Tiểu luận lớp nhận thức về ĐảngĐường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của cách mạng Việt Nam.Đồng chí đã nhận thức như thế nào về tổ chức cơ sở Đảng (vị trí, chức năng, nhiệm vụ), về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của người Đảng viên ĐCSVN? Theo đồng chí cần giải quyết những vấn đề gì để xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao trách nhiệm của Đảng viên ở đơn vị đồng chí công tác?
Trang 1BÀI LÀM
Câu 1: Đồng chí đã nhận thức như thế nào về đường lối cách mạng của ĐCSVN? Liên hệ với đơn vị và bản thân đồng chí?
Trả lời:
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của cách mạng Việt Nam Đường lối cách mạng được thể hiện qua cương lĩnh, nghị quyết của Đảng.
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2- 1930) đã thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo nhấn mạnh chủ trương chiến lược là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản Về phương diện chính trị phải ''Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập'' Đó là đường lối chính trị hoàn toàn đúng đắn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, hướng vào giải quyết những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến và định hướng phát trtển theo nội dung và xu thế của thời đại Phong trào cách mạng nước ta từ Xô viết Nghệ -Tĩnh những năm
1930-1931 đến cuộc vận động dân chủ 1936-1939 là quá trình vừa thực hiện, vừa khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn, khẳng định tính đúng đắn và bổ sung, phát triển hoàn chỉnh đường lối đó - đường lối cách mạng giải phóng dân tộc (GPDT) Từ thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Hội nghị Trung ương (HNTƯ) họp tháng 11-1939 ở
Bà Điểm (Gia Định) đã nêu cao mục tiêu GPDT Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập ''phải thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách mệnh là đánh
đổ đế quốc'' và công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên
HNTƯ tháng 11-1940 cho rằng cách mạng phản đế - cách mạng GPDT cao hơn hết và nêu rõ: Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy Đảng phải chuẩn
bị để gánh lấy sứ mệnh thiêng liêng: lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông
Trang 2Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập Tháng 5-1941 HNTƯ đã phân tích, đánh giá phong trào cách mạng đã và đang diễn ra sôi nổi trên cả nước, Trung ương Đảng cho rằng: Mặc dù sự đàn áp của giặc Pháp rất dữ dội mà dân ta vẫn không lùi Các nghị quyết HNTƯ (11-1939), (11-1940) và (5-1941) đã phát triển hoàn chỉnh đường lối cách mạng GPDT Đó là một hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng trên mấy vấn đề chủ yếu sau đây: Nêu cao nhiệm vụ GPDT, giành độc lập hoàn toàn cho đất nước Tháng 5-1941, HNTƯ quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) Đảng chủ trương xây dựng và phát triển căn cứ địa cách mạng, cùng với lực lượng chính trị phải coi trọng xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, giành độc lập HNTƯ 8 đã khẳng định vấn đề khởi nghĩa vũ trang Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang
Những nội dung đường lối cách mạng GPDT mà các NQTƯ 1939), (11-1940) và NQTƯ (5-1941) xác định là một hệ thống toàn diện, đồng bộ những vấn
đề chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng, chủ động về nắm bắt tình thế
và thời cơ cách mạng
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ đầu những năm 40 của thế kỷ XX đã diễn
ra theo đường lối cách mạng GPDT mà Đảng và Hồ Chí Minh đã đề ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta của Thường vụ Trung ương Đảng (12-3-1945) đã làm rõ hơn về tình thế và thời cơ cách mạng Đảng đã kịp thời phát động cao trào kháng Nhật cứu nước rộng khắp trên cả nước phân tích những điều kiện cụ thể để khởi nghĩa có thể nổ ra và giành thắng lợi; đặt ra cho các Đảng bộ địa phương tinh thần chủ động sáng tạo trong lãnh đạo khởi nghĩa ở địa phương mình khi ở đó những điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi Hội nghị cán bộ Đảng toàn quốc ở Tân Trào giữa tháng 8 - 1945 đã kịp thời quyết định Tổng khởi nghĩa trên cả nước sau khi quân Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh và trước khi quân đội Đồng minh vào Đông Dương giải giáp quân Nhật Thời cơ khởi nghĩa thuận lợi nhất là nửa cuối tháng 8 - 1945 Khởi nghĩa đã nổ ra và giành thắng lợi đúng như thế
Trang 3Đường lối cách mạng của Đảng ta không những đưa cách mạng giải phóng dân tộc dành thắng lợi mà còn thành công trong cả công cuộc đổi mới đất nước
Vào cuối những năm bảy mươi của thế kỷ XX do những điều kiện khắc nghiệt của hoàn cảnh đất nước và cả do những khuyết điểm chủ quan trong lãnh đạo và quản lý mà đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Trong bối cảnh đó Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã từng bước thử nghiệm tìm tòi con đường đổi mới để đưa đất nước phát triển
Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõ hơn về CNXH và về thời kỳ quá độ lên CNXH, dựa vào những kết quả bước đầu của sự đổi mới từng phần, lắng nghe, tổng kết sáng kiến, kinh nghiệm của nhân dân, của các địa phương và
cơ sở, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986)
đã hoạch định đường lối đổi mới Trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, nhiều Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị
và đặc biệt Đại hội VII (6-1991) với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội VIII (6-1996) và Đại hội IX (4-2001) đã
không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới, làm rõ hơn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới và xây dựng CNXH ở Việt Nam
Có thể thấy rõ những nội dung đổi mới quan trọng và chủ yếu cả về nhận thức, tư duy lý luận và cả về lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn suốt 20 năm qua
Trước hết, đó là đổi mới tư duy lý luận mà thực chất là nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, khắc phục căn bệnh nóng vội, chủ quan, duy
ý chí Ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã nhận thức rằng, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội phải trải qua một thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan và độ dài của thời kỳ đó phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của mỗi nước
“Thời kỳ quá độ ở nước ta, do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn” Đại hội IX (4-2001) tổng kết 15 năm đổi mới, khẳng định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải
Trang 4qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra
sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ” Trong hàng loạt các quy luật khách quan, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ hơn quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, sửa chữa sai lầm trước đó là là đã đưa quan hệ sản xuất đi quá nhanh, quá xa trong khi lực lượng sản xuất còn rất lạc hậu, tập trung phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất thông qua thực hiện cách mạng khoa học - công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, từ đó điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp Các quy luật vận động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là các quy luật kinh tế đã từng bước nhận thức và vận dụng đúng đắn và có hiệu quả hơn Khi quyết định đường lối đổi mới ở Đại hội VI Đảng ta đã nghiêm túc chỉ ra rằng, cuộc sống cho ta một bài học thấm thía là không thể nóng vội làm trái quy luật
Thứ hai, từ nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ, Đảng quyết định đổi mới
cơ cấu kinh tế, coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ Đại hội VI đã vận dụng đúng đắn quan điểm của Lênin về kinh tế
nhiều thành phần: kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp Đại hội IX bổ sung thêm một thành phần nữa là kinh tế 100% vốn nước ngoài Trong quá trình đổi mới, 20 năm qua, Đảng
và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Thực tiễn đổi mới cũng cho thấy nhiều thành
phần kinh tế đương nhiên là có nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc Cùng với đổi mới cơ cấu kinh tế, Đảng chủ trương đổi mới cơ chế quản lý dứt khoát bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp chuyển sang hạch toán, kinh doanh và từng bước đưa nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mục đích của nền
Trang 5kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý, phân phối
Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và vai trò, chức năng quản lý điều hành của Nhà nước Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Củng cố sức mạnh của hệ thống chính trị Đại hội VI của
Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền, tăng cường sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo và năng lực tổ chức thực
tiễn, đổi mới phong cách làm việc, đi sâu, đi sát thực tế, sát cơ sở, gắn bó với nhân
dân Nâng cao trình độ trí tuệ, nắm bắt và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, hiểu biết sâu sắc những vấn đề kinh tế, xã hội Từ HNTW3 khoá VII (6-1992), đặc biệt từ HNTW6 (lần 2) khóa VIII (1-1999) Đảng đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đại hội
VI của Đảng đã xác định rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội của bộ máy Nhà nước, nghĩa là, Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và chính sách để điều hành, quản lý nền kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô Từ sau Đại hội VII, đặc biệt là HNTW8 khoá VII (1-1995), HNTW3 khoá VIII (6-1997) đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Quan điểm cơ bản là: quyền lực Nhà nước là thống nhất, song có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Từ Quốc hội khoá VIII (1987), khoá IX (1992), khoá X (1997) và khoá
XI (2002) hoạt động của Quốc hội ngày càng đổi mới và thực hiện có hiệu quả các chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và quyền giám sát tối cao Từng bước đẩy mạnh công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước cả về chức năng, cơ chế vận hành, quản lý, tổ chức bộ máy và đội ngũ công chức Bộ máy và hoạt động tư pháp được củng cố và tăng cường Cùng với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhiệm vụ xây dựng hoàn thiện Nhà nước là những nội
Trang 6dung quan trọng về đổi mới hệ thống chính trị và có ý nghĩa quyết định đến toàn
bộ tiến trình của sự nghiệp đổi mới
Thứ tư, thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tăng cường và đổi mới công tác vận động quần chúng nhân dân và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Đại hội VI của Đảng
đã rút ra bài học là trong toàn bộ hoạt động, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Chính lợi ích sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới Một trong những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới mà HNTW6 (khoá VI) 3-1989 nêu ra
là phải thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhưng dân chủ luôn luôn gắn liền với tập trung, gắn liền với nghĩa vụ, trách nhiệm công dân, với kỷ cương, kỷ luật pháp luật, dân chủ phải có lãnh đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ Nghị quyết Trung ương 8B (khoá VI) 3-1990 về đổi mới công tác quần chúng của
Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Đảng nhấn mạnh các quan
điểm: Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân; các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng; công tác vận động quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể Đảng cũng chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân Mặt trận và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Cùng với Đảng, Nhà nước,
tổ chức Mặt trận và đoàn thể nhân dân như Tổng liên đoàn lao động, Hội nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh hợp thành hệ thống chính trị Công tác vận động quần chúng là trách nhiệm của cả
hệ thống chính trị ở tất cả các cấp Đảng chú trọng xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đổi mới Đoàn kết các giai cấp, các thành phần kinh tế, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, mọi tầng lớp, cá nhân yêu nước, đoàn kết người Việt Nam ở trong nước
và người Việt Nam ở nước ngoài nhằm phát huy nội lực của dân tộc Việt Nam
Trang 7Thứ năm, đổi mới chính sách đối ngoại, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hoá, Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trên thế giới trên cơ
sở giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Xây dựng chiến lược bảo
vệ Tổ quốc phù hợp với tình hình mới Tại Đại hội VI (12-1986), Đảng ta đã nêu rõ
chủ trương: khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao Đi đôi với công bố luật đầu
tư, cần có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh Luật đầu tư nước ngoài là luật sớm nhất của thời kỳ đổi mới, được Quốc hội khoá VIII thông qua ngày 29-12-1987 và có hiệu lực từ 1-1-1988 Đại hội VII của Đảng tuyên bố chính sách đối ngoại rộng mở, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế
giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh
sự hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và các tổ chức quốc
tế Tích cực đóng góp cho hoạt động ở các diễn đàn quốc tế, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ Đại hội IX của Đảng tiếp tục chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế Đảng ta luôn luôn xác định, nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Với những nội dung rất căn bản và chủ yếu trong đường lối đổi mới cùng với bản lĩnh chính trị vững vàng và trách nhiệm trước đất nước, giai cấp và dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức, kể cả tác động tiêu cực do sự sụp đổ của chế độ
xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đưa lại, không ngừng đẩy mạnh
sự nghiệp đổi mới theo con đường của chủ nghĩa xã hội và qua 20 năm đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất
Trang 8nước, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân, như các văn kiện trình Đại hội X của Đảng đã khẳng định
Có thể thấy rõ thành tựu của 20 năm đổi mới cả về thực tiễn và nhận thức lý luận để vững tin vào con đường đã lựa chọn và sự phát triển của đất nước
Về thực tiễn, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội từ 1996, kinh
tế tiếp tục tăng trưởng khá nhanh (GDP bình quân 1986-1990 là 3,9%, 1991-1995
là 8,2%, 1996-2000 là 7% và 2001-2005 là 7,5%), nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng, công nghiệp hoá, hiện đại hóa được đẩy mạnh, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội tăng lên đáng kể Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc mà nền tảng là liên minh công nhân -nông dân - trí thức do Đảng lãnh đạo ngày càng được tăng cường và củng cố Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được giữ vững Chính trị - xã hội ổn định Quan hệ đối ngoại được mở rộng Vì thế nước ta trên thế giới được nâng cao Sức mạnh tổng hợp từ nguồn nội lực của đất nước tăng lên nhiều Nhân dân tin tưởng ở đường lối đổi mới và sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, tin tưởng ở tương lai phát triển của đất nước
Về lý luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam ngày càng rõ hơn, “hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
đã bước đầu hình thành trên những nét cơ bản” Nhận thức rõ hơn về mục tiêu, mô hình của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, rõ hơn về chặng đường, bước đi khi
đã hoàn thành những nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu trên của thời kỳ quá độ, cho phép chuyển sang chặng đường đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, rõ hơn về những công cụ, giải pháp để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, rõ hơn về những mối quan hệ đặt ra cần được giải quyết một cách đúng đắn trên con đường đổi mới vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội,
mà trước hết làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
20 năm đổi mới đã có cơ sở để rút ra một số bài học lớn có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn Đó là các bài học: trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu
Trang 9độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức
và cách làm phù hợp; đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới; phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thác ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới; đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
Là một đảng viên mới khi còn ngồi trên giảng đường trường đại học, phấn đấu vì mục tiêu và lý tưởng cao đẹp của Đảng nhằm xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bản thân tôi thấy cần phải ra sức cố gắng học tập và rèn luyện, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của trường, lớp Ngoài ra, bản thân phải luôn xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của người Đảng viên, luôn tin tưởng tuyệt đối và chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của trường, lớp, luôn phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
Câu 2: Đồng chí đã nhận thức như thế nào về tổ chức cơ sở Đảng (vị trí, chức năng, nhiệm vụ), về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của người Đảng viên ĐCSVN? Theo đồng chí cần giải quyết những vấn đề gì để xây dựng tổ chức cơ sở Đảng
và nâng cao trách nhiệm của Đảng viên ở đơn vị đồng chí công tác?
Trả lời:
Tổ chức cơ sở Đảng của ĐCSVN bao gồm các chi bộ, đảng bộ cơ sở, là tổ chức đảng nhỏ nhất và có số lượng đông nhất Đảng xác định đó là nên tảng của Đảng và là hạt nhân chính trị cơ sở Nghị quyết đại hội X đã khẳng định “Với vị trí
là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị cơ sở, vai trò của tổ chức cơ sở đảng rất quan trọng Phải dồn sức xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức này thực sự trong sạch vững mạnh…”
Trang 10Để thực sự xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh thì trước tiên bản thân mỗi đảng viên cần nắm vững các quy định về Điều lệ Đảng về việc thành lập các tổ chức cơ sở đảng Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, cũng là đội tiên phong của nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc Việt Nam Đảng chính là đại biểu chung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Với mục đích vững vàng của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giầu mạnh, xã hội công bằng, văn minh Để thực hiện mục đích đó, Đảng phải được tổ chức theo một hệ thống chặt chẽ, thống nhất từ trung ương đến cơ sở Tổ chức cơ sở đảng bao gồm chi bộ
cơ sở và đảng bộ cơ sở là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị cơ sở
Đảng phải gắn bó, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, ở đâu có quần chúng ở
đó cần có sự lãnh đạo của Đảng Nhận thấy tầm quan trọng của các đơn vị cơ sở bởi mọi tầng lớp nhân dân, ai cũng đều sinh sống, lao động sản xuất, công tác, học tập ở một đơn vị cơ sở nhất định trong hệ thống tổ chức xã hội Vì vậy Đảng ta đã quyết định thành lập các tổ chức đảng tại các đơn vị cơ sở
Các tổ chức cơ sở đảng được thành lập đều nắm giữ một vị trí và vai trò hết sức to lớn Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ tổ chức cơ sở đảng (chi
bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị cơ sở
* Tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng:
- Xét trong hệ thống tổ chức của Đảng, thì tổ chức cơ sở đảng là tổ chức đảng nhỏ nhất, số lượng nhiều nhất và gắn liền với các tổ chức hành chính, kinh tế
ở cơ sở Vì vậy tổ chức cơ sở đảng là “nền tảng”, là “gốc rễ” của Đảng
- Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với mọi mặt của đời sống xã hội,
tổ chức cơ sở đảng vừa là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, đồng thời cũng là nơi góp phần phát triển và hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
- Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân Trong mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng là những “sợi dây chuyền”, là cầu nối trực tiếp nối liền Đảng với dân