TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘINGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 9
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ
CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG
CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9.22.90.20
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
HÀ NỘI - 2020 Luận án được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 22 GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP
Phản biện 1: GS.TS Đinh Văn Đức
Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG Hà Nội
Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Văn Khang
Viện Ngôn ngữ học
Phản biện 3: GS.TS Đỗ Việt Hùng
Trường ĐHSP Hà Nội
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường tại:
Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2020
Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Hà Nội
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 3LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
I ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng trong tiếng Việt,
(2016), Đề tài NCKH Cấp Cơ sở, Trường Đại học Hồng Đức
II CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC
1 Nguyễn Thị Thanh Hương (2013), Đặc điểm tính từ chỉ lượng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 8 /2013, tr 43-46.
2 Nguyễn Thị Thanh Hương (2016), Kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong Truyện Kiều – Nguyễn Du, Tạp chí Khoa học Trường
Đại học Hồng Đức, số 31, tr 125-134
3 Nguyễn Thị Thanh Hương (2017), Sự chuyển nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong Truyện Kiều – Nguyễn Du, Tạp chí
Khoa học Trường Đại học Hồng Đức - số đặc biệt, tr.124-131
4 Nguyễn Thị Thanh Hương (2017), Kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt, Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 4
(48), tr 54 - 60
5 Nguyễn Thị Thanh Hương (2017), Kết trị và sự thay đổi kết trị của nhóm tính
từ chỉ đặc điểm về lượng trong tiếng Việt, Tạp chí Từ điển học & Bách khoa
thư, số 6 (50), tr 21- 27
6 Nguyễn Thị Thanh Hương (2019), Sự chuyển nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt, Hội thảo ngữ học toàn quốc 2019,
tr.287-296
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Cũng như ở các ngôn ngữ khác, tính từ là từ loại có số lượng lớn và chiếm
vị trí quan trọng trong tiếng Việt Ngoài những tiểu loại tính từ chỉ đặc điểm khác,nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật đóng một vai trò không nhỏ làm nên
sự phong phú và đa dạng của tính từ nói riêng và từ loại tiếng Việt nói chung
1.2 Lí thuyết kết trị là một trong những lí thuyết quan trọng về ngữ pháp của ngônngữ học hiện đại Lí thuyết này đem đến một hướng tiếp cận mới, tiếp cận cú pháp theođường hướng ngữ nghĩa, chức năng Nó góp phần giải quyết những vấn đề cần yếu đốivới ngữ pháp tiếng Việt, đặc biệt là mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp trong sựhiện thực hóa ngôn ngữ
1.3 Sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi trongnghiên cứu ngữ pháp, nghiên cứu đặc điểm từ loại của nhiều ngôn ngữ khác nhau.Trên thế giới đã có khá nhiều công trình vận dụng lí thuyết kết trị nghiên cứu mộtcách có kết quả hệ thống từ loại mà đầu tiên và trước hết là động từ Nằm trong tràolưu chung của ngôn ngữ học thế giới, ở Việt Nam, những năm gần đây lí thuyết kếttrị đã nhanh chóng được vận dụng trong một số công trình nghiên cứu Nhưng vớinhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết kết trị thìchưa có một công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị
của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt làm đề tài
nghiên cứu trong luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trongtiếng Việt, từ đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhómtính từ này trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ của luận án
- Xây dựng khung lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài: Lí thuyết kết trị,
lí thuyết ngữ nghĩa và lí thuyết về TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt
- Phân tích và mô tả đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sựvật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc
- Phân tích và mô tả sự phát triển nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm TTCĐĐVLtrong tiếng Việt
Trang 53 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị củaTTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt trong 55 nguồn ngữ liệu ở hai loại hình vănbản thuộc hai phong cách khác nhau: khoa học và nghệ thuật
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau: Phương phápmiêu tả kết hợp với phương pháp phân tích cú pháp; thủ pháp mô hình hóa, so sánh
và thống kê, phân loại
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về mặt lí luận
Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ nghĩa và kết trị của nhómTTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt Thông qua việc nghiên cứu, luận án thêm một bướclàm rõ hơn lí thuyết về kết trị và ngữ nghĩa trong sự tương tác lẫn nhau Đồng thời, kết quảnghiên cứu của luận án cũng góp thêm tiếng nói minh chứng cho sự tiến bộ của đường
hướng nghiên cứu ngữ pháp hiện đại: ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa
5.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ là những đóng góp thiết thực trong công việc nghiên cứu
và học tiếng Việt, cụ thể như: giúp những người nghiên cứu về cú pháp và ngữnghĩa có được cái nhìn sâu sắc hơn về tính từ; góp phần vào việc phân tích, giảithích ngữ nghĩa của tính từ trong việc biên soạn từ điển, sách dạy tiếng Việt chongười Việt Nam và người nước ngoài
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và nguồn ngữ liệu khảo sát luận
án gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan tính hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết;Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của
sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc; Chương 3: Sự phát triển ngữ nghĩa vàthay đổi kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa của từ
Trên thế giới, việc nghiên cứu nghĩa của từ đã được các nhà ngôn ngữ học đặc biệt
quan tâm Người đầu tiên phải kể đến là Michel Bréal - với công trình: “Essai de Sémantique (Science des signification, 1877), tiếp đến F.de Saussure (1916), C.K.
Ogden và I.A Richards (1923), G Stern (1931), V.A Zveginxev (1957), S Ullmann(1962), John Lyons (1977) Bên cạnh đó, G Lakoff, M Johnson, M Turner, C.Fillmore, V Evans, M Green cũng quan tâm và nghiên cứu nghĩa dưới góc độ ngônngữ học tri nhận
Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học đã tiếp thu chọn lọc những thành tựu nghiêncứu về nghĩa của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới Ở góc độ ngôn ngữ học truyềnthống, người nghiên cứu sớm nhất và có nhiều công trình về lí thuyết nghĩa của từ là
Đỗ Hữu Châu (1998), tiếp đó là Nguyễn Thiện Giáp (2005), Lê Quang Thiêm (2008),
Đỗ Việt Hùng (2014)… Ở góc độ ngôn ngữ học tri nhận, các tác giả như: NguyễnĐức Tồn, Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Nguyễn Văn Hiệp… cũng nghiên cứu vềnghĩa của từ, đặc biệt sự chuyển nghĩa của từ Dù dưới góc độ khác nhau song về cơbản các nhà nghiên cứu đều đưa ra quan niệm về nghĩa của từ, các thành phần nghĩacủa từ, hiện tượng chuyển nghĩa của từ…
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về kết trị của từ
Trên thế giới, lí thuyết kết trị được nghiên cứu trên nhiều cấp độ với nhiều quan
điểm khác nhau Đầu tiên phải kể đến L Tesnière với cuốn Elément de Syntax structurale (Các yếu tố của cấu trúc cú pháp) (1969) đã đưa ra cách hiểu về kết trị
của động từ và phân biệt chu tố và diễn tố Tiếp đến S.D Kasnelson (1973) đã làm rõcách hiểu kết trị và phân biệt kết trị với khả năng tham gia vào các mối quan hệ cú pháp.N.I Tjapkina (1980) và A.M Mukhin (1987) đã mở rộng khái niệm kết trị của động
từ hơn M.D Stepanova (1988) lại mở rộng khái niệm kết trị từ cấp độ từ sang cáccấp độ và các bình diện khác của ngôn ngữ …
Ở Việt Nam, các nhà Việt ngữ học nhanh chóng vận dụng lý thuyết kết trị vào
nghiên cứu tiếng Việt Đầu tiên phải kể đến Cao Xuân Hạo (2006) với công trình “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng” Một trong những người tiên phong vận dụng linh
hoạt lí thuyết kết trị của L Tesnière vào nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam là Nguyễn
Trang 7Văn Lộc (1995) Đinh Văn Đức (2015) đã đặt vấn đề nghiên cứu từ loại tiếng Việt theođường hướng nghiên cứu của Chức năng luận và quan tâm trước nhất đến lí thuyết kếttrị Bên cạnh đó phải kể đến: Nguyễn Thị Quy (1995), Nguyễn Văn Hiệp và Lâm QuangĐông (2008), Lê Thị Lan Anh (2014), Nguyễn Mạnh Tiến (2016) …
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của tính từ tiếng Việt
Tính từ là một từ loại cơ bản của tiếng Việt Vì vậy, tính từ chủ yếu được xemxet dưới góc nhìn ngữ pháp về các phương diện: ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp,chức vụ ngữ pháp Tuy nhiên, cũng có những công trình đề cập đến ngữ nghĩa củatính từ; mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của một số nhóm tính từ cụ thể như:Chu Bích Thu (1996), Nguyễn Thị Dự (2004), Lê Xuân Bình (2009), Nguyễn QuỳnhThu (2013), Trần Ái Chin (2014), Nuyễn Thị Huyền (2018)…
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ nói chung và tính
từ tiếng Việt nói riêng, có thể thấy ngữ nghĩa và kết trị của từ và tính từ đã giànhđược nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, nghiên cứu nhómTTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và kết trị có lẽ chưa
có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ nhất
1.2 Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái quát về nghĩa của từ
1.2.1.1 Nghĩa của từ và sự phát triển ngữ nghĩa của từ từ góc độ cấu trúc luận
a Quan niệm về nghĩa của từ
Khái niệm “nghĩa của từ” là một trong những khái niệm quan trọng của ngônngữ và được các nhà nghiên cứu quan tâm
Có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ, tuy nhiên, tựutrung lại, có thể đề cập đến ba nhóm quan trọng Ở luận án này, chúng tôi tán thành
nhóm quan niệm coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần Đó là sự hiểu biết của con
người về những sự vật, hiện tượng … mà từ biểu thị
b Các thành phần nghĩa của từ
Khi nói đến ý nghĩa của từ, chúng ta cần phải hiểu đó là một tập hợp nhữngthành phần nghĩa sau: Ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểu thái và ýnghĩa ngữ pháp Đây là những ý nghĩa của từ trong hệ thống - vốn có tính ổn định,lập thành nghĩa hạt nhân của từ Còn trong hoạt động hành chức, từ luôn gây ranhững ý nghĩa khác, không có tính ổn định là nghĩa liên hội
c Hiện tượng nhiều nghĩa và chuyển nghĩa của từ
Hiện tượng nhiều nghĩa là hiện tượng ngữ nghĩa trong đó một từ (một vỏ ngữâm) có chứa từ hai nghĩa trở lên và mỗi nghĩa tương ứng với một hoặc một số sự vật,hiện tượng trong thực tế khách quan
Trang 8Hiện tượng chuyển nghĩa của từ là việc một nghĩa của từ được hình thành dựa trênmột nghĩa đã có của từ đó Việc chuyển nghĩa của từ luôn được thực hiện qua phươngthức chuyển nghĩa Theo một số nhà nghiên cứu, có hai phương thức chuyển nghĩacủa từ: ẩn dụ và hoán dụ.
1.2.1.2 Một số khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến nghĩa
và sự phát triển ngữ nghĩa của từ
a Ý niệm, ý niệm hóa, ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm
Ý niệm là kết quả, là sản phẩm của hoạt động tri nhận của con người về thế giớixung quanh cũng như chính bản thân mình qua tương tác với thế giới Ý niệm có thểđược biểu hiện bằng ngôn từ cũng có thể không Ý niệm hóa là hoạt động tri nhận đểhình thành nên những ý niệm, gồm nhiều quá trình tinh thần khác nhau
Ẩn dụ ý niệm là các ánh xạ có tính hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn
và miền đích Bản chất của ẩn dụ ý niệm là ở sự cấu trúc hóa và cảm nhận những hiệntượng loại này trong cách diễn giải của các hiện tượng loại khác Nó có tính mộtchiều, là động lực thúc đẩy cho miền đích và miền nguồn mang lại những ý nghĩa (trithức) bổ sung đôi khi khá chi tiết và gây ấn tượng Hoán dụ ý niệm là một quá trìnhtri nhận trong đó một thực thể ý niệm (phương tiện) cung cấp sự tiếp nhận tinh thầnđến một thực thể ý niệm khác (đích) trong cùng một miền hoặc cùng một mô hình trinhận lý tưởng
b Phạm trù và phạm trù hóa
Phạm trù là khái niệm khoa học phản ánh những thuộc tính và mối quan hệchung, cơ bản nhất của các hiện tượng Trong ngôn ngữ học tri nhận, phạm trù làmột trong những hình thái nhận thức của tư duy con người, cho phép khái quát hóakinh nghiệm để phân loại các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Phạm trùhóa là một quá trình tinh thần phức tạp nhằm phân loại các sự vật hiện tượng mà sảnphẩm của nó là các phạm trù tri nhận
c Miền, miền nguồn và miền đích
Miền là một thực thể ý niệm được sử dụng trong lí thuyết ẩn dụ ý niệm và nhữnghướng tiếp cận liên quan tới chiếu xạ ý niệm Miền ý niệm có cấu trúc tri thức tươngđối phức tạp có liên quan đến các phương diện thống nhất trong kinh nghiệm, là tậphợp các ý niệm có mối quan hệ gắn bó với nhau
Miền nguồn bao gồm một tập hợp các thực thể ngôn từ, các thuộc tính, các quátrình và các quan hệ, được liên kết ngữ nghĩa và dường như được lưu trữ cùng nhautrong tâm trí Miền đích có xu hướng trừu tượng và rút ra cấu trúc của mình từ miềnnguồn thông qua liên kết ẩn dụ hay “ẩn dụ ý niệm”
Trang 91.2.2 Khái quát về kết trị của từ
1.2.2.1 Khái niệm kết trị
Dựa trên quan điểm về khái niệm kết trị của các nhà ngôn ngữ học trong và
ngoài nước, kết trị là khả năng của từ kết hợp vào mình những thành tố cú pháp giúp hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa của từ.
1.2.2.2 Khái niệm tham tố và phân loại tham tố
a Khái niệm tham tố
Tham tố là những thành tố hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa của từ trung tâm,
có thể đảm đương một chức vụ ngữ pháp nhất định trong câu
b Phân loại tham tố
Trong luận án này, chúng tôi dùng cặp thuật ngữ: tham tố bắt buộc và tham tốkhông bắt buộc Tham tố bắt buộc là loại tham tố cần thiết để cho từ có được mức độhoàn chỉnh tối thiểu về nghĩa mà không cần có sự hỗ trợ của ngữ cảnh Tham tố nàychịu sự chi phối chặt chẽ vào đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ pháp của từ, thường chỉ cómặt ở từng loại từ nhất định Sự xuất hiện của tham tố bắt buộc là do nghĩa của từtrung tâm đòi hỏi Tham tố không bắt buộc là loại tham tố có thể có mặt hay vắngmặt cạnh từ trung tâm nhưng vẫn phải do từ trung tâm cho phép Đặc điểm ngữ nghĩa
- ngữ pháp của tham tố này vẫn chịu sự chi phối của từ trung tâm
1.2.2.3 Nguyên tắc và thủ pháp xác định kết trị
a Nguyên tắc xác định kết trị
Các tham tố với tư cách là đơn vị ngữ pháp được đặc trưng bởi hai mặt: mặt ý nghĩa
và hình thức ngữ pháp Vì vậy, kết trị nói chung và tham tố nói riêng sẽ được xác định
cả về mặt nội dung (chức năng nghĩa) và cả về mặt hình thức (ngữ pháp) của từ
b Thủ pháp xác định kết trị
Khi xác định kết trị của từ, có nhiều thủ pháp nhưng một thủ pháp đơn giảnnhưng hữu hiệu nhất là thủ pháp đặt câu hỏi Đây là thủ pháp dựa vào cấu trúc ngữnghĩa của từ trung tâm đặt câu hỏi để tìm ra các tham tố xoay quanh từ đó Hay nóicách khác, chúng ta dùng chính từ trung tâm để đặt câu hỏi tìm ra các tham tố Nhưvậy, từ trung tâm sẽ có mặt ở tất cả các câu hỏi tìm tham tố Câu trả lời cho các câuhỏi đó chính là các tham tố của từ Mỗi câu hỏi sẽ giúp chúng ta xác định một ô trốngcần hoặc có thể lấp đầy, tương đương với một tham tố
1.2.2.4 Mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của từ
Ngữ nghĩa và thuộc tính kết trị của từ luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Trong đó, ngữ nghĩa luôn giữ vai trò chi phối kết trị, tức ngữ nghĩa của từ quy định
sự hiện thực hóa kết trị của từ trong hoạt động hành chức Ngược lại, thông qua mô
Trang 10hình kết trị thuộc tính ngữ nghĩa vốn có của từ được bộc lộ Đây chính là căn cứ đểkhẳng định rằng ở mọi ngôn ngữ, cơ sở cuối cùng của sự liên kết cú pháp là nhân tốngữ nghĩa Tính quy định của mặt nghĩa đối với kết trị thể hiện ở chỗ mỗi kiểu kết trịthường chỉ gắn với kiểu ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp của từ Vì kết trị phụ thuộc chặtchẽ vào nghĩa của từ nên sự thay đổi nghĩa từ vựng - ngữ pháp của từ luôn kéo theo
sự thay đổi kết trị của nó
Tiểu kết
Nhóm TTCĐĐVL của sự vật là một trong những nhóm từ trung tâm, cơ bản củamọi ngôn ngữ Đây là nhóm từ có nhiều đặc điểm phức tạp đã thu hút được sự quantâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi đã xác lậpmột số khái niệm lí thuyết cơ bản về ngữ nghĩa, kết trị Những vấn đề lí thuyết này sẽđược vận dụng để làm sáng tỏ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVLcủa sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc và phát triển nghĩa
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH
TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
KHI DÙNG VỚI NGHĨA GỐC 2.1 Khái quát về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt
2.1.1 Quan niệm về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt
Dựa trên những quan niệm của các nhà nghiên cứu, trong luận án này, chúng
tôi quan niệm: TTCĐĐVL là những tính từ định lượng sự vật (dài, ngắn, cao, thấp, nông, sâu…) và biểu thị số lượng sự vật (đông, vắng, nhiều, ít, đầy, đủ…)
Trang 11tâm trong cụm từ chính phụ Thành tố phụ trước của TTCĐĐVL thường là các phụ
từ chỉ mức độ Thành tố phụ sau của TTCĐĐVL rất đa dạng về cấu tạo, từ loại, ýnghĩa … Trong đó, thành tố phụ sau chỉ lượng xuất hiện sau TTCĐĐVL là dấuhiệu đặc trưng nhất giúp phân biệt nhóm tính từ này với các nhóm tính từ khác
2.1.2.3 Về chức vụ ngữ pháp
Là một tiểu nhóm nằm trong tính từ nên TTCĐĐVL cơ bản có chức vụ ngữpháp trong câu giống như tính từ nói chung Chúng có khả năng làm vị ngữ trựctiếp, làm định ngữ (mở rộng, bổ sung nghĩa cho danh từ)
2.1.3 Phân loại tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt
Luận án cho rằng: TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt gồm hai nhóm: Nhóm tính
từ định lượng sự vật (định lượng về kích thước, trọng lượng, khoảng cách, nhiệt lượng …) như: nặng, nhẹ, dài, ngắn, rộng, hẹp, nông, sâu, cao, thấp, nóng, lạnh, xa, gần và nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật như: nhiều, ít, đông, vắng, đầy, thưa…
2.1.4 Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt
Luận án đã khảo sát 55 nguồn ngữ liệu với 2045 câu trong hai loại văn bản:
VBKH và VBNT Chúng tôi thấy: Tiếng Việt có 31 TTCĐĐVL của sự vật (cao, rộng, dài, ngắn, dày, mỏng, nhiều, ít, thưa, vắng, đông, đủ….) Dựa vào đặc điểm
cấu tạo, chúng đều là từ đơn và có bản chất từ vựng – ngữ pháp quy định những yếu
2.2.1.1 Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng kích thước sự vật
Kích thước là toàn thể nói chung những đại lượng (như chiều dài, chiều rộng,chiều cao, chiều sâu …) xác định độ lớn của một vật Vì vậy, nhóm tính từ địnhlượng kích thước sự vật theo các chiều kích khác nhau như: chiều cao, chiều rộng,chiều dài, chiều sâu, chiều dày … Ngữ nghĩa chung của nhóm tính từ này là biểu thịchiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu… của sự vật Tiêu biểu là các tính từ cơ
bản sau: cao, thấp, ngắn, dài, rộng, nông, sâu, cao vút, sâu hoắm, dài ngoẵng, thâm thấp Ví dụ:
Tấm ván dài 2 mét, rộng 1 mét, dày 5 centimét (Hoàng Phê – Từ điển tiếng Việt)
Trang 122.2.1.2 Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng trọng lượng sự vật
Trọng lượng là từ dùng để chỉ khối lượng của một vật cụ thể nào đó Với cách
hiểu như vậy: nặng, nhẹ, nhẹ bỗng, nhè nhẹ, nhẹ nhẹ, nặng trĩu, nặng trịch, nặng nề… là các tính từ định lượng trọng lượng sự vật Ngữ nghĩa của nhóm tính từ này là
biểu thị khối lượng của sự vật Ví dụ:
Nhìn từ xa, cầu Long Biên như một dải lụa uốn lượn vắt ngang sông Hồng,
nhưng thực ra “dải lụa” ấy nặng tới 17 nghìn tấn (Nguyễn Khắc Phi - Ngữ văn 6)
2.2.1.3 Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng nhiệt lượng sự vật
Nhiệt lượng là số lượng nhiệt năng, thường được tính bằng calori Tiêu biểu cho nhóm tính từ này là các tính từ: nóng, lạnh, ấm, mát, nóng ran, lành lạnh, lạnh ngắt,
âm ấm, man mát, nong nóng, lạnh buốt … Trong đó, cặp tính từ nóng và lạnh đại
diện nhóm và xuất hiện với tần số cao Ngữ nghĩa của nhóm tính từ là biểu thị nhiệtlượng của sự vật Ví dụ:
Lượng trở lại vùng rừng miền Tây Quảng trị lần này vào giữa tháng mưa to
nhất, không khí bao giờ cũng lạnh xuống đến mười độ.
(Nguyễn Minh Châu – Dấu chân người lính)
2.2.1.4 Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng khoảng cách sự vật
Khoảng cách là khoảng chia cách giữa hai vật Tiêu biểu là các tính từ: xa, gần,
xa xa, xa tít, xa tắp, xa xôi, xa lắc, xa thẳm, gần gần… Trong đó, cặp tính từ xa và gần xuất hiện nhiều và đại diện cho nhóm Ngữ nghĩa của nhóm tính từ này là biểu
thị khoảng cách của sự vật Ví dụ:
Con ngựa phi rất nhanh, nếu đường xá tốt có thể phi tới hơn trăm cây số một giờ,
bước nhảy của nó xa tới 4 mét (Nguyễn Huy Thiệp – Tuyển tập truyện ngắn)
2.2.2 Ngữ nghĩa nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật
Bên cạnh ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng sự vật, TTCĐĐVL còn có nhómngữ nghĩa thứ hai biểu thị số lượng của sự vật Số lượng là con số biểu thị có nhiều
hay có ít Tiêu biểu cho nhóm tính từ này là các tính từ: đầy, vơi, đủ, thiếu, ít, nhiều, đông, vắng, thưa, to, nhỏ, thưa thớt, đông đủ, vơi vơi, nho nhỏ… Chúng có nghĩa
chung là biểu thị số lượng sự vật Tuy nhiên, các sự vật được nói đến ở đây là các sựvật tồn tại trong một tập hợp không phải là các sự vật tồn tại cá thể Ví dụ:
Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như
kém sang hơn (Tuyển tập Tự lực văn đoàn, tập 3)
Trang 13Hình 2.1 Sơ đồ ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong
tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc
2.3 Đặc điểm kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc
2.3.1 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc
Dựa trên những nguyên tắc và thủ pháp xác định kết trị, chúng tôi xác định môhình kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật như sau:
Tham tố chỉ lượng
Tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm
Định lượng khoảng cách
Định lượng nhiệt lượng
Trang 14Hình 2.2 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong
tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc
Khi dùng với nghĩa gốc, mô hình kết trị của nhóm TTCĐĐVL gồm bốn tham tốxoay quanh tính từ hạt nhân: (1) Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng, (2) Tham
tố chỉ lượng, (3) Tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm, (4) Tham tố chỉ sự so sánh.Trong đó, tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng là tham tố bắt buộc, ba tham tốcòn lại là tham tố không bắt buộc
2.3.2 Đặc điểm các tham tố của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc
2.3.2.1 Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng
a Về nội dung
Loại tham tố này bổ sung, hiện thực hóa ý nghĩa chỉ sự vật mang đặc điểm vềlượng do TTCĐĐVL biểu thị Đó là những sự vật ở dạng vật chất mà con người cóthể tri giác được Qua khảo sát 2045 câu, trong đó 1224 câu có chứa TTCĐĐVL đượcdùng với nghĩa gốc từ 55 nguồn ngữ liệu, kết quả như sau:
Căn phòng rộng 12 mét vuông, cửa ở
giữa, hai bên kê hai cái giường nhỏ, đầu giường mỗi người có một cái tủ đựng sách
vở, quần áo (Nguyễn Huy Thiệp - Tuyển tập truyện ngắn)
381 31%
2 Các hiện
tượng tự nhiên
Vực sâu khoảng hơn trăm mét, dưới
lòng vực là một con suối cạn khô (Nguyễn Huy Thiệp - Tuyển tập truyện ngắn)
326 27%
3 Con người Con nặng ba cân hai anh ạ.
(Lê Lựu - Hai nhà) 218 18%
4 Động vật Con bạch tuộc này dài 18m (kể cả tua
miệng), mắt có đường kính 30cm, giác ở tua miệng to bằng chiếc mũ …
(Nguyễn Quang Vinh - Sinh học 7)
162 13%
5 Thực vật Cỏ cao hơn thước liễu gầy vài phân.
(Nguyễn Du - Truyện Kiều) 137 11%Bảng 2.1 Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng khi nhóm tính từ chỉ