Đặt trong hoạt động CCHC nhà nước, ở “đ u vào” - con người là nhân tố tác động hình thành nên nhu c u phải CCHC, là người trực tiếp xây dựng nên các chương trình kế hoạch cho việc CCHC;
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS TS Hoàng Chí Bảo
2 PGS.TS Dương Văn Thịnh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những kết quả và nội dung của luận án là trung thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu của những tác giả khác
Tác giả
Hà Quang Trường
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp mới của luận án 12
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 13
8 Kết cấu của luận án 13
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 14
1.1 Khái lược quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vị trí và vai trò của con người trong đời sống xã hội 14
1.1.1 Con người - chủ thể của các quá trình xã hội 14
1.1.2 Con người - khách thể trong đời sống xã hội 16
1.1.3 Con người trong hệ thống quản lý, tổ chức xã hội – chính trị 19
1.2 Khái niệm cải cách hành chính và cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay 21
1.2.1 Khái niệm cải cách hành chính 21
1.2.2 Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay 25
1.3 Sự thể hiện của con người trong hoạt động cải cách hành chính
nhà nước 45
1.3.1 Con người – chủ thể trong hoạt động cải cách hành chính nhà nước 45
1.3.2 Con người – khách thể của hoạt động cải cách hành chính nhà nước 47
Trang 51.3.3 Đặc trưng của mối quan hệ chủ - khách thể của con người trong
cải cách hành chính nhà nước 50
Kết luận chương 1 57
CHƯƠNG 2 CON NGƯỜI – CHỦ THỂ CỦA QUÁ TRÌNH
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 59
2.1 Con người với việc hình thành chương trình cải cách hành chính
nhà nước 59
2.2 Con người trong vai trò tổ chức thực hiện chương trình cải cách
hành chính nhà nước 62
2.2.1 Vai trò chủ thể của đội ngũ cán bộ, công chức 62
2.2.2 Vai trò chủ thể của người dân 73
2.3 Các nhân tố tác động tiêu cực tới vai trò chủ thể của con người trong quá trình cải cách hành chính nhà nước 77
2.3.1 Tác động của cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam 78
2.3.2 Tác động từ trình độ, kỹ năng hành chính, phong cách làm việc,
ý thức đạo đức của môi trường hành chính cũ 86
2.3.3 Tác động của văn hóa và tâm lý dân tộc 92
2.4 Những giải pháp phát huy vai trò chủ thể của con người trong quá trình cải cách hành chính nhà nước 97
2.4.1 Khắc phục các nhân tố tác động tiêu cực đến vai trò chủ thể của con người trong quá trình CCHC nhà nước 97
2.4.2 Thực hiện dân chủ hoá xã hội 109
2.4.3 Đổi mới nhận thức về công tác cán bộ 114
2.4.4 Nâng cao nhận thức về tinh th n trách nhiệm 119
Kết luận Chương 2 122
Trang 6CHƯƠNG 3 CON NGƯỜI – KHÁCH THỂ CỦA QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 125
3.1 Bản chất của sự tác động của cải cách hành chính nhà nước đối với con người 125 3.2 Sự tác động của cải cách hành chính nhà nước đối với các quan hệ xã hội của con người 132 3.2.1 Quan hệ của cán bộ, công chức với người dân trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước 132 3.2.2 Quan hệ trong nội bộ đội ngũ cán bộ công chức trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước 139 3.3 Những giải pháp nâng cao vai trò của con người - khách thể trong quá trình cải cách hành chính nhà nước 146 3.3.1 Tuân thủ những quy tắc, chỉ dẫn và khuyến khích thực hiện chương trình cải cách 146 3.3.2 Nắm vững và ủng hộ những giá trị của cải cách 150 3.3.3 Nâng cao nhận thức về sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước 153 Kết luận Chương 3 171
KẾT LUẬN 172 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 175 TÀI LIỆU THAM KHẢO 176
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đứng trước các yêu c u về phát triển con người để phát triển kinh tế -
xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều nghiên cứu
về con người ở Việt Nam đã tham gia hoàn thiện cơ sở lý luận chung về vị trí và vai trò của con người trong các quá trình xã hội Tuy nhiên, đối với hoạt động CCHC nhà nước ở Việt Nam, do tính chất mới mẻ của vấn đề trong quá trình hội nhập toàn c u hóa cùng với đặc thù về điều kiện chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam nên một nghiên cứu tổng hợp về con người trong CCHC nhà nước ở Việt Nam chưa được thực hiện Thực tế,
nghiên cứu về con người để phát huy nguồn lực con người và hoạt động CCHC nhà nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có
mối liên hệ gắn kết chặt chẽ với nhau Đó là yêu c u tất yếu cho sự phát triển bền vững con người để phát triển bền vững về kinh tế - xã hội, đồng
thời cũng là mục đích, là cơ sở và tiêu chuẩn của hoạt động CCHC nhà nước trước sức ép của hội nhập kinh tế quốc tế và toàn c u hoá Có thể nói con người đóng vai trò quyết định ở “đ u vào”, trong toàn bộ quá trình phát triển
và ở cả “đ u ra” Đặt trong hoạt động CCHC nhà nước, ở “đ u vào” - con người là nhân tố tác động hình thành nên nhu c u phải CCHC, là người trực tiếp xây dựng nên các chương trình kế hoạch cho việc CCHC; trong quá trình - con người, mà cụ thể ở đây là đội ngũ cán bộ, công chức quản lý, lãnh đạo, điều hành, vận hành bộ máy hành chính là người trực tiếp tổ chức thực hiện thành công chương trình, kế hoạch cải cách; ở “đ u ra”, chất lượng sống, sự phát triển hạnh phúc của con người phải là mục tiêu hướng tới của chương trình, kế hoạch CCHC nhà nước Con người luôn là nhân tố quyết định là động lực của toàn bộ quá trình CCHC
Trang 8Như vậy, việc xác định vấn đề con người trong CCHC nhà nước, xây
dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam thật sự trong sạch, vững mạnh,
của dân, do dân, vì dân là một nhiệm vụ do thực tiễn đặt ra Đây là một vấn
đề bức thiết nhưng còn để ngỏ vì về mặt lý luận, vấn đề con người, con người cho phát triển bền vững vì tương lai loài người mới được nhận thức lại trong một vài thập kỷ g n đây, còn hoạt động CCHC nhà nước ở Việt Nam mới thực sự chịu những sức ép lớn từ yêu c u đảm bảo cho việc thực hiện dân chủ hoá đời sống chính trị của xã hội, nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân và yêu c u phát triển kinh tế, ổn định chính trị trong quá trình hội nhập toàn c u hoá mới có hơn chục năm trở lại đây Do
đó, việc nghiên cứu lý luận về con người trong hoạt động CCHC nhà nước ở Việt Nam, làm rõ bản chất, đặc thù của mối quan hệ biện chứng của con người và CCHC nhà nước, tham gia giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt
ra, đồng thời góp ph n làm rõ những vấn đề lý luận chung về con người - một vấn đề c n được nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay Đó chính là những lý
do để tác giả chọn nghiên cứu “Vấn đề con người trong cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho luận án tiến sỹ triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, một trong những lĩnh vực khoa học và thực tiễn quan tâm
nhiều nhất đến con người là tổ chức và hành chính – quản lý nhà nước
Ngoài việc coi con người là nguồn lực lao động đóng góp và tạo ra sự tăng trưởng, khoa học về hành chính rất coi trọng triết lý về con người và những giá trị nhân văn do hoạt động này liên quan trực tiếp tới các mối quan hệ giữa con người với con người và sự phát triển của mỗi con người nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống tổ chức, quản lý Tuy nhiên,
vấn đề con người trong hoạt động cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam,
Trang 9xuất phát từ con người, xem xét vai trò và sự liên đới của con người trong môi trường CCHC cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu
Ở Việt Nam, trong các quyết sách chính trị quan trọng của Đảng về CCHC nhà nước từ Nghị quyết TƯ l n thứ 8 Khóa VII (1/1995) [Xem 23, tr
169 -175], trong CTTT CCHC nhà nước do Chính phủ ban hành từ giai đoạn
2001 - 2010 đều đề cập tới các vấn đề về con người cùng các yếu tố có liên quan của nền hành chính và CCHC nhà nước Do đó, các nghiên cứu ở Việt Nam lấy CCHC nhà nước là mục tiêu trọng tâm và con người Việt Nam ở nhiều vị trí, vai trò khác nhau trong tương quan với CCHC nhà nước đã được nhiều học giả quan tâm làm rõ
Trước hết là các nghiên cứu đi tìm nguyên nhân của các CCHC chậm
chạp, khu vực công hoạt động kém hiệu quả ở các góc độ Có thể kể đến các nghiên cứu về dân chủ, về cải cách thể chế của Hoàng Chí Bảo; năm 2008
ông đã công bố nghiên cứu Cải cách thể chế ở Việt Nam trước thách thức của toàn cầu hóa [7], nghiên cứu đã nêu bật lên những hạn chế và yếu kém trong cải cách thể chế ở Việt Nam hiện nay như: Nhận thức không đầy đủ, thậm chí không đúng về dân chủ: tách rời quyền và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm; luật pháp không đồng bộ và thực thi pháp luật không nghiêm minh Sự yếu kém về ý thức pháp luật cả trong đội ngũ công chức và trong dân Thiếu vắng chế độ trách nhiệm và các chế tài trong xử lý Bệnh quan liêu, nạn hội họp, giấy tờ, bệnh hình thức, phô trương, nói nhiều làm ít, lời nói không đi đôi với việc làm còn phổ biến và nghiêm trọng.v.v
Tìm nguyên nhân từ vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước, có nhiều
công trình được công bố trên Tạp chí nhà nước và pháp luật nhưng nổi bật là
hệ thống các nghiên cứu của Nguyễn Đăng Dung Năm 2009, tác giả
Nguyễn Đăng Dung công bố nghiên cứu Cải cách tư pháp trong tổ chức quyền lực nhà nước [16] gián tiếp nhưng rất cụ thể chỉ ra vấn đề thiếu năng
Trang 10lực giám sát đối với bộ máy hành chính, khiến cải cách kém hiệu quả do:
“Phạm vi xét xử của Tòa án Việt Nam hiện chưa phủ hết mọi hoạt động của
xã hội, có những lĩnh vực hoạt động của nhà nước vẫn chưa thuộc phạm vi xét xử của Tòa án Ví dụ như hoạt động lập pháp, hành pháp của các quan chức cao cấp nhà nước” Các quy định tòa án chỉ thụ lý vụ án hành chính nếu
trước đó khiếu nại đã được tiến hành một l n tại cơ quan hành chính; ngoài ra không phải mọi vụ việc hành chính đều có thể khởi kiện ra tòa hạn chế khả năng tiếp cận tòa án để giải quyết tranh chấp hành chính, làm cho cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính trở nên thiếu vô tư, không khách quan.v.v
Nhìn nhận giải quyết các vấn đề hành chính xuất phát từ tổ chức bộ
máy của nền hành chính, Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2010 của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tổ chức vào 3-4/12/2009 cung cấp các nghiên cứu về tổ chức chính quyền địa phương - vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương đặt riêng ra những yêu c u
và đòi hỏi đối với đội ngũ cán bộ công chức địa phương, các vấn đề về phân cấp và quản trị nhà nước ở cấp địa phương, tính khác biệt trong quản lý ở đô thị và nông thôn, mức độ phân cấp và giải trình; về các dịch vụ trực tiếp và hành chính cùng những yêu c u trong tự chủ, phân cấp phân quyền, tập trung thu thập các quan điểm của người dân, doanh nghiệp đối với các dịch
vụ mà nhà nước cung cấp, hay trao quyền phân cấp cho các nhà cung ứng khác Hoạt động của con người trong các tổ chức xã hội dân sự, vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong hoạt động CCHC, phát huy dân chủ ở Việt Nam cũng được nghiên cứu quan tâm làm rõ
Các vấn đề nghiên cứu cải cách tổ chức bộ máy hành chính, chính
quyền địa phương được đặt ra trong chuỗi các hoạt động của cải cách, có thể tham khảo các tài liệu đăng tải trên các tạp chí khoa học lớn trong nước của
Hà Quang Ngọc, đặc biệt là nghiên cứu Cải cách cơ cấu tổ chức và hoạt
Trang 11động của chính quyền địa phương (2007) [76] và Điều chỉnh một số hoạt động của chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu của CCHC (2010) [77]
Các nghiên cứu này đưa ra nhiều nhận định về vai trò và yêu c u chức năng
của tổ chức chính quyền ở địa phương trong thực hiện CCHC như: chính quyền địa phương các cấp không thể làm tất cả mọi việc giống như một nhà nước thu nhỏ trên địa bàn; trong việc tổ chức quyền lực nhà nước, chính quyền địa phương các cấp hiện nay có vai trò lớn hơn, thiết thực hơn và chủ động hơn việc tổ chức quản lý các mặt đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn
đặc biệt các nghiên cứu này cũng đều quan tâm đến vấn đề phân bổ nguồn lực, các nguồn vốn xã hội và đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương
Nghiên cứu từ phương diện đạo đức trong quản lý hành chính, nhiều
nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước tập trung đề cập đến các vấn
đề về đạo đức trong hoạt động quản lý hành chính, giải quyết các vấn đề về động cơ nhà quản lý, các quan hệ trách nhiệm của nhà quản lý trong quản lý hành chính, các giá trị đạo đức hành chính quốc gia; định hướng các giá trị đạo đức trong hành chính và các giá trị đạo đức được coi là quan trọng nhất
đối với nền hành chính Nổi bật là tác phẩm Đạo đức trong quản lý hành chính công của hai tác giả Vũ Gia Hiền và Nguyễn Hữu Khoát (2007) [34]
Từ mục tiêu đưa ra các biện pháp tăng cường vai trò của người dân
tham gia quản lý nhà nước hình thành các nghiên cứu dưới góc độ là các tác nhân, người dân, công chức, chính khách; bộ máy hoạch định chính sách, xuất phát từ những khác biệt về niềm tin, giá trị kì vọng, năng lực hưởng thụ, tính phức tạp về mặt trách nhiệm từ công dân tới chính khách, đội ngũ cán bộ công chức Năm 2006 UNDP và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
thực hiện nghiên cứu: Đẩy mạnh chiều sâu dân chủ và tăng cường sự tham gia của người dân ở Việt Nam; năm 2007 bài viết Tăng cường sự tham gia của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước (Hà Quang Ngọc-Hà
Trang 12Quang Trường)[78] đã trình bày một số vấn đề về nhận thức của xã hội, của các nhà quản lý đối với sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước Thực tế là ở Việt Nam hiện nay, các nhà quản lý vẫn thiếu tin tưởng ở người dân, vẫn coi việc quản lý nhà nước là công việc riêng vốn có của Nhà nước mà không phải là nhiệm vụ của chính nhân dân trong việc quản
lý xã hội Ngược lại, chính người dân cũng coi đó chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, mà không phải là của mình Vì lẽ đó, đã làm hạn chế sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước Bên cạnh đó, ảnh hưởng của văn hóa hành chính cũ còn khá nặng nề Tâm lý và văn hóa hành chính mà theo đó, các cơ quan, công chức coi việc xây dựng luật pháp, chính sách như là đặc quyền riêng của mình và vì thế các công việc của Nhà nước luôn khép kín, còn nhân dân ỷ lại, coi đó là công việc của Nhà nước, ít có quan tâm chung tới hoạt động của Nhà nước và các chính sách, nếu không có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích cá nhân.v.v
Các nghiên cứu về hiệu quả làm việc trong các cơ quan nhà nước, xác
định hiệu quả công tác, sự đóng góp thực tế của công chức và người đứng
đ u được thực hiện ở nhiều Viện nghiên cứu của Bộ Nội vụ, của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nổi bật g n đây nhất là nghiên cứu chuyên
sâu của tác giả Nguyễn Hoàng Nguyên về Đề xuất giải pháp góp phần xác định hiệu quả công tác sự đóng góp thực tế của cán bộ, công chức
(2007)[80]; ngoài việc xác định vai trò, t m quan trọng, tiêu chuẩn của công chức trong hoạt động công vụ của bộ máy công quyền, nghiên cứu còn xây dựng các phương thức xác định hiệu quả công tác, sự đóng góp thực tế của công chức, đưa ra các chuẩn mực với công tác cán bộ và với việc xác định hiệu quả công tác, sự đóng góp thực tế của công chức
Dưới góc độ tâm l í và các vấn đề về lợi ích các nghiên cứu nổi bật
như Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ của hai tác giả Trương Thị Thông,
Trang 13Lê Kim Việt (2008) [109]; Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay của Nguyễn Văn Tài (2010) [97]; nghiên cứu Các biện pháp tâm l í nâng cao tính tích cực lao động của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay của tác giả Tr n Thanh Hương
[49].v.v Các nghiên cứu theo hướng này đều chủ động tập trung làm rõ các vấn đề về lợi ích, động lực để nâng cao tinh th n trách nhiệm, tăng cường tình tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ công chức, loại bỏ cách làm việc quan liêu theo nghĩa là cách chỉ đạo xa rời thực tế, xa rời nhân dân, chỉ thiên
về mệnh lệnh, công văn giấy tờ, chủ nghĩa hình thức, coi thường thực chất công việc, lạm dụng quyền lực, cá nhân chủ nghĩa v.v
Từ sau Đại hội IX, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và dân chủ, về công chức, công dân, đội ngũ cán bộ, về tổ chức cán bộ được chú ý nhiều Có thể liệt kê ra đây cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người
Việt Nam phát triển toàn diện của Thành Duy, (2002) [18]; Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh của Hoàng Chí Bảo [8]; Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
và công tác cán bộ của Bùi Đình Phong, (2006) [81]; Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ của tác giả Bùi Kim Hồng (2009) [45]; Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của tác giả Thang Văn Phúc,
Nguyễn Minh Phương, (2005)[85] … Các nghiên cứu này đều góp ph n vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tổ chức, cán bộ và đào tạo cán bộ nhằm đáp ứng yêu c u của cách mạng, đặc biệt là vấn đề về trau dồi đạo đức, phẩm chất của người cán bộ.v.v
Nghiên cứu hướng tới vận dụng kinh nghiệm quản lý và cải cách của
ông cha ta, cuốn "Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam" của Văn Tạo (2009)[98] đã cung cấp cái nhìn tổng quát và hệ thống về các
cuộc cải cách, đổi mới trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là những cuộc cải
Trang 14cách, đổi mới lớn trong hoà bình, nhằm rút ra những bài học lịch sử sát hợp với công cuộc cải cách, đổi mới đất nước hiện nay
Một loạt các tác phẩm sách tham khảo được biên dịch và xuất bản đã chủ động nêu ra những kinh nghiệm quản lý, xu hướng cải cách góp ph n cung cấp các dự báo về cải cách của Việt Nam và những kinh nghiệm cải
cách quản lý của nhiều nước trên thế giới nổi bật là các cuốn: Hệ thống công
vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới, (2004) [84]; Hệ thống công vụ một số nước Asean và Việt Nam (1997) [3]; Kinh nghiệm công tác nhân sự của một số nước (Lê Minh Thông - Nguyễn Danh Châu,
2009)[108]
Bên cạnh đó cũng phải kể đến những công trình nghiên cứu có tính tổng hợp và một số giáo trình tập trung vào mục tiêu của cuộc cải cách nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, một đội ngũ công chức
có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao Xin được nêu một
số công trình đáng chú ý: CCHC nhà nước; thực trạng, nguyên nhân và giải pháp do Thang Văn Phúc chủ biên (2001)[82] Giáo trình Tổ chức nhân sự hành chính nhà nước của Học viện hành chính quốc gia (2002) [40] Tài liệu Quản lý hành chính nhà nước – Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính (2004)[41]; Cải cách nền hành chính nhà nước; thực trạng, nguyên nhân và giải pháp do UNDP tài trợ (2009) [10]
Trên các tạp chí đặc biệt là Tạp chí Cộng sản, đề tài CCHC và các giải pháp cho con người của quá trình đó liên tục được đề cập Xin được nêu ra
một số bài viết có những quan điểm đáng chú ý như Nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức công chức trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước của Thang Văn Phúc (2003) [83], Bàn về lãnh đạo và quản lý trong công cuộc quản lý hành chính (2007) [94], Lại bàn về cải cách hành
Trang 15chính (2008)[95] của Đỗ Quốc Sam; Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước của Đinh Duy Hòa (2007)[37], Nguyên nhân trì trệ, kém hiệu quả của cải cách hành chính của Nguyễn Đức Mạnh (2007)[70], Cải cách hành chinh – những vấn đề cần quan tâm của
Tr n Quang Nhiếp, (2007)[72].v.v
Đối với thế giới, việc nghiên cứu CCHC trước hết được tập trung vào
các nước đang phát triển, nơi sức ép của CCHC xuất phát từ bên trong, lẫn
bên ngoài lên chính phủ các quốc gia Nghiên cứu “CCHC các nước đang phát triển” (Ali Fazarmand, Greenwood 2001) [124] đã cung cấp thông tin
về CCHC ở nhiều quốc gia ở châu Á, Trung cận Đông, châu Phi, cùng những so sánh đối chiếu làm sáng tỏ các giá trị về CCHC ở các nước đang phát triển và cung cấp các bài học về chính sách hoạt động trong tương lai Đặc biệt nghiên cứu này đã nêu bật các vấn đề về phân cấp trong quản lý hành chính, cải cách nền hành chính trong chuyển đổi chế độ chính trị; chỉ
ra các động lực cũng như vai trò của các nguồn lực trong thực hiện CCHC
Xuất bản từ năm 1977, công trình nghiên cứu “Tại sao bộ máy chính
phủ lại lớn lên” của Buchannan, JM [126] đã trình bày những thực tế về vấn
đề sau mỗi l n thực hiện CCHC nhà nước thì bộ máy hành chính lại nhanh chóng quay trở lại tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, chức trách không rõ ràng, nhiều người không xứng với chức danh, không chịu trách nhiệm v.v trong khi mục tiêu cải cách là tinh giản bộ máy hành chính, tăng phân cấp và
trao quyền Và g n đây là tác phẩm “Cải cách chính phủ, cơn lốc chính trị cuối thế kỷ XX của Tinh Tinh (2002) [103], trong đó đã nêu lên những thực
tế đồng thời trình bày các giải pháp tối hậu để thoát khỏi tình trạng nêu trên
ở Trung quốc – quốc gia có những điều kiện chính trị, xã hội tương đồng với Việt Nam
Trang 16Để xây dựng một khuôn khổ phân tích và thực tiễn cho những nền
hành chính ở các quốc gia chậm và đang phát triển, Báo cáo phát triển thế giới 2004 của Ngân hàng thế giới đã đặt ra các câu hỏi và giải đáp cho vấn
đề nền hành chính đó vì mọi người hay vì “khách quen”, (ở đây khái niệm
“khách quen” được hiểu đó là những người giàu, những người chi tiền để vượt qua sự phức tạp của các vấn đề hành chính, thủ tục hành chính, tạo sự tách biệt với người nghèo) Và có “khách quen”, hệ thống công chức hành chính tranh thủ kiếm lời từ khách quen, tuy nhiên xét trên lợi ích tổng thể của quốc gia, việc làm này khiến các quốc gia tự đào sâu hố ngăn cách giữa nhà nước với xã hội văn minh và phát triển con người v.v Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra khuôn khổ cho sự hợp tác giữa người dân – khách hàng với nhà hoạch định chính sách - chính khách, với công chức trong cung cấp các dịch vụ hành chính công, các cách thức để cải cách và tạo ra các khế ước chặt chẽ hơn giữa nền hành chính và khách hàng của nó Báo cáo này cũng
mô tả những động cơ khuyến khích để một thể chế thích hợp có thể lớn mạnh trong một bối cảnh nhất định
Bên cạnh đó, những nghiên cứu như: Vai trò của chính phủ trong sự phát triển kinh tế của đông Á: phân tích và so sánh về thể chế (Masahiko Aoki, Hyung-ki Kim and Masahiro Okuno-Fujiwara 1997) [131], “Năng lực của nhà nước và sự cai trị có hiệu quả” (Brautigam, Deborah 1996 trong cuốn Chương trình nghị sự cho sự phục hồi kinh tế châu Phi tr.81 -108 do Benno Nduulu và Nicolas van de Walle biên tập, Washington, D.C: Hội đồng phát triển hải ngoại); nhiều nghiên cứu trong các báo cáo phát triển hàng năm khác của Ngân hàng thế giới trong những năm g n đây.v.v đều hướng sự tập trung đến hoạt động cải cách qua việc làm rõ các vấn đề về con người, hoạt động của con người quản trị nguồn nhân lực cụ thể trong những tổ chức nhà
Trang 17nước và các vấn đề về năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, làm sống lại các năng lực thể chế cũng như xóa bỏ các trở ngại để phát triển.v.v
Như vậy, những công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu hoạt động CCHC nhà nước từ đó có nêu lên các vấn đề về con người trên nhiều phương diện trong quan hệ với nhà nước, với bộ máy hành chính và thực hiện CCHC nhà nước Tuy nhiên, một công trình gắn với thực tiễn, khái quát lý luận về vị trí và vai trò của con người trong CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay chưa được thực hiện Đó cũng là những căn cứ đ y đủ cho sự hình thành luận án này Những nghiên cứu trên cũng là tài liệu tốt để tác giả tiếp thu phát triển trong luận án của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
- Mục đích của luận án:
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về con người với vai trò là chủ thể và khách thể của quá trình CCHC nhà nước ở Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người cho công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay
- Nhiệm vụ của luận án
+ Khát quát lại một số vấn đề lý luận về con người, về hoạt động CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay
+ Phân tích làm rõ vị trí và vai trò của con người với tư cách là chủ thể quá trình CCHC nhà nước ở Việt Nam Đề xuất những giải pháp phát huy
vai trò chủ thể của con người trong công cuộc CCHC nhà nước hiện nay
+ Phân tích làm rõ vị trí và vai trò của con người với tư cách là khách thể của quá trình CCHC nhà nước ở Việt Nam, từ đó đề xuất những giải
pháp nâng cao vai trò của con người - khách thể trong quá trình CCHC nhà nước
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dưới góc nhìn của triết học, luận án tập trung
nghiên cứu vai trò con người - cán bộ, công chức và người dân thể hiện trên hai phương diện: chủ thể và khách thể của quá trình CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án không giải quyết những vấn đề lý luận
chung về con người cũng như những vấn đề chính trị, pháp luật, hành chính
cụ thể mà tập trung nghiên cứu, xem xét vai trò và sự liên đới của con người trong môi trường CCHC, làm rõ mối quan hệ giữa con người trong vai trò chủ thể, khách thể đối với việc thực hiện CCHC nhà nước từ sau Nghị quyết
TƯ l n thứ 8 Khóa VII (1/1995) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một buớc nền hành chính
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng về con người, về nhà nước và CCHC nhà nước
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng
duy vật, bằng việc xem xét các vấn đề về con người trong tính lịch sử - cụ thể, trong tính hệ thống với cấu trúc nhiều thành tố và sử dụng các biện pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu…, luận án đặt con người trong bối cảnh hoạt động CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay để nhận diện các chiều hướng tác động từ con người và ảnh hưởng tới con người trong hoạt động này
6 Đóng góp mới của luận án
- Luận án phân tích làm rõ sự tác động của con người và sự biến đổi của con người trong quá trình cải cách hành chính nhà nước – một môi trường cụ thể nhưng có tính chất tất yếu và phổ biến hiện nay; góp ph n phát
Trang 19triển con người và chiến lược con người cho công cuộc cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam;
- Bổ sung thêm các nhận thức cho chiến lược phát triển con người Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận, luận án góp ph n phát triển lý luận về con người cho
công cuộc CCHC nhà nước ở Việt Nam
- Về thực tiễn, luận án góp ph n vào việc nhận thức và thúc đẩy quá
trình CCHC nhà nước ở Việt Nam
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu
có liên quan
8 Kết cấu của luận án
Ngoài ph n mở đ u, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận án được kết cấu làm 3 chương, 10 tiết
Trang 20CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI VÀ
HOẠT ĐỘNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái lược quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vị trí và vai trò của con người trong đời sống xã hội
1.1.1 Con người - chủ thể của các quá trình xã hội
Xã hội của con người dù ở trình độ phát triển cao hay thấp, dù được thừa nhận hay không được thừa nhận thì trong mỗi sự kiện, mỗi quá trình xã hội luôn có sự hiện diện của con người Con người luôn là hạt nhân, là mắt xích trong bất cứ mối quan hệ, cơ cấu xã hội nào Sự tham gia của con người vào các mối quan hệ, các sự kiện xã hội có thể không giống nhau Trong những mối quan hệ, những quá trình xã hội cụ thể, sự tham gia của con người có thể là một nhóm nhỏ, một t ng lớp, giai cấp nhưng cũng có thể là
cả một dân tộc, thậm chí là của toàn nhân loại Tính chất, mức độ tham gia của con người vào các mối quan hệ, các quá trình xã hội cũng không hoàn toàn giống nhau Mỗi con người trong sự tồn tại thực tế của mình không chỉ tham gia, tác động vào một quan hệ, vào một cơ cấu (hay quá trình) xã hội nhất định mà bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp, bằng phương tiện vật chất hay tinh th n, quân sự hay chính trị tham gia tác động vào những mối quan hệ, quá trình xã hội khác và tạo nên những quan hệ xã hội, những quá trình xã hội, những cơ cấu xã hội đa dạng, phức tạp Nói khác đi, bất cứ cơ cấu nào trong xã hội cũng đều hình thành từ những hoạt động của con người, trong mối quan hệ với con người cho dù con người có ý
thức được điều đó hay không Do vậy, không thể tách các cơ cấu, các quá trình xã hội khỏi con người và xem nó như là một cái gì đó hết sức trừu
tượng và tự thân Mọi vật, mọi quá trình, mọi tư tưởng xã hội đều nằm trong
Trang 21sự liên hệ của con người, với con người và những mối quan hệ giữa con người với con người, tạo nên quan hệ xã hội
Con người là hạt nhân để tạo nên quan hệ, cơ cấu xã hội Nhưng trong các quan hệ xã hội, cơ cấu xã hội con người không thụ động Trong mỗi thời đại, mỗi điều kiện, hoàn cảnh, ở địa vị xã hội cụ thể với trình độ, sự liên kết
cụ thể… con người tham gia vào các mối quan hệ, các cơ cấu xã hội theo một mức độ và cách thức riêng của mình Sự tham gia của con người không chỉ tạo ra những mối quan hệ, những cơ cấu xã hội hiện thực mà còn điều chỉnh, hướng sự biến đổi, phát triển của những mối quan hệ, những quá trình (cơ cấu xã hội) theo những lợi ích, ý muốn của mình Với ý nghĩa như vậy,
có thể nói con người sáng tạo ra đời sống xã hội
Tuy nhiên quan niệm của con người sáng tạo ra đời sống xã hội theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử hoàn toàn xa lạ với quan niệm tuyệt đối hoá con người - cái quan niệm coi con người là “tâm điểm của sự sáng tạo, con người là sinh vật đồng nhất với tạo hoá, nghĩa là cũng có thể sáng tạo và trở thành trung tâm của vũ trụ”và “phương thức giải quyết các vấn đề triết học xuất phát không phải từ thế giới đến con người, mà ngược lại từ con người đến thế giới” Con người là sáng tạo, nhưng là sự sáng tạo trên cơ
sở của sự tồn tại của thế giới khách quan Con người là “trung tâm” của hệ thống xã hội đơn giản vì con người gắn kết hữu cơ với hệ thống ấy Thông
qua xã hội con người mới có được bản chất xã hội của mình “… Con người bẩm sinh đã là một động vật xã hội…Nếu như con người bẩm sinh đã là một sinh vật có tính xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính chân chính của mình trong xã hội và c n phải phán đoán lực lượng của bản tính, của anh ta không phải căn cứ vào lực lượng của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ vào lực lượng của toàn xã hội” [60, tr 199 - 200]
Như vậy, con người không chỉ là nhân tố, một mắt khâu của mọi quan
Trang 22hệ, quá trình, cơ cấu xã hội mà còn là một nhân tố chủ động, tác động tích cực, theo lợi ích vào sự hình thành, vận động, biến đổi của các quan hệ xã
hội, các quá trình xã hội mà nó tham gia Với tính chất đó, con người khẳng định được vị trí chủ thể của mình trong mọi quá trình xã hội Việc nghiên
cứu xem xét một quá trình nào đó mà tách riêng hoặc hạ thấp vị trí, vai trò của con người sẽ không chỉ làm mất đi tính tích cực của con người mà còn làm cho hệ thống trở nên méo mó, không hoàn chỉnh
1.1.2 Con người - khách thể trong đời sống xã hội
Nếu xét con người trong quan hệ với thế giới một cách tự nhiên, thì mọi sự vật hiện tượng bao quanh con người là nhân tố quyết định sự hình thành con người cùng các phẩm chất và khả năng của nó, cùng với thông tin
là nội dung của thế giới bên ngoài, được thể hiện trong sự nhận thức của con người Tuy nhiên, con người lại không hoạt động tự nó một cách đơn độc trong cái thế giới ấy Quan hệ của con người với thế giới bao giờ cũng được thực hiện thông qua quan hệ với những người khác Thực tế cho thấy, quan hệ của con người với thế giới xung quanh, với những người khác càng đa chiều, thì các phẩm chất tâm lý của con người càng phong phú và biểu hiện cuộc sống của con người càng phức tạp và đa dạng Tất cả những điều này kh ng định nhân tố quyết định sự hình thành phẩm chất xã hội của mỗi cá nhân là các quan hệ xã hội mà trước hết là những quan hệ kinh tế, sự giao tiếp với người khác mà trực tiếp với những người đương đại, cũng như gián tiếp là thông qua kinh nghiệm sản xuất, xã hội - chính trị, tinh th n được lưu trữ trong thông tin xã hội C Mác và F ngghen đã nhiều l n nhấn mạnh: Cá nhân là một thực thể xã hội… cá nhân bao giờ cũng là một con người nhất định, cụ thể, một con người hiện thực đang sống kết hợp ở mình sự phong phú của cái chung, cái riêng và cái đơn nhất
Song bất cứ một xã hội người nào cũng là một hệ thống hết sức đa dạng
Trang 23và phức tạp Trong đó, phương thức sản xuất của cải cùng với tổ chức chính trị đặc thù của xã hội, đặc biệt là thể chế nhà nước, các hình thái ý thức xã hội như chính trị, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ… được kết hợp lại thành một thể thống nhất Do vậy, những phẩm chất của cá nhân cũng được hình thành một cách đa dạng tương ứng Trong một nền sản xuất cụ thể, hoạt động vật chất, hoạt động sản xuất của một xã hội cụ thể, các quan hệ kinh tế hình thành trong quá trình sản xuất và ở những trình độ lịch sử khác nhau của
sự phát triển của chúng đã sản sinh ra những kiểu cá nhân xã hội khác nhau như: nông lệ hoặc chủ nô, nông nô hoặc lãnh chúa phong kiến, công nhân hoặc nhà tư bản.v.v Nói một cách khác, đời sống kinh tế - xã hội của một xã
hội cụ thể trong lịch sử sản sinh ra những biểu hiện của đời sống xã hội của con người cụ thể, quy định vị trí của người đó trong một hệ thống sản xuất xã hội
Các quan hệ xã hội vốn có của một xã hội như quan hệ giai cấp, quan
hệ dân tộc cùng những quan hệ khác thông qua những cá nhân mang những quan hệ ấy tất yếu sản sinh ra những đặc điểm giai cấp, dân tộc và những đặc điểm cá nhân khác Tất cả những cái đó là những biểu hiện của đời sống xã hội của con người Trong một giai cấp nhất định, con người trong giai cấp đó
có những phẩm chất riêng, đặc thù Mỗi con người cụ thể nào cũng đều có những biểu hiện nhất định của đời sống tinh th n của cá nhân – những tư tưởng và tình cảm, những quyền lợi, những ý định và mục đích.v.v hình thành do tác động trực tiếp của đời sống kinh tế - xã hội, đời sống tinh th n xã hội hay của tập thể mà cá nhân này sống và phát triển, hay từ những tư tưởng của các giá trị tinh th n đang thống trị trong xã hội đó
Trong bất kỳ một chỉnh thể xã hội nào mà một cá nhân thuộc vào và tất yếu phải có quan hệ với nó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ làm nảy sinh ở
cá nhân những biểu hiện nhất định của đời sống của người đó Những biểu
Trang 24hiện đó là tổ hợp những đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người kết hợp với các phẩm chất sinh học
hợp thành cá nhân như là một hệ thống hoàn chỉnh Trong sự thống nhất, tác
động qua lại và hoạt động, trong sự phối hợp và lệ thuộc của nó, các yếu tố hợp thành đã hoàn thiện cá nhân như một chỉnh thể, như một hệ thống hoàn chỉnh
Như vậy, bản thân con người cũng là khách thể theo nghĩa nó được đối tượng hóa, là hình thái có tổ chức cao nhất của vật chất Bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội cũng là khách quan C Mác đã viết:
Nếu con người là một cá nhân đặc thù nào đó và chính là tính đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân và một thực thể
xã hội cá thể hiện thực, thì trong mức độ như thế, nó cũng là một tổng thể trong ý niệm, một tồn tại cho mình - chủ quan của xã hội đang được tư duy và đang được cảm giác, cũng giống như trong hiện thực nó tồn tại một mặt như là sự trực quan tồn tại xã hội và sự hưởng dụng tồn tại ấy một cách hiện thực và mặt khác,
như tổng thể của sự biểu hiện sinh hoạt của con người [68, tr
171-172]
Tính toàn vẹn, tính tổng thể của cá nhân là cơ sở cho tính thống nhất, tính chỉnh thể của những biểu hiện đa dạng trong đời sống xã hội ở mỗi con người Mỗi biểu hiện này đều là sự phản ánh cụ thể, đặc thù của một quan hệ
xã hội nhất định, là sản phẩm của hoạt động xã hội Và ngược lại, trong tính tổng thể, trong sự thống nhất của biểu hiện của đời sống cá nhân lại là sản phẩm và sự biểu hiện của tổng thể, của tất cả tính đa dạng của các quan hệ xã hội, của chính những quan hệ mà thông qua chúng một cá nhân được gắn bó với những người khác Bất kỳ cá nhân nào cũng là toàn vẹn theo nghĩa là
Trang 25những biểu hiện của đời sống vốn có ở họ không tách rời nhau, nằm trong mối liên hệ qua lại với nhau và tạo thành nhân cách trong tính tổng hòa của chúng Tuy nhiên, mức độ hoàn chỉnh, tính vững chắc của những liên hệ qua lại giữa các biểu hiện của cá nhân trong điều kiện lịch sử đều phụ thuộc vào tính chất của cái chỉnh thể xã hội (hình thái kinh tế và giai cấp) mà cá nhân đó thuộc vào Nói khác đi, nó bị biến đổi tùy theo sự thay đổi và phát triển của xã
hội, môi trường xã hội Dưới góc độ này, con người là khách thể bởi nó là kết quả của những quá trình xã hội, của đời sống xã hội
1.1.3 Con người trong hệ thống quản lý, tổ chức xã hội – chính trị
Hệ thống quản lý, tổ chức xã hội nói chung và hệ thống quản lý xã hội
- chính trị là một tiểu hệ của hệ thống xã hội Hệ thống tổ chức, quản lý xã hội mang tính chất chính trị, được pháp luật quy định còn được gọi với một
tên khác là hệ thống hành chính Trong những hệ thống này, con người tất yếu vẫn giữ vai trò vừa là khách thể vừa là chủ thể hoạt động của hệ thống
Với tính độc lập tương đối, hệ thống quản lý, tổ chức xã hội có những đặc thù của nó Chức năng cơ bản của hệ thống này là hợp nhất sự hoạt động và phát triển của các hệ thống khác, đảm bảo sự tác động qua lại và sự trao đổi lẫn nhau các sản phẩm hoạt động của chúng trong một trật tự hợp lý Khác với các loại hệ thống tự động, bản thân đã sẵn có những chương trình tác động qua lại giữa các thành tố hữu cơ của nó, các hệ thống tổ chức, quản lý
được tiêu biểu bởi kiểu tác động qua lại thông qua thông tin xã hội tạo sự
liên kết với các thành tố
Các hệ thống tổ chức, quản lý có một mạng lưới riêng những kênh liên hệ cho phép nhiều khâu khác nhau trao đổi thông tin với nhau để đảm bảo sự hoạt động và phát triển ăn khớp với rất nhiều hệ thống khác
Các hệ thống tổ chức xã hội – chính trị chịu tác động lớn từ những lợi ích, nhu c u của con người, của tập thể, của các tập đoàn xã hội Toàn bộ
Trang 26các quan hệ xã hội trên cơ sở của lợi ích và nhu c u của con người, của các tập đoàn xã hội quyết định tính chất, hình thức, xu hướng vận động và người lãnh đạo của hệ thống tổ chức xã hội – chính trị đó
Trong các hệ thống xã hội – chính trị, do phụ thuộc vào những con người cụ thể nên các hệ thống này khó có tính tự động chặt chẽ, thường thiếu một sự đảm bảo để mỗi con người – thành viên của tổ chức thực hiện được nhiệm vụ tuyệt đối chính xác và đúng thời hạn Trong một tổ chức, có những con người hoạt động, ở đó mỗi người lại có trình độ văn hóa chuyên môn riêng, có lợi ích và nhu c u riêng, có những ý chí và tình cảm riêng Để làm cho tổ chức củng cố, phát triển, hoạt động của tổ chức đạt được hiệu quả
c n phải làm cho lợi ích và nhu c u của mỗi cá nhân trùng hợp với lợi ích của tổ chức và đó là nguyên nhân lớn nhất bảo đảm cho việc đạt được những mục đích chung của tổ chức
Do nhiệm vụ của hệ thống tổ chức xã hội – chính trị về cơ bản là
nhiệm vụ của hệ thống con người – con người Còn con người và hoạt động
của con người trong hệ thống xã hội như đã trình bày lại chịu sự tác động của cả những điều kiện khách quan và những nhân tố chủ quan, cho nên hoạt động của các hệ thống tổ chức xã hội - chính trị là không thu n nhất Cùng một cơ cấu, quy mô và cách thức tổ chức nhưng hệ thống xã hội - chính trị này hoạt động lại hiệu quả hơn một hệ khác
Hoạt động của hệ thống tổ chức, quản lý xã hội – chính trị thực chất là hoạt động của các cá nhân người tác động qua lại Do tính chất của các tương tác trong hoạt động của con người đã hình thành những cá nhân người
có mục đích, nhu c u, tư tưởng, trình độ văn hóa, trình độ nhận thức.v.v khác nhau khiến các hệ thống quản lý tổ chức xã hội - chính trị phải chương trình hóa những lợi ích và những mục đích chung của các cá nhân để họ hành động theo một quy chế, một trật tự nhất định Tuy nhiên, không phải
Trang 27lúc nào lợi ích và nhu c u, ý nghĩ và tình cảm riêng của mỗi con người cũng trùng khít với lợi ích, mục tiêu của tổ chức Điều này cản trở hoạt động tối
ưu của hệ thống quản lý, tổ chức xã hội – chính trị và tất yếu tạo nên tính trễ của cải cách ở hệ thống
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, một mặt c n phải phát huy tính tích cực trong hoạt động mang tính chủ thể của con người trong hệ thống quản lý, xã hội - chính trị, nhưng mặt khác lại phải thấy được những hạn chế trong việc thể hiện vai trò chủ thể của nó để có thể có biện pháp khắc phục, nhằm đảm bảo cho hoạt động của các hệ thống quản lý, tổ chức xã hội - chính trị đạt được hiệu quả
1.2 Khái niệm cải cách hành chính và cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Khái niệm cải cách hành chính
Thuật ngữ "cải cách" được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ phương
Tây và phương Đông, được hiểu là một quá trình, một hoạt động có ý thức, mục đích làm thay đổi, cải biến những cái cũ theo hướng tốt hơn hoặc thay thế cái cũ bằng cái mới Cải cách có thể diễn ra ở những cấp độ, mức độ khác nhau Có những hoạt động cải cách có tính chất cách mạng, có những cuộc cải cách chỉ là sự thay đổi ít nhiều so với ban đ u Cải cách là thay đổi những
bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu c u của tình hình khách
quan Cải cách bao gồm tập hợp của nhiều cải tiến, sáng kiến, biến đổi Cải cách còn được xem là một biện pháp giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định [xem 7, 26 -29] Với ý nghĩa đó, cải cách hiện diện
trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
Thuật ngữ “Hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administratio” là quản lý, lãnh đạo Hiện nay có khá nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau
Trang 28về thuật ngữ này, tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng nhà nghiên cứu Tuy có nhiều cách tiếp cận, nhưng đặc điểm cơ bản của hành chính xuất phát từ việc trong bất kỳ xã hội nào cũng c n có sự phân công lao động, c n tới sự xác lập những tỉ lệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Như vậy,
hành chính theo nghĩa chung là quản lý công việc, là quản lý xã hội; theo
nghĩa riêng, hẹp hơn là công việc nhà nước và tổ chức quản lý nhà nước Về
cơ bản, hành chính là tổng thể những hoạt động (thao tác) nhất định do con người, chủ thể quản lý thực hiện đối với khách thể quản lý nhằm cải tạo khách thể, bảo đảm cho nó vận động tới một mục tiêu đã định Hành chính chính là hoạt động quản lý của con người để tạo ra sự vận hành mang tính hệ thống của xã hội
Căn cứ vào quan niệm về cải cách và hành chính đã làm rõ ở trên thì cải cách hành chính chính là hoạt động có ý thức và mục đích của con người nhằm hợp lý hóa, hay khắc phục các khiếm khuyết trong các chương trình
điều hành, quản lý các hệ thống Như vậy, cải cách hành chính là hoạt động cải tạo, nâng cấp, hoàn thiện công tác quản lý cho tất cả các hệ thống trong
xã hội Song do hành chính gắn chủ yếu với hoạt động của các cơ quan nhà
nước, các thể chế chính trị nên khái niệm cải cách hành chính thường được coi là đồng nhất với khái niệm CCHC nhà nước
Trên cơ sở nêu trên, các khái niệm CCHC thống nhất tại các điểm sau:
- CCHC là sự thay đổi có kế hoạch theo một mục tiêu xác định nhưng không làm triệt tiêu hay thay đổi bản chất của hệ thống hành chính nhà nước
mà để hệ thống hành chính nhà nước hoạt động hiệu quả hơn;
- CCHC hướng tới điều tiết những mâu thuẫn trong cơ cấu tổ chức và
cơ chế quản lý của bộ máy hành chính nhà nước;
- CCHC tập trung vào việc định rõ trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân mà thông qua đó nhằm thiết lập một hệ thống hành chính chặt chẽ từ trên xuống dưới;
Trang 29- CCHC không phải là cải cách chế độ chính trị-kinh tế-xã hội mà là quá trình khắc phục mọi trở lực trong cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của nền hành chính, làm cho nó phát triển một cách năng động và phù hợp với sự biến đổi kinh tế-xã hội;
Tuy nhiên, cũng trên cở sở của khái niệm cải cách, khi nhấn mạnh đến
cấp độ, mức độ, tính chất của các cuộc cải cách đã hình thành nên hai luồng khái niệm về CCHC
Thứ nhất: Một số tác giả cho rằng, CCHC là phải nhằm mục tiêu thay đổi toàn bộ các nội dung của nền hành chính như: thể chế, bộ máy, tài chính công, công vụ, công chức…Theo đó, c n phân biệt CCHC với những biến đổi
thông thường, những "cải tiến" thường nhật trong một nền hành chính tương
đối ổn định và phát triển Những cải tiến này hướng tới thay đổi ở một số bộ phận, quá trình nhỏ nào đó để nền hành chính được hoàn thiện thêm Về quy
mô và phạm vi, những "cải tiến" trong nền hành chính thường được giới hạn
ở một lĩnh vực hẹp của nền hành chính công, diễn ra trong thời gian ngắn nhằm đáp ứng những đòi hỏi mang tính khu vực, cục bộ, phiến diện và không phải là quá cấp thiết đối với cả một nền hành chính Trong khi đó, CCHC được nhìn nhận là một quá trình cải biến có t m vóc và phức tạp hơn, tập trung vào nhiều nội dung, yêu c u lớn chứ không chỉ là các vấn đề mang tính cải tiến Nó đòi hỏi phải có các nghiên cứu toàn diện về quan điểm, nguyên tắc cho CCHC, xây dựng các chiến lược tổng thể, dài hạn và các phương thức, công cụ tổ chức thực hiện Về phạm vi, CCHC đụng chạm đến các bộ phận cấu thành của nền hành chính từ thể chế hành chính, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức, hoạt động công vụ và các nguồn lực công Những cải tiến hành chính theo quan điểm này là đem tới sự thay đổi về lượng, còn CCHC là một sự thay đổi về chất
Trang 30Như vậy, với những nhận định trên, CCHC được hiểu là một quá trình cải biến có kế hoạch đồng bộ chế độ hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới trên các phương diện: thể chế hành chính, cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính, đội ngũ cán bộ công chức và tài chính công nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nền hành chính Nhà nước
Thứ hai: một số tác giả lại cho rằng, CCHC không nhất thiết phải tạo ra
sự thay đổi toàn bộ các nội dung của nền hành chính mà là thay đổi một hoặc một số nội dung của nền hành chính, ch ng hạn CCHC được hiểu “như là một quá trình cải tiến bộ phận, cải cách từng ph n, từng bước hệ thống hành pháp của bộ máy nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong nền hành chính nhà nước, có liên quan đến cải cách các lĩnh vực quản lý khác nhau của bộ máy nhà nước” [113, tr 50] Theo cách diễn đạt này, không phải cứ nói đến CCHC là nói đến một quá
trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện toàn bộ các nội
dung của nền hành chính nhà nước (như thể chế, cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức, tài chính công….) mà tùy từng quốc gia trong mỗi giai đoạn phát triển, CCHC hướng vào hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền hành hành chính Do đó, CCHC được nhận
định là một quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu hoàn
thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, cơ cấu
tổ chức, cơ chế vận hành, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, tài chính công…) nhằm xây dựng một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả
Đứng trên phương diện triết học, theo cách tiếp cận của nghiên cứu,
CCHC được xác định là hành vi có tính hướng đích của con người nhằm cải biến nền hành chính của một quốc gia theo hướng hoàn thiện hơn So sánh
Trang 31với các quốc gia, Việt Nam là quốc gia đã xây dựng một chương trình CCHC toàn diện nhằm giải quyết những vấn đề căn bản của nền hành chính nhà nước Ở nhiều quốc gia khác, CCHC không phải lúc nào cũng được tiến hành theo một kế hoạch tổng thể mà theo các nhóm giải pháp ở các quy mô nhỏ hơn như đổi mới cơ chế, chính sách cho khu vực nào đó, phát triển tổ chức, phát triển nguồn nhân lực, quản lý chất lượng và những lĩnh vực cải cách có liên quan khác Những nhóm giải pháp này nhằm đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội bằng cách này hoặc cách khác
1.2.2 Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
1.2.2.1 Nguyên nhân cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Trong điều kiện môi trường quốc tế tương đối hòa bình hiện nay, CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay là yêu c u tất yếu của xu thế hòa bình
và phát triển của thế giới đương đại, là hoạt động nhằm đổi mới thể chế, tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, nân cao hiệu quả quản lý của nhà nước đồng thời thực hiện dân chủ hoá đời sống chính trị của xã hội, phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân và đảm bảo yêu c u phát triển kinh tế, ổn định chính trị trong quá trình hội nhập toàn c u hoá Công cuộc cải cách ở Việt Nam được hình thành từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan cụ thể sau:
Về khách quan :
Một là: Sau đại hội Đảng toàn quốc l n thứ VI, đường lối đổi mới
kinh tế ở nước ta đã tạo tiền đề cho nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng trong thời kỳ kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp Trong khi đó hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực đặc biệt là quản lý hành chính nhà nước về kinh tế theo lối cũ đã không còn phù hợp và cản trở công cuộc đổi mới kinh tế Bên cạnh đó việc phát triển nền kinh tế thị trường định
Trang 32hướng XHCN, tạo cơ hội để khu vực kinh tế tư nhân tham gia nhiều hơn trong hoạt động kinh tế vốn do nhà nước độc quyền Tính linh động ngày càng tăng của hàng hóa, tính năng động trong dịch chuyển nguồn lực con người trong một môi trường thông tin dày đặc với khả năng tiếp cận thông tin ngày càng dễ dàng hơn đã giúp cho chính quyền ở địa phương hoạt động hiệu quả hơn trong nhiều hoạt động quản lý xã hội Cùng với trình độ dân trí ngày càng cao và có khả năng nhận thức khá cụ thể hoạt động hiệu quả của các cơ quan quản lý hành chính, do đó họ mong muốn có được tiếng nói của mình bằng việc tạo nên những sức ép từ nhiều mặt đối với hệ thống hành chính nhà nước, yêu c u chính quyền trung ương phải trao bớt thẩm quyền
và nguồn lực cho chính quyền địa phương (đẩy mạnh phân cấp) Đây được coi là quá trình phi tập trung hóa
Việc phi tập trung hóa những chức năng nhất định tất yếu làm nảy sinh nhu c u tập trung hóa lớn hơn đối với một số chức năng khác (hoặc c n
sự kiểm soát mạnh hơn từ trung ương) Do đó, vai trò của các cấp trong bộ máy hành chính có những sự thay đổi Việc quản lý phi tập trung hóa đòi hỏi năng lực quản lý của bộ mày hành chính cao hơn và mạnh mẽ hơn (Ở Việt Nam quá trình phân cấp xuống các tỉnh đã xuất hiện tình trạng cạnh tranh giữa các tỉnh về thu hút đ u tư nước ngoài bằng việc chạy đua các ưu đãi, gây tổn hại lên lợi ích quốc gia v.v.)
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhiều vấn đề mới về xã hội đã xuất hiện như giao thông, nhà ở, việc làm, giáo dục, dân số, bảo vệ môi trường, bảo trợ xã hội đòi hỏi chính phủ phải thay thế hệ thống chức năng
cũ, thiết lập hệ thống chức năng mới
Hai là: Quá trình toàn c u hóa, khu vực hoá của các hoạt động kinh tế
đã đòi hỏi hoạt động quản lý nhà nước phải thay đổi, phải áp dụng nhiều thông lệ quốc tế chung trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Bên
Trang 33cạnh đó, hệ thống quản lý phải đẩy mạnh việc quản lý mang tính khu vực và quốc tế đối với các quá trình này nhằm hạn chế sự xâm nhập có tính phá hoại từ bên ngoài, bảo vệ quốc gia và những nhóm dễ bị tổn thương trước những tác động xấu của việc thay đổi Quá trình toàn c u hóa đòi hỏi các chính phủ phải tiêu ít tiền, làm nhiều việc; thực hiện sự chuyển biến từ quan điểm quan liêu sang quan điểm trách nhiệm; từ quan điểm quản chế sang quan điểm phục vụ trong quản lý hành chính; từ quan điểm chú trọng đ u tư sang quan điểm chú trọng kết quả
Ba là: Do ảnh hưởng cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, cụ thể là
sự phát triển công nghệ thông tin đã tạo ra tính đa chiều và kết nối thông tin
toàn c u, kéo theo đó tính đa dạng trong phản ánh đã ảnh hưởng mạnh đến
phương thức quản lý của con người Việc thay thế các vị trí quản lý là con người bằng các thiết bị công nghệ cao có kết nối cũng góp ph n tạo ra xu hướng cải cách thu hẹp phạm vi hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nước của các nước
Về chủ quan:
Đây là yếu kém vốn có của bộ máy hành chính nhà nước dẫn tới phải CCHC, đồng thời là sự tự giác của nền hành chính trong việc CCHC Có nhiều yếu tố chủ quan đòi hỏi phải thực hiện cải cách nền hành chính nhà nước:
Một là: Hệ thống thể chế hành chính nhà nước là công cụ cơ bản thúc
đẩy các hoạt động của nền kinh tế lại tự tạo ra “tính trễ” trong cải cách so với cải cách kinh tế
Hai là: Tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước c n được tổ
chức lại cho phù hợp với môi trường mới
Ba là: Phương thức tác động của nền hành chính đến các đối tượng bị
quản lý đang được thay đổi và do đó con người (công chức) và các hoạt
Trang 34động của họ phải thay đổi Đội ngũ công chức mang tính thừa kế, chậm đáp ứng các đòi hỏi mới nên c n có sự hoàn thiện đội ngũ này
Bốn là: Nhà nước có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn các hoạt động quản
lý của mình do có sự trợ giúp của các công nghệ mới
Năm là: CCHC là nhu c u của quốc gia nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn về tài chính
Như vậy, CCHC nhà nước là đòi hỏi không chỉ của bên ngoài đối với
bộ máy hành chính nhà nước mà cũng là sự đòi hỏi của chính bản thân nền hành chính Cả yếu tố bên trong và bên ngoài của nền hành chính đều có sự vận động phát triển Do đó, CCHC nhà nước mang tính tất yếu phải có của mọi quốc gia ở các giai đoạn phát triển khác nhau Đó cũng là cách thức làm cho bộ máy quản lý hành chính nhà nước hoạt động có hiệu quả nhằm xây dựng một nền hành chính đáp ứng được đòi hỏi của xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển bền vững
1.2.2.2 Nội dung cải cách nền hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Nghị quyết Hội nghị l n thứ 8, Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII (5/1995) l n đ u tiên chỉ rõ: CCHC ở nước ta là trọng tâm của công cuộc tiếp tục xây dựng và kiện toàn nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam, bao gồm những thay đổi có chủ định nhằm (1) hoàn thiện thể chế của nền hành chính, (2) chấn chỉnh tổ chức bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính, (3) Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính để
nâng cao hiệu lực, năng lực và hiệu quả hoạt động của hành chính công phục
vụ nhân dân [Xem 23, tr 169 -175]
Đến những năm 2000, khi xây dựng CTTT CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010, ngoài ba nội dung CCHC được đưa ra tại Hội nghị l n thứ 8, Ban
Trang 35Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII (5/1995), nội dung cải cách tài chính công được bổ sung thêm
Có thể thấy việc xác định các nội dung CCHC nhà nước ở Việt Nam trong một chương trình toàn diện để phát triển một nền hành chính quốc gia thống nhất là c n thiết, nó xuất phát từ nhu c u cải cách bộ máy hành chính từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhằm tạo ra tính chỉnh thể, tính hệ thống của các lợi ích cũng như vai trò là động lực phát triển đất nước, phát triển con người Đặt trong bối cảnh mới, với mục tiêu tập trung phát triển kinh tế, phát triển đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân, nền hành chính phải được tổ chức thành một hệ thống ổn định, hoạt động thông suốt, trên cơ sở phân công, phân cấp và chế độ trách nhiệm rành mạch, có kỷ cương; hoạt động của các cơ quan hành chính và cán bộ công chức nhà nước chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân; áp dụng các biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa những hành vi mất dân chủ, tự do tùy tiện, quan liêu tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân Các chủ trương, giải pháp CCHC phải gắn chặt chẽ với bước đi của đổi mới kinh tế, với yêu c u phát triển đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Cải cách thể chế nền hành chính 1 do đó trở thành nội dung cơ bản đ u tiên của CCHC nhà nước ở Việt Nam nhằm hoàn thiện, khắc phục những
1
Cải cách thể chế (hành chính) là nội dung cốt lõi và thực chất của CCHC của nước ta hiện nay Thể chế nói chung bao gồm có các quy định chung và các tổ chức để thực hiện các quy định đó Thể chế hành chính nói riêng được hiểu là một hệ những quy tắc, quy chế ràng buộc các quan hệ giữa cơ cấu hành chính nhà nước với các cơ cấu xã hội khác (tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh
tế, nhân dân.v.v), trong nội bộ cơ cấu hành chính và các hình thức tổ chức được thiết lập để quản lý các mặt của đời sống xã hội, buộc mọi cá nhân và tổ chức phải tuân theo Như vậy, cải cách thể chế hành chính có nghĩa cải cách tổng thể các quy định của nhà nước về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, về mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với cơ quan nhà nước và công dân; về chế độ công vụ, quy chế công chức Thực hiện tốt cải cách thể chế thì những nhiệm vụ như đồng bộ bộ máy, nâng cao trình độ đội ngũ cán
Trang 36chỗ chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống nhất trong hệ thống thể chế, hình thành cơ sở pháp lý đ y đủ cho các hoạt động cải cách khác của nền hành chính nhà nước Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thể chế về tổ chức hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đảm bảo việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức Như vậy, với tư cách là một chủ thể của nền hành chính, cải cách thể chế là
sự thiết lập và thực thi các quy tắc nhằm cải thiện các mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, tạo điều kiện cho một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hoạt động có hiệu quả
CTTT CCHC nhà nước 2001-2010 và mới đây là CTTT CCHC cho giai đoạn mới 2011-2020 đều đặt cải cách thể chế là nội dung đ u tiên, gốc
rễ của chương trình cải cách, kh ng định rõ lại một mục tiêu quan trọng là tạo ra khung thể chế pháp lý, “pháp quyền” XHCN cho nền kinh tế thị trường
Đồng bộ với cải cách thể chế, hoạt động cải cách tổ chức bộ máy hành chính ở Việt Nam phải khắc phục những trùng lắp về chức năng và
nhiệm vụ Cơ cấu tổ chức của Chính phủ, cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải được điều chỉnh và bố trí lại Tổ chức bộ máy chính quyền địa phương cũng c n cải cách cho gọn nhẹ và hiệu quả Đây là xu thế tất yếu do việc xóa bỏ d n sự phân tách quản lý ngành và lĩnh vực ở hai khu vực trong và ngoài nhà nước trong nền kinh tế thị trường và trước yêu c u hội nhập kinh tế quốc tế; phạm
vi hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nước d n thu hẹp và quan
bộ, viên chức, lành mạnh hóa tài chính công sẽ được tiến hành thuận lợi Ngược lại, nếu không có cải cách thể chế thì những thay đổi về bộ máy, nhân sự, tài chính cũng không có cơ sở để thực hiện
Trang 37trọng hơn cả là sự điều chỉnh cơ cấu tổ chức của bộ máy hành chính để cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ công cộng cho người dân được tốt nhất
Từ những thay đổi, cải cách về thể chế và bộ máy hành chính, phương thức quản lý cán bộ công chức, trình độ, tinh th n trách nhiệm, đạo đức cán
bộ, công chức trong thực thi công vụ cũng đòi hỏi phải đổi mới theo cơ cấu
bộ máy hành chính được cải cách Nhận định chung hiện nay, cán bộ công chức vẫn thiếu năng lực, đạo đức công vụ và động lực để đáp ứng nhu c u phát triển của đất nước Biểu hiện của sự yếu kém này là tình trạng “cửa quyền, sách nhiễu và tham nhũng” nhìn thấy được Bộ máy hành chính nhà nước chỉ có thể vận hành tốt khi con người vận hành bộ máy là những người
có đức, có tài Đồng bộ với các quá trình trên, tiền lương và chính sách đãi ngộ là một nội dung c n được tập trung nguồn lực để không tạo nên áp lực đối với đội ngũ cán bộ công chức từ những cách biệt lợi ích về kinh tế, điều kiện việc làm.v.v (so sánh với khu vực ngoài nhà nước) từ đó thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng cao và hạn chế trình trạng “chảy máu chất xám” từ khu vực nhà nước
Bên cạnh các hoạt động cải cách tổ chức về bộ máy, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ; cải cách tài chính công là một trong những nội dung
cải cách để nâng cao hiệu quả sử dụng đồng tiền thông qua hệ thống hành chính nhà nước, đảm bảo các nguồn thu cho ngân sách làm cơ sở cho các nhiệm vụ cải cách, đặc biệt là cải cách chế độ tiền lương, chính sách đãi ngộ đối với công chức, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia
và vai trò chỉ đạo của ngân sách trung ương; thực hiện công khai minh bạch
về tài chính; phòng chống tham nhũng và giảm nợ công
Như vậy, bốn nội dung quan trọng của CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay là (1) Cải cách thể chế, (2) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính, (3)
Trang 38Đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, (4) Cải cách tài chính công gắn liền chặt chẽ với bước đi của phát triển kinh tế, với yêu c u phát triển đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển con người2
1.2.2.3 Kết quả thực hiện CTTT CCHC nhà nước 2001 - 2010 3
Những thành tựu mà CTTT CCHC giai đoạn 2001-2010 đã đạt được cụ thể như sau:
Một là, CCHC ở Việt Nam trong 10 năm qua đã góp phần hoàn thiện
hệ thống thể chế, đặc biệt là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Cụ thể là mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được giải quyết một cách cơ bản và rõ nét thông qua việc điều chỉnh mối quan hệ hữu cơ giữa cơ cấu hành chính với các cơ cấu xã
hội khác, đồng thời điều chỉnh tổ chức bộ máy hành chính để thích ứng với yêu c u nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung cải cách thể chế trong CTTT giai đoạn 2001 - 2010 đặt ra về cơ bản là đ y đủ bao gồm
từ điều chỉnh chức năng hệ thống hành chính, đổi mới cơ cấu hệ thống hành chính (phân công, phân cấp), đổi mới cơ chế và phương thức hoạt động của
hệ thống hành chính (trực tiếp, gián tiếp, quy trình, thủ tục v.v.)
Chính phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế; chú trọng công tác xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành một số lượng
2
Ngày 08.11.2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP Ban hành CTTT CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 Chương trình đề 6 mục tiêu là: Cải cách thể chế; Cải cách thủ tục hành chính; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức; Cải cách tài chính công; Hiện đại hóa hành chính Trong đó Cải cách thủ tục hành chính được tách riêng ra thành một mục tiêu độc lập khỏi mục tiêu Cải cách thể chế Mục tiêu Hiện đại hóa nền hành chính được nhân mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
3
Căn cứ trên Báo cáo Tổng kết CTTT CCHC nhà nước giai đoạn 2001 -2010 của Bộ Nội vụ
Trang 39lớn nghị định hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh thể hiện rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế, tạo sự bình đ ng giữa các thành
ph n kinh tế, giảm thiểu đáng kể sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại nói chung và hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng, giảm thiểu cơ chế xin - cho Đã rà soát lại chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, của người đứng đ u Chính phủ, từng bộ, ngành từ trung ương đến địa phương để điều chỉnh chức năng của Chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước và bộ máy hành chính nhà nước Việc hoàn thiện và ban hành một loạt các văn bản như Luật tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Thanh tra, các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các văn bản về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân ở cấp tỉnh, huyện v.v… và mới đây nhất là Luật Cán bộ, công chức là những nỗ lực lớn, liên tục trong mười năm qua đối với việc hoàn thiện hệ thống thể chế trong tình hình mới
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của Chính phủ đã được đổi mới; Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đã ra đời và có hiệu lực 1/2009 Việc công bố các dự thảo luật như đã được thực hiện kể từ khi Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực là một bước tiến quan trọng góp ph n vào quá trình hoàn thiện hệ thống thể chế của nhà nước ta
Một mặt rất quan trọng của cải cách thể chế là cải cách thủ tục hành chính, hợp lý hóa trình tự giải quyết công việc trong quan hệ giữa các cơ quan công quyền với xã hội dân sự, với công dân và doanh nghiệp CCHC trong 10 năm qua đã góp ph n quan trọng vào tăng trưởng kinh tế nhờ đơn giản thủ tục
Trang 40cấp phép đ u tư, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước, phát triển hàng trăm nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các ngành sản xuất và dịch vụ Đặc biệt, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, việc triển khai Đề án về đơn giản hóa thủ tục hành chính, tiến hành rà soát và đơn giản 30% các thủ tục hành chính có liên quan đến doanh nghiệp và người dân, khi kết thúc sẽ là một bước tiến lớn trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đ u tư Cùng với việc đẩy mạnh cải cách về thủ tục hành chính, theo quy định của Nghị định số 13 và 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ, các cơ quan chuyên môn của cấp tỉnh, cấp huyện cũng được sắp xếp lại cho phù hợp với việc sắp xếp bộ máy các bộ, ngành theo hướng tổ chức đa ngành, đa lĩnh vực
và phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương
Có thể nói, những kết quả của quá trình cải cách thể chế đã góp ph n vào hoàn thiện hệ thống thể chế nói chung, đặc biệt là hệ thống thể chế kinh
tế thị trường thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nói riêng và của toàn đất nước
Hai là, CCHC làm cho bộ máy nhà nước tinh gọn hơn nhưng mạnh hơn, làm đúng việc của mình, thúc đẩy sự tham gia của người dân, huy động được nguồn lực to lớn của xã hội vào quá trình phát triển của đất nước
Một kết quả quan trọng trong CCHC thời gian qua là đã tổ chức sắp xếp lại các bộ, cơ quan ngang bộ, theo hướng bộ đa ngành, đa lĩnh vực, kết quả là đã giảm số bộ, cơ quan ngang bộ, từ 26 xuống còn 22 bộ, cơ quan ngang bộ Các cơ quan trực thuộc Chính phủ cũng giảm từ 14 xuống còn 8 cơ quan Tách chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan trực thuộc chính phủ Đẩy mạnh cải cách chính quyền địa phương, sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, tình hình cụ thể địa phương Số lượng các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh từ 35 đến 40 đ u mối nay giảm còn 20 - 25; cấp huyện từ 20 - 25 nay giảm còn 10 - 15 các phòng, ban chức năng Đặc biệt