Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu lực của các loại thuốc hóa học đối với bệnh rụng lá cao su trên đồng ruộng tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trang 1BLAST của NCBI Cả hai mẫu nấm S-NK-ĐL-09
và mẫu S-TT-AP-01 đều có độ tương đồng 99%
với Fusarium solani được Sharma và cộng sự
phân lập tại khu vực miền Tây Ấn Độ có mã số
Ngân hàng gen KU872821.1 Tuy nhiên, độ bao
phủ của mẫu S-TT-AP-01 so với F solani có mã
KU872821.1 đạt 100%, trong khi đó mẫu
S-NK-ĐL-09 so với F solani có mã KU872821.1 chỉ có
98% Như vậy, với độ tương đồng cao 99% có
thể khẳng định rằng mẫu nấm Fusarium sp gây
bệnh vàng lá lan Hồ Điệp là loài F solani
3 KẾT LUẬN
Tỷ lệ bệnh vàng lá lan Hồ Điệp tại Lâm Đồng
dao động từ 0 – 5,2% và tăng dần từ tháng 3
đến tháng 8
Các giống lan Hồ Điệp hoa màu trắng có tỷ lệ
bệnh vàng lá cao nhất (0,3 – 5,2%), tiếp đến là giống
lan Hồ Điệp có hoa màu vàng (0,3 – 4,0%) và thấp
nhất là giống hoa màu tím và hồng phấn (0 – 3,3%)
Giai đoạn từ xử lý đến ra hoa có tỷ lệ bệnh vàng lá
cao hơn so với giai đoạn cây con
Dựa vào đặc điểm sinh học, hình thái học và
trình tự vùng ITS – rDNA của nấm Fusarium sp
đã xác định được tác nhân gây ra bệnh vàng lá
lan Hồ Điệp là loài nấm Fusarium solani
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Burgess, W.L., B.A Summerrel, S Bullock,
K.P Gott, and D Backhouse, 1994 Laboratory Manual for Fusarium Research 3rd edition, University
of Sydney, Australia, 133 pages
2 Lee, S.B., M.G Milgroom, and J.W Taylor,
1988 A rapid, high yield mini-prep method for isolation
of total genomic DNA from fungi Fungal Genetics Reports: Vol 35, Article 11
3 Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Thị Lý Anh,
Nguyễn Thị Lâm Hải, 2005 Lan Hồ Điệp – Kỹ thuật chọn tạo, nhân giống và nuôi trồng Nhà xuất bản
Nông nghiệp, Hà Nội, Việt Nam, 40 trang
4 Shivas, R.G., and D.R Beasley, 2005
Management of plant pathogen collections
Commonwealth Publishing, Australia, 85 pages
5 Su, J.F., Y.C Lee, C.W Chen, T.F Hsieh, and J.H Huang, 2010 Sheath and Root Rot of
Phalaenopsis Caused by Fusarium solani Acta horticulturae Journal, 878: 389 – 397
6 White, T.J., T.D Bruns, S.B Lee, and J.W Taylor, 1990 Amplification and direct sequencing of
fungal ribosomal RNA Genes for phylogenetics In: PCR-Protocols and Applications, pp: 315–322 Innis, N., D Gelfand, J Sninsky and T White (eds.) A Laboratory Manual Academic Press, New York, USA
Phản biện: TS Trịnh Xuân Hoạt
HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT HÓA HỌC TRỪ NẤM
ĐỐI VỚI BỆNH RỤNG LÁ CAO SU (Corynespora cassiicola)
TRÊN ĐỒNG RUỘNG TẠI THỪA THIÊN HUẾ Field Efficacy of Chemical Fungicides on Rubber Leaf Fall Disease
(Corynespora cassiicola) in Thua Thien Hue Province, Vietnam
Trần Đăng Hòa 1 , Lê Khắc Phúc 1 và Ngô Thạch Quỳnh Huyên 2
Ngày nhận bài: 07.12.2017 Ngày chấp nhận:18.12.2017
Abstract
Field experiments were conducted in order to evaluate the efficacy of four chemical fungicides difenoconazole (Score 250EC), difenoconazole + propiconazole (Tilt Super 300EC), epoxiconazole (Opus 75EC), tebuconazole (Nativo 750WG) for controling rubber leaf fall disease (Corynespora cassiicola (Berk & Curt.) Wei) in Thua Thien
Hue province, Vietnam The results shows that all four tested fungicies were efficacy against the rubber leaf fall disease The efficacy was high with Score 250EC (64.4
- 69.9%) and Tilt Super 300EC (55.4 - 69.4%) on rubber planted at both two different ecological zones, e.g
1 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
2 Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Phú Yên
Trang 2upland areas at Huong Tra district and high land areas at Nam Dong district As results, Score 250EC and Tilt Super 300EC should be used to control the rubber leaf fall disease in Thua Thien Hue province
Keywords: Chemical fungicides, Corynespora cassiicola, field efficacy, leaf fall, rubber
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh rụng lá Corynespora do nấm
Corynespora cassiicola (Berk & Curt.) Wei gây
ra, gây hại nghiêm trọng ở nhiều nước trồng cao
su trên thế giới (Phan Thành Dũng, 2004) Ở Việt
Nam, bệnh được ghi nhận lần đầu vào tháng 8
năm 1999, gây hại nặng trên dòng vô tính RRIC
103, RRIC 104 và LH 88/372 Trên cây cao su,
bệnh gây hại ở tất cả các bộ phận trên mặt đất
như: lá, cuống và chồi (Phan Thành Dũng, 2004)
Trong các thử nghiệm in vitro chỉ ra rằng
Carbendazim ức chế mầm bệnh phát triển hoàn
toàn ở nồng độ 25 ppm a.i Trong thí nghiệm
trên vườn ươm Mancozeb (0,2%), Carbendazim
(0,5%) và tổ hợp Metalaxyl + Mancozeb (0,2%)
đều có hiệu quả phòng trị bệnh (Manju, 2006)
Các loại thuốc đã được báo cáo có hiệu quả
phòng trị nấm C cassiicola là: Nhóm thuốc tiếp
xúc như: Bordeaux, Mancozeb, Captafol,
Chlorothalonil Nhóm thuốc lưu dẫn như:
Carbendazim, Tridemorph, Hexaconazole Các
thuốc hỗn hợp như: Metalaxyl + Mancozeb
(0,2%), Benomyl và Thiram, Copper Oxychloride
(21%) + Mancozeb (20%), Propineb (56%) +
Oxadixyl (10%), Mancozeb (63%) +
Carbendazim (12%), Hexaconazole + Captan,
Difenoconazole cũng được báo cáo có hiệu quả
phòng trị bệnh (Srinivas và Idicula, 2006) Tuy
tỏ ra có hiệu quả trong phòng trừ bệnh nhưng thuốc hoá học đã làm cho các chủng nấm kháng
thuốc xuất hiện (Takeuchi et al., 2006; Ishii et
al., 2007)
Ở tỉnh Thừa Thiên Huế, bệnh rụng lá cao su gây hại nặng và phổ biến ở hầu hết các vùng trồng cao su, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất mủ Nguyễn Thị Thu Thủy và cs (2016) đã xác định tác nhân gây bệnh rụng lá cao su tại Thừa Thiên Huế là do nấm
Corynespora cassiicola gây ra Đánh giá hiệu lực trừ bệnh rụng lá cao su của 9 loại thuốc hóa học cho thấy 4 loại thuốc (Score 250EC, Tilt Super 300EC, Opus 75EC và Nativo 750WG) là có hiệu lực phòng trừ bệnh rụng lá phòng thí nghiệm (Nguyễn Thị Thu Thủy và cs, 2016) Tuy nhiên hiệu lực trừ bệnh trên đồng ruộng của các loại thuốc có thể khác so với hiệu lực trong phòng thí nghiệm Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu lực của các loại thuốc hóa học đối với bệnh rụng lá cao su trên đồng ruộng tại tỉnh Thừa Thiên Huế
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu
Thử nghiệm 4 loại thuốc ở bảng 1 gồm 4 loại thuốc hóa học trừ bệnh
Bảng 1 Các loại thuốc và nồng độ thí nghiệm
Tilt Super 300EC Difenoconazole 150g/L + Propiconazole 150g/L Syngenta 0,05%
Nativo 750WG Trifloxystrobin: 250 g/kg
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm trên vườn cao su kiến thiết
cơ bản giống RRIM 600 tại xã Hương Hòa,
huyện Nam Đông và xã Hương Bình, thị xã
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế từ tháng
01/2016 đến tháng 5/2016 Mỗi thí nghiệm được
bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4
công thức thí nghiệm (4 loại thuốc) và đối chứng (phun nước lã), 3 lần lặp lại Mỗi ô thí nghiệm gồm 3 hàng cây cao su Giữa hai công thức thí ngiệm có 1 hàng cây cao su cách ly Tiến hành phun thuốc khi cây cao su mới nhú mầm (nhú chân chim)
Theo dõi thí nghiệm trước và sau phun thuốc
1, 3, 5, 7, 14, 21 ngày Theo dõi 15 cây cố định /
Trang 3ô thí nghiệm (5 cây/ hàng) Mỗi cây chọn 2 tán lá
ở 2 hướng đối nhau, phân cấp bệnh và tính tỉ lệ
bệnh (TLB) và chỉ số bệnh (CSB) Phân cấp
bệnh theo Phan Thanh Dũng và Phan Đình Thảo
(2012) (Bảng 2) Tính đường cong tiến triển diện
tích tỉ lệ bệnh và chỉ số bệnh AUDPC (Area
Under Disease Progress Curve) theo Campbell
and Madden (1990) Căn cứ vào chỉ số AUDPC
để tính hiệu lực phòng trừ bệnh (HLPT%) của các loại thuốc so với đối chứng Xử lý phương sai một nhân tố (One way ANOVA) sau đó so sánh Turkey để đánh giá sự sai khác về hiệu lực của các loại thuốc thí nghiệm
Bảng 2 Phân cấp bệnh rụng lá cao su Corynespora dựa trên toàn bộ tán lá
Cấp 1 Một vài vết bệnh, nhìn kỹ mới thấy
Cấp 2 Có nhiều vết bệnh trên tán lá
Cấp 3 Ít hơn ¼ tán lá bị rụng
Cấp 4 Từ ¼ - ½ tán lá bị rụng
Cấp 5 Trên ½ tán là bị rụng, có nhiều cành bị chết
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiệu lực phòng trừ bệnh rụng lá cao su
của các loại thuốc hóa học tại Hương Trà,
Thừa Thiên Huế
Trước khi phun thuốc, tỉ lệ bệnh ở các công
thức thí nghiệm thấp và ít biến động (từ 0,7% tới
1,9%) Sau phun thuốc 1 - 3 ngày, tỉ lệ bệnh giữa
các công thức không có sự khác biệt Năm ngày
sau khi phun thuốc, tỉ lệ bệnh ở đối chứng tăng
0,4% và công thức có tỉ lệ tăng cao là Nativo
750WG (0,9%), Opus 75EC (0,6%) Ngày thứ 7
tất cả các công thức và đối chứng đều tăng trong
đó ở đối chứng và Opus 75EC tăng thêm 0,6%
Ở công thức Score 250EC chỉ tăng nhẹ 0,1% Ở
ngày thứ 14 sau khi phun ở đối chứng tỉ lệ bệnh
tăng 2,4% từ 3,0% lên 5,4%, ở Nativo 750WG
tăng 1,5%, Opus 75EC tăng 1,3% và Tilt Super
300EC tăng 0,8% Còn Score 250EC chỉ tăng
0,4% Sau khi phun 21 ngày tỉ lệ ở tất cả các công thức đều tăng tuy nhiên ở đối chứng tăng cao nhất 5,0% so với ngày thứ 14, tiếp đó là Nativo 750WG tăng 3,2%, Opus 75EC tăng 2,8%, Tilt Super 300EC tăng 2,3% và Score 250EC chỉ tăng 1,0% (Bảng 3)
AUDPC ở công thức phun Score 250EC đạt thấp nhất (32,6), hiệu lực phòng trừ so đối chứng đạt 66,9%, sai khác với các loại thuốc còn lại Công thức phun thuốc Nativo 750WG có chỉ số AUDPC đạt cao nhất trong các công thức xử lý thuốc (62,3), hiệu lực phòng trừ đạt thấp nhất (36,7%) Trong khi đó hiệu lực phòng trừ của công thức xử lý thuốc Tilt Super 300EC là 55,4%
và công thức sử dụng thuốc Opus 75EC là 40,4% (Bảng 3)
Bảng 3 Tỉ lệ bệnh và chỉ sộ bệnh rụng lá cao su trước và sau khi phun thuốc ở Hương Trà
Loại thuốc Trước
phun
(%)
Tỉ lệ bệnh (%)
Score
Nativo
Tilt Super
Trang 4Loại thuốc Trước
phun
(%)
Chỉ số bệnh (%)
Score
Nativo
Tilt Super
Ghi chú: Giá trị cùng chỉ tiêu (tỉ lệ bệnh hoặc chỉ số bệnh) trong cùng một cột có các chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Tương tự, chỉ số bệnh rụng lá cao su ở các
công thức xử lý thuốc có sự khác nhau
AUDPC ở công thức xử lý thuốc Score 250EC
đạt thấp nhất (9,8), Nativo 750WG (16,3), Tilt
Super 300EC (23,4), Opus 75EC (20,0), đối
chứng (29,3) Hiệu lực phòng trừ khi đánh giá
chỉ số bệnh cho thấy Score 250EC cho hiệu
lực cao nhất (66,6%) và sai khác có ý nghĩa
với các loại thuốc còn lại cho hiệu lực thấp
hơn (Natio 750WG: 44,4%, Tilt Super 300EC:
20,3%, Opus 75EC: 31,7%) Điều này cho
thấy thuốc Score 250EC không những hạn
chế sự phát triển, lây lan của bệnh mà còn
hạn chế mức độ gây hại của bệnh rụng lá cao
su (Bảng 3)
3.2 Hiệu lực phòng trừ bệnh rụng lá cao
su của các loại thuốc hóa học tại Nam Đông
Trước khi phun thuốc, tỉ lệ bệnh rụng lá cao
su ở Nam Đông không có sự khác biệt lớn ở
các công thức thí nghiệm (tỉ lệ bệnh dao động
từ 0,9-1,6%) Sau khi phun thuốc 1 ngày, tỷ lệ
bệnh thay đổi không đáng kể (dao động từ 0,9
– 1,7%) Sau khi phun 3 ngày ở công thức
phun Score 250EC tăng 0,3%, Tilt Super
300EC tăng 0,4%, Opus 75EC tăng 0,2% và
Nativo 75WG tăng 0,3% còn đối chứng tăng
0,7% Sự chênh lệch giữa tỉ lệ bệnh của đối
chứng và công thức xử lý thuốc là không cao
Ngày thứ 5 sau khi phun ở Score 250EC tăng
0,4%, Tilt Super 300EC tăng 0,2%, Opus 75EC
tăng 0,3% và Nativo 750WG tăng 0,4% còn đối
chứng tăng 1,1% Ở ngày này tỉ lệ bệnh có
tăng nhẹ so với những ngày ở trước đó Sau khi phun 7 ngày sự chêch lệch nhau giữa đối chứng và các công thức là không nhiều và Score 250EC tăng 0,5%, Tilt Super 300EC tăng 0,4%, Opus 75EC tăng 0,2% và Nativo 750WG tăng 0,3% còn đối chứng tăng 1,1% Sau khi phun 14 ngày có sự chênh lệch nhau
rõ rệt giữa tỉ lệ bệnh ở các công thức với đối chứng và tỉ lệ bệnh ở Score 250EC hầu như không tăng và chêch lệch với ngày 5 sau khi phun là 0,1% và Tilt Super 300EC tăng 0,4%, Opus 75EC tăng 0,5% và Nativo 750WG tăng 0,5% còn đối chứng tăng 5% Sau khi phun 21 ngày thì sự chênh lệch giữa tỉ lệ bệnh ở công thức và đối chứng rất rõ rệt Tỉ lệ bệnh ở công thức đối chứng cao hơn Score 250EC là 7,1%, Tilt Super 300EC 7,2%, Opus 75EC 7,4%, Nativo 750WG 6,6% Sự tăng TLB ở Đối chứng
so với công thức cũng có sự sai khác lớn Score 250EC tăng 0,5%, Tilt Super 300EC tăng 0,5%, Opus 75EC tăng 0,4% và Nativo 750WG tăng 0,8% còn đối chứng tăng 4,6% (Bảng 4)
AUDPC về tỉ lệ bệnh cho thấy công thức đối chứng đạt cao nhất (125,9), tiếp đến là Opus 75EC (47,1), Score 250EC (44,8), Nativo 750WG (41,0), thấp nhất là Tilt Super 300EC (38,6) Bảng 4 cho thấy hiệu lực phòng trừ của thuốc Tilt Super 300EC đạt cao nhất (69,4%), không sai khác với thuốc Nativo 750WG (67,5%) và Score 250EC (64,4%) nhưng có sai khác có ý nghĩa thống kê với thuốc Opus 75EC (62,6%) (Bảng 4)
Trang 5Bảng 4 Tỉ lệ bệnh và chỉ số bệnh rụng lá cao su trước và sau khi phun thuốc ở Nam Đông
Loại
thuốc Trước phun
(%)
Tỉ lệ bệnh (%)
Score
Nativo
Tilt Super
Opus
Đối
Chỉ số bệnh (%)
Score
Nativo
Tilt Super
Opus
Đối
Ghi chú: Giá trị cùng chỉ tiêu (tỉ lệ bệnh hoặc chỉ số bệnh) trong cùng một cột có các chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Trước khi phun thuốc, chỉ số bệnh rụng lá ở
các công thức là 0,3% Sau khi phun thuốc 1
ngày, chỉ số bệnh dao động từ 0,3 - 0,4% Sau
khi phun thuốc 3 ngày, chỉ số bệnh dao động từ
0,3 – 0,6% Sau khi phun 5 ngày chỉ số bệnh có
sự thay đổi đó là Score 250EC tăng 0,1%, Tilt
Super 300EC tăng 0,1%, Opus 75EC tăng 0,2%
và Nativo 750WG tăng 0,2% còn đối chứng tăng
0,1% Sau khi phun 7 ngày chỉ số bệnh tiếp tục
có sự biến động nhẹ Chỉ số bệnh ở công thức
xử lý Score 250EC không thay đổi, Tilt Super
300EC tăng 0,2%, Opus 75EC tăng 0,3% và
Nativo 750WG tăng 0,1% còn đối chứng tăng
0,1% Sau khi phun 14 ngày chỉ số bệnh có sự
thay đổi: Score 250EC tăng chỉ 0,1%, Tilt Super
250EC tăng 0,3%, Opus 75EC tăng 0,5% và
Nativo 75WG tăng 0,4% còn đối chứng tăng
0,8%, ở giai đoạn này đối chứng có chỉ số bệnh
cao nhất và cao hơn Score 250EC 1%, Tilt Super
300EC 0,6%, Opus 75EC 0,2% và Nativo
750WG 0,5% Sau khi phun 21 ngày chỉ số bệnh
giữa công thức với đối chứng có thay đổi Score 250EC tăng 0,3%, Tilt Super 300EC tăng 0,7%, Opus 75EC tăng 1,2% và Nativo 750WG tăng 1,4% còn đối chứng tăng 2,2% ở giai đoạn nay CSB của đối chứng vẫn cao nhất và cao hơn Score 250EC 2,9%, Tilt Super 300EC 2,1%, Opus 75EC 1,2% và Nativo 750WG 1,3% (bảng 4) AUDPC về chỉ số bệnh ở các công thức xử lý thuốc dao động từ 10,8 (Tilt Super 250EC) đến 14,1 (Opus 75EC), công thức Nativo 750WG đạt 12,2, công thức xử lý thuốc Score 250EC là 11,4, đối chứng đạt 40,0 Hiệu lực phòng trừ khi đánh giá về chỉ số bệnh cho thấy công thức xử lý thuốc Tilt Super 300EC đạt 73,0% không sai khác với thuốc Score 250EC (71,5%), Nativo 750WG đạt 69,5% và thấp nhất là Opus 75EC đạt 64,9% (Bảng 4)
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Các loại thuốc Score 250EC, Tilt Super 300EC, Opus 75EC và Nativo 750WG đều có
Trang 6khả năng phòng trừ bệnh rụng lá cao ở mức độ
khác nhau ở Thừa Thiên Huế Thuốc Score
250EC (hiệu lực 64,4 – 69,9%) và Tilt Super
300EC (hiệu lực 55,4 – 69,4%) là hiệu lực cao ở
cả hai vùng sinh thái (vùng gò đồi ở thị xã Hương
Trà và vùng núi ở huyện Nam Đông)
Sử dụng thuốc Score 250EC, nồng độ 0,1% và
Tilt Super 300EC, nồng độ phun 0,05% để phòng
trị bệnh rụng lá cao su tại Thừa Thiên Huế
Cần nghiên cứu thời gian và số lần phun
thuốc phù hợp để tăng hiệu quả phòng trừ bệnh
rụng lá cao su của các loại thuốc
Lời cảm ơn: Đây là kết quả của đề tài Khoa
học và Công nghệ cấp tỉnh được ngân sách nhà
nước tỉnh Thừa Thiện Huế đầu tư, mã số
TTH.2015-KC.08
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Campbell, C L., L V Madden, 1990 Temporal
analysis of epidemics 1: description and comparison of
disease progress curves, in Introduction to Plant
Disease Epidemiology, John Wiley, New York, pp
161-2021
2 Ishii, H., Yano, K., Date, H., Furuta, Y.,
Sagehashi, Y., Yamaguchi, T., Sugiyama, T.,
Nishimura, K Hasama, 2007 Molecular
characterization and diagnosis of QoI resistance in
cucumber and eggplant fungal pathogens
Phytopathology, 97: 1458-66
3 Manju, M J, 2006 Chemical control of Corynespora leaf fall disease Corynespora leaf disease of Hevea brasiliensis Strategies for management (C Kuruvilla Jacob, P Srinivas, C Bindu
Roy) Rubber Research Institute of India, Kottayam, Kerala, India p 102 – 108
4 Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Phan Thị Mộng Mơ, Trần Đăng Hoà, 2016 Nghiên cứu xác định tác nhân và bước đầu đánh giá hiệu quả một số thuốc hoá học đối
với bệnh rụng lá cao su tại Thừa Thiên Huế Tạp chí Bảo vệ thực vật, Số 4 (267): 21 – 27
5 Phan Thành Dũng, 2004 Kỹ thuật bảo vệ thực vật cây cao su Nhà xuất bản Nông Nghiệp
6 Phan Thanh Dũng, Phan Đình Thảo, 2012 Quy trình kỹ thuật cây cao su Tập đoàn công nghiệp cao
su Việt Nam, trang 138
7 Srinivas P and Idicula S.P., 2006 Fungicides in Corynespora leaf fall disease management A Laboratory Manual for International Training on Strategies for Management of Corynespora Leaf Fall Disease of Hevea Brasiliensis (C.K Jacob, P Srinivas,
C Bindu Roy) Rubber Research Institute of India,
Kottayam, India p 40 – 49
8 Takeuchi, T., Kubo, C., H Ishii, 2006 Sensitivity
of Chiba Prefecture isolates of Corynespora cassiicola, the cause of Corynespora leaf spot on cucumber, to several fungicides Annal report of the Kanto−Tosan Plant Protection Society, 53: 55-60
Phản biện: TS Nguyễn Thị Nhung
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨC CHẾ CỦA NANO ĐỒNG - SILICA ỨC CHẾ
SỰ PHÁT TRIỂN CUẢ NẤM Pyricularia oryzea GÂY BỆNH ĐẠO ÔN HẠI LÖA
Inhibition Effects of Copper – Silica Nanoparticles Against Rice Blast Disease
Caused by Pyricularia oryzae
Nguyễn Thị Thu Thủy 1 , Đỗ Thị Sen 3 và Trần Thái Hòa 2
Ngày nhận bài: 03.12.2018 Ngày chấp nhận:15.12.2018
Abstract
Rice blast disease, caused by Pyricularia oryzae, is the most serious biotic threat to rice (Oryza sativa L.)
production worldwide It causes severe yield losses in Vietnam especially in epidemic years The fungus is highly
variable so disease control is a challenge In this study, the effect of copper-silica nanoparticles (20-30 nm) against rice leaf blast fungus was evaluated under
conditions both in vitro and in vivo The application of
five concentrations of copper-silica nanoparticles to the
culture of P oryzae showed significant inhibition of both
1 Khoa Nông học, Trường Đại Học Nông Lâm, Đại
học Huế
2 Khoa Hóa, Trường Đại Học Khoa Học, Đại học Huế
3 Ủy ban nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam