bố về
thành phần bệnh hại lúa và thóc bảo quản (Viện
Bảo vệ thực vật, 1975; Hà Minh Trung và nnk,
1999; Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn,
2010b) điều tra lần này cũng không ghi nhận
được thêm loại bệnh mới nào trên lúa và thóc
bảo quản sau thu hoạch ở nước ta
Sâu hại trên ngô trước và sau thu hoạch
(ngô hạt): Đã thu thập được 88 loài sâu hại trên
ngô trước và sau thu hoạch ở một số tỉnh trồng
ngô ở nước ta, trong đó đã xác định tên khoa
học của 86 loài (chiếm 97,72% tổng số loài đã
thu thập được, gồm có 71 loài gây hại trên ngô ở
giai đoạn trước thu hoạch và có 15 loài gây hại
trên ngô hạt bảo quản sau thu hoạch) thuộc 28
họ của 6 bộ côn trùng và bộ ve bét Acarina Đối
chiếu với các kết quả điều tra trước đây (Viện
Bảo vệ thực vât, 1976; Phạm Văn Lầm 2013,
Nguy n Văn Liêm và nnk, 2008) điều tra lần này
cũng không ghi nhận thêm được loài sâu hại mới
nào trên ngô trước và sau thu hoạch ở Việt Nam
Thiên địch trên sâu hại ngô trước và sau
thu hoạch: Đã thu thập được 47 loài thiên địch
sâu hại ngô, trong đó có 44 loài thiên địch đã xác định được tên khoa học (chiếm 93,62% tổng số loài đã thu thập được) thuộc 22 họ của 8 bộ côn trùng, bộ Araneida, bộ vi khuẩn Bacillales và bộ vi-rút Bacculoviridae Tương tự như kết quả điều tra thành phần sâu hại, lần điều tra này cũng không ghi nhận thêm được nào thiên địch mới nào trên sâu hại ngô trước và sau thu hoạch ở Việt Nam so với các công bố trước đây (Phạm Văn Lầm, 1996, 2002)
Bệnh hại trên cây ngô và ngô hạt bảo quản sau thu hoạch: Đã ghi nhận có 10 loại bệnh gây
hại trên cây ngô và 7 loại bệnh hại trên hạt ngô trong khu vực bảo quản Cả 17 loại bệnh này đều
đã giám định được tên khoa học (chiếm 100% số bệnh đã phát hiện được) Kết quả điều tra lần này đã ghi nhận thêm 3 bệnh hại mới (1 bệnh trên cây ngô và 2 bệnh hại ngô hạt bảo quản sau thu hoạch) so với các công bố trước đây (Viện Bảo vệ thực vật, 1975; Hà Minh Trung và nnk,
1999) Đó là bệnh cháy lá Pseudomonas avenae Manns, bệnh mốc hạt Rhizopus sp và bệnh mốc
hạt Curvularia sp
Sâu hại trên sắn trước và sau thu hoạch (sắn lát khô): Đã thu thập được 42 loài sâu hại
(côn trùng và nhện nhỏ) trong đó có 37 loài đã xác định được tên khoa học (chiếm 88,10% tổng
số loài đã thu thập được) thuộc 18 họ của 6 bộ côn trùng và bộ nhện nhỏ Acarina Trên đồng ruộng cây sắn bị gây hại bởi 21 loài sâu hại còn trong khu vực bảo quản lát sắn khô bị 10 loài sâu (mọt) gây hại So với các công bố trước đây, thành phần sâu hại trên sắn ghi nhận được trong lần điều tra này phong phú hơn nhiều: thu thêm
10 loài sâu hại trên sắn sau thu hoạch và số loài sâu hại trên sắn trước thu hoạch cũng ghi nhận được nhiều hơn Theo Phạm Văn Lầm (2013, 2014), đến nay các nghiên cứu ở nước ta mới chỉ ghi nhận được 6 loài thuộc 4 họ của 3 bộ côn trùng và nhện nhỏ gây hại trên sắn Đó là các
loài bọ phấn trắng thuốc lá Bemissia tabaci
(Gennadius), rệp sáp bột vằn Ferrisia virgata
(Cockerell), rệp sáp bột hồng Phenacoccus manihoti Matile- Ferrero, bọ cánh cam Anomala
sp bọ đa lớn Lepidiota signatata Fabricius, nhện
đỏ Tetranychus urticae Koch Điều tra các năm
2013-2015 của Lê Thị Tuyết Nhung và nnk (2015) cũng đã ghi nhận được 10 loài sâu hại sắn, trong đó 4 loài cũng được ghi nhận trong lần điều tra này là các loài rệp sáp bột hồng hại sắn
P manihoti , sâu xanh Helicoverpa armigera
(Hübner), sâu khoang Spodoptera litura (Fabricius), nhện đỏ T urticae, còn 6 loài khác
Trang 7chưa bắt gặp trong lần điều tra này gồm các loài
mối Coptotermes sp., bọ phấn trắng lớn
Aleurodicus dispersus Russel bọ phấn trắng
thuốc lá Bemisia tabaci (Gennadius), rệp sáp bột
vằn Ferrisia virgata (Cockerell), rệp sáp giả đu đủ
Paracoccus marginatus Williams et Willink và rệp
sáp giả đuôi dài Pseudococcus jackbeardsleyi
Gimpel et Miller Đối chiếu với các tài liệu đã
công bố (Phạm Văn Lầm, 2013, 2014; Lê Thị
Tuyết Nhung và nnk, 2015), kết quả điều tra lần
này đã bổ sung vào danh mục sâu hại sắn trước
và sau thu hoạch ở nước ta là 22 loài Đó là các
loài nhện đỏ nâu Oligonychus coffeae (Nietner),
bọ lá bốn vệt trắng Monolepta signata Olivier, bọ
hung đen Alissonotum impressicolle Arrow, bọ
cánh cam xanh Anomala cupripes Hope, bọ hung
đục gốc Holotrichia sinensis Hope, bọ xít gai vai
chấm trắng Cletus punctiger (Dallas), bọ xít gai
vai dài Cletus trigonus (Thunberg), bọ xít dài (bọ
xít hôi) Leptocorisa acuta (Thunberg), rầy xanh
đuôi đen hai chấm lớn Nephotettix nigropictus
Stal, sâu róm đường chỉ đỏ Euproctis scintillans
(Walker), cào cào nhỏ cánh dài Atractomorpha
sinensis Bolivar, châu chấu lúa Oxya chinensis
(Thunberg), mọt cà phê Araecerus fasciculatus
(deGeer), mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica
(Fabricius), mọt râu dài Cryptolestes pusillus
(Schönherr), mọt gạo Sitophilus oryzae
(Linnaeus), mọt ngô Sitophilus zeamais
Motschulsky, mọt gạo thòi đuôi Carpophilus
dimidiatus (Fabricius), mọt gạo dẹt Ahasverus
advena (Waltl), mọt có sừng Gnathocerus
cornutus (Fabricius), ngài gạo Corcyra
cephalonica (Stainton) và mạt bột Acarus siro
Linnaeus
Thiên địch trên sâu hại sắn trước thu
hoạch: Đã thu thập được 17 loài thiên địch của
sâu hại sắn Trong đó xác định được tên khoa
học của 16 loài (chiếm 94,12% tổng số loài đã
thu thập được) thuộc 13 họ của 6 bộ côn trùng,
bộ nhện lớn Araneida và bộ nhện nhỏ Acarina
Điều tra 2013-2015 của Lê Thị Tuyết Nhung và
nnk (2015) đã ghi nhận 10 loài thiên địch, trong
đó có 2 loài cũng được ghi nhận trong điều tra
lần này là các loài Bọ rùa 6 vệt đen Menochilus
sexmaculatus (Fabr.) và Bọ rùa đỏ Micraspis
discolor (Fabr.), còn 8 loài khác gồm dế cây
Oecanthus sp., bọ xít cổ ngỗng Rhinocoris
fuscipes (Fabricius), bọ rùa 2 chấm vàng
Cryptogonus orbiculus Gyllenhal, bọ rùa đen nhỏ
Stethorus punctillum Weise, bọ mắt vàng
Pleisiochrysa ramburi , sâu ăn rệp sáp Spalgis
epeus Westwood, ong ký sinh Anagyrus lopezi
(de Santis), ong vàng Acergophagus papaya
Williams & Granara chưa bắt gặp trong đợt điều tra lần này Đối chiếu với kết quả điều tra của Lê Thị Tuyết Nhung và nnk (2015) và kết quả điều tra lần này đã bổ sung thêm 13 loài thiên địch vào danh lục thiên địch sâu hại sắn của nước ta Các thiên địch của sâu hại sắn được ghi nhận
lần đầu bao gồm: nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius cucumeris (Oudemans), nhện vân lưng hình mác
Araneus inustus (Koch), nhện linh miêu vân xiên
Oxyopes javanus Thorell, nhện sói vân đinh ba
Pardosa pseudoannulata (Boes et Str.), nhện nhẩy vằn lưng Bianor hotingchiehi Schenkel, bọ vằn hổ Cicindela aurulenta Fabricius, bọ rùa chữ nhân Coccinella transversalis Fabricius, bọ rùa Nhật Bản
Propylea japonica (Thunberg), bọ đuôi kìm
Anisolabis annulipes (Lucas), bọ xít Orius ianthe Distant, bọ xít ăn sâu Harpactor trisicolor Reuter, ong kén trắng Microplitis manilae Ash và chuồn chuồn Agriocnemis femina (Brauer)
Bệnh hại trên cây sắn và sắn lát khô bảo quản sau thu hoạch: Đã thu thập và giám định
được 5 loại bệnh hại trên cây sắn ở các vùng điều tra So với các tài liệu đã công bố trước đây (Viện Bảo vệ thực vật, 1975; Hà Minh Trung và nnk, 1999), lần điều tra này bổ sung thêm 2 bệnh
mới trên sắn là bệnh thối củ Fusarium sp., bệnh cháy lá Xanthomonas axonopodis pv manihotis
(Bondar)
Sâu hại cà chua trước thu hoạch: Đã thu
thập được 34 loài sâu hại cà chua, định danh được 33 loài (chiếm 97,06% tổng số loài đã thu thập được) thuộc 15 họ của 6 bộ côn trùng Đối chiếu với danh lục 29 loài sâu hại cà chua đã điều tra được trong các năm1977-1978 (Viện Bảo vệ thực vật, 1999), thì đợt điều tra
2013-2014 có 12 loài giống với kết quả điều tra năm
1977 - 1978, còn lại là 13 loài mới Đồng thời có
16 loài của kết quả điều tra năm 1977 - 1978 không ghi nhận được ở đợt điều tra này Đó là
các loài cào cào lớn Acrida cinerea (Thunberg),
châu chấu
Heteropternis respondens (Walker), châu
chấu di cư Đông Nam Á Locusta migratoria manilensis (Meyen), châu chấu cánh ngắn
Pseudoxya diminuta (Walker), châu chấu u ngực
Trilophidia annulata (Thunberg), dế mèn nhỏ
Gryllus testaceus (Walke r), rệp đào Myzus persicae (Sulzer), rầy xanh đuôi đen 2 chấm lớn
Nephottix nigropictus Stal, rầy xanh đuôi đen
2 chấm nhỏ Nephottix virescens (Distant), bọ
xít xanh vai đỏ Piezodorus hybneri (Gmelin), bọ
Trang 8rùa ăn lá 28 chấm to Epilachna
vigintioctomaculata Motschulsky, bọ nhảy sọc
cong Phyllotreta striolata (Fabricius), sâu sa rừng
Acherontia lachesis (Fabricius), sâu sa khoai
lang Agrius convolvuli (Linnaeus), sâu đo giả
Chalciope hyppasia Cramer, sâu đo giả Mocis
undata (Fabricius) Đợt điều tra lần này ghi nhận
có 17 loài giống và có 10 loài khác so với danh
lục sâu hại cà chua của Phạm Văn Lầm (2013)
tổng hợp (44 loài) Đồng thời có 25 loài trong
danh lục tổng hợp của của Phạm Văn Lầm
(2013) nhưng không ghi nhận được ở lần điều
tra này Đó là các loài cào cào lớn, châu chấu di
cư Đông Á, châu chấu cánh ngắn, châu chấu u
ngực, dế mèn lớn, rầy xanh đuôi đen hai chấm
lớn, rầy xanh đuôi đen hai chấm nhỏ, bọ phấn
trắng Parabemisia myricae (Kuwana), rệp muôi
Aphis fabae Scopoli, rệp muội cà chua
Aulacorthum solani Kaltenbach, rệp đào, bọ xít
xanh vai đỏ, bọ trĩ Thrips imaginis Bagnall, bọ rùa
ăn lá 28 chấm to, bọ nhảy sọc cong, sâu sa rừng,
sâu đo giả Chalciope hyppasia Cramer, sâu
khoang Spodoptera litura (Fabricius), ruồi đục
quả họ bầu bí Bactrocera cucurbitae Coquillett,
ruồi đục quả Bactrocera tau (Walker), ruồi đục lá
Chromatomyia horticola Goureau, ruồi đục lá rau
Litriomyza bryoniae (Kaltenbach), ruồi đục lá rau
(Litriomyza sativae Blanchard), ruồi đục lá rau
(Litriomyza trifolii Burgess), nhện nhỏ trắng
Polyphagotarsonemus latus (Banks) Sự sai khác
trên có thể là do phạm vi của vùng điều tra của
các đợt điều tra là khác nhau Tuy nhiên, có thể
thấy đã có những thay đổi nhất định về thành
phần sâu hại cà chua trong những năm gần đây
với xu thế các loài sâu hại miệng nhai kích thước
lớn ngày càng hiện diện ít đi trên đồng ruộng Đối
chiếu với danh lục sâu hại cà chua của Viện Bảo
vệ thực vật (1999) và danh lục tổng hợp của
Phạm Văn Lầm (2013) thì đợt điều tra lần này đã
ghi nhận thêm 6 loài sâu hại mới trên cà chua ở
nước ta Đó là các loài châu chấu lúa Oxya
chinensis (Thunberg), bọ xít Anoplocnemis
phasiana (Fabricius), bọ xít xanh Nezara viridula
(Linnaeus), bọ đùn phân lên lưng Lema
coromandeliana , bọ cánh cam Anomala cupripes
Hope và sâu róm lưng gù Orgya postica
(Walker)
Thiên địch của sâu hại cà chua: Đã thu thập
được 22 loài thiên địch sâu hại cà chua, xác định
được tên khoa học của 20 loài thuộc 16 họ của 7
bộ côn trùng và bộ nhện Aranaea và bộ vi khuẩn
Bacillales và bộ nấm Hypocreales Đối chiếu với
các công bố trước đây, đã bổ sung thêm vào
danh lục các thiên địch của sâu hại cà chua ở Việt Nam 13 loài ghi nhận lần đầu Đó là các loài
nhện vân lưng hình mác Araneus inustus (Koch), nhện linh miêu vân xiên Oxyopes javanus Thorell, nhện sói vân đinh ba Pardosa pseudoannulata (Boes et Str.), nhện nhảy vằn
lưng Bianor hotingchiehi Schenkel, nhện chân dài bụng thon Tetragnatha javana (Thorell), bọ rùa 6 vệt đen Menochilus sexmaculatus (Fabricius), bọ rùa Nhật Bản Propylea japonica
(Thunberg),
bọ đuôi kìm Anisolabis annulipes (Lucas), bọ xít hoa bắt mồi Eocanthecona furcellata Wolff, ong kén trắng Apanteles antipoda Ashmead, bọ mắt vàng Chrysopa sp., bọ ngựa Mantis religiosa
Linnaeus, chuồn chuồn kim mình xanh đuôi đỏ
Agriocnemis pygmaea Rambur
Bệnh hại cà chua: Đã thu thập và xác định
được có 12 loại bệnh hại trên cây cà chua trên đồng ruộng ở các vùng điều tra, Đối chiếu với các công bố trước đây (Viện Bảo vệ thực vật, 1975; Hà Minh Trung và nnk, 1999) , lần điều tra này không ghi nhận thêm bệnh hại mới nào trên
cây cà chua ở nước ta
Sâu hại trên dưa chuột trước thu hoạch:
Đã thu thập được 37 loài sâu hại trong đó có 36 loài đã giám định tên khoa học (chiếm 97,30% tổng số các loài đã thu thập được) Các loài này thuộc 17 họ của 7 bộ côn trùng và bộ ve bét Acarina Theo tổng kết của Phạm Văn Lầm (2013), sâu hại cây dưa chuột ở nước ta có 13 loài của 7 thuộc 4 bộ côn trùng và bộ Acarine
Kết quả điều
tra lần này bổ sung thêm 24 loài sâu hại trên cây dưa chuột ở nước ta, gồm: nhện đỏ hai
chấm Tetranychus urticae Koch, bọ lá thụt đầu
màu xanh Colasposoma dauricum auripenne(Motschulsky), bọ nhảy sọc cong
Phyllotreta striolata Fabricius, bọ lá bốn vệt trắng
Monolepta signata Olivier, câu cấu xanh lớn
Hypomeces squamosus (Fabricius), câu cấu
xanh nhỏ Corigetus sieversi Reitter, bọ cánh cam xanh Anomala cupripes Hope, bọ hung đen
Alissonotum impressicolle Arrow, ruồi đục thân
Ophiomyia sp., bọ xít gai vai Cleutus pugnator Fabricius, bọ xít gai vai chấm trắng Cletus punctiger (Dallas), bọ xít gai vai dài Cletus trigonus (Thunberg), bọ xít xanh Nezara viridula (Linnaeus), bọ xít xanh vai đỏ Piezodorus hybneri (Gmelin), bọ xít xanh cánh gụ Plautia crossota (Dallas), bọ phấn gai đen Aleurocanthus spiniferus (Quaintance), rầy xanh lá mạ
Empoasca flavescens (Fabr.), sâu róm nâu
Trang 9Amsacta lactinea (Cramer), sâu róm đường chỉ
đỏ Euproctis scintillans (Walker), sâu róm bốn gù
vàng Orgyia postica (Walker), Cào cào nhỏ cánh
dài Atractomorpha sinensis Bolivar, châu chấu
lúa Oxya chinensis (Thunberg), dế mèn lớn
Tarbinskiellus portentosus (Lichtenstein) và bọ trĩ
Frankliniella williamsi Hood
Thiên địch trên sâu hại dưa chuột: Đã thu
thập được 15 loài thiên địch, trong đó định danh
được 14 loài (chiếm 93,33% tổng số loài đã thu
thập được) thuộc 11 họ của 6 bộ côn trùng và bộ
nhện Araneida và bộ ve bét Acarina Theo kết
quả điều tra của Cao Hoàng Yến Nhi và nnk
(2014), thành phần thiên địch trên râu ăn quả
(bầu, bí, dưa leo) tại Hóc Môn – Tp Hồ Chí Minh
gồm 9 loài thiên địch thuộc 7 họ của 3 bộ côn
trùng và bộ nhện lớn Araneidae Tuy nhiên, tất
cả các loài thiên địch ghi nhận được trong điều
tra của các tác giả này đều chưa được xác định
đến tên loài cụ thể Các thiên địch của sâu hại
dưa chuột được ghi nhận lần đầu trong lần điều
tra này bao gồm: nhện nhỏ Amblyseius
cucumeris (Oudemans), nhện vân lưng hình mác
Araneus inustus (Koch), Nhện linh miêu vân xiên
Oxypes javanus Thorell, nhện sói vân đinh ba
Pardosa pseudoannulata (Boes et Str.), bọ rùa 6
vệt đen Menochilus sexmaculatus (Fabricius), bọ
rùa đỏ Micraspis discolor (Fabricius), bọ rùa Nhật
Bản Propylea japonica (Thunberg), cánh cứng
cánh ngắn Paederus fuscipes Curtis, bọ đuôi kìm
Anisolabis annulipes (Lucas), bọ xít hoa Orius
ianthe Distant, ong kén trắng Apanteles antipoda
Ashmead, bọ mắt vàng Chrysopa sp và chuồn
chuồn Agriocnemis femina (Brauer)
Bệnh hại trên cây dưa chuột: Đã ghi nhận
và giám định được 12 loại bệnh hại trên dưa
chuột ở các vùng điều tra Lần điều tra này đã
ghi nhận thêm 1 bệnh hại mới trên cây cà chua
so với các công bố trước đây (Hà Minh Trung và
nnk, 1999) đó là bệnh đốm lá vi khuẩn
Pseudomonas larchrymans Smith & Bryan
Sâu hại trên ớt cay trước thu hoạch: Đã
thu thập được 15 loài sâu hại trên cây ớt, trong
đó đã định danh được 13 loài (chiếm 86,67%)
thuộc 11 họ của 7 bộ côn trùng Theo kết quả
điều tra năm 1967 - 1968 của Viện Bảo vệ thực
vật, thành phần sâu hại trên ớt chỉ có 6 loài,
trong đó có 4 loài gây hại mạnh là bọ xít ớt, sâu
xám, bọ rùa ăn lá 28 chấm, bọ xít vai gồ; 2 loài
gây hại ít là dế dũi và sâu khoang Kết quả điều
tra lần này đã ghi nhận sự hiện diện của tất cả
các loài sâu hại ớt đã phát hiện được ở lần điều
tra trên và bổ sung thêm 5 loài mới Theo tổng
kết của Phạm Văn Lầm (2013), ở Việt Nam có 13 loài sâu hại ớt thuộc 12 họ của 8 bộ côn trùng và nhện nhỏ Kết quả điều tra lần này có 11 loài trùng với danh lục tổng hợp của Phạm Văn Lầm (2013) và bổ sung 02 loài vào danh lục sâu hại ớt
ở Việt Nam đó là cào cào nhỏ (Atractomorpha chinensis Bolivar) và bọ cánh cam (Anomala cupripes Hope) Tuy nhiên, kết quả điều tra làn này lại không ghi nhận sự hiện diện của 2 loài
sâu hại là nhện nhỏ trắng Polyphagotarsonemus latus (Banks) và nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch đã được Phạm Văn Lầm (2013) liệt
kê Tổng hợp các kết quả công bố của Viện BVTV (1976), Phạm Văn Lầm (2013) và kết quả điều tra lần này, đến nay đã ghi nhận thành phần sâu hại trên cây ớt cay ở Việt Nam gồm có 15
loài Thiên địch trên sâu hại ớt: Đã thu thập
được 11 loài thiên địch sâu hại ớt cay, trong đó xác định tên khoa học của 10 loài (chiếm 90,91% tổng số loài đã thu thập được) thuộc 7
họ của 5
bộ côn trùng, 1 bộ nhện lớn Araneida Đây là kết quả ghi nhận lần đầu các loài thiên địch trên sâu hại cây ớt cay ở nước ta Chúng gồm các
loài nhện linh miêu vân xiên Oxyopes javanus Thorell, bọ rùa chữ nhân Coccinella transversalis Fabricius, Bọ rùa 6 vệt đen Menochilus sexmaculatus (Fabricius), bọ rùa đỏ Micraspis discolor (Fabricius), bọ rùa Nhật Bản Propylea japonica (Thunberg), cánh cứng cánh ngắn
Paederus fuscipes Curtis, bọ đuôi kìm Anisolabis annulipes (Lucas), bọ xít hoa Orius ianthe Distant, ong kén trắng Apanteles antipoda
Ashmead và chuồn chuồn kim mình xanh đuôi đỏ
Agriocnemis pygmaea Rambur
Bệnh hại ớt: Đã điều tra và giám định được
5 loại bệnh gây hại trên cây ớt trước thu hoạch
và 2 bệnh gây hại trên quả ớt khô bảo quản sau thu hoạch ở các vùng điều tra Kết quả điều tra lần này không ghi nhận thêm bệnh hại mới nào trên cây ớt cay và sản phẩm sau thu hoạch so với các công bố trước đây (Hà Minh Trung và nnk, 1999)
Sâu hại mía trước thu hoạch: Đã thu thập
được 33 loài sâu hại trong đó có 31 loài đã giám định tên khoa học (chiếm 93,94% tổng số các loài đã thu thập được) thuộc 15 họ của 5 bộ côn trùng Kết quả điều tra lần này không ghi nhận thêm loài sâu hại mới nào trên mía ở nước ta, các loài sâu hại trên mía đã điều tra giám định được trong lần điều tra này đều là những loài đã được ghi nhận trước đây
Thiên địch trên sâu hại mía: Đã thu thập
Trang 10được 16 loài thiên địch, trong đó giám định được
tên khoa học của 15 loài (chiếm 93,75%) thuộc 7
họ của 4 bộ côn trùng và bộ nhện Araneida Lần
điều tra này cũng không ghi nhận thêm được loài
thiên địch mới nào trên sâu hại mía, các loài đã
giám định được đều là những loài thiên địch đã
được ghi nhận trước đây
Bệnh hại trên cây mía: Đã điều tra và giám
định được có 7 bệnh gây hại trên mía trước thu
hoạch và một bệnh gây hại trên mía sau thu
hoạch Lần điều tra này cũng không ghi nhận
thêm loại bệnh hại mới nào trên cây mía so với
các công bố trước đây (Viện Bảo vệ thực vật,
1975, 1999; Hà Minh Trung và nnk, 1999)
Sâu hại trên cây đậu tương trước và sau
thu hoạch (đậu tương hạt): Đã thu thập được
41 loài sâu hại, trong đó đã xác định tên khoa
học của 41 loài thuộc 19 họ của 5 bộ côn trùng
và bộ ve bét Acarina Trong 40 loài sâu hại đã
ghi nhận được, có 35 loài gây hại trên cây đậu
tương trước thu hoạch và 5 loài gây hại trên hạt
đậu tương bảo quản sau thu hoạch Kết quả
điều tra lần này cũng không ghi nhận được loài
sâu hại mới nào trên đậu tương trước và sau
thu hoạch
Thiên địch trên sâu hại đậu tương: Đã thu
được 34 loài thiên địchvà định danh được 33 loài
(chiếm 97,06% tổng số loài đã thu thập được)
thuộc 16 họ của 5 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn
Aranaea Trong lần điều tra này cũng không ghi
nhận thêm loài thiên địch mới nào trên sâu hại
đậu tương ở nước ta
Bệnh hại cây đậu tương và hạt đậu tương
bảo quản sau thu hoạch: Đã thu thập và giám
định được 10 bệnh gây hại trên đậu tương ngoài
đồng ruộng và 10 bệnh hại hạt đậu tương bảo
quản sau thu hoạch So với các kết quả đã công
bố trước đây (Viện Bảo vệ thực vật, 1975; Hà
Minh Trung và nnk, 1999), lần điều tra này cũng
không ghi nhận thêm được bệnh hại đậu tương
mới nào trên cây đậu tượng ngoài đồng ruộng và
hạt đậu tương bảo quản sau thu hoạch
Sâu hại chuối trước thu hoạch: Đã ghi
nhận được 14 loài sâu hại chuối, định danh được
13 loài (chiếm 92,86% tổng số loài đã thu thập
được) của 8 họ thuộc 6 bộ côn trùng Đối chiếu
với các công bố trước đây về sâu hại chuối ở
nước ta, kết quả điều tra lần này đã ghi nhận lần
đầu 3 sâu hại trên chuối ở nước ta Đó là các loài
bọ xít xanh Nezara viridula (Linnaeus), rệp muội
bông Aphis gossypii Glover và rệp muội đen
Toxoptera aurantii Boyer de Fonscolombe
Thiên địch trên sâu hại chuối: Đã thu thập
được 8 loài thiên địch sâu hại chuối, trong đó xác định được tên khoa học của 7 loài (chiếm 87,50% tổng số loài đã thu thập được) của 5 họ thuộc 3 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn Araneida Đây là kết quả ghi nhận lần đầu các loài thiên địch trên sâu hại chuối ở nước ta Các loài thiên địch của sâu hại chuối được ghi nhận lần đầu gồm:
nhện vân lưng hình mác Araneus inustus (Koch), nhện linh miêu vân xiên Oxyopes javanus Thorell, bọ rùa chữ nhân Coccinella transversalis Fabricius, bọ rùa 6 vệt đen Menochilus sexmaculatus (Fabricius), bọ rùa đỏ Micraspis discolor (Fabricius), ong đen Telenomus rudus
Le và bọ mắt vàng Chrysopa sp
Bệnh hại cây chuối và quả chuối sau thu hoạch: Đã điều tra và giám định được 8 loại
bệnh gây hại trên cây chuối trước thu hoạch và 3 loại bệnh gây hại trên quả chuối sau thu hoạch
So với các công bố trước đây (Viện Bảo vệ thực vật, 1975; hà Minh Trung và nnk, 1999), lần điều tra này ghi nhận thêm bệnh thối quả ceracystis
Ceratocystis paradoxa (Dade) Moreau
Sâu hại trên cây chanh leo trước thu hoạch: Đã thu thập được 13 loài sâu hại trên
chanh leo, trong đó xác định được tên khoa học của 12 loài (chiếm 92,31% tổng số loài đã thu thập được) Các loài thuộc 6 họ của 3 bộ côn trùng và 1 bộ nhện nhỏ Acarina Kết quả điều tra trong nghiên cứu này thu thập được số loài sâu hại chanh leo ít hơn so với nghiên cứu của Nguy n Tuấn Lộc và nnk (2017) Theo các tác giả này, trong năm 2015 – 2016 tại vùng Quế Phong – Nghệ An đã thu thập và định danh 23 loài sâu hại chanh leo thuộc 16 họ của 9 bộ côn trùng và bộ ve bét Acarina (Nguy n Tuấn Lộc và nnk, 2017) Đối chiếu với kết quả của các tác giả này thì đã có 8
loài sâu hại được ghi nhận lần đầu trên cây chanh leo ở nước ta trong lần điều tra này Đó là các loài nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus (Boisduval), bọ phấn gai đen Aleurocanthus spiniferus Quaintance, bọ phấn trắng cam
Dialeurodes citri (Ashmead), rệp muội xanh cam
Aphis spiraecola Patch, rệp muội nâu đen
Toxoptera aurantii Boyer de Fonscolombe, rệp
sáp vảy đen Parlatoria ziziphi (Lucas), rệp sáp vảy trắng Unaspis citri (Comstock) và bọ trĩ Scirtothips dorsalis Hood
Thiên địch trên sâu hại chanh leo: Đã thu
thập và giám định được tên khoa học của 9 loài thiên địch của sâu hại chanh leo Đây là kết quả ghi nhận lần đầu các loài thiên địch trên sâu hại