Bài viết này cung cấp kết quả điều tra hiện trạng canh tác và phòng trừ ruồi đục quả dâu Hạ Châu, kết quả áp dụng quy trình quản lý tổng hợp ruồi đục trái trên cây trồng này ở huyện Phong Điền của dự án nêu trên trong năm 2017.
Trang 1Development and application of Bacillus thuringiensis
toxin ELISA kits, Center of Crop Chemical Control, China
Agricultural University, 100094, Beijing, China
4 Xia Jingyuan, 2000) Resistance of transgenic
Bt cotton to Helicoverpa armigera Hỹbner
(Lepidoptera: Noctuidae) and its effects on other
insects in China Proceeding of the first Vietnam-Sino conference on cotton technology and its industrialization, 13-14 November, 2000, Hochiminh
City, Viet Nam
Phản biện: GS-TS-NCVCC Phạm Văn Lầm
PHÕNG TRỪ TỔNG HỢP RUỒI ĐỤC QUẢ DÂU HẠ CHÂU
TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ Intergrated Pest Management for Fruit Fly in” Dau Ha Chau”
at Phong Dien district, Can Tho province Nguyễn Thị Thanh Hiền 1 , Đoàn Thị Hồng Quyên 2 , Nguyễn Thị Kim Tươi 2 , Đặng Đình Thắng 1
,
Vũ Văn Thanh 1 , Vũ Thị Thùy Trang 1
, Hà Thị Kim Liên 1 , Lê Thị Xuyến 1
Ngày nhận bài: 18.3.2018 Ngày chấp nhận đăng: 24.4.2018
Abstract
Dau Ha Chau (Baccaurea ramiflora Lour) is one of the local fruits which not only brings significant income for
growers but also is a special well-known brand name of Phong Dien, Can Tho province However, dau Ha Chau growers in this area are facing to high crop loss caused by fruit fly, a serious insect pest, on this fruit tree
In 2017, An Area Wide-IPM model of 105.15 ha of dau Ha Chau farm was established in Nhon Ai village, Phong Dien district In the model the combination of three methods including field sanitation, using of male lure (20 traps/ha) and bait application (2 litters/ha); was effectively applied for control of fruit fly The percentage of damaged fruit at the end of the season was 3.7% in treated orchards and 43.3% in untreated area
Keywords: Dau Ha Chau, fruit fly, protein bait, AW- IPM
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Ruồi đục quả họ Tephritidae là một trong
những đối tượng gây hại nghiêm trọng cho sản
xuất nông nghiệp trên toàn thế giới Chúng tấn
công và gây hại cho rất nhiều loại quả cũng như
rau ăn quả (Allwood and Leblanc,1996)
Huyện Phong Điền - thành phố Cần Thơ, với
gần 8.000 ha sản xuất cây ăn quả đã và đang
mang lại nguồn thu nhập cho người nông dân
Tuy nhiên, hai loại quả chính của huyện là vú
sữa và dâu Hạ châu bị ruồi gây hại với tỷ lệ trung
bình là 8% (quả vú sữa) và 10% (quả dâu Hạ
Châu) (Trạm KN huyện Phong Điền, 2017) Hiện
nay, một số hộ dân đã thực hiện các biện pháp
phòng chống ruồi như bao quả, treo bẫy tiêu diệt
ruồi đực và phun thuốc hóa học.Tuy nhiên, việc
thực hiện không đồng bộ và do hạn chế hiểu biết
1. Viện Bảo vệ thực vật
2 Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công
nghệ TP Cần Thơ
về ruồi đục quả dẫn đến thiếu cơ sở triển khai khiến hiệu quả giải pháp phòng trừ không đạt như mong đợi Trước tình hình đó, Sở Công thương thành phố Cần Thơ và Ủy ban nhân dân Huyện Phong Điền đã kiến nghị Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ nghiên cứu giải pháp hiệu quả hỗ trợ địa phương phòng trừ ruồi đục quả dâu Hạ Châu Dự án Khoa học công nghệ “Chuyển giao quy trình quản lý tổng hợp ruồi đục trái trên 02 loại cây ăn trái: dâu Hạ Châu, vú sữa tại huyện Phong Điền, TP Cần Thơ” đã được thực hiện nhằm giới thiệu giải pháp quản lý tổng hợp ruồi đục quả phục vụ phát triển sản xuất dâu Hạ Châu của huyện Phong Điền
Bài viết này cung cấp kết quả điều tra hiện trạng canh tác và phòng trừ ruồi đục quả dâu
Hạ Châu, kết quả áp dụng quy trình quản lý tổng hợp ruồi đục trái trên cây trồng này ở huyện Phong Điền của dự án nêu trên trong năm 2017
Trang 22 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
- Bả Protein Ento-pro 150 DD
- Chất dẫn dụ Methyl eugenol diệt ruồi đực
- Túi nilon, bình bơm đeo vai,…
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Điều tra khảo sát tình hình chung của
vùng chuyên canh dâu Hạ Châu
Thu thập thông tin trực tiếp bằng phiếu điều
tra gồm 50 câu hỏi Tổng số lượng là 60 phiếu
điều tra tại ấp Nhơn Bình và ấp Nhơn Phú (xã
Nhơn Ái, huyện Phong Điền)
Chỉ tiêu thu thập gồm: Diện tích sản xuất, lao
động chính, tình hình ruồi đục quả (Tephritidae)
gây hại dâu Hạ Châu và biện pháp phòng chống
2.2.2 Nghiên cứu phòng trừ ruồi đục quả dâu
Hạ Châu
- Địa điểm triển khai: Ấp Nhơn Bình và ấp
Nhơn Phú thuộc xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền,
TP Cần Thơ
- Thời gian thực hiện từ tháng 6-10/2017
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm thực hiện diện
rộng và không nhắc lại Các biện pháp phòng trừ áp
dụng ở vườn thí nghiệm (diện tích 105,15 ha), gồm:
i) Biện pháp vệ sinh đồng ruộng: Hái và thu
gom đem tiêu hủy quả bị ruồi gây hại Cách làm:
đào hố, rắc vôi bột xung quanh sau đó đổ trái
thối, rụng vào hố rồi rắc phủ một lớp vôi bột sau
đó lắp hố nhằm tiêu diệt ấu trùng ruồi; hoặc đem
đốt Dọn cỏ, tỉa cành, chặt bỏ cây tạp trong vườn
canh tác nhất là các loài cây ký chủ ưa thích của
ruồi đục quả như Gioi (mận), khế, ổi, cóc, sơri,…
Biện pháp này được thực hiện trong suốt vụ quả
nhằm hạn chế số lượng ruồi phát sinh tại chỗ
ii) Treo 20 bẫy/ha loại chứa chất dẫn dụ Methyl eugenol (chất hấp dẫn ruồi đực) từ sau đậu quả 40 ngày Thay chất dẫn dụ 1 tháng/lần cho đến khi thu hoạch xong
iii) Phun bả protein (nhằm diệt cả ruồi đực và ruồi cái): mỗi ha phun 2 lít bả Ento-pro 150 DD (pha dung dịch: 2 lít Ento-Pro 150 DD + 18 lít nước + 1,6 gram thuốc trừ sâu loại chứa 100% hoạt chất Fipronil) ở vị trí ¾ tán lá tính từ chóp ngọn hoặc lên thân nơi gần tán lá thấp nhất đối với cây cao; phun 3 lần/tháng, phun vào các buổi sáng sớm Mỗi điểm phun 50 ml dung dịch pha/ điểm Phun bả sau khi đậu quả 40 ngày và dừng phun đợt cuối cùng 10 ngày trước khi thu hoạch Vườn đối chứng (5 ha): Được phòng trừ theo tập quán canh tác của nông dân (treo bẫy dẫn dụ diệt con đực và phun thuốc hóa học)
Phương pháp đánh giá các vườn thí nghiệm
(i) Theo dõi số lượng ruồi vào bẫy dẫn dụ: Đếm số lượng ruồi vào 10 bẫy dẫn dụ đặt tại vườn phòng trừ và 3 bẫy ở vườn đối chứng Định kỳ thu mẫu ruồi trong bẫy 7 ngày/lần (ii) Theo dõi tỉ lệ quả bị ruồi gây hại: Thu 10 chùm
ở một vườn trong mỗi đợt thu, tổng số vườn thu là
10 vườn/đợt Các chùm có số lượng quả tương đương nhau, từ 15-25 quả, lấy mẫu 7 ngày/lần × 3 tháng Qủa thu về theo dõi trong 10 ngày tiếp theo
để xác định tỷ lệ số quả bị ruồi gây hại
Sơ đồ vùng thí nghiệm phòng trừ ruồi
Vùng phòng trừ tổng hợp ruồi đục quả dâu Hạ Châu trên diện tích rộng 105,15 ha bao gồm có
161 hộ tại xã Nhơn Ái huyện Phong Điền, TP Cần Thơ (hình 1)
Hình 1: Sơ đồ vị trí mô hình phòng trừ tổng hợp ruồi đục quả dâu Hạ Châu
trên diện rộng (xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ, 2017)
Trang 33 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng sản xuất dâu Hạ Châu và
một số cây ăn quả khác của huyện Phong Điền
Về sản xuất: nhìn chung cây dâu Hạ Châu
được trồng ở địa phương đã lâu năm, đa số các
vườn có độ tuổi trên 5 năm Việc bán quả dâu Hạ
Châu đem lại nguồn thu tốt cho người dân vì thế
các chủ vườn đều có xu hướng mở rộng diện
tích trồng qua các năm Quy mô mỗi vườn không
lớn, tỷ lệ số hộ có diện tích từ 2.000 m2 đến
5.000 m2 chiếm 53% tỷ lệ số hộ có diện tích
vườn từ trên 5.000 m2 đến 10.000 m2 chiếm
34%, tỷ lệ số hộ có diện tích canh tác trên 10.000
m2 chỉ chiếm tỷ lệ là 13% (bảng 1)
Các vườn dâu Hạ Châu dù gần nhà dân
nhưng được trồng khá liền kề nên tạo thành vùng sản xuất khá tập trung Trong mùa vụ 2016, năng suất của các hộ canh tác dâu Hạ Châu đạt
từ 5 tấn/ha đến 42 tấn/ha Có 72% số hộ đạt năng suất trung bình từ 5-10 tấn/ha và 3% hộ điều tra có năng suất thấp dưới 5 tấn/ha (bảng 1), nguyên nhân do đây là những hộ trồng mới, cây còn tơ nên năng suất chưa cao Giá bán dâu
Hạ Châu dao động từ 10.000 đồng/kg đến 25.000 đồng /kg Trong đó, số hộ bán dâu với giá
từ 10.000 - 11.000 đồng/kg chiếm tỷ lệ 57% Có
20 hộ (tương ứng tỷ lệ 33%) bán được với giá từ trên 11.000 - dưới 15.000 đồng /kg Một số ít hộ (khoảng 10%) bán được sản phẩm với giá từ 15.000 đến 25.000 đồng /kg (bảng 1)
Bảng 1 Diện tích canh tác và năng suất của hộ sản xuất tại vùng trồng Dâu Hạ Châu,
xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ (2017)
Diện tích canh tác (m2
Gía bán (đồng/kg) 10000- <11000 11000- <15000 15.000 - 25.000
Nhân lực tham gia sản xuất: Độ tuổi chủ vườn
tập trung chủ yếu là trung niên từ 41 – 60 tuổi
chiếm 63% (bảng 2) Tuy nhiên, dù đa số người
dân đã ý thức được tác hại của ruồi đục quả (dân
thường gọi là ruồi vàng) song có rất ít người tham gia các tổ chức xã hội (nhất là hội nông dân) vì thế việc tiếp cận thông tin, kỹ thuật phòng chống ruồi nói riêng trong sản xuất bị hạn chế
Bảng 2 Tình hình tham gia các tổ chức xã hội của người sản xuất Dâu Hạ Châu,
xã Nhơn Ái, Phong Điền, TP Cần Thơ (2017)
Tổ chức XH Hội nông dân Hội phụ nữ Người cao tuổi Hợp tác xã Không tham gia
Về thành phần cây ăn quả: Bên cạnh cây
trồng chính (dâu Hạ Châu) các hộ sản xuất trồng
xen một số loại cây khác Trong 60 hộ điều tra,
có hơn 50% số hộ có trồng các loại cây khác
trong vườn dâu Hạ Châu gồm chanh, cóc, hạnh,
vú sữa và mãng cầu
Về ruồi đục quả: ruồi đục quả thường xuyên
xuất hiện ở khắp vùng trồng dâu Hạ Châu Mật
độ ruồi tăng dần kể từ khi cây dâu Hạ Châu ra
hoa và cao nhất ở thời điểm nhiều quả chín Có
gần 70% số hộ được hỏi cho rằng tỷ thiệt hại do
ruồi gây ra lên tới 50%
Về nhận thức của người dân đối với ruồi đục
quả: hầu hết các hộ cũng ý thực được việc
phòng trừ ruồi khó khăn và nêu nguyên nhân là
do phòng trừ không đồng loạt giữa các vườn, ruồi di chuyển từ vườn này sang vườn khác, ruồi kháng thuốc và chi phí phòng trừ cao
Về các biện pháp phòng trừ ruồi đục quả:
Phổ biến nhất là phun thuốc sâu để xua đuổi ruồi Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là không có sự liên kết, phối hợp giữa các hộ trong quá trình phòng trừ Từng hộ tự quyết định loại thuốc, thời điểm phun thuốc, số lần phun, liều lượng phun Trong số 60 hộ được phòng vấn thì có đến 50%
hộ trồng dâu Hạ Châu đánh giá việc phun thuốc mang lại hiệu quả dưới 50% và cho rằng hiệu quả phòng trừ thấp là do ruồi có khả năng di chuyển tốt, nên chỉ có thể diệt được khi ruồi tiếp xúc trực tiếp với thuốc Bên cạnh đó, việc phun xua đuổi
Trang 4không đồng bộ đã làm ruồi di chuyển sang vườn
khác để trú ẩn và rất có thể sẽ quay lại gây hại
Mặt khác, việc sử dụng khá tùy tiện các thuốc chỉ
để xua đuổi ruồi đã ảnh hưởng xấu tới không khí
và kênh nước của người dân trong khu vực
Một số hộ đã áp dụng biện pháp treo bẫy diệt
ruồi kết hợp phun thuốc trừ sâu và cho hiệu quả
phòng trừ từ 30 đến 50% (theo đánh giá của
người dân) Đáng chú ý hiệu quả này được dựa
trên quan sát số lượng ruồi bắt trong bẫy Hoạt
chất chính của sản phẩm bẫy đang sử dụng phổ
biến ở địa phương là Methyl eugenol Đây là chất
chỉ hấp dẫn con đực của các loài ruồi đục quả
giống Bactrocera (Allwood and Drew, 1996;
Keng- Hong Tan and Nishida, 1996) mà không
hấp dẫn con ruồi cái Trong khi con cái mới là
nhân tố trực tiếp đẻ trứng vào quả Biện pháp sử
dụng bẫy phòng trừ ruồi lại được ghi nhận đặc
biệt phù hợp với những vùng biệt lập về địa lý
(Allwood and Drew, 1996), nếu dùng riêng lẻ thì
sẽ không thành công (Sabine,1992)
Biện pháp vệ sinh đồng ruộng là một trong
những biện pháp khá hữu hiệu trong mô hình
phòng trừ tổng hợp ruồi (Allwood và ctv., 1996)
Tuy nhiên, thực tế điều tra tại vùng trồng dâu Hạ
Châu của huyện Phong Điền (Cần Thơ) cho thấy
tỷ lệ giữa hộ có thực hiện vệ sinh và hộ không
thực hiện biện pháp vệ sinh là gần bằng nhau
Các điểm thực hiện vệ sinh đồng ruộng kém này
sẽ là những ổ phát sinh nguồn cho các thế hệ
ruồi đục quả kế tiếp sinh sôi và tiếp tục gây hại
Do đó, đây chính là một trong những nguyên
nhân khiến cho ruồi đục quả xuất hiện liên tục
quanh năm tại khu vực này
3.2 Diễn biến số lượng các loài ruồi đục quả (Tephritidae) vào bẫy tại hai ấp Nhơn Bình và Nhơn Phú thuộc xã Nhơn Ái huyện Phong Điền, TP Cần Thơ
Số lượng ruồi bắt trong bẫy dẫn dụ ở vườn thí nghiệm và vườn đối chứng trong các tháng đầu thí nghiệm khá thấp, trung bình chỉ dưới 15 ruồi/bẫy/ngày Thực tế vào thời điểm này chỉ vài vườn trồng giống dâu chua có quả chuẩn bị chín, dâu Hạ Châu quả còn nhỏ, các quả ký chủ khác như xoài, khế đang ở giai đoạn quả xanh Do đó sự hiện diện của ruồi trên cả hai vườn chưa có đột biến, vào thời điểm dâu thu hoạch thì số lượng ruồi tăng rất nhanh và điều này là hoàn toàn phù hợp
cơ chế điều chỉnh loài (Phạm Bình Quyền, 2006)
Cụ thể, số lượng ruồi trong bẫy ở vườn thí nghiệm
từ 3,3 ruồi/bẫy (22/8/2018) sau bảy ngày tăng lên 31,8 ruồi/bẫy/ngày (29/8/2017) và có đỉnh cao là 37,6 ruồi/bẫy/ngày (ngày điều tra 6/9/2017) (hình 2) Trong khi đó, số lượng ruồi bắt trong bẫy tại vườn đối chứng ở cùng thời điểm quan sát tương ứng lần lượt là 9,7 ruồi/bẫy 49 ruồi/bẫy/ngày (29/8/2017) và 53,4 ruồi (6/9/2017) Số lượng ruồi trong bẫy vườn đối chứng tiếp tục tăng cao ở những ngày điều tra sau và đạt đỉnh cao là 58,5 ruồi/bẫy/ngày vào 21/9/2017 Đặc biệt đến cuối vụ dâu, trong khi xu hướng chung tại vườn thí nghiệm
là giảm thì ở vườn đối chứng vẫn biến thiên theo hướng tăng Ví dụ, ở ngày điều tra 27/9 đến 20/10
số lượng ruồi trong bẫy trung bình ở vườn thí nghiệm tương ứng lần lượt là 11,8; 6,7; 4,7 ruồi/bẫy/ngày thì ở vườn đối chứng là 7,8; 21,0 và 9,8 ruồi/bẫy/ngày, cao gấp đôi so với số lượng ruồi bắt trong bẫy ở vườn thí nghiệm (hình 2)
Hình 2 Diễn biến số lượng ruồi trung bình vào bẫy dẫn dụ ở các vườn dâu Hạ Châu thí nghiệm và đối chứng (xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, tháng 6/2017- 10/2017)
Ghi chú: ngày TB: trung bình; Công thức 1: vườn mô hình áp dụng theo quy trình quản lý
tổng hợp ruồi đục trái; Công thức 2: vườn đối chứng
37.6
4.7 14.9
31.8
1.6
15.0
9.8
58.5 49.0
12.1 33.9
0.0 10.0
20.0
30.0
40.0
50.0
60.0
70.0
2/
20
16/6
7
30/6
7
14/7 7 4/
20
16/8
7
29/8
7
14/9
7
27/9 7
20/1 17
Ngày Ruồi/bẫy/ngày
Trang 5Để thấy rõ hơn hiệu quả của các biện pháp
áp dụng trong mô hình, dự án đã tiến hành đánh
giá tỷ lệ quả bị hại Kết quả cho thấy tỉ lệ quả bị
ruồi gây hại ở ngày điều tra đầu tiên (02/6/2017)
tương đương nhau giữa vườn thí nghiệm và
vườn đối chứng (0,6% ở vườn thí nghiệm và 0,5
% ở vườn đối chứng) Tuy nhiên chỉ sau 01
tháng (tháng Bẩy), khi dâu Hạ Châu bắt đầu chín
thì tỷ lệ quả hại ở vườn đối chứng là 2,2% cao
gấp hơn ba lần so với vườn thí nghiệm (0,6%; ngày 7/7/2017) (hình 3) Khoảng cách chênh lệch này tiếp tục được nới rộng trong tháng Tám khi
tỷ lệ quả bị hại của vườn đối chứng là 13,7% và vườn phòng trừ là 4,9% Càng về chín rộ (tháng Chín), sự chênh lệch về tỷ lệ quả bị ruồi gây hại thể hiện rất rõ Cụ thể, ở vườn đối chứng tỷ lệ quả bị hại thấp nhất là 35,9% trong khi vườn thí nghiệm cao nhất chỉ là 8,1% (hình 3)
Hình 3 Tỷ lệ quả bị ruồi gây hại tại các vườn dâu Hạ Châu thí nghiệm
và đối chứng (xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ, 2017)
Ghi chú: TLH: Tỷ lệ hại
Nhận xét chung
Khi so sánh tổng số ruồi đục quả bắt được ở
bẫy dẫn dụ tại các vườn cũng như tỷ lệ quả bị
hại thì vườn đối chứng luôn cao hơn gấp nhiều
lần so với vườn thí nghiệm (hình 2 và hình 3)
Trong thực tế, biện pháp vệ sinh đồng ruộng
được thực hiện đồng loạt ở các vườn thí nghiệm,
song lại không đồng đều và không thường xuyên
ở vườn đối chứng đã dẫn đến hình thành tụ điểm
tái phát ruồi Ở vườn đối chứng, mặc dù người
dân có treo bẫy dẫn dụ nhưng bẫy chỉ diệt con
đực, con cái không bị tiêu diệt dẫn đến ruồi vẫn
gây hại cho quả Trong khi đó, ở vườn thí
nghiệm ngoài việc thực hiện tốt hai biện pháp vệ
sinh đồng ruộng và treo bẫy còn được bổ sung
thêm biện pháp phun bả protein Như vậy, vườn
thí nghiệm cho kết quả tốt nhất là khi mật độ
quần thể ruồi giảm nhờ sự hỗ trợ lẫn nhau của
các biện pháp: biện pháp treo bẫy sẽ tiêu diệt bớt
con đực, những con đực còn lại cùng với con cái
có trên vườn sẽ bị tiêu diệt bởi ăn phải hỗn hợp
bả protein với thuốc sâu và biện pháp loại bỏ ký
chủ sẽ ngăn cản không cho nguồn ruồi tái phát
sinh Tuy nhiên, số lượng ruồi thu trong bẫy ở vườn mô hình vào thời kỳ dâu Hạ Châu chín (hình 1) khá cao, đỉnh điểm đạt trung bình 37,6 ruồi/bẫy/ngày (6/9/2018) là điều cần quan tâm Ngoài nguyên nhân là do mô hình mới chỉ được thực hiện trong 4 tháng thì chỉ số này cho thấy nguy cơ dịch ruồi đục quả ở khu vực là khá cao bởi diện tích mô hình chỉ chiếm 15,6 % so với tổng diện tích 675 ha dâu Hạ Châu của toàn huyện (Trạm khuyến nông huyện Phong Điền, 2017) Do đó rất cần sự quan tâm đầu tư của chính quyền và chính người sản xuất trong việc tiếp tục triển khai trên diện rộng các giải pháp tổng hợp phòng chống ruồi đục quả
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1 Kết luận
Tại huyện Phong Điền, các vườn dâu Hạ Châu được trồng liền kề nhau với diện tích trồng của mỗi hộ đa số là từ 2000 đến 5000 m2,năng suất phổ biến ở mức 10-20 tấn/ha Ruồi đục quả xuất hiện quanh năm, người dân đã phun thuốc BVTV và treo bẫy diệt ruồi song do tỷ lệ hộ
8.1
3.7 0.6
4.9
35.9 26.8
48.7
43.3
2.2 0.5
13.7
0.0
10.0
20.0
30.0
40.0
50.0
60.0
2/6/2017 23/6/17 14/7/17 11/8/2017 29/8/17 21/9/17 20/10/17
Ngày
Tỷ lệ hại (%)
TLH% Vườn thí nghiệm TLH% Vườn đối chứng
Trang 6không tham gia các tổ chức xã hội rất cao (72%)
nên việc tiếp cận thông tin cùng với tính tự phát
trong phòng trừ ruồi dẫn đến hiệu quả thấp
Phòng trừ ruồi đục quả dâu Hạ Châu trên diện
rộng cần phối hợp ba biện pháp gồm (i) Định kỳ
vệ sinh đồng ruộng bằng cách hái và thu gom
chôn lấp quả bị ruồi gây hại; (ii) Phun điểm định kỳ
bả protein sau khi đậu quả 40 ngày và dừng phun
trước đợt thu hoạch cuối cùng 10 ngày; (iii) Treo
20 bẫy dẫn dụ diệt con đực/ha cho hiệu quả khá,
tỷ lệ quả bị ruồi gây hại ở cuối vụ ở vườn mô hình
là 3,7%, vườn đối chứng là 43,3%
4.2 Đề nghị
Triển khai giải pháp quản lý ruồi đục quả đồng
loạt cho toàn vùng sản xuất từ khi quả dâu Hạ
Châu được 40 ngày tuổi
Mở rộng diện tích ứng dụng kết quả nghiên
cứu nhằm góp phần thực hiện thành công định
hướng phát triển “Hình thành các tiểu vùng nông
nghiệp đặc trưng” của ngành nông nghiệp thành
phố Cần Thơ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Allwood A.J and L.Leblanc, 1996, Losses
caused by fruit flies (Diptera: Tephritidae) in seven
Pacific Island countries” In: Management of Fruit flies
in The Pacific - ACIAR proceedings N 0 76 A.J.Allwood
and R.A.I.Drew tr 208-211
2 AllWood A.J and Drew R.A.I., 1996
Management of Fruit flies in The Pacific, ACIAR
proceedings N076, pp 111-113, 171 – 178
3 Keng-Hong Tan and R Nishida, 1996 Sex Pheromone and Mating competition after Methyl Eugenol consumption in the Bactrocera dorsalis
complex In: Fruit fly pests: A world assessment of their biology and management Bruce A.McPheron,
Gary J.Steck, 1996 pp.147-153
4 Nguyễn Thị Thanh Hiền, Lê Đức Khánh, Lê Quang Khải, Vũ Thị Thuỳ Trang, Trần Thanh Toàn, Trần Thị Thuý Hằng, Đặng Đình Thắng, Lê Công Hoàng, Đào Kim Dung, Nguyễn Hữu Quang, Lê Ngọc Thành, 2012
Nghiên cứu biện pháp quản lý ruồi hại trái thanh long trên diện rộng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm trái xuất khẩu tại Bình Thuận Báo cáo tổng kết nhiệm vụ cấp nhà nước về giải quyết vấn đề cấp thiết tại địa phương
5 Phạm Bình Quyền, 2006 Sinh thái học côn
trùng, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, tr.107-117
6 Sabine B.N.E., 1992 Pre-havest control methods
International training course 4-15th May 1992 Fruit flies
7 Trạm khuyến nông huyện Phong Điền, Báo cáo năm 2017
8 UBND thành phố Cần Thơ, Kế hoạch số 23/KH-UBND ngày 27 tháng 02 năm 2017, Xây dựng và phát triển huyện Phong Điền thành đô thị sinh thái
Phản biện: TS Nguyễn Văn Liêm
HIỆU QUẢ PHÕNG TRỪ TUYẾN TRÙNG SẦN RỄ HỒ TIÊU
(Meloidogyne sp.) CỦA CHẾ PHẨM NẤM Paecilomyces lilacinus
Efficacy to Control Root-Knot Nematode (Meloidogyne sp.)
on Black Pepper of Paecilomyces lilacinus Formulation
Nguyễn Thị Hai, Chu Thị Bích Phƣợng và Đinh Thành Hiếu
Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Ngày nhận bài: 12.05.2018 Ngày chấp nhận đăng: 22.05.2018
Abstract
The aim of this study to evaluate the efficiency of Paecilomyces lilacinus formulation on parasitic nematodes Meloidogyne sp on black pepper The effects of P lilacinus on the root-knot nematode were examined in the laboratory and field conditions Testing in the laboratory indicated that percentage of parasitized female and egg masses were 93.75% and 95.33% respectively at 5 day and 6 days after inoculating of P lilacinus formulation
Trials in the black pepper field conditions showed the efficacy to control root-knot nematodes on soil was 73.67%
in P lilacinus formulation and 70.08% in carbofuran treated plots In further, use of P lilacinus formulations improved plant growth Slow wilt disease index of black pepper in P lilacinus plots is lower in control plot and
carbosulfan plot
Keywords: Black pepper, Meloidogyne sp., Pacilomyces lilacinus, root-knot nematode