1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ảnh hưởng của giống bông lai mang gen Bt đến khả năng sống sót và thời gian phát dục của sâu non sâu xanh Helicoverpa armigera (Hubner) (Lep.: Noctuidae)

6 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 308,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này cung cấp dẫn liệu về khả năng sống sót của sâu xanh trên giống bông lai VN15 cùng với các giống bông bố mẹ của nó.

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG BÔNG LAI MANG GEN Bt ĐẾN KHẢ NĂNG SỐNG SÓT VÀ THỜI GIAN PHÁT DỤC CỦA SÂU NON SÂU XANH

Helicoverpa armigera (Hubner) (Lep.: Noctuidae)

Influence of Bt hybrid Cotton on Survival and Developmental Duration

of Larvae of The Cotton Bollworm, Helicoverpa armigera (Hubner)

(Lep.: Noctuidae) Nguyễn Tấn Văn 1 , Trần Tấn Việt và Võ Thái Dân 2

Ngày nhận bài: 20.11.2017 Ngày chấp nhận đăng: 23.03.2018

Abstract

Laboratory experiments were carried out to evaluate the toxicity of hybrid Bt-cotton VN15 and Bt transgenic

cotton CS95 (Bt-cotton) to larval stage of cotton bollworm Helicoverpa armigera (Hubner), with non-Bt-cotton

LRA5166 as control Results showed that hybrid cotton VN15 express toxin almost similar to the transgenic cotton CS95 (female parent) Leaves, buds and young bolls of hybrid cotton VN15 and Bt-transgenic cotton CS95 all have high ability to kill larvae of cotton bollworm, especially to first instar of larvae Eating these organs of Bt-cotton, the mortality rate of cotton bollworm larvae was significantly higher than that of non-Bt-cotton LRA5166 (male parent) The effects on cotton bollworm larvae of Bt-toxin in leaves, buds and young bolls of Bt-cotton decreased during the whole growth period of cotton and decreased from leaves to buds and young bolls of Bt-cotton The highest mortality rate of cotton bollworm larvae reached 78.9-81.1% when eating leaves of Bt-cotton at 30-35-day-old The lowest mortality rate of cotton bollworm larvae was only 16.7-18.9% when eating young bolls of Bt-cotton at 90-95-day-old Conversely, the mortality rates of cotton bollworm larvae were only 5.6-10.0% when eating leaves, buds and young bolls at all studied stages growth of non-Bt-cotton (LRA5166)

Eating leaves, buds and young bolls of Bt-cotton (VN15 and CS95) at all stages growth, almost larvae dead, but survival larvae extend their development duration in comparison with that of feeding on these organs of non-Bt-cotton (LRA5166) The development duration of cotton bollworm larvae varied from 27.6-28.5 days when eating young bolls of Bt-cotton at 70-75-day-old to 33.7-36.4 days when eating leaves of Bt-cotton at 30-35-day-old The development duration of cotton bollworm larvae was reduced with feeding on non-Bt-cotton, and changed from 16.0-16.2 days (eating leaves, buds at 50-55-day-old) to 20.8 days (eating leaves at 90-95-day-old) Feeding on leaves, buds and young bolls of Bt-cotton, survival larvae have different extended duration The extended duration depends on growth stages of cotton, and is trending towards increase with larval instars Especially, extended duration of survival larval life was significant for third-, fourth- and fifth instar larvae The longest extended duration of survival larvae was 17.4-20.1 days when feeding on leaves of Bt-cotton at 30-35-day-old The shortest extended duration of survival larvae was 7.6-7.9 days when feeding on leaves of Bt-cotton

at 90-95-day-old

It’s able to use Bacillus thuringiensis toxin in the F1 hybrid Bt-cotton by traditional cross between Bt transgenic cotton CS95 and conventional cotton

Keywords: Bt-transgenic cotton CS95, hybrid Bt-cotton VN15, cotton bollworm, Helicoverpa armigera,

non-Bt-cotton LRA5166

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Giống bông chuyển gen Bt CS95 nhập nội có

nhiều đặc tính nông học và kinh tế tốt, khả năng

kháng sâu xanh cao, nhất là sâu tuổi nhỏ Tuy

nhiên, giống bông CS95 khó sử dụng trong sản

xuất diện rộng do có một số nhược điểm như lá

nhẵn nên rất mẫn cảm đối với một số loài sâu chích

1 Công ty cổ phần Bông Việt Nam

2 Trường Đại học Nông Lâm Hồ Chí Minh

hút nguy hiểm (như rầy xanh, bọ trĩ, ) Mặt khác, giống này có khả năng sinh trưởng thân, cành, lá kém, ít chịu hạn và úng, cây thường tàn lụi sớm về cuối vụ

Để khai thác khả năng cao kháng sâu xanh của giống bông chuyển gen Bt CS95 mà các giống Việt Nam không có Viện Nghiên cứu Cây bông và Cây có sợi đã xác định được một

số dòng bông lai F1 có triển vọng mà có bố hoặc mẹ là bông chuyển gen Bt giống CS95

Trang 2

(gọi là bông lai F1) Trong đó, dòng bông lai F1

giữa bông chuyển gen Bt giống CS95 (làm

mẹ) với giống bông quốc gia LRA5166 (làm

bố) được công nhận là giống quốc gia với tên

gọi là giống bông lai VN15 Giống bông lai

VN15 có nhiều ưu điểm của ưu thế lai về sinh

trưởng và năng suất, tỷ lệ xơ đạt 38-39%, xơ

dài hơn 29mm và phẩm chất xơ tốt đạt yêu

cầu công nghiệp dệt (Viện Nghiên cứu Cây

bông và Cây có sợi, 2002) Đến nay chưa có

nghiên cứu về mức độ biểu hiện gen Bt kháng

sâu xanh ở các dòng bông lai F1 được lai tạo

theo phương pháp truyền thống giữa bông

chuyển gen Bt và bông không Bt Bài viết này

cung cấp dẫn liệu về khả năng sống sót của

sâu xanh trên giống bông lai VN15 cùng với

các giống bông bố mẹ của nó

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tạo nguồn sâu xanh làm thí nghiệm: thu

thập sâu xanh tuổi 4 và tuổi 5 từ ruộng bông

không sử dụng thuốc trừ sâu đưa về phòng nuôi

cá thể trong hộp petri cho tới khi hóa nhộng ở

nhiệt độ 30oC và 70% ẩm độ Thức ăn là lá vừa

thành thục của cây bông không mang gen Bt

Trưởng thành vũ hoá từ nhộng của nguồn sâu

này được ghép đôi cho đẻ trứng trong lồng nuôi

sâu Thu trứng hàng ngày để tạo nguồn sâu non

cho thí nghiệm Khi trứng nở sâu non được sử

dụng cho thí nghiệm

Chuẩn bị nguồn thức ăn nuôi sâu thí

nghiệm: thức ăn nuôi sâu xanh trong thí nghiệm là

lá, nụ hoa và quả non của giống bông lai VN15

cùng với giống bông mẹ CS95 (bông Bt) và giống

bố LRA5166 (bông không Bt) Các giống bông này

được trồng cách ly trong nhà lưới và được gieo liên

tục, cứ 5 ngày gieo một lần để có đủ nguồn thức ăn

nuôi sâu xanh theo yêu cầu của thí nghiệm

Tiến hành thí nghiệm: thí nghiệm tiến hành

ở nhiệt độ 30oC và ẩm độ 70% Mỗi giống bông

là một công thức thí nghiệm Sâu xanh trong thí

nghiệm được nuôi theo phương pháp nuôi cá

thể Mỗi công thức thí nghiệm nuôi 30 cá thể với

3 lần nhắc lại Sâu non tuổi 1 và tuổi 2 được nuôi

trong ống nghiệm có nút bông, sâu non từ tuổi 3

được nuôi trong hộp Petri Thức ăn cho sâu xanh

trong thí nghiệm là các lá, nụ hoa và quả non của

giống bông thí nghiệm được lấy ở các giai đoạn

theo yêu cầu thí nghiệm (30-35; 50-55; 70-75 và

90-95 ngày tuổi) Thức ăn cho sâu xanh được thu vào buổi sáng, thay hàng ngày và quan sát thí nghiệm khi thay thức ăn cho sâu xanh

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của bông lai F 1 và giống

bố mẹ đến tỷ lệ chết của sâu xanh

Nuôi sâu non sâu xanh bằng lá của giống bông lai VN15 và các giống bông bố mẹ của nó

là giống CS95 (bông Bt) và giống LRA5166 (bông không Bt) Kết quả cho thấy ở cả 4 giai đoạn sinh trưởng của cây bông được nghiên cứu, khi thức ăn là lá giống bông bố LRA5166, sâu non sâu xanh bị chết với tỷ lệ không cao và

tỷ lệ chết rất ít biến động Tỷ lệ chết chung của sâu non sâu xanh chỉ biến động từ 5,6% khi ăn lá bông không Bt ở giai đoạn 30-55 ngày tuổi đến 10,0% khi ăn lá bông không Bt ở giai đoạn

90-95 ngày tuổi (bảng 1) Tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh được nuôi bằng bông không Bt gia tăng theo tuổi của lá bông có thể do lá bông ở giai đoạn 70-95 ngày tuổi kém chất lượng hơn lá bông ở giai đoạn 30-55 ngày tuổi

Ngược lại, khi ăn lá giống bông lai VN15 và giống bông mẹ CS95 (bông Bt), sâu non sâu xanh bị chết với tỷ lệ gần tương tự nhau, nhưng cao hơn hẳn (ở mức có ý nghĩa thống kê) so với tỷ lệ chết khi ăn lá bông không Bt Khi ăn lá bông Bt, tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh rất biến động và phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây bông cũng như tuổi sâu non Với thức ăn là lá bông Bt ở giai đoạn 30-35 ngày tuổi, sâu non sâu xanh có tỷ lệ chết chung đạt cao nhất, tới 78,9-81,1% Tỷ lệ chết chung của sâu non sâu xanh bắt đầu giảm dần khi ăn lá bông Bt

ở giai đoạn từ 50-75 ngày tuổi Tỷ lệ chết chung này chỉ còn 32,2-36,7% khi sâu non sâu xanh ăn

lá bông Bt giai đoạn 90-95 ngày tuổi Sâu non tuổi 1 có tỷ lệ chết đạt cao nhất trong các tuổi sâu non và biến động nhất ở cả 4 giai đoạn sinh trưởng của cây bông được nghiên cứu Tỷ lệ chết của sâu non tuổi 1 đạt 64,4-65,6% khi ăn lá bông Bt ở giai đoạn 30-35 ngày tuổi Tỷ lệ này giảm dần theo giai đoạn sinh trưởng của cây bông và chỉ còn 20,0-23,3% khi ăn lá bông Bt ở giai đoạn 70-95 ngày tuổi Sâu non các tuổi khác (từ tuổi 2 đến tuổi 5) có tỷ lệ chết rất thấp và ít biến động theo giai đoạn sinh trưởng của cây bông (bảng 1)

Trang 3

Bảng 1 Tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh nuôi bằng lá các giống bông lai VN15 và giống bông

bố mẹ của nó ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau trong mùa khô (Ninh Thuận)

Giai đoạn

sinh trưởng

Giống bông thí nghiệm

Tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh ở các tuổi (%) Tỷ lệ chết

chung (%) Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5

30-35

ngày tuổi

LRA5166 2,2 2,2 1,1 0,0 0,0 5,6

50-55

ngày tuổi

LRA5166 2,2 3,3 0,0 0,0 0,0 5,6

70-75

ngày tuổi

90-95

ngày tuổi

Ghi chú: ns= sai khác không có ý nghĩa Điều kiện phòng thí nghiệm: nhiệt độ 30 o C, ẩm độ 70%

Kết quả ở bảng 1 cho thấy lá của giống bông

lai VN15 (con lai F1 của giống bông chuyển gen

Bt) có biểu hiện tác động của gen Bt tương tự

giống bông mẹ CS95 (giống bông chuyển gen

Bt) Giống bông lai VN15 có khả năng gây chết

cho sâu non sâu xanh với tỷ lệ khá cao, đặc biệt

là gây chết với tỷ lệ cao cho sâu non tuổi 1 của

sâu xanh Tác động diệt sâu non sâu xanh của

độc tố Bt trong giống bông lai VN15 có xu

hướng giảm dần theo giai đoạn sinh trưởng của

cây bông

Khi ăn nụ hoa bông Bt (VN15, CS95), tỷ lệ

chết của sâu non sâu xanh đạt cao hơn hẳn so

với khi ăn nụ hoa bông không Bt (LRA5166) Thí

dụ, khi ăn nụ hoa bông Bt ở giai đoạn 50-55

ngày tuổi, sâu non sâu xanh có tỷ lệ chết chung

là 44,4-48,9% Trong khi đó, ăn nụ hoa bông

không Bt, sâu non sâu xanh có tỷ lệ chết chung

đạt rất thấp chỉ là 5,6% Khi ăn nụ hoa bông Bt

ở giai đoạn 70-75 ngày tuổi, tỷ lệ chết chung

của sâu non sâu xanh đạt 24,0-28,9% vẫn cao

hơn hẳn so với 6,7% khi ăn nụ hoa bông không

Bt Tỷ lệ chết chung của sâu non sâu xanh trên

bông Bt và bông không Bt khác biệt nhau ở mức

có ý nghĩa thống kê Khi ăn nụ hoa bông Bt, sâu

non tuổi 1 của sâu xanh cũng có tỷ lệ chết đạt

cao nhất trong các tuổi sâu non Tỷ lệ chết của

sâu non tuổi 1 đạt 30,0-33,3% khi ăn nụ hoa

bông Bt ở giai đoạn 50-55 ngày tuổi Tỷ lệ này giảm còn 10,0-15,6% khi ăn nụ hoa bông Bt ở giai đoạn 70-75 ngày tuổi Sâu non các tuổi khác (từ tuổi 2 đến tuổi 5) có tỷ lệ chết thấp Ngược lại, khi ăn nụ hoa bông không Bt, sâu non sâu xanh có tỷ lệ chết chung khá thấp, chỉ

là 5,6% và 6,7% tương ứng ở giai đoạn 50-55

và 70-75 ngày tuổi (bảng 2)

Như vậy, khi ăn nụ hoa bông Bt (VN15, CS95), tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh cũng

có xu hướng giảm dần theo thời gian sinh trưởng của cây bông

Khi ăn quả bông Bt (VN15, CS95), tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh đạt thấp hơn rất nhiều so với khi ăn lá và nụ hoa của các giống bông này Điều này có nghĩa là hàm lượng độc tố Bt trong quả bông thấp hơn trong lá và nụ hoa Tuy vậy, khi ăn quả bông Bt, sâu non sâu xanh vẫn có tỷ

lệ chết cao hơn so với tỷ lệ chết khi ăn quả bông không Bt (LRA5166) Khi ăn quả bông Bt

ở giai đoạn 70-75 ngày tuổi, sâu non sâu xanh

có tỷ lệ chết chung là 20,0-25,6% Ăn quả bông

Bt ở giai đoạn 90-95 ngày tuổi, chỉ tiêu này giảm còn 16,7-18,9% Trong khi đó, ăn quả bông không Bt, sâu non sâu xanh có tỷ lệ chết chung đạt rất thấp chỉ là 5,6% và thấp hơn rõ ràng (ở mức có ý nghĩa thống kê) so với ăn quả bông Bt (bảng 3)

Trang 4

Bảng 2 Tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh nuôi bằng Nụ hoa giống bông lai VN15 và giống bông

bố mẹ của nó ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau trong mùa khô (Ninh Thuận)

Giai đoạn

sinh trưởng Giống bông thí nghiệm Tuổi 1 Tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh ở các tuổi (%) Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5 chung (%) Tỷ lệ chết 50-55

ngày tuổi

70-75

ngày tuổi

Ghi chú: ns= sai khác không có ý nghĩa Điều kiện phòng thí nghiệm: nhiệt độ 30 o C, ẩm độ 70%

Bảng 3 Tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh nuôi bằng Quả giống bông lai VN15 và giống bông bố

mẹ của nó ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau trong mùa khô (Ninh Thuận)

Giai đoạn

sinh trưởng

Giống bông thí nghiệm

Tỷ lệ chết của sâu non sâu xanh ở các tuổi (%) Tỷ lệ chết

chung (%) Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5

70-75

ngày tuổi

90-95

ngày tuổi

Ghi chú: ns= sai khác không có ý nghĩa Điều kiện phòng thí nghiệm: nhiệt độ 30 o C, ẩm độ 70%

Như vậy, các bộ phận như lá, nụ hoa và quả

non của giống bông lai VN15 và giống bông mẹ

CS95 (bông Bt) đều có khả năng diệt sâu non

sâu xanh, đặc biệt là diệt sâu non tuổi nhỏ của

sâu xanh Khi ăn lá, nụ hoa, quả bông Bt ở các

giai đoạn sinh trưởng khác nhau, sâu non sâu

xanh có tỷ lệ chết đều cao hơn hẳn so với tỷ lệ

chết khi ăn các bộ phận tương ứng này của bông

không Bt Tác động diệt sâu xanh của lá, nụ hoa

và quả bông đều giảm dần theo thời gian sinh

trưởng của cây bông và giảm dần từ lá đến nụ

hoa và quả bông Kết quả nghiên cứu này hoàn

toàn phù hợp với kết quả phân tích hàm lượng

protein độc tố trong cây bông mang gen Bt của

Wang và He (2000) Tỷ lệ chết của sâu non sâu

xanh khi ăn lá, nụ hoa, quả của giống bông lai

VN15 và giống bông mẹ chuyển gen Bt CS95 là

tương đương nhau Kết quả này cho thấy có thể

khai thác tính kháng cao đối với sâu xanh do độc

tố của gen Bt thông qua sử dụng giống bông lai

F1 giữa giống bông CS95 (giống chuyển gen Bt)

với giống bông truyền thống (bông không chuyển gen Bt)

3.2 Ảnh hưởng của giống bông lai mang gen Bt đến thời gian phát dục sâu non sâu xanh

Khả năng cao diệt sâu non sâu xanh của các giống bông chuyển gen Bt đã được khẳng định, nhưng không thể diệt chúng một cách hoàn toàn (Li and Cui, 2001; Xia, 2000) Những sâu non sống sót ít nhiều bị độc tố từ gen Bt gây ảnh hưởng đến thời gian phát dục của chúng

Ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây bông được nghiên cứu, khi ăn lá bông Bt (VN15, CS95) nếu không bị chết thì sâu non sâu xanh đều kéo dài thời gian phát dục hơn hẳn so với thời gian phát dục của sâu non sâu xanh khi ăn

lá bông không Bt (LRA5166) Thời gian phát dục của sâu non sâu xanh sống sót khi ăn lá bông Bt phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây bông và có xu hướng gia tăng rõ ràng theo tuổi sâu non, đặc biệt thời gian phát dục kéo dài rất

Trang 5

rõ ở sâu non từ tuổi 3 đến tuổi 5 (bảng 4) Ở giai

đoạn 30-35 ngày tuổi, khi ăn lá bông Bt so với ăn

lá bông không Bt, sâu non sâu xanh sống sót có

thời gian phát dục kéo dài thêm lớn nhất và đạt

tới 17,4-20,1 ngày (so 33,7 và 36,4 ngày với 16,3

ngày) Chỉ tiêu này rút ngắn dần theo thời gian

sinh trưởng của cây bông và chỉ còn 7,6-7,9

ngày ở giai đoạn 90-95 ngày tuổi (so 28,4 và

28,7 ngày khi ăn lá bông Bt với 20,8 ngày khi ăn

lá bông không Bt) Kết quả ở bảng 4 cho thấy khi

ăn lá bông Bt so với ăn lá bông không Bt, thời gian phát dục kéo dài thêm của sâu non gia tăng theo tuổi của chúng Điều này có thể do độc tố Bt không đủ liều gây chết đã được tích luỹ dần theo thời gian trong cơ thể sâu non sống sót, dẫn đến sâu non sống sót ở tuổi lớn hơn bị ảnh hưởng nhiều hơn và sự phát dục của chúng bị chậm nhiều hơn

Bảng 4 Thời gian phát dục sâu non với thức ăn là Lá của giống bông lai VN15 và giống bông

bố mẹ ở các giai đoạn sinh trưởng của cây bông trong mùa khô (Ninh Thuận)

Giai đoạn

sinh trưởng

Giống bông

Thời gian phát dục các tuổi sâu non (ngày) Cả pha sâu

non (ngày) Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5

30-35

ngày tuổi

VN15 3,60,4 4,20,4 5,60,7 8,00,9 12,31,0 33,70,3 CS95 4,20,5 4,60,4 5,40,5 9,20,7 13,10,9 36,40,3 LRA5166 2,50,2 2,40,2 2,70,2 3,50,2 5,20,3 16,30,5 50-55

ngày tuổi

VN15 3,60,2 4,20,3 5,20,3 7,90,3 10,90,5 31,70,8 CS95 3,90,3 4,50,3 5,40,3 8,30,7 12,20,7 34,30,9 LRA5166 2,40,2 2,40,2 2,70,2 3,50,2 5,30,3 16,20,3 70-75

ngày tuổi

VN15 3,70,2 3,90,3 4,60,4 7,60,4 9,40,4 29,20,6 CS95 4,20,2 4,10,2 4,60,3 6,50,5 10,40,5 29,90,6 LRA5166 2,70,1 2,70,1 2,70,1 4,30,2 6,80,2 19,20,6 90-95

ngày tuổi

VN15 3,70,3 3,60,3 5,20,4 6,10,5 9,80,5 28,40,3 CS95 3,50,3 4,10,3 4,60,3 6,80,4 9,70,5 28,70,9 LRA5166 3,00,3 3,10,2 3,60,2 4,40,2 6,80,4 20,80,3

Ghi chú: Điều kiện nuôi sâu trong phòng: nhiệt độ 30 o C, ẩm độ 70%

Khi ăn lá bông Bt, thời gian phát dục của

những sâu non không bị chết có xu hướng

giảm dần theo thời gian sinh trưởng của cây

bông: chỉ tiêu này đạt dài nhất là 33,7-36,4

ngày khi ăn lá bông Bt ở giai đoạn 30-35 ngày

tuổi và đạt ngắn nhất là 28,4-28,7 ngày khi ăn

lá bông Bt ở giai đoạn 90-95 ngày tuổi (bảng 4)

Điều này có thể giải thích do hàm lượng độc

tố Bt giảm dần theo tuổi cây bông Do đó,

ảnh hưởng làm chậm phát dục của sâu non

cũng giảm dần theo thời gian sinh trưởng

của cây bông

Sự ảnh hưởng đến thời gian phát dục của

sâu non sâu xanh khi ăn nụ hoa, quả non của

bông Bt (VN15, CS95) cũng có bức tranh

tương tự như khi ăn lá của các giống bông

này Khi ăn nụ hoa bông Bt so với ăn nụ hoa

bông không Bt, pha sâu non sâu xanh có thời

gian phát dục kéo dài thêm là 14,1-19,0 ngày

(so 30,1 và 35,0 ngày khi ăn lá bông Bt với

16,0 ngày khi ăn lá bông không Bt) ở giai đoạn

50-55 và 10,5-10,9 ngày (so 28,8 và 29,2 ngày khi ăn lá bông Bt với 18,3 ngày khi ăn lá bông không Bt) ở giai đoạn 70-75 ngày tuổi Thời gian phát dục kéo dài thêm của các tuổi sâu non khi ăn nụ hoa bông Bt có xu hướng tăng theo tuổi sâu non và biểu hiện rất rõ ở sâu non

từ tuổi 3 đến tuổi 5 (bảng 5)

Khi ăn quả non bông Bt so với ăn quả non bông không Bt, những sâu non sâu xanh sống sót có thời gian phát dục kéo dài thêm là 10,2-11,1 ngày (so 28,5 và 27,6 ngày khi ăn lá bông Bt với 17,4 ngày khi ăn lá bông không Bt) ở giai đoạn 70-75 và 9,9-12,5 ngày (so 30,6 và 28,0 ngày khi ăn lá bông Bt với 18,1 ngày khi ăn lá bông không Bt) ở giai đoạn

90-95 ngày tuổi Thời gian phát dục kéo dài thêm của các tuổi sâu non khi ăn quả non bông Bt cũng có xu hướng tăng theo tuổi sâu non và biểu hiện rất rõ ở sâu non từ tuổi 3 đến tuổi 5 (bảng 6)

Trang 6

Bảng 5 Thời gian phát dục sâu non với thức ăn là Nụ hoa của giống bông lai VN15 và giống

bông bố mẹ ở các giai đoạn sinh trưởng của cây bông trong mùa khô (Ninh Thuận)

Giai đoạn

sinh trưởng Giống bông Thời gian phát dục các tuổi sâu non (ngày) Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5 Cả pha sâu non (ngày) 50-55

ngày tuổi

VN15 3,40,3 3,90,3 4,70,3 8,00,5 10,20,5 30,11,1 CS95 4,00,4 4,40,3 5,20,4 9,00,5 12,40,7 35,00,7 LRA5166 2,30,2 2,40,2 2,60,2 3,40,2 5,20,3 16,00,4 70-75

ngày tuổi

VN15 3,60,3 3,70,2 4,90,3 6,70,3 9,80,5 28,80,5 CS95 3,90,3 4,10,3 4,40,2 6,30,3 10,50,5 29,20,5 LRA5166 2,40,2 2,50,2 2,70,2 4,10,3 6,60,3 18,30,5

Ghi chú: Điều kiện nuôi sâu trong phòng: nhiệt độ 30 o C, ẩm độ 70%

Bảng 6 Thời gian phát dục sâu non với thức ăn là Quả non của giống bông lai VN15 và giống

bông bố mẹ ở các giai đoạn sinh trưởng của cây bông trong mùa khô (Ninh Thuận)

Giai đoạn

sinh trưởng Giống bông Thời gian phát dục các tuổi sâu non (ngày) sâu non Cả pha

(ngày) Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5

70-75

ngày tuổi

VN15 3,40,2 3,80,3 4,70,4 7,00,5 9,50,5 28,50,3 CS95 3,70,2 3,70,2 4,20,2 6,00,4 10,10,6 27,60,5 LRA5166 2,10,1 2,30,1 2,60,2 3,90,3 6,50,4 17,40,5 90-95

ngày tuổi

VN15 3,30,2 3,80,2 4,80,3 8,60,5 10,10,6 30,60,5 CS95 3,60,2 3,90,2 4,30,2 6,00,4 10,10,5 28,00,2 LRA5166 2,30,1 2,50,1 2,70,2 4,00,2 6,70,3 18,10,8

Ghi chú: Điều kiện nuôi sâu trong phòng: nhiệt độ 30 o C, ẩm độ 70%

4 KẾT LUẬN

Giống bông lai VN15 (con lai F1) có biểu hiện

tác động của gen Bt gần tương tự giống bông mẹ

CS95 (giống chuyển gen Bt) Lá, nụ hoa và quả

non của giống bông lai VN15 và giống bông mẹ

CS95 đều có khả năng cao diệt sâu non sâu

xanh, đặc biệt là diệt sâu non tuổi nhỏ Khi ăn lá,

nụ hoa và quả non bông Bt, sâu non sâu xanh có

tỷ lệ chết đều cao hơn hẳn so với tỷ lệ chết khi

ăn các bộ phận tương ứng này của bông không

Bt Tác động diệt sâu xanh của độc tố Bt trong lá,

nụ hoa và quả bông Bt (VN15, CS95) đều giảm

dần theo thời gian sinh trưởng của cây bông và

giảm dần từ lá đến nụ hoa và quả bông Sâu non

sâu xanh có tỷ lệ chết cao nhất là 78,9-81,1% khi

ăn lá bông Bt ở giai đoạn 30-35 ngày tuổi và thấp

nhất là 16,7-18,9% khi ăn quả non bông Bt ở giai

đoạn 90-95 ngày tuổi

Khi ăn lá, nụ hoa và quả non bông Bt (VN15,

CS95) ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây

bông được nghiên cứu, nếu không bị chết thì sâu

non sâu xanh đều kéo dài thời gian phát dục hơn

hẳn so với thời gian phát dục của sâu non sâu

xanh sống trên bông không Bt (LRA5166) Thời gian phát dục kéo dài thêm của sâu non sâu xanh khi ăn lá, nụ hoa và quả non bông Bt phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây bông và

có xu hướng gia tăng theo tuổi sâu non, đặc biệt thời gian phát dục kéo dài thêm rất rõ ở sâu non

từ tuổi 3 đến tuổi 5 Sâu non sâu xanh có thời gian phát dục kéo dài thêm nhiều nhất là 17,4-20,1 ngày khi ăn lá bông Bt ở giai đoạn 30-35 ngày tuổi và ngắn nhất là 7,6-7,9 ngày khi ăn lá bông Bt ở giai đoạn 90-95 ngày tuổi

Có thể khai thác tác động cao diệt sâu non sâu xanh của gen Bt thông qua sử dụng giống bông lai F1 giữa giống bông CS95 (giống chuyển gen Bt) với giống bông truyền thống

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Li Fu Guang, Cui Jin-jie, 2001 Study on insect resistant transgenic cotton harbouring double gene

and its resistance to insect pest Chinese Agricultural

Science, p 70-76

2 Viện Nghiên cứu Cây bông và Cây có sợi,

2002 Báo cáo Khoa học năm 2002

3 Wang Baoming and He Zhongpei, 2000

Ngày đăng: 29/05/2020, 11:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w