1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VỚI VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

16 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 207,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỊA LÍ KINH TẾ – XÃ HỘI ĐẠI CƯƠNGTiểu LuậnCÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VỚI VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNGI. Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, môi trường1, Công nghiệp hóa a, Khái niệm công nghiệp hóa: Là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế. Đó là tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng, v.v..Đây là quá trình chuyển biến kinh tếxã hội ở một cộng đồng người từ nền kinh tế với mức độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp. Công nghiệp hóa là một phần của quá trình hiện đại hóa. Sự chuyển biến kinh tếxã hội này đi đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của sản xuất năng lượng và luyện kim quy mô lớn. Công nghiệp hóa còn gắn liền với thay đổi các hình thái triết học hoặc sự thay đổi thái độ trong nhận thức tự nhiên. Dầu vậy, những thay đổi về mặt triết học là nguyên nhân của công nghiệp hóa hay ngược lại thì vẫn còn tranh cãi.b. Lịch sử công nghiệp hóaĐa phần các xã hội tiền công nghiệp có mức sống không cao hơn mức tự cung tự cấp là mấy. Có nghĩa là phần đông dân cư tập trung vào sản xuất những vật phẩm cơ bản nhất để tồn tại. Ví dụ, ở Châu Âu thời Trung Cổ, 80% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp tự cung tự cấp.Một số nền kinh tế tiền công nghiệp, như Hy Lạp cổ đại, đã có các hoạt động trao đổi, thương mại phát triển nhờ đó đạt được sự thịnh vượng vượt trên mức sinh hoạt cơ bản nhất. Nạn đói xảy ra thường xuyên ở các xã hội tiền công nghiệp. Song các nước như Hà Lan và Anh ở thế kỷ 17, 18, các thành quốc Italia ở thế kỷ 15 và Hy Lạp, La Mã cổ đại đã thoát khỏi quy luật trên nhờ trao đổi và buôn bán sản phẩm nông nghiệp. Theo ước tính, trong thế kỷ 17, nguồn ngũ cốc của Hà Lan có tới 70% từ nhập khẩu. Người Hy Lạp cổ đại ở thế kỷ 5 trước Công nguyên nhập khẩu 75% nguồn lương thực.Anh là nước tiến hành công nghiệp hóa đầu tiên. Đây cũng là quê hương của Cách mạng công nghiệp và thành phố công nghiệp đầu tiên trên thế giới là Manchester.Nhiều nước thuộc Thế giới thứ ba bắt đầu các chương trình công nghiệp hóa dưới sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ hoặc Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh nửa cuối thế kỷ 20. Nỗ lực này ở một số nước Đông Á thành công hơn ở các nơi khác trên thế giới (ngoại trừ các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa muộn mằn châu Âu, dẫu vậy tiến trình của các nước này đã bắt đầu từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai).Theo báo cáo của Quỹ tiền tệ quốc tế, Hoa Kỳ là quốc gia có sản lượng công nghiệp đứng đầu thế giới năm 2005, tiếp sau nó là Nhật Bản và Trung Quốc.

Trang 1

Tiểu Luận

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VỚI VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

I Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, môi trường

1, Công nghiệp hóa

a, Khái niệm công nghiệp hóa: Là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ

các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế Đó là tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng, v.v

Đây là quá trình chuyển biến kinh tế-xã hội ở một cộng đồng người từ nền kinh tế với mức

độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp Công nghiệp hóa là một phần của quá trình hiện đại hóa Sự chuyển biến kinh tế-xã hội này đi đôi với tiến

bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của sản xuất năng lượng và luyện kim quy mô lớn Công nghiệp hóa còn gắn liền với thay đổi các hình thái triết học hoặc sự thay đổi thái độ trong nhận thức tự nhiên Dầu vậy, những thay đổi về mặt triết học là nguyên nhân của công nghiệp hóa hay ngược lại thì vẫn còn tranh cãi

b Lịch sử công nghiệp hóa

Đa phần các xã hội tiền công nghiệp có mức sống không cao hơn mức tự cung tự cấp là mấy Có nghĩa là phần đông dân cư tập trung vào sản xuất những vật phẩm cơ bản nhất để tồn tại

Ví dụ, ở Châu Âu thời Trung Cổ, 80% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp tự cung tự cấp

Một số nền kinh tế tiền công nghiệp, như Hy Lạp cổ đại, đã có các hoạt động trao đổi, thương mại phát triển nhờ đó đạt được sự thịnh vượng vượt trên mức sinh hoạt cơ bản nhất Nạn đói xảy ra thường xuyên ở các xã hội tiền công nghiệp Song các nước như Hà Lan và Anh ở thế

kỷ 17, 18, các thành quốc Italia ở thế kỷ 15 và Hy Lạp, La Mã cổ đại đã thoát khỏi quy luật trên nhờ trao đổi và buôn bán sản phẩm nông nghiệp Theo ước tính, trong thế kỷ 17, nguồn ngũ cốc của Hà Lan có tới 70% từ nhập khẩu Người Hy Lạp cổ đại ở thế kỷ 5 trước Công nguyên nhập khẩu 75% nguồn lương thực

Anh là nước tiến hành công nghiệp hóa đầu tiên Đây cũng là quê hương của Cách mạng công nghiệp và thành phố công nghiệp đầu tiên trên thế giới là Manchester

Nhiều nước thuộc Thế giới thứ ba bắt đầu các chương trình công nghiệp hóa dưới sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ hoặc Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh nửa cuối thế kỷ 20 Nỗ lực này ở một số nước Đông Á thành công hơn ở các nơi khác trên thế giới (ngoại trừ các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa muộn mằn châu Âu, dẫu vậy tiến trình của các nước này đã bắt đầu từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai)

Trang 2

Theo báo cáo của Quỹ tiền tệ quốc tế, Hoa Kỳ là quốc gia có sản lượng công nghiệp đứng đầu thế giới năm 2005, tiếp sau nó là Nhật Bản và Trung Quốc

Cơ chế phát triển chủ đạo hiện nay theo các tổ chức tổ chức phát triển quốc tế (Ngân hàng thế giới, OECD, các tổ chức của Liên hợp quốc và các tổ chức tương tự quốc tế khác) là giảm nghèo Cơ chế này vẫn nhấn mạnh vào sự tăng trưởng kinh tế, nhưng tin rằng các chính sách công nghiệp hóa truyền thống không mang lại hiệu quả dài hạn Việc tạo ra và hỗ trợ những ngành công nghiệp nội địa kém hiệu quả là vô ích trong một thế giới tự do thương mại hiện nay

2 Hiện đại hóa: Là quá trình ứng dụng các trang bị thành tự khoa học và công nghệ tiên tiến

hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội

3 Môi trường

a Khái niệm môi trường: Là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của

một hệ thống nào đó Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó

Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế

Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng

b Chức năng của môi trường sống:

Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật Trong quá trình tồn tại và phát

triển con người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, nhà ở cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác Tất cả các nhu cầu này đều do môi trường cung cấp Tuy nhiên khả năng cung cấp các nhu cầu đó của con người là có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và ở từng thời kì

Môi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất, đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật Tất cả các tài nguyên này đều do môi trường cung cấp và giá trị của tài

nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm của nó trong xã hội - Môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường Các tài nguyên sau khi hết hạn sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải Các chất thải này bị các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh quay trở lại phục vụ con người Tuy nhiên chức năng là nơi chứa đựng chất thải của môi trường

là có giới hạn Nếu con người vượt quá giới hạn này thì sẽ gây ra mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường

4 Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện quá trình sản xuất kinh doanh, các hoạt động dịch vụ buôn bán, quản lý kinh tế – xã hội, phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ và tạo ra sản phẩm năng suất lao động cao

Khái niệm công nghiệp hoá mang tính lịch sử, nghĩa là nền công nghiệp luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học – công nghệ Do đó, việc nhận

Trang 3

thức đúng đắn khái niệm này trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn

Khái niệm công nghiệp hoá trên đây được Đảng ta xác định rộng hơn những quan niệm trước đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất, kinh doanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến, hiện đại cùng với kỹ thuật

và công nghệ cao Như vậy, công nghiệp hoá theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi

trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây

II Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay.

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta đã mở ra một giai đoạn phát triển mới với những bước đột phá, góp phần tạo nên những sắc thái mới trong đời sống kinh tế - xã hội của khu vực rộng lớn này Sự tác động tích cực của quá trình đó đã và đang phá vỡ dần tính chất “thuần nông”, tính chất khép kín, biệt lập - những đặc trưng vốn có của nền kinh tế nông thôn và mô hình làng xã truyền thống Trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, bên cạnh những giá trị truyền thống tốt đẹp, đã có sự hiện diện phổ biến của nhiều yếu tố hiện đại, biểu hiện một khuynh hướng phát triển tích cực và tiến bộ

Tuy nhiên, ngoài những thành tựu quan trọng trên đây, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại

hoá cũng tạo nên sức ép to lớn đối với môi trường sống ở khu vực này.

Như chúng ta đã biết, tự nhiên vốn là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm nhiều yếu tố có

quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau Điều đó quy định tính chất phản ứng dây chuyền của môi

trường tự nhiên diễn ra khi sự tác động vào một yếu tố nào đó trong hệ thống lớn hơn giới hạn chịu đựng tự nhiên của nó Chính tính chất này khiến cho những vấn đề môi trường sống nảy sinh

do tác động của con người càng trở nên phức tạp hơn và có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn Trên thực tế, một vấn đề môi trường sống này có thể là kết quả nảy sinh từ một vấn đề môi trường liên quan khác; đồng thời, nó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của một vấn đề môi trường mới Với nhãn quan biện chứng, coi trong giới tự nhiên không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả, Ph.Ăngghen đã từng cảnh báo rằng, con người không nên quá tự hào về thắng

lợi của mình đối với giới tự nhiên, bởi vì, tới một lúc nào đó, nó có thể gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được Tiên đoán khoa học vượt trước thời đại đó của ông

vẫn giữ nguyên giá trị và có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện nay, khi mà con người đang cố gắng sửa chữa những sai lầm do sự thái quá trong hành vi “chinh phục tự nhiên” của mình

Có thể khẳng định rằng, những vấn đề về môi trường sống nảy sinh trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay đang ngày càng trở lên phức tạp, cả về quy mô

và tính chất Nếu không được giải quyết kịp thời và có hiệu quả, sự tác động của chúng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, cản trở quá trình phát triển bền vững và trước mắt, có thể ảnh hưởng trở lại mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn Những vấn đề về môi trường sống dưới sức ép của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn có thể được nhận diện trên một số khía cạnh sau:

Một là, nguy cơ cạn kiệt một số nguồn tài nguyên quan trọng liên quan trực tiếp đến các

hoạt động sản xuất và dân sinh của khu vực này Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng phát triển thì tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được càng cao, song lượng tài nguyên được huy động cũng ngày càng lớn Thực tế cho thấy, do đẩy mạnh tốc độ khai thác gỗ và mở rộng diện tích đất

Trang 4

nông nghiệp, rừng Việt Nam đã bị tàn phá nặng nề Có lúc, có nơi, độ che phủ của rừng đã tiệm cận đến mức báo động Trong thời gian gần đây, nhờ thực hiện chủ trương trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc , diện tích đất đai có rừng che phủ được cải thiện và nâng cao (từ 28% năm

1992 lên 35,8% năm 2002) Tuy nhiên, rừng trồng mới ít có giá trị lớn, bởi vì, ngoài việc tốn kém

về vật chất và thời gian, rừng trồng khó có khả năng tái tạo lại một hệ động, thực vật phong phú,

đa dạng như rừng tự nhiên Theo báo cáo của Chính phủ trình tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, tình trạng phá rừng khai thác gỗ trái phép đã phần nào được hạn chế, song vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để Tại nhiều địa phương, hiện tượng phá rừng lấy gỗ, mặt bằng khai thác khoáng sản, mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản vẫn xảy ra liên tục

Sự cạn kiệt và suy giảm của tài nguyên rừng đã trực tiếp tác động xấu đến các nguồn tài nguyên quý giá khác, như làm xói mòn, bạc màu đất đai, không có khả năng điều hoà và giữ nước Đặc biệt, trong thời gian gần đây, các “tai biến địa chất”, “sự cố môi trường” xảy ra do mất rừng có xu hướng tái xuất hiện nhiều lần ở những phạm vi nhất định và với tần xuất xấp xỉ 20 lần so với giai đoạn trước 1970

Tài nguyên đất đai cũng đang bị sử dụng lãng phí, thu hẹp và giảm sút về mặt chất lượng Cho đến nửa cuối thập kỷ 90, hầu hết quỹ đất canh tác ở các vùng lãnh thổ đã được khai thác triệt

để Trong khi đó, một lượng diện tích đáng kể đất nông nghiệp đã và sẽ tiếp tục được chuyển đổi mục đích sử dụng do nhu cầu phát triển của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, như xây dựng nhà máy, khu công nghiệp, hạ tầng cơ sở, nhà ở Chẳng hạn, theo dự kiến quy hoạch mới, đến năm

2010, diện tích đất nông nghiệp của Thành phố Hà Nội chỉ còn chiếm 36,3% (năm 2000 là 47,4%

và năm 2005 là khoảng 41,7%), đất chuyên dùng sẽ chiếm 32,3% (năm 2000 là 22,3% và năm

2005 khoảng 28, 2%), đất đô thị sẽ chiếm 6,4% (năm 2000 là 3,1% và năm 2005 khoảng 4,3%) Một kết quả nghiên cứu cho thấy, bình quân hàng năm sẽ tăng thêm cho quỹ đất đô thị của cả nước khoảng 170.000 ha, trong đó có khoảng 100.000 ha đất nông nghiệp loại tốt (bằng 1,4% tổng diện tích đất nông nghiệp) Việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai là một nhu cầu tất yếu do

sự phát triển của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và nó có thể mang lại những giá trị kinh tế lớn gấp nhiều lần so với lối khai thác truyền thống (canh tác nông nghiệp) Tuy nhiên, những người nông dân không còn đất đai để canh tác sẽ làm gì để duy trì và ổn định cuộc sống, trong khi việc chuyển đổi nghề nghiệp, lĩnh vực sản xuất kinh doanh lại đòi hỏi có thời gian và những tiền đề cần thiết khác ngoài tầm tay của họ? Mặt khác, những vấn đề môi trường phát sinh trong tương lai do sự thay đổi hệ sinh thái tự nhiên, do chất thải sản xuất và sinh hoạt của con người sẽ được giải quyết như thế nào, trong khi việc khắc phục những vấn đề môi trường hiện tại vẫn chưa triệt để và thật sự có hiệu quả? Đó là những vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường không thể xem nhẹ trong quá trình phát triển

Những hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng là tác nhân đáng kể làm suy giảm chất lượng đất đai Việc sử dụng các phương tiện máy móc trên những vùng đất dốc, canh tác không hợp lý,

xu hướng ứng dụng đại trà các giống mới ngắn ngày, năng suất cao đòi hỏi phải bón nhiều phân hoá học, chất kích thích tăng trưởng có thể khiến cho đất đai bị vắt kiệt, nhất là các nguyên tố vi lượng, làm tăng mức độ suy thoái chất lượng đất, hạn chế khả năng tái sử dụng đất, giảm mức độ

phát triển bền vững của hoạt động kinh tế tương ứng Hơn 100 năm trước, khi đánh giá về những mặt trái của nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, C.Mác cho rằng, mỗi bước tiến của nền nông

nghiệp tư bản chủ nghĩa không những là một bước tiến trong nghệ thuật bóc lột công nhân, mà

còn là một bước tiến trong nghệ thuật bóc lột đất đai.

Trang 5

Theo các tiêu chí về mức đảm bảo nước của thế giới, Việt Nam chưa khi nào nằm trong danh sách các quốc gia thiếu nước hay hiếm nước Việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này còn rất lãng phí Hệ thống thuỷ lợi đôi lúc không phát huy tác dụng tích cực, thậm chí còn tiềm

ẩn những ảnh hưởng xấu như gây cạn kiệt nguồn nước dự trữ ở các khu vực khô Chỉ tính riêng trong sản xuất nông nghiệp, lượng nước mặt khai thác hàng năm dùng để tưới cho mùa màng không vượt quá 40% tổng lượng, còn lại 60% bị thất thoát trong quá trình vận chuyển

Trong vài năm gần đây, nước ngọt và sạch đã trở thành một vấn đề cấp thiết ở Việt Nam Tại một số địa phương đã có hiện tượng nước ngọt bị ô nhiễm, nguồn nước ngầm tụt thấp hàng

chục mét Điều đó khiến cho việc cung cấp nước ngọt, nước sạch cho nhân dân ở vùng nông thôn

rất khó khăn Cho đến nay, tỷ lệ người dân ở nông thôn được sử dụng nước sạch mới chiếm khoảng 46% (trên phạm vi cả nước là hơn 50%) Trong những năm tới, sự phát triển của các hoạt động kinh tế và dân sinh ở khu vực nông thôn sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên này Theo

dự báo của Viện Khí tượng - Thuỷ văn, lượng nước cần dùng của cả nước vào năm 2010 sẽ chiếm tới 16,5% tổng lượng dòng chảy/ năm (so với 12,5% vào năm 2000) và trong tương lai không xa, ở một số vùng, lượng nước cần dùng sẽ gấp vài lần lượng nước có thể cung cấp Khi

đó, nguy cơ thiếu nước sẽ trở nên rõ ràng và nghiêm trọng hơn

Hai là, vấn đề ô nhiễm môi trường do tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Tính chất cực đoan của các phương tiện, quy trình kỹ thuật vànhững mặt trái, hạn chế của nền nông nghiệp cơ khí hoá, hoá học hoá là nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, đất, nước Trong năm 2001, riêng khối lượng nhậpphân bón hoá

học là 3.189 ngàn tấn, thuốc trừ sâu và nguyên liệu là 27.572 tấn Điều nguy hiểm hơn là, do thiếu những tri thức cần thiết về khoa học kỹ thuật, do sự tác động của quy luật lợi nhuận trong

cơ chế thị trường , người nông dân đã lạm dụng các loại hoá chất độc hại như phân vô cơ, thuốc trừ sâu và các chất kích thích tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp, thậm chí cả một số loại hoá chất có độ độc tính cao đã bị cấm nhập Ở hầu hết các địa phương, nông dân tự mua bán, pha chế,

sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật mà không có sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ và chỉ dẫn

cụ thể của cơ quan chuyên môn Điều đó dẫn đến hậu quả là đất đai, nguồn nước bị ô nhiễm bởi

sự khuyếch tán và tồn đọng của nhiều hoá chất độc hại gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư; tính đa dạng sinh học bị suy giảm, một số quần thể sinh vật đất và thuỷ sinh

có ích bị tiêu diệt, làm xuất hiện các loài sâu hại kháng thuốc và là nguyên nhân bùng phát một số dịch bệnh trong hệ sinh thái nông nghiệp Đặc biệt, tình trạng trên đã có những ảnh hưởng đối với sức khỏe con người do sinh sống, làm việc trong môi trường ô nhiễm, do tiêu dùng các loại nông sản phẩm có dư lượng hoá chất độc hại vượt giới hạn cho phép

Sự phục hồi, phát triển của các làng nghề và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, ngoài mặt tích cực, cũng đang là một nguồn gây ô nhiễm môi trường Cho đến nay, việc giám sát, quản lý

về phương diện môi trườngsinh thái đối với hoạt động của các làng nghề, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp còn rất lỏng lẻo, nếu không nói là vẫn bỏ ngỏ Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên

- Môi trường, hiện có tới trên 50% số hộ làm nghề và cơ sở sản xuất ở nông thôn đang gây ô nhiễm môi trường Chẳng hạn, ở làng nghề Đông Mai (Hưng Yên), hàng năm, việc tái chế chì đã thải trực tiếp vào môi trường khoảng 70 tấn lá cách, 20 tấn axít và 40 tấn các loại chất thải độc hại khác; hàm lượng bụi chì, các chất khí SO3, NO2, Mn, Fe trong khu vực dân cư cao gấp hàng chục lần tiêu chuẩn cho phép Nguồn nước mặt và một phần hệ thống nước ngầm ở đây đã

Trang 6

nhiễm độc trầm trọng, vượt tiêu chuẩn từ 50 - 600 lần Nhiều người bị nhiễm độc dẫn đến các căn bệnh nguy hiểm, như thần kinh, viêm phổi, đẻ non, quái thai

Bên cạnh đó, việc xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ được nhiều địa phương tiếp tục triển khai trong khi chưa có quy hoạch Điều này đang có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường nông thôn và sức khoẻ của con người, do chất thải khuyếch tán trên diện rộng và không được xử lý bằng các biện pháp an toàn Nếu không tính toán thận trọng, đặc biệt là có những chế

tài đủ mạnh buộc các đơn vị sản xuất kinh doanh phải thực hiện nghiêm túc những quy định về

môi trường thì có thể những giá trị kinh tế đạt được không đủ bù lấp các thiệt hại về mặt tài nguyên, môi trường Khi đó, bài toán phát triển chẳng những chưa được giải, mà còn trở nên nan giải, phức tạp hơn và thậm chí, rơi vào tình trạng bế tắc

Ba là, nguy cơ suy giảm tính đa dạng sinh học chủ yếu do các hoạt động sản xuất và dân

sinh Việc ứng dụng một số tiến bộ khoa học, công nghệ chưa được thẩm định, kiểm nghiệm tác động môi trường; nhập nội một số loài sinh vật lạ khi chưa có sự đánh giá khoa học về mặt sinh học, sinh thái của chúng đã gây ra những hậu quả lớn Thực tế cho thấy, quá trình “xói mòn” nguồn gen trong nông nghiệp và tình trạng phá huỷ đa dạng hệ sinh thái đang xảy ra Một số

dự báo khoa học cho rằng, với tốc độ suy thoái đa dạng sinh học như hiện nay sẽ có nhiều loài sinh vật quý, nhiều nguồn gen có tính trạng tốt có khả năng bị tuyệt chủng; nhiều hệ sinh thái quan trọng đối với môi trường sống sẽ bị phá huỷ

Sự nảy sinh của các vấn đề về môi trường sống dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân; trong đó, chủ yếu là:

Trước hết, phải nói đến năng lực khoa học, công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá,

hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn khá hạn chế Đặc biệt, phương thức và công cụ sản xuất của các làng nghề, các cơ sở công nghiệp nông thôn còn lạc hậu, thủ công Tỷ lệ cơ khí hoá của ngành công nghiệp chế biến nông sản mới đạt khoảng 40%, thiết bị cũ, lạc hậu từ 3 - 4 thế hệ; trình độ lao động có chuyên môn kỹ thuật ở các làng nghề nông thôn chỉ bằng 25 - 30% so với các cơ sở ở thành thị, 63% công việc được thực hiện bằng phương pháp thủ công Thực tế cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật thấp kém tất yếu sẽ tạo nên sức ép lớn đối với tài nguyên, môi trường

Thứ hai, sự phiến diện, thiếu chặt chẽ và thậm chí sai lầm trong một số chính sách, dự án

phát triển kinh tế của các địa phương là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hậu quả về

môi trường Phương châm tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường chủ yếu mới được

quán triệt về mặt lý thuyết mà chưa trở thành hành động tự giác, phổ biến Dường như mục tiêu tăng trưởng kinh tế, lợi nhuận tối đa trên đầu tư tối thiểu vẫn được các chủ thể đặt vào vị trí ưu tiên, nếu không nói là duy nhất trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Thực tế, nhiều dự án phát triển kinh tế ở các địa phương, như dự án nuôi tôm công nghiệp trên cát, khai thác tận thu khoáng sản được phê duyệt, triển khai mà chưa, hoặc không thực hiện nghiêm túc việc đánh giá và thẩm định khoa học về những tác động môi trường Do vậy, các biện pháp giải quyết những vấn

đề môi trường chỉ mang tính khắc phục khi ở vào tình thế sự đã rồi, mà chưa đạt đến cấp độ hành

động có tính chủ động và tự giác Bên cạnh đó, sự quan tâm của các cấp chính quyền, đoàn thể ở

từng địa phương đối với công tác quản lý môi trường còn rất lỏng lẻo, chưa cụ thể; thiếu những

cơ chế, văn bản hướng dẫn thực hiện các biện pháp ngăn chặn, xử lý những đối tượng vi phạm

Trang 7

Thứ ba, sự yếu kém trong ý thức về bảo vệ môi trường của con người cũng là một nguyên

nhân cơ bản dẫn đến những vấn đề về môi trường sống của khu vực Ý thức tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách và các quy định về bảo vệ môi trường chưa trở thành một nếp sống văn hoá trong các cộng đồng dân cư, nhất là nông dân Bản thân các chủ thể sản xuất, kinh doanh chưa chủ động và tự giác thực hiện đồng bộ, hiệu quả những giải pháp kỹ thuật nhằm xử lý chất thải, bảo vệ môi trường sống Thậm chí, không ít người còn giữ quan niệm sai lầm rằng, chi phí cho các giải pháp bảo đảm an toàn cho môi trường là chi phí không sinh lợi và không cần thiết Nguy hiểm hơn là nếp nghĩ, nếp làm cũ của họ lại được “hỗ trợ”, “tiếp sức” bởi sức mạnh của những phương tiện máy móc, những tiến bộ khoa học, kỹ thuật Những điều đó đã tạo nên một sự tấn công dữ dội vào tự nhiên vì mục đích mưu sinh, lợi nhuận của con người, để lại những hậu quả khôn lường về môi trường sống

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá được coi là chìa khoá để phát triển nông nghiệp và nông thôn, song nó cũng có mặt trái nhất định Trước tình hình như vậy, chúng ta cần có sự lựa chọn con đường phát triển như thế nào đây? Để tăng trưởng kinh tế thì phải hy sinh môi trường sống, hoặc là vì mục tiêu bảo vệ môi trường sống mà chấp nhận một sự “phát triển” có hệ số bằng

không chăng? Rõ ràng, những phương án trên đều không thể là đối tượng của sự lựa chọn tối ưu.

Theo chúng tôi, một vấn đề có tính nguyên tắc là, trong khi mưu cầu cho sự tồn tại và phát triển ngày càng tốt hơn của mình, con người cần phải tính đến cả sự tồn tại và phát triển của giới tự nhiên, phải thiết lập và củng cố mối quan hệ hài hoà với tự nhiên Nói cách khác, muốn không tự huỷ diệt và tiếp tục phát triển, con người phải hướng đến một quan niệm mới về sự phát triển

- phát triển bền vững Hạt nhân xuyên suốt, nguyên tắc chủ đạo của quan niệm phát triển bền vững là sự đồng tiến hoá giữa con người và tự nhiên Theo đó, trong quá trình phát triển nông

nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tập trung:

Một là, “tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ

mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học” Trình độ khoa học, công nghệ là yếu tố quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên cũng như hiệu quả của việc bảo vệ môi trường Đối với sản xuất nông nghiệp, xu hướng chung hiện nay là ứng dụng các giải pháp kỹ thuật cao, nhất là những thành tựu của công nghệ sinh học kết hợp với những kinh nghiệm quý của nông dân được đúc kết từ thực tiễn sản xuất Đó

là cơ sở quan trọng cho việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững

Hai là, phát triển nguồn nhân lực là biện pháp nền tảng để thực hiện tăng trưởng kinh tế

kết hợp với bảo vệ môi trường sống Con người không chỉ là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã

hội, mà còn là chủ thể của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vì thế, phát triển nguồn nhân

lực của khu vực nông nghiệp, nông thôn không thuần tuý chỉ là phát triển trình độ, năng lực hoạt động kinh tế mà còn là xây dựng cho con người ý thức đạo đức sinh thái, lối sống “thân thiện”,

“hoà hợp” với tự nhiên Kinh nghiệm của các nước đi trước cũng như của chính chúng ta cho thấy, những tri thức về môi trường chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được xã hội hoá, được quảng bá rộng rãi trong nhân dân, bởi chính họ là những người hàng ngày, hàng giờ “giao tiếp”, quan hệ với tự nhiên Cho nên, giáo dục môi trường phải được xem là một trong những nội dung cơ bản của mục tiêu nâng cao dân trí Cần phải làm cho mọi người, nhất là người nông dân có sự nhận thức đúng về môi trường thông qua các hình thức, “kênh” truyền tải khác nhau Một khi ý thức bảo vệ môi trường của mỗi người, mỗi cộng đồng và toàn xã hội trở thành nguyên tắc sống phổ

Trang 8

biến, hoạt động của con người sẽ được điều chỉnh một cách tự giác theo hướng tránh làm tổn hại đến môi trường

Ba là, cần quán triệt mục tiêu bảo vệ môi trường trong xây dựng, triển khai thực hiện các

chính sách, dự án phát triển kinh tế Chúng ta còn nghèo nên phát triển kinh tế là đặc biệt quan trọng, song không thể đánh đổi nó bằng những hy sinh, tổn thất về môi trường Tạo những ưu đãi

để thu hút các nhà đầu tư, các dự án phát triển kinh tế là rất cần thiết, nhưng núp dưới danh nghĩa

đó để buông lỏng quản lý nhà nước (hay chấp nhận những rủi ro), hoặc dễ dãi trong yêu cầu bảo đảm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, coi đó như một “sự ưu đãi” , lại là một sai lầm và phải trả giá đắt Những khó khăn về kinh tế của nhiều địa phương cũng như của một bộ phận nông dân hiện nay rất đáng được thông cảm, chia xẻ , nhưng không thể vì thế mà tiếp tục làm cho chất lượng môi trường thêm xấu đi Họ cần được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ, hỗ trợ bằng những biện pháp tích cực, có tính căn bản hơn

Sinh thời, V.I.Lênin đã từng nhắc nhở rằng, những dự định của con người, nếu không tính đến quy luật vĩ đại của tự nhiên, sẽ chỉ mang lại những điều bất hạnh mà thôi Nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức quốc tế cũng lên tiếng cảnh báo về những hiểm hoạ môi trường tự nhiên nảy sinh dưới tác động của con người, đặc biệt là những hành động tự phát, thiếu sự định hướng của các tri thức khoa học Xét đến cùng, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn ở nước ta hiện nay là phương thức để “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện

đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn” Vì thế, “sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, bảo

vệ và cải thiện môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học” phải là một mục tiêu căn bản,

quan trọng như mục tiêu tăng trưởng kinh tế của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông

nghiệp, nông thôn Có như vậy, quá trình này mới thực sự chứng tỏ và phát huy ý nghĩa kinh tế và xã hội nhân văn to lớn của nó.

III Những thách thức nghiêm trọng về môi trường trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Sau 25 năm đổi mới, nước ta đã vượt qua ngưỡng nước nghèo vào 2010, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu vượt bậc ấy,

chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về môi trường.

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện nước ta có gần 4000 cơ sở sản xuất,

Thực tế là, ô nhiễm nguồn nước, không khí đang lan rộng không chỉ ở các KCN, khu đô thị, mà ở

cả nhũng vùng nông thôn; đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm; biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra triều cường và những hậu quả khôn lường; thành quả phát triển của nhiều địa phương trong nhiều năm chỉ sau một đợt thiên tai có thể bị xóa sạch

môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy

Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, nội dung BVMT được nâng lên một tầm cao mới, gắn chặt với quá trình CNH-HĐH: ''Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án đầu tư'' Một điểm mới so với Đại hội X là

triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”

Trang 9

Quá trình CNH-HĐH đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết đối với môi trường Chỉ tiêu tăng GDP gấp 2,2 lần trong 10 năm tới với mức tăng trưởng công nghiệp hằng năm 13% sẽ làm trầm trọng hơn tình trạng ô nhiễm ở các KCN và vùng đô thị; việc CNH-HĐH các ngành công nghiệp nặng

Số liệu của Ủy ban KH-CN-MT của Quốc hội cho thấy, mới có 60 KCN có trạm xử lý nước thải tập trung (chiếm 42% số KCN đã vận hành) Mỗi ngày, các KCN thải ra khoảng 30.000 tấn chất

môi trường

nghề Theo thống kê, cả nước có gần 1500 làng nghề và tạo ra 11 triệu việc làm thường xuyên và không thường xuyên Tuy nhiên do sản xuất tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậu nên phần lớn các làng nghề gây ô nhiễm môi trường Một cuộc khảo sát của Bộ Y tế tại 3 tỉnh Nam Định, Bắc

kiểm soát chất thải rắn

dự kiến tăng lên 45% vào 2020 Đây thực sự là sức ép lớn về môi trường trong quản lý đô thị Theo nghiên cứu của Bộ KH-CN, các đô thị Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Việt Trì, Ninh Binh, Quy Nhơn, Nha Trang, Biên Hòa là những tụ điểm phát thải các chất độc hại Riêng Hà Nội, mỗi năm thải vào môi trường nước khoảng 3.600 tấn chất hữu cơ, 320 tấn dầu mỡ, hàng chục tấn kim loại nặng

các mối quan tâm về môi trường cần được lồng ghép ngay từ quá trình ra các quyết định về phát triến kinh tế và xã hội

môi trường, tiếp cận mô hình tăng trưởng xanh đã được đề cập trong văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XI Trong đó, Nhà nước cần dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng ; vì đây

triển bền vững

dụng công nghệ cũ; 70% đã khấu hao hết và gần 50% là máy móc cũ, hoặc vừa mới tân trang được nhập vào Thực tế này là một thách thức đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị lớn nhằm tạo ra bước đột phá lớn trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng

cơ chế kinh tế hóa, tài chính hóa trong quản lý tài nguyên, môi trường Thực tế hiện nay, nhà nước bỏ ra rất nhiều kinh phí, trang thiết bị và nguồn nhân lực cho công tác điều tra tài nguyên khoáng sản, khí tượng, thủy văn nhưng thường là cung cấp không hoặc với khoản phí không đáng kể cho các nhà đầu tư Đó là sự bù đắp không cân xứng dẫn đến không đủ nguồn lực cho

sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ sạch; sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm và bao bì không gây hại hoặc ít gây hại đến môi

Trang 10

trường; tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế.

lực, điều kiện để chuyên đổi thành công sang mô hình phát triển bền vững Kinh nghiệm phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, cơ khí tự động hóa, công nghệ vật liệu cũng như việc chế tạo thành công các sản phẩm nano, những thành tựu trong công nghệ sinh học, cùng với năng lực sáng tạo trong toán học, vật lý học, hóa học cho thấy nếu có đủ quyết tâm và cách sáng tạo, phù hợp, chúng ta sẽ nhanh chóng bước vào quỹ đạo phát triển hiện đại mà 21 quốc gia thành viên APEC, trong đó có Việt Nam đã cam kết tại Hội nghị Thượng đỉnh tại Tokyo tháng 11-

2010, về thực hiện một mô hình tăng trưởng mới, đảm bảo 5 yêu cầu: i) Tăng trưởng cân bằng; ii) Tăng trưởng an toàn; iii) Tăng trưởng bền vững; iv) Tăng trưởng dựa vào trí tuệ; v) Tăng trưởng với lợi ích được chia sẻ công bằng cho tất cả mọi người Đây phải trở thành điểm xuyên suốt quá trình CNH-HĐH nước ta

phòng ngừa và hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường trong thời gian qua chủ yếu là do các cấp các ngành thường nặng về quan tâm tới các chi tiêu tăng trưởng kinh tế, chưa

Do đó, cần có sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng và toàn xã hội về nhận thức và

trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, gắn với phát triển KTTT

Trước hết, tất cả các dự án đầu tư phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường, được Bộ hoặc Sở Tài nguyên - Môi trường thẩm định trước khi được phê duyệt Đồng thời, tăng cường việc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất là các chất thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ y tế

Khắc phục các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái; nâng cao khả năng và nguồn lực điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên để có kế hoạch bảo vệ, khai thác hợp lý, bảo vệ đa dạng sinh học Nói cách khác, bảo vệ môi trường phải vừa là mục tiêu, vừa là nội dung của quá trình phát triển bền vững

IV Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ để giải quyết các

vấn đề môi trường trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cần phải có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động, đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và đặc biệt trong tổ chức, triển khai thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong toàn Đảng và toàn xã hội Qua 10 năm thực hiện Chương trình hành động số 437-Ctr/TU của BCH Đảng bộ tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh đã đạt được một số kết quả tích cực

Công tác phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm môi trường được quan tâm thực hiện, lồng ghép vào nội dung nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội, chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của địa phương, đơn vị Việc chấp hành Luật Bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có chuyển biến về cả nhận thức và hành động, quan tâm đầu tư nâng cấp các công trình thu gom, xử lý rác thải và thực hiện an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với người lao động Các chỉ số về môi trường của tỉnh vẫn nằm trong giới hạn cho phép, cơ bản thực hiện được mục tiêu đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường để phát triển bền

Ngày đăng: 28/05/2020, 18:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w