Đề tài tập trung đi sâu tìm hiểu về thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn phường Bàng La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, góp phần phản ánh về vấn nạn phụ nữ bị bạo l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
======================
PHAN THỊ HỒNG QUYÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI PHƯỜNG BÀNG LA, QUẬN ĐỒ SƠN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
======================
PHAN THỊ HỒNG QUYÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI PHƯỜNG BÀNG LA, QUẬN ĐỒ SƠN,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS - TS Nguyễn Hồi Loan Các số liệu, những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Phan Thị Hồng Quyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS-
TS Nguyễn Hồi Loan là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa và tất cả các Thầy, Cô trong Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã trang bị kiến thức, kỹ năng và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tại Trường
Tôi Trân trọng cảm ơn Thường trực Hội Liên Hiệp Phụ Nữ quận Đồ Sơn và Hội Liên Hiệp Phụ Nữ phường Bàng La, quận đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã hỗ trợ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình và các bạn, các em của tôi đã luôn bên cạnh quan tâm, chăm sóc, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu can thiệp 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu can thiệp 13
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 14
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 14
7 Cơ cấu luận văn 15
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI 17
PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 17
1.1 Lý luận về phụ nữ bị bạo lực gia đình 17
1.2 Lý luận về công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình 22
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình 30 1.4 Cơ sở chính trị - pháp lý của công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình 37
Chương 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN PHƯỜNG BÀNG LA, QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 42
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 42
2.2 Thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình 45
2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội với phụ nữ bị BLGĐ 57
Chương 3: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN PHƯỜNG BÀNG LA, QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 68
Trang 63.1 Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm 68 3.2 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình 87
KẾT LUẬN 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nội dung tham vấn pháp lý 49
Bảng 2.2: Các hoạt động trợ giúp sức khỏe cho phụ nữ bị BLGĐ 50
Bảng 2.3: Các hình thức tư vấn 52
Bảng 2.4: Hoạt động hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bị BLGĐ và không bị bạo lực gia đình tại phường Bàng La quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng 53
Bảng 2.5: Nội dung của truyền thông 57
Bảng 2.6: Nhận thức về hậu quả của BLGĐ 67
Bảng 2.7: Biện pháp ngăn chặn BLGĐ 68
Bảng 3.1: Danh sách nhóm phụ nữ bị BLGĐ phường Bàng La 75
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Nội dung tham vấn đối với phụ nữ bị BLGĐ phường Bàng La,
quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng 43
Biểu đồ 2.2: Hình thức và phương pháp truyền thông 55
Biểu đồ 2.3: Trình độ chuyên môn của Nhân viên công tác xã hội 59
Biểu đồ 2.4: Đánh giá năng lực làm việc của Nhân viên công tác xã hội 61
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ kinh phí hoạt động 65
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu can thiệp
Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên hợp Quốc công bố ngày 25 tháng 11 năm 2010 cho thấy: Hơn một nửa phụ nữ tại Việt Nam đều có nguy cơ bị bạo lực tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời Báo cáo nêu rõ 32% phụ nữ từng kết hôn cho biết đã trải qua bạo lực thể chất trong cuộc đời và 6% đã trải qua bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua Tỷ lệ bạo lực tinh thần ở mức cao:
có 54% phụ nữ cho biết đã từng bị bạo lực tinh thần trong cuộc đời và 25% bị bạo lực tinh thần trong 12 tháng qua Tất cả những phụ nữ cho biết đã trải qua bạo lực thể chất và tình dục thì đồng thời cũng chịu bạo lực tinh thần Nếu kết hợp dữ liệu của cả 3 hình thức bạo lực cho thấy 58% phụ nữ đã từng trải qua
cả bạo lực thể chất, tình dục và tinh thần 27% phụ nữ cho biết đã chịu ít nhất một trong 3 hình thức bạo lực này trong 12 tháng qua Theo báo cáo của Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch, 2018) thì từ 2012 đến hết 2017 xảy
ra 139.395 vụ bạo lực gia đình Trong đó bạo lực về thân thể 69.133 vụ, bạo lực
về tinh thần 51.227 vụ, bạo lực về kinh tế 14.331 vụ, bạo lực tình dục 4.338 vụ Như vậy, đa số phụ nữ Việt Nam đều có nguy cơ tiềm tàng bị bạo lực gia đình
ở một hay một vài thời điểm nào đó trong cuộc sống của họ Tại một số vùng
ở Việt Nam đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cứ 10 phụ nữ thì có 4 người nhận thấy gia đình không phải là
nơi an toàn đối với họ (Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch, 2018)
Mặc dù bạo lực gia đình là một hiện tượng rất phổ biến nhưng vấn đề
này vẫn bị giấu giếm nhiều Sự kỳ thị và sự xấu hổ khiến phụ nữ phải giữ im
lặng, nhiều phụ nữ còn nghĩ rằng bạo lực trong quan hệ vợ chồng là điều“bình thường” và người phụ nữ cần bao dung, nhẫn nhịn chịu đựng để gìn giữ sự êm ấm cho gia đình Rõ ràng là bạo lực gia đình đã gây nên những
hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe, thể chất và tinh thần của người phụ
Trang 112
nữ Ở Việt Nam, cứ bốn phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì có một người cho biết họ phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể
và hơn một nửa trong số này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần
Theo báo cáo số 82-BC/UBND của UBND thành phố Hải Phòng (ngày 14/11/2017), chỉ tính riêng năm 2016, tại Hải Phòng đã xảy ra trên 400 vụ bạo lực gia đình dưới các hình thức khác nhau, trong đó số vụ nạn nhân là nữ chiếm khoảng 60%; xảy ra 17 vụ xâm hại trẻ em, trong đó xâm hại tình dục trẻ em là 12 vụ, với 12 nạn nhân Trong 6 tháng đầu năm 2017, đã xảy ra 10
vụ xâm hại, bạo lực trẻ em, trong đó có 07 vụ xâm hại tình dục trẻ em với 07 nạn nhân; 03 vụ mua bán phụ nữ và trẻ em với số nạn nhân là 03 người [4]
Nguyên nhân của bạo lực giới là tình trạng bất bình đẳng giới, định kiến giới, tư tưởng trọng nam, khinh nữ và một số nguyên nhân khác như nghiện rượu, sử dụng ma túy, sức ép kinh tế, quan hệ hôn nhân bất chính…
nhưng yếu tố bất bình đẳng về quyền lực, tiếng nói và sự kiểm soát giữa nam giới và phụ nữ là nguyên nhân chính khiến cho hành vi bạo lực kéo dài
Tháng 11/2007, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Ngay sau đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện và triển khai thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình chưa cao, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa thực sự đi vào cuộc sống, đặc biệt ở địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thực tế các chương trình can thiệp hiện nay tại Việt Nam trong thời gian qua chưa quan tâm đến vai trò và sự tham gia của công tác xã hội tại các địa phương Sự tham gia của đội ngũ nhân viên CTXH trên địa bàn cộng đồng cư dân đang sinh sống sẽ góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân thì vấn đề bạo lực gia đình tại Việt Nam sẽ giảm thiểu và tiến tới từng bước xóa bỏ bạo lực Vai trò của CTXH là
vô cùng quan trọng trong việc truyền thông, vận động, giáo dục và thay đổi hành vi của người dân để xây dựng được những mô hình gia đình, cộng đồng
Trang 123
không có bạo lực, đảm bảo an sinh xã hội, nếp sống văn minh, hạnh phúc, phát triển kinh tế bền vững
Vì vậy, dựa trên thực tiễn xã hội và cộng đồng, tôi chọn đề tài Công tác
xã hội nhóm đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại phường Bàng La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng như là một cách tiếp cận khác với những hoạt
động can thiệp bạo lực gia đình trước đây tại địa phương để làm đề tài nghiên cứu Đề tài tập trung đi sâu tìm hiểu về thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn phường Bàng La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, góp phần phản ánh về vấn nạn phụ nữ bị bạo lực gia đình, cùng xã hội đẩy lùi bạo lực gia đình, giúp phụ nữ giảm bớt phần nào những căng thẳng, khủng hoảng từ bạo lực gia đình mang lại, giúp họ tự tin hơn để hòa nhập cộng đồng, đồng thời, nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả dưới góc độ CTXH để
có thể giảm dần vấn đề bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và quyền bình đẳng của người phụ nữ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Một nghiên cứu gần đây năm 2018 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy cứ 100 phụ nữ thì có 15 phụ nữ phải chịu đựng một hình thức bạo lực nào đó về thể xác, tinh thần hay tình dục ngay trong ngôi nhà của họ và đây là vấn đề có tính chất toàn cầu hiện đang xảy ra ở cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển Chi phí kinh tế cũng rất đáng quan tâm Một báo cáo năm 2003 cuả Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Mỹ ước tính rằng chi phí cho những vụ bạo lực do người quen biết gây ra chỉ tính riêng ở Mỹ cũng
đã lên đến 5,8 tỷ USD mỗi năm; 4,1 tỷ cho các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe trực tiếp và 1,8 tỷ cho những thiệt hại về khả năng lao động [30]
Năm 2004, cuốn sách “Healing the trauma of domestic violence” (Hàn gắn những khủng hoảng sang chấn của bạo lực gia đình) của Eswanrd S.Kubany xuất bản tại Canada đã đề cập đến các kỹ thuật giúp những phụ nữ
Trang 13Theo kết quả nghiên cứu, bạo lực gia tăng trong các cuộc xung đột và khủng hoảng nhân đạo đã gây ra những hệ quả về thể chất và tinh thần cho các nạn nhân Ngay cả ở các quốc gia tiên tiến vẫn có nhiều phụ nữ trở thành nạn nhân của tình trạng phân biệt đối xử và bạo hành, cũng như không được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ y tế và pháp luật Bà Claudia Garcia-Moreno năm
2008, bác sĩ tâm lý của WHO, cho rằng việc xác định sớm phụ nữ và trẻ em là đối tượng của nạn bạo lực, đi đối với việc hỗ trợ và giải quyết có hiệu quả vấn nạn này sẽ góp phần nâng cao đời sống của phụ nữ, giúp họ tiếp cận được với các dịch vụếu trong cuộc sống
“Mặc dù bạo lực gia đình là một hiện tượng rất phổ biến nhưng vấn đề
này vẫn bị giấu diếm nhiều”, bà Henrica A.F.M Jansen, Trưởng nhóm nghiên
cứu của dự án Nghiên cứu quốc gia… (2010) nói trên cho hay Trưởng Đại
diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam - ông Jean Marc Olive năm
2018 cho biết “phá bỏ sự im lặng” là một việc cần phải làm để chấm dứt nạn
BLGĐ Bởi một thực tế rằng bạo lực gia đình gần như bị khép kín trước những giám sát của xã hội, khi nạn nhân thường chọn cách chịu đựng khi cảm thấy bị ràng buộc cả về tinh thần, con cái và tài sản đối với người bạo hành.[31]
Bên cạnh đó, WHO kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới cần thay đổi các đạo luật và thể chế có tính phân biệt đối xử dẫn tới tình trạng bất bình đẳng và
Trang 14bị bạo lực gia đình có cơ hội được tiếp cận, làm quen với mô hình sinh hoạt nhóm để từ đó tăng năng lực và có khả năng giải quyết vấn đề của bản thân
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Bạo lực gia đình đã và đang trở thành một vấn đề xã hội nhức nhối gây
ra nhiều hậu quả nghiêm trọng mà trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em Bạo lực gia đình làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp, tác động xấu đến môi trường giáo dục thế hệ trẻ, ảnh hưởng đến sự an toàn lành mạnh của
cộng đồng và trật tự xã hội
Công trình nghiên cứu “Bạo lực gia đình trên cơ sở giới” của Vũ
Mạnh Lơi, Vũ Huy Tuấn, Nguyễn Hữu Minh đã tiến hành 3 nghiên cứu ở các thành phố Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1999 Các tác giả đã đi sâu xem xét thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chế đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa đưa
ra được hướng giải quyết trực tiếp giúp chị em phụ nữ bị bạo lực gia đình nâng cao năng lực của bản thân để từ đó họ có thể tự giúp bản thân họ vươn
lên, thoát khỏi hoàn cảnh
Trang 156
Nghiên cứu của Khuất Thu Hồng (2010), Bạo lực gia đình vẫn chưa
giảm ở Việt Nam về bạo lực gia đình đã chỉ ra là nhận thức sai lầm của cộng
đồng về bạo lực gia đình đặc biệt là chị em phụ nữ, từ đó, tác giả đã chỉ ra chính những nhận thức sai lầm của phụ nữ và nam giới đã cho phép người chồng bạo hành tình dục với vợ của mình.[14]
Nghiên cứu của Hoàng Bá Thịnh (2005), Bạo lực gia đình ở Việt Nam
và vai trò truyền thông đại chúng trong sự phát triển phụ nữ ở một xã nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ, cho thấy có 87% số người được hỏi rằng ở thôn
xóm nơi họ sinh sống có hiện tượng bạo lực gia đình Về bạo lực tinh thần có 94,4% chửi mắng vợ Về bạo lực thể chất có 54,4% số người được hỏi cho rằng có hiện tượng chồng đánh vợ và 8,9% số người được hỏi có hiện tượng
vợ đánh chồng.[32]
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu khác về BLGĐ như:
“Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” của Hội Liên Hiệp phụ
nữ Việt Nam, 2001
Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên hợp Quốc công bố ngày 25 tháng 11 năm 2010 cho thấy: Hơn một nửa phụ nữ tại Việt Nam đều có nguy cơ bị bạo lực tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời Báo cáo nêu rõ 32% phụ nữ từng kết hôn cho biết đã trải qua bạo lực thể chất trong cuộc đời và 6% đã trải qua bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua Tỷ lệ bạo lực tinh thần ở mức cao:
có 54% phụ nữ cho biết đã từng bị bạo lực tinh thần trong cuộc đời và 25% bị bạo lực tinh thần trong 12 tháng qua.[31]
Tất cả những phụ nữ cho biết đã trải qua bạo lực thể chất và tình dục thì đồng thời cũng chịu bạo lực tinh thần Nếu kết hợp dữ liệu của cả 3 hình thức bạo lực cho thấy 58% phụ nữ đã từng trải qua cả bạo lực thể chất, tình dục và tinh thần 27% phụ nữ cho biết đã chịu ít nhất một trong 3 hình thức bạo lực này trong 12 tháng qua Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả
Trang 16cứ 10 phụ nữ thì có 4 người nhận thấy gia đình không phải là nơi an toàn đối với họ
Mặc dù bạo lực gia đình là một hiện tượng rất phổ biến nhưng vấn đề này vẫn bị giấu giếm nhiều Sự kỳ thị và sự xấu hổ khiến phụ nữ phải giữ im lặng, nhiều phụ nữ còn nghĩ rằng bạo lực trong quan hệ vợ chồng là điều
“bình thường” và người phụ nữ cần bao dung, nhẫn nhịn chịu đựng để gìn giữ
sự êm ấm cho gia đình Rõ ràng là bạo lực gia đình đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe, thể chất và tinh thần của người phụ nữ Ở Việt Nam, cứ bốn phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì
có một người cho biết họ phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể và hơn một nửa trong số này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần So với những phụ nữ chưa từng bị bạo hành thì những người đã từng bị chồng bạo hành có nhiều khả năng bị bệnh tật và sức khỏe kém hơn gần hai lần và khả năng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn gấp ba lần Phụ nữ có thai cũng là đối tượng có nguy
cơ bị bạo hành
Theo báo cáo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ
ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên hợp Quốc công bố ngày 25 tháng 11 năm 2010 cho thấy, khoảng 5% phụ nữ từng có thai cho biết họ đã bị đánh đập trong thời gian mang thai Trong hầu hết các trường hợp này, họ đã
bị chính người cha của đứa trẻ mình đang mang trong bụng lạm dụng Bạo lực gia đình không chỉ xảy ra phổ biến đối với phụ nữ mà trẻ em cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình Cứ bốn phụ nữ có con dưới 15 tuổi thì có một người cho biết con của họ đã từng bị chồng họ bạo hành thể xác Nghiên cứu này đã chỉ
Trang 17số
Nghiên cứu năm 2012 của Liên hợp Quốc tại Việt Nam chỉ ra rằng, bạo lực gia đình gây ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Ước tính chi phí của bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam: chi phí thực trả và thu nhập bị mất lên tới gần 1,41% GDP (khoảng 2.536.000 tỉ đồng) năm 2010 Ngoài ra, nghiên cứu cũng nêu rõ những phụ nữ là nạn nhân của bạo lực có thu nhập ít hơn 35% so với những người không bị bạo lực, điều đó tiếp tục ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế quốc dân Tổng mức năng suất lao động bị mất theo ước tính là 1,78% GDP
Nguyên nhân sâu xa của tình trạng bạo lực đối với phụ nữ là do sự bất bình đẳng về giới và nhận thức sai lệch, chưa đúng đắn về bình đẳng giới Bạo lực gia đình để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với gia đình, xã hội và nền kinh tế quốc dân Việc xóa bỏ bạo lực gia đình không phải là trách nhiệm của riêng ai mà là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị -
xã hội, trong đó có Hội Nông dân Việt Nam Tháng 11/2006 và tháng 11/2007, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Ngay sau đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện và triển khai thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình chưa cao, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa thực sự đi vào cuộc sống, đặc biệt ở địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa,
Trang 189
vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thực tế các chương trình can thiệp hiện nay tại Việt Nam trong thời gian qua chưa quan tâm đến vai trò và sự tham gia của nam giới trong việc xóa bỏ bạo lực gia đình Trong khi đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nam giới đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phòng, chống bạo lực gia đình, vì họ chủ yếu là người gây ra bạo lực gia đình và bạo lực với phụ nữ Nam giới là nguyên nhân chủ yếu của bạo lực gia đình thì họ phải là một phần quan trọng của giải pháp Nếu nam giới không vào cuộc, không được nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi thì vấn đề bạo lực gia đình tại Việt Nam vẫn còn là một vấn đề nhức nhối và thách thức lớn
Từ năm 2015 tới 2018, cứ mỗi ngày ở Việt Nam lại có 64 phụ nữ, 10 trẻ em và 7 người cao tuổi là nạn nhân của bạo hành gia đình Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2017, theo con số thống kê chưa đầy đủ, đã có hơn 20
phụ nữ và trẻ em thiệt mạng do bạo lực gia đình Đây là kết quả thống kê của
Vụ Gia đình - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) sau gần 9 năm áp dụng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (BLGĐ) Số liệu thực tiễn cho thấy tình trạng BLGĐ vẫn đang tồn tại, số vụ bạo hành gia đình gây hậu quả nghiêm trọng bị phát hiện vẫn tăng cao trong đó nạn nhân chủ yếu là phụ nữ, trẻ em và người già
Trong tổng 157.859 vụ BLGĐ được phát hiện từ năm 2013 tới 2017, nạn nhân là phụ nữ (từ 16-59 tuổi) chiếm tới 117.206 trường hợp (74,24%), 17.586 trường hợp là trẻ em (11,14%) và 14.017 trường hợp là người cao tuổi (8,91%)
Trong vòng 5 năm (từ 2013-2017), trung bình mỗi năm xảy ra hơn 31.500 vụ BLGĐ Năm 2012 thậm chí xảy ra tới 50.766 vụ BLGĐ, gấp hơn 1,5 lần con số bình quân hàng năm
Đáng chú ý, kết quả khảo sát qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cho thấy hầu hết phụ nữ bị bạo lực tình dục cũng bị bạo lực thể xác và những người bị cả bạo lực thể xác và bạo lực tình dục thì thường họ bị bạo lực thể xác nghiêm trọng hơn và phụ nữ thường cho rằng bạo lực tinh thần có ảnh
Trang 19Ngoài ba hình thức bạo lực phổ biến trên, còn hình thức bạo lực về kinh tế Trong khảo sát, định nghĩa bạo lực về kinh tế là khi người chồng chiếm đoạt những khoản thu nhập và tiền tiết kiệm của vợ hoặc từ chối đưa tiền để nuôi con cái và chi phí chung trong gia đình ngay cả khi bản thân có tiền để tiêu vào những mục đích khác.[31]
Theo kết quả khảo sát trên, cứ 100 phụ nữ ở Việt Nam thì 9 người bị bạo lực về kinh tế Điều đáng nói là bản thân phụ nữ và những người khác trong cộng đồng không nhận ra đó là hành vi bạo lực về kinh tế khi người chồng kiểm soát tất cả tài chính hoặc bắt vợ phải làm việc quá sức do không chu cấp tiền Việc bắt vợ ghi chép để giám sát từng khoản chi tiêu và chửi vợ nếu những chi phí đó không rẻ như họ nghĩ cũng được cho là hành vi bạo lực
về kinh tế
Ngoài ra, không chỉ phụ nữ và trẻ em gái, nam giới và đặc biệt là trẻ
em trai cũng có thể là “nạn nhân” của BLGĐ Nhận thức về điều này giúp
tăng thêm hiểu biết về các khía cạnh của BLGĐ Trong khi chỉ có khoảng 2,8% phụ nữ từng kết hôn tham gia khảo sát cho biết họ đã từng khởi xướng cho việc bạo lực đối với chồng của mình thì 87,4% người bị chồng gây bạo lực thể xác cho biết họ chưa bao giờ phản ứng lại
BLGĐ nghiêm trọng không chỉ ở số lượng Theo thống kê chưa đầy đủ của cơ quan điều tra, trên cả nước cứ khoảng 2-3 ngày lại có một vụ án mạng liên quan đến BLGĐ Nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng như vụ chồng cắt gân chân tay vợ (Bắc Giang, 2015), chồng đổ xăng thiêu vợ con (Đăk Lăk, 2016)…
Trang 2011
Những đứa trẻ đã chứng kiến BLGĐ có thể trở thành nạn nhân hoặc trở thành người gây bạo lực do sao chép hành vi của bố mẹ.[30]
Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với phụ nữ ở Việt
Nam, bạo lực đối với trẻ em có mối liên hệ chặt chẽ với bạo lực đối với phụ
nữ do cùng một đối tượng gây ra Con của phụ nữ có chồng bạo hành có nguy
cơ cũng bị đánh đập cao gấp hai lần và thậm chí là cao hơn nếu người chồng bạo hành vợ nghiêm trọng
Trong khi đó, phụ nữ có chồng bạo hành có mẹ từng bị cha đánh đập có nguy cơ bị đánh đập cao gấp hai lần so với những phụ nữ khác Nguy cơ này tăng gấp ba lần nếu họ có mẹ chồng bị bố chồng đánh hoặc bản thân chồng cũng bị đánh đập khi còn nhỏ
Điều này cho thấy, trải nghiệm thơ ấu đối với người chồng và người vợ
là một yếu tố quan trọng dẫn tới việc người vợ/chồng có trở thành nạn nhân/người gây bạo lực trong đời sống sau này hay không
Xâm hại tình dục đối với trẻ em là một hình thức khác, nghiêm trọng hơn của BLGĐ Tình trạng loạn luân cha đẻ hiếp con gái chiếm 0,6%, cha dượng hiếp con riêng của vợ chiếm 1% trong tổng số gần 1.200 vụ hiếp dâm trẻ em, theo kết quả khảo sát năm 2013 do Bộ Lao động TB&XH thực hiện
Tuy nhiên, cần hiểu là số liệu trên chỉ là bề nổi Trên thực tế còn rất nhiều vụ xâm hại mà nạn nhân không dám tố cáo vì sợ làm ảnh hưởng đến uy tín gia đình, bị đe dọa, xấu hổ do định kiến bao vây Trong cuộc khảo sát về BLGĐ nói trên, 56,6% phụ nữ có con dưới 15 tuổi cho biết chồng mình làm cho con sợ hãi hoặc dọa nạt, 15,7% cho biết đã tát, xô đẩy, ném đồ đạc vào người con, nhưng chỉ có một người đề cập đến hành vi lạm dụng tình dục
Đối với các nạn nhân, phần lớn hoặc im lặng chịu đựng, hoặc cần phải mất nhiều năm mới có thể lên tiếng Trong nhiều trường hợp, nạn nhân bị lạm dụng tình dục thuở nhỏ bị rơi vào vòng xoáy bán dâm hoặc trở thành tội phạm xâm hại tình dục
Trang 2112
Theo đó, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, về bạo lực trong gia đình là hai trong số nhiều đòi hỏi cần thiết để ngăn ngừa và thay đổi tình trạng BLGĐ, vốn đang ở con số hơn 31.500 vụ/năm ở Việt Nam
Về nguyên nhân sâu xa, thì nghèo đói và định kiến cho phép sử dụng bạo lực ở nam giới là những lý do đẩy phụ nữ tới chỗ kém tiếng nói trong gia đình
Trong khi ngày càng có hộ gia đình ở Việt Nam bị rớt xuống nghèo hoặc nghèo sâu hơn do các chi tiêu y tế, sinh hoạt, thì nam giới vẫn chiếm ưu thế trong kiểm soát đất đai và các tài sản có giá trị khác Tình trạng này có thể khiến phụ nữ bị mất quyền trong trường hợp ly hôn hay hưởng thừa kế Đây được coi là một trong những lý do chủ yếu khiến phụ nữ chọn chịu đựng bị bạo hành, thay vì tìm kiếm sự bảo vệ từ các tổ chức dân sự hoặc pháp luật do thiếu kiến thức xã hội
Bên cạnh đó, cần thay đổi tình trạng chấp nhận cho rằng hành vi bạo
lực trong gia đình giữa chồng và vợ là “bình thường”, việc kỷ luật con cái bằng bạo lực cũng là “bình thường” Việc giảm tỷ lệ sinh cũng giúp kinh tế
gia đình không bị kéo lùi lại, phụ nữ được giảm bớt gánh nặng gia đình để có việc làm riêng, cải thiện địa vị trong gia đình và nâng cao nhận thức xã hội
Những tài liệu đã được công bố, là những tài liệu tham khảo quan trọng
trong việc nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn: “Công tác xã hội nhóm với
phụ nữ bị bạo lực gia đình - Nghiên cứu trường hợp phường Bàng La, quận
Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng”.[31]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp
3.1 Mục đích nghiên cứu can thiệp
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và tìm hiểu thực trạng bạo hành gia đình cũng như công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại phường Bàng La, quận
Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
Trang 2213
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng bạo hành gia đình và công tác xã hội với bạo hành gia đình tại địa bàn nghiên cứu
- Thực hành ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm với phụ nữ
bị bạo lực gia đình tại phường Bàng La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình - nghiên cứu trường hợp phường Bàng La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp
- Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài thông qua các văn bản pháp luật, các tài liệu liên quan đến bạo lực gia đình
- Khảo sát và đánh giá thực trạng bạo hành gia đình và công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình nghiên cứu trường hợp phường Bàng La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
- Tiến hành ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm với phụ nữ bị bạo lực gia đình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu can thiệp
4.1 Đối tượng nghiên cứu can thiệp
Công tác xã hội nhóm với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại phường Bàng
La, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
4.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu can thiệp
- Phạm vi đối tượng: Công tác xã hội với phụ nữ bị bạo lực gia đình,
cụ thể đó là hoạt động tham vấn, hỗ trợ sinh kế, nâng cao nhận thức
- Phạm vi khách thể: Đề tài nghiên cứu trên 2 nhóm khách thể chính đó là:
+ Phụ nữ bị bạo lực gia đình, phụ nữ không bị bạo lực (100 người) + Cán bộ làm việc với phụ nữ (công an, chủ tịch UBND phường Bàng
La, cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ quận, phường Bàng La, cán bộ Ủy ban Mặt
Trang 23tố ảnh hưởng
Đề tài thể hiện được vai trò của công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp nạn nhân bị bạo lực gia đình đặc biệt là phụ nữ, từ đó nâng cao vai trò, trách nhiệm của nhân viên công tác xã hội trong việc phòng chống bạo lực gia đình và bảo vệ giúp đỡ những người yếu thế bị bạo lực
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Hoạt động công tác xã hội nhóm trong trợ giúp người phụ nữ bị bạo hành gia đình, phát hiện các vấn đề trong thực trạng nhằm đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình tại phường Bàng La, quận
Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu
Là phương pháp thu thập thông tin từ công trình nghiên cứu và các tài liệu có sẵn của tác giả trong và ngoài nước Phương pháp này được áp dụng phân tích các tài liệu như: Báo cáo về tình hình văn hóa, kinh tế, xã hội của phường Bàng La, quận Đồ Sơn, mẫu thu thập thông tin có sẵn của quận và phường cùng với các báo cáo chuyên ngành của Công an, Tư pháp, Văn hóa Thông tin, các văn bản quy định
Trang 2415
* Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát, chụp ảnh trong quá trình thu thập thông tin nhằm đánh giá mức độ tin cậy của thông tin đã thu thập bằng việc quan sát hành vi, cử chỉ, thái độ của người được phỏng vấn, cơ sở vật chất nhà văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng phục vụ đời sống văn hóa, tinh thần
* Phương pháp phỏng vấn theo bảng hỏi
Trong đề tài sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu với 100 phụ nữ
có độ tuổi từ 18 đến 55 tuổi, đang có chồng, bị chồng bạo hành
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu được tiến hành với cán bộ quận, phường bao gồm: Cán
bộ lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể như: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND (phụ trách văn xã), Tư pháp, Công an, Du lịch - Văn hóa & thông tin, Hội LHPN, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh…Nghiên cứu cũng thực hiện phỏng vấn sâu những người bị bạo lực và người gây ra bạo lực, các thành viên gia đình (con, bố, mẹ, ông, bà, anh, chị, em) nhằm tìm hiểu sâu những vấn đề mà nội dung nghiên cứu mong muốn thực hiện
* Phương pháp công tác xã hội nhóm
Đề tài ứng dụng phương pháp CTXH nhóm trong làm việc với một nhóm đối tượng là những Phụ nữ bị BLGĐ Đây là một trong 3 phương pháp của công tác xã hội, công tác xã hội nhóm tác động đến toàn bộ thành viên nhóm nhằm hình thành ở các thành viên của nhóm có những năng lực và kĩ năng cần thiết để giải quyết vấn đề bị bạo lực gia đình của mình
7 Cơ cấu luận văn
Cơ cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được
chia thành 3 chương
Chương I: Những vấn đề về công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
Trang 2617
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1.1 Lý luận về phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
* Khái niệm gia đình
Từ điển Xã hội học do nhà xuất bản Pháp Larousse ấn hành năm 1973
định nghĩa về gia đình như sau: “là nhóm người gắn bó với nhau bằng các
mối liên hệ hôn nhân, huyết thống hay là sự nhận con nuôi Có sự tác động qua lại giữa chồng và vợ, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ và con cái ”, giữa anh
chị em và họ hàng xa hơn
Từ góc độ Tâm lý học, xuất phát từ đặc trưng cơ bản của gia đình để xem xét các mối quan hệ của gia đình ở góc độ coi gia đình là một nhóm XH, nhóm tâm lý - tình cảm đặc thù, với các mối quan hệ bên trong, với sự tác động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thỏa mãn những nhu cầu của mỗi người, đặc biệt là mối quan hệ giữa vợ và chồng
Dưới góc độ Xã hội học, gia đình được coi là tế bào của xã hội Không giống bất kỳ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa,…Những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao gồm vợ, chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu, anh chị em với nhau, những mối liên hệ khác như: cô, dì, chú, bác với cháu, cha mẹ chồng với con dâu, cha mẹ vợ với con rể…Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở các khía cạnh: đời sống tình dục, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp xã hội
Dưới góc độ Pháp lý, “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với
nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” (Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2000) Tuy nhiên, trong thực tế đời
Trang 2718
sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm gia đình: gia đình là tập hợp những người có cùng tên trong sổ hộ khẩu; gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà…Từ những góc độ nhìn nhận khác nhau, gia đình được chia thành rất nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại, gia đình truyền thống; gia đình đa thế hệ…
Từ các quan điểm khác nhau về gia đình, tác giả luận văn cho rằng: Gia
đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục
… giữa các thành viên
* Khái niệm bạo lực gia đình
Bạo lực trong những năm gần đây được nhắc đến một cách thường xuyên Bạo lực xuất hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: Bạo lực trong các nhóm tội phạm, bạo lực trong học đường, bạo lực trong gia đình
Bạo lực gia đình đôi khi không dễ dàng nhận thấy (bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục), nó mang tính phức tạp bới nó liên quan tới tâm lý cá nhân của người gây ra bạo lực và việc nghiên cứu cần có sự kết hợp của nhiều ngành khoa học như tâm lý học, luật học, xã hội học
Nhận thức được sự nghiêm trọng của bạo lực, năm 1995, Liên Hợp
Quốc đã đưa ra quan niệm: “Bạo lực là việc cố ý sử dụng vũ lực hay quyền
lực để đe dọa, tược đoạt đối với một người, một nhóm người để gây ra chấn thương về thể xác, tổn hại về mặt tâm lý, tổn thương về tinh thần, thậm chí nặng hơn là dẫn đến tử vong”
Theo quan niệm trên thì bạo lực gia đình là một hành vi có ý thức, tác động tiêu cực tới nạn nhân Bạo lực gây ra những hậu quả nghiêm trọng khi dưới một góc độ nào đó, nó mang tính hủy diệt và tàn phá
“Bạo lực gia đình” hay còn gọi là bạo hành gia đình, hiện tượng xã hội
này đã xảy ra từ rất lâu rồi, nó tồn tại trong mọi xã hội, trong mọi thời đại
Trang 2819
BLGĐ cần được xem xét dưới nhiều góc độ bởi tính chất phức tạp và những hậu quả của nó tới cá nhân, gia đình và cộng đồng
Xét trong mối quan hệ thì “BLGĐ là tình trạng bạo lực xảy ra với các
thành viên trong một gia đình Không đơn thuần coi BLGĐ chỉ xảy ra giữa người chồng và người vợ mà còn là bạo lực giữa cha mẹ và con cái, giữa những đứa con với nhau…” (trích Wikimedia.com)
Xét dưới môi trường gây ra bạo lực, BLGĐ xảy ra với những người than trong gia đình, những người gắn kết bởi huyết thống và hôn nhân
BLGĐ liên quan tới trạng thái cảm xúc của mỗi cá nhân, nhưng dù trong trường hợp nào thì nó cũng là sự lệch chuẩn xã hội
Nhìn nhận về vấn đề BLGĐ trong Đại hội của Hội đồng Liên Hợp Quốc tháng 12 năm 1993, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về BLGĐ như
sau: “Bất kỳ hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả
năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục, tâm lý… Sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống tiêng tư”
Quan điểm của Việt Nam về BLGĐ được thể hiện trong Luật Phòng chống BLGĐ đã được thông qua ngày 17/8/2008 Khoản 2, Điều 1, chương I của Luật này đã nêu rõ: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” Từ những định nghĩa trên, tác
giả của luận văn đưa ra khái niệm Bạo lực gia đình là: BLGĐ là những hành
vi bạo lực, cưỡng bức hoặc đe dọa gây ra những tổn thương về thể chất, tâm
lý, tình dục hay kinh tế xảy ra giữa các thành viên trong một gia đình gây lên những hậu quả nghiêm trọng đối với nạn nhân và môi trường xung quanh
* Khái niệm phụ nữ bị bạo lực gia đình
Trong rất nhiều cuộc nghiên cứu về BLGĐ đều chỉ ra rằng bạo lực xảy
ra chủ yếu với người già, phụ nữ và trẻ em, những người yếu thế trong gia đình
Trang 2920
Hiện nay chúng ta chưa có những nghiên cứu quy mô và chuyên biệt về
“BLGĐ với phụ nữ “ Qua tìm hiểu các tài liệu, tác giả khái quát rằng “Tất cả
những hành vi bạo lực gây ra cho người phụ nữ bởi những thành viên trong gia đình, đều được coi là BLGĐ với phụ nữ”
1.1.2 Các hình thức bạo lực gia đình
Các hành vi BLGĐ với phụ nữ được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, có những hành vi bạo lực dễ dàng nhận thấy nhưng cũng có những bạo lực mà không thể nhận thấy Khái quát các hành vi bạo lực, có 4 nhóm hành
vi bạo lực chủ yếu bao gồm bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế
* Bạo lực thể chất
Là những hành vi ngược đãi, đánh đập hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần, tính mạng của một hay nhiều thành viên khác Bạo lực gia đình xảy ra giữa nhừng người có quan hệ đặc biệt (vợ chồng, con dâu, con rể) hoặc ruột thịt (ông bà, cha mẹ, con cháu, anh chị em, họ hàng) có thể trong cùng một mái nhà hoặc mái nhà khác
* Bạo lực tinh thần
Là những lời nói, thái độ, hành vi ngược đãi hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần của một hay nhiều thành viên khác bạo lực tinh thần cũng không còn là
sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm hại tới nguyện vọng, ý thích, thị hiếu riêng của mỗi người
* Bạo lực tình dục
Là những hành vi cưỡng ép hoặc dùng bạo lực để thỏa mãn tình dục của một người hoặc một nhóm người đối với một người hoặc một nhóm người khác Hành vi này có thể diễn ra một lần hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần và diễn ra trong quan hệ vợ chồng hoặc bạn tình Bạo lực tình dục còn bao hàm
cả việc cưỡng ép vợ sinh nhiều con hoặc đẻ con trai Bạo lực tình dục là một
Trang 3021
dạng đặc biệt trong quan hệ gới tại gia đình Nó vừa có thể diễn ra kín đáo,
âm thầm, vừa có thể diễn ra công khai nhưng nhìn chung cả đạo đức và pháp luật đều khó có thể can thiệp
* Bạo lực kinh tế
Là việc dùng sức mạnh để đe dọa, áp đặt hoặc lừa mị nhằm bóc lột lao động, chiếm giữ và kiểm soát tài chính của một hoặc một nhóm người khác trong gia đình Dạng bạo lực này đưa đến sự phân công lao động và hưởng thụ bất hợp lý giữa các thành viên trong gia đình
Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã quy định các hành vi bạo lực bao gồm:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
Trang 3122
1.2 Lý luận về công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.2.1 Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
Có nhiều cách hiểu, khái niệm khác nhau về CTXH như: CTXH là việc thực hiện các chính sách xã hội; CTXH là hoạt động nhân đạo, từ thiện; CTXH là các thiết chế xã hội; CTXH là các dịch vụ xã hội; CTXH là phong trào xã hội Trong nghiên cứu, chúng tôi đề cập một số khái niệm được sử dụng phổ biến và chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực CTXH
Theo Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW - 1970) thì “Công tác xã hội là hoạt động mang tính chất chuyên môn nhằm giúp đỡ cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục năng lực thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy”
Theo Từ điển bách khoa ngành CTXH (1995) thì: “CTXH là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”
Đại hội Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế ở Canada năm 2004, CTXH khẳng định: “CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi, phát triển của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội), vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH giúp cho con người phát triển hài hòa và đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người dân”
Theo Nguyễn Hồi Loan tại Hội thảo quốc tế của APASWE, 7/2014, Melbourne): “Công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên
cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân và các nhóm người trong việc giải quyết nan đề trong đời sống của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và triến bộ xã hội”
Trang 3223
Qua quan điểm của các tác giả khác nhau, tác giả luận văn cho rằng:
“CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực, và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết
và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội”
Cũng từ khái niệm trên, ta thấy rõ mục đích hướng đến của ngành Công tác xã hội là nâng cao năng lực cho các nhóm đối tượng như cá nhân, gia đình và cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời, cải thiện môi trường xã hội để hỗ trợ họ thực hiện các chức năng, vai trò của mình có hiệu quả
Như vậy, đối tượng tiếp cận của công tác xã hội cá nhân, nhóm hay gia đình và cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống Về phương diện
cá nhân, họ có thể là những đối tượng xã hội như người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nạn nhân mua bán nười, người khuyết tật Trong khuôn khổ đề tài này, đối tượng tác động của CTXH
là phụ nữ bị BLGĐ
* Khái niệm công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
Từ khái niệm phụ nữ bị BLGĐ, ta có thể đưa ra cách hiểu về CTXH đối với phụ nữ bị BLGĐ như sau:
“CTXH đối với phụ nữ bị BLGĐ là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp cho nạn nhân nâng cao năng lực và chức năng xã hội để có thể giải quyết, phòng ngừa những vấn đề gặp phải do BLGĐ gây ra; đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của nạn nhân cũng như phòng ngừa BLGĐ”
* Khái niệm công tác xã hội nhóm
CTXH nhóm là phương pháp CTXH nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm có khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân Ứng dụng các kỹ năng, kiến thức liên
Trang 3324
quan đến tâm lý nhóm phụ nữ bị BLGĐ Nhóm phụ nữ có hoàn cảnh giống
nhau, chia sẻ cảm thông và giúp đỡ nhau những người cùng cảnh ngộ
1.2.2 Nguyên tắc làm việc của nhân viên công tác xã hội đối với phụ
nữ bị bạo lực gia đình
Khi can thiệp các trường hợp phụ nữ bị BLGĐ, hành động của những người trong hệ thống hỗ trợ đang ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng, sự an toàn của con người Do đó, các nguyên tắc can thiệp và hỗ trợ đã trở thành những yêu cầu cần được tôn trọng và tuân thủ Nếu không có các nguyên tắc đạo đức mà chỉ làm việc theo cảm tính, hoạt động can thiệp sẽ không đạt được mục tiêu hỗ trợ mà còn có thể tang nguy cơ cho những người phụ nữ bị bạo lực Một số nguy cơ sau đây có thể xảy ra khi hoạt động can thiệp không tuân thủ theo các nguyên tắc:
- Người gây ra BLGĐ có thể tìm đến những địa chỉ tạm lánh của phụ
nữ bị bạo lực để gây nguy hiểm cho nạn nhân và những người khác tại nơi đó
- Phụ nữ bị bạo lực gia đình sau khi được hỗ trợ có thể phải chịu đựng bạo lực ở mức độ nghiêm trọng, tinh vi, khó phát hiện hơn
- Gây thêm tổn thương về mặt tinh thần cho phụ nữ bị BLGĐ và những người thân, đặc biệt là con cái của họ do tạo thêm sức ép từ dư luận xã hội
- Làm tổn hại đến danh dự, uy tín xã hội của phụ nữ bị BLGĐ, dẫn đến những khó khăn trong cuộc sống sau này của họ
Vì những lý do trên, hoạt động hỗ trợ cho phụ nữ bị BLGĐ cần nghiêm túc tôn trọng và tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản
* An toàn tính mạng của nạn nhân và nhân viên CTXH
Nguyên tắc đảm bảo tính mạng của phụ nữ bị BLGĐ và con của họ là điều qua trọng nhất mà những người hỗ trợ cần xem xét Trong những tình huống đặc biệt, những người làm trong hệ thống hỗ trợ bao gồm cả nhân viên CTXH có thể phải cân nhắc rút lui hoặc tạm thời làm theo yêu cầu của người gây ra bạo lực nếu thấy tính mạng và sự an toàn của nạn nhân bị bạo lực gia đình và nhân viên CTXH bị đe dọa
Trang 3425
* Tôn trọng quyền tự quyết định của nạn nhân
Nguyên tắc này cho rằng cá nhân có quyền quyết định những vấn đề thuộc về cuộc đời họ và người khác không được quyền áp đặt hay quyết định thay họ Mỗi cá nhân đều có quyền tối cao đối với cuộc sống của mình và phụ
nữ bị BLGĐ cũng vậy Hệ thống hỗ trợ cũng như những người khác tại cộng đồng và gia đình cần tôn trọng giải pháp mà nạn nhân bị BLGĐ lựa chọn trên cơ sở đã cung cấp thông tin và phân tích các giải pháp cho họ Nhân viên công tác xã hội chỉ có thể can thiệp khi thấy quyết định này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng hay cuộc sống của nạn nhân bị BLGĐ
và con của họ
Ở nội dung này, nhiệm vụ của hệ thống hỗ trợ là cung cấp đầy đủ các thông tin về các giải pháp khác nhau đề người bị BLGĐ có cơ sở chọn giải pháp phù hợp Trong quá trình cung cấp thông tin, nhân viên công tác xã hội thảo luận và xem xét các phương án, thảo luận kỹ lưỡng và giúp phụ nữ bị bạo lực cân nhắc những thuận lợi, khó khăn Nhân viên CTXH có thể đề xuất những ưu tiên chứng minh những quyền lựa chọn ưu tiên vẫn thuộc về thân chủ Để đảm bảo tính toàn vẹn trong nguyên tắc này, hệ thống hỗ trợ cần đảm bảo việc nạn nhân bị BLGĐ đưa ra quyết định trên cơ sở tự nguyện chứ không phải bị đe dọa hay áp đặt bởi hệ thống hỗ trợ hay bất cứ người nào khác
* Bảo mật thông tin
Bảo mật thông tin cá nhân của đối tượng là một nguyên tắc vô cùng quan trọng nhằm mục đích bảo vệ sự an toàn cho thân chủ, tôn trọng quyền riêng tư của con người và là cơ sở cho việc thiết lập mối quan hệ tin cậy giữa nhân viên CTXH và nạn nhân
- Những thông tin cần bảo mật gồm:
+ Các thông tin cá nhân của phụ nữ bị BLGĐ: Tên, tuổi, địa chỉ thật, giọng nói, ảnh, phim
+ Hoàn cảnh, tình trạng của nạn nhân, các mối quan hệ xã hội
Trang 3526
+ Thông tin về việc nận nhân đi tìm tư vấn, trợ giúp
+ Địa chỉ nạn nhân đang tạm trú
- Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngoại lệ, những thông tin của nạn nhân vẫn có thể được chia sẻ, cụ thể như sau:
+ Được sự chấp thuận một cách tự nguyện của phụ nữ bị BLGĐ hoặc người giám hộ trên cơ sở đã được phân tích đầy đủ các yếu tố nguy cơ có liên quan khi thông tin bị tiết lộ Nội dung tiết lộ trong phạm vi chấp thuận của nạn nhân bị BLGĐ hoặc người giám hộ
+ Tiết lộ trong trường hợp khẩn cấp khi thông tin cá nhân đó có liên quan trực tiếp tới tính mạng và sự an toàn của nạn nhân bị bạo lực hoặc của một cá nhân khác Thông tin cũng có thể được tiết lộ theo yêu cầu của cơ quan pháp luật với sự chấp thuận của nạn nhân bị bạo lực
+ Trường hợp những người trong hệ thống hỗ trợ trao đổi về các tình huống, trường hợp bị bạo lực để phối hợp hỗ trợ hay rút kinh nghiệm thì không bị gọi là làm lộ bí mật thông tin vì mục đích trao đổi thông tin này chỉ nhằm giúp nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ và đem lại lợi ích cho người bị bạo lực Các thông tin trao đổi này sẽ tập trung vào quá trình hỗ trợ mà không thông tin chi tiết các thông tin cá nhân của đối tượng
1.2.3 Nội dung các hoạt động công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.2.3.1 Hoạt động tư vấn, tham vấn
Những phụ nữ chịu bạo lực gia đình họ luôn gặp phải những vấn đề về tâm lý, tình cảm, sức khỏe Họ bị tổn thương về thể chất, tâm lý, cảm giác chung đó là sự chán nản, tự ti, không tin vào hạnh phúc gia đình Do vậy họ rất cần được sẻ chia, giúp đỡ NVXH đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn, tham vấn, đó là vai trò không thể thiếu khi làm việc với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình Tham vấn là hoạt động thường xuyên, trực tiếp của nhân viên CTXH trong quá trình làm việc với cộng đồng nói chung và với phụ nữ
bị BLGĐ nói riêng
Trang 3627
- Tham vấn tâm lý giúp cho người phụ nữ được ổn định tâm lý, vượt qua được các trạng thái tiêu cực như mặc cảm, tự ti, chán nản, xấu hổ, ngại giao tiếp giúp họ có thêm sức mạnh vượt qua được vấn đề của bản thân, đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống Mỗi người hoàn cảnh sống khác nhau, đặc điểm tâm lý cũng khác nhau và họ phải chịu những hình thức bạo lực khác nhau
- Tham vấn pháp lý về Luật hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, luật Phòng, chống bạo lực gia đình, qua đó phụ nữ có những quyền và nghĩa
vụ như thế nào, hiểu được các hành vi bạo lực có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe gia đìnhvà tính mạng con người Từ đó sẽ giúp nạn nhân tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tư vấn pháp lý nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng phụ nữ bị bạo hành thông qua các văn phòng trợ giúp pháp lý, các văn phòng luật sư và cơ quan tư pháp Tham vấn cho họ đến các trung tâm tư vấn khi bị bạo hành, hoặc báo với cơ quan công an, chính quyền địa phương để được can thiệp kịp thời
- Tham vấn sức khỏe thể chất giúp cho họ cách chăm sóc sức khỏe của bản thân, đặc biệt chăm sóc sức khỏe sinh sản Nhân viên xã hội sẽ cung cấp dịch
vụ chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần thông qua các đối tác cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp Họ sẽ kết nối những cơ sở cung cấp dịch vụ y tế miễn phí để các nạn nhân bị bạo lực được khám và điều trị bệnh, thậm chí tìm kiếm các trung tâm giám định về tỷ lệ thương tật cho họ
Khi tiếp xúc với những phụ nữ bị bạo lực gia đình, NVCTXH nhận thấy nạn nhân đều có tâm trạng buồn, chán nản, tự ti, ngại giao tiếp, không tìm được niềm vui trong cuộc sống, sống vì con cái không sống cho bản thân Nhận biết được điều này trong những cuộc gặp gỡ và tiếp xúc sau NVCTXH nên tìm cách động viên, tâm sự, phân tích cho họ hiểu được họ vẫn còn có con cái, gia đình, bạn bè, hàng xóm luôn quan tâm và cảm thông với họ Đồng thời giúp những phụ nữ bị BLGĐ nhận ra họ có khả năng gì và với khả năng
đó có thể phát triển như thế nào? Muốn xây dựng được một cuộc sống gia đình hạnh phúc thì trước hết từ mỗi bản thân con người cũng phái có thay đổi
Trang 3728
cách sống, cách điều hòa mâu thuẫn trong gia đình bởi không phải người đàn ông nào trong con người họ cũng là phần xấu, phải biết cách khơi dậy, phát huy cái tốt trong con người họ Bởi vậy cần phải tư vấn tuyên truyền sâu rộng cho người chồng Tuy nhiên, người phụ nữ vẫn là người đóng vai trò quyết định tất cả, NVCTXH chỉ đóng vai trò tư vấn, tham vấn giúp họ nhận ra vấn
đề và có hướng giải quyết đúng đắn
Hình thức tham vấn khá phong phú đa dạng Tham vấn trực tiếp với đối tượng, tham vấn gián tiếp qua việc phối hợp với chính quyền, đoàn thể địa phương tổ chức tham vấn lưu động, tổ chức sinh hoạt chuyên đề, truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng
1.2.3.2 Hoạt động hỗ trợ sinh kế
Song song với các hoạt động tư vấn tham vấn, hỗ trợ sinh kế cũng là một hoạt động quan trọng góp phần trang bị các kỹ năng tìm hiểu thông tin việc làm, tiếp cận với nhà tuyển dụng, phối hợp với các cơ quan, đơn vị giới thiệu việc làm, tổ chức nhân đạo từ thiện để tạo việc làm cho nạn nhân Tuy nhiên, nhân viên CTXH sẽ tiến hành lập kế hoạch tái hòa nhập, hướng dẫn kỹ năng sống và tích cực phối hợp hỗ trợ các nạn nhân tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí để sớm tái hòa nhập với cuộc sống
Hoạt động hỗ trợ sinh kế nhằm động viên khích lệ họ vượt qua mặc cảm, cam chịu, thêm tự tin vào khả năng của mình, tham gia lao động, sản xuất phù hợp với sức khỏe, phát triển bền vững, đồng thời nhằm tìm kiếm các nguồn lực, xin kinh phí học nghề tại các đối tác đào tạo nghề, hỗ trợ cá nhân
và tham vấn nghề nghiệp định kỳ trong thời gian học nghề, xây dựng kế hoạch nghề nghiệp và chuẩn bị hành trang, sẵn sàng làm việc ổn định cuộc sống cho đối tượng phụ nữ bị bạo lực
1.2.3.3.Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức
Giáo dục bình đẳng giới phải được thực hiện ngay từ khi còn là một đứatrẻ sống trong gia đình đến khi học tham gia sinh hoạt trong môi trường xã hội để giáo dục nhận thức nhằm nâng cao nhận thức của cả 2 giới trong mối quan hệ với các thành viên trong gia đình và ngoài xã hội Đặc biệt là đối với
Trang 3829
người phụ nữ phải giáo dục giúp họ nhận thức được muốn không có bất bình đẳng cũng như bạo lực gia đình thì trước tiên họ phải hiểu được bình đẳng giới và bạo hành gia đình là gì?
Nâng cao nhận thức cho phụ nữ trong việc phòng, chống bạo lực gia đình, trang bị cho chị em kỹ năng xây dựng gia đình hạnh phúc Kết hợp giữa cán bộ hội phụ nữ, cán bộ y tế và một số cán bộ chuyên trách ở địa phương tổ chức các buổi nói chuyện, các cuộc thi về phòng, chống bạo lực gia đình
- Truyền thông trực tiếp: Tuyên truyền giáo dục thông qua sinh hoạt ở
đơn vị cấp thôn, xã Tổ chức các buổi nói chuyện, tập huấn, hội thi, hội diễn có chủ đề về bạo lực gia đình Tổ chức tập huấn, nói chuyện, hội thi, hội diễn có chủ đề về bạo lực gia đình Tổ chức tập huấn cho những người làm công tác hòa giải tại địa phương, những người làm công tác liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình Đồng thời cũng tổ chức các hội thi, diễn về phòng chống bạo lực gia đình, đây là hoạt động có ý nghĩa góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người
- Truyền thông gián tiếp: Phát tờ rơi, tranh ảnh, băng rôn, khẩu hiệu,
phát thanh thông qua các phương tiện thông tin đại chúng giúp cho người dân có thể nhận thức được bạo lực gia đình là một hành động sai trái và vi phạm pháp luật, bị xã hội đang lên án Hình thức đài, báo sẽ phối hợp thực hiện phát, đăng tải dưới hình thức chương trình chuyên trang, chuyên mục Những tranh ảnh, băng rôn, khẩu hiệu nhằm tuyên truyền về việc bình đẳng trong gia đình, xây dựng gia đình hòa thuận, con cái được chăm sóc đầu đủ, nói không với bạo lực gia đình
Đối tượng để tuyên truyền, giáo dục ở đây không chỉ có phụ nữ trong
độ tuổi kết hôn mà bao gồm những thanh niên, thiếu niên và những người chồng, giúp họ thay đổi nhận thức từ đó dẫn đến thay đổi hành vi của bản thân Phương pháp truyền thông dưới nhiều hình thức khác nhau, người dân
có thể dễ tiếp cận và nắm bắt thông tin, đặc biệt các kiến thức liên quan đến BLGĐ được triển khai, phụ nữ có cơ hội nâng cao hiểu biết
Trang 3930
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.3.1 Yếu tố trình độ chuyên môn của nhân viên công tác xã hội
Công tác xã hội là một ngành khoa học, một nghề, một hoạt động xã hội đặc thù giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng nhằm ngăn chặn, khôi phục các chức năng bị suy thoái và giúp họ tự vươn lên giải quyết vấn đề đã
và đang đặt ra của mình từ đó giúp họ hòa nhập với cộng đồng xã hội
Nhân viên công tác xã hội là những người có kiến thức, kỹ năng, trình
độ Họ là cầu nối giữa đối tượng với các nguồn lực hỗ trợ của xã hội và là người có trách nhiệm kết nối với hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể có liên hệ với đối tượng để có được sự thống nhất nhằm đạt hiệu quả tối đa nguồn lực hỗ trợ cho đối tượng Chính vì thế nhân viên công tác xã hội có vai trò rất to lớn trong hoạt động hướng nghiệp, giáo dục, sinh kế, kết nối nguồn lực cho đối tượng Nhân viên công tác xã hội còn cần có các kỹ năng ghi chép, hệ thống hóa, tư liệu hóa
Khi làm việc với phụ nữ bị bạo lực gia đình, nhân viên CTXH phải hiểu được hoàn cảnh, tâm sinh lý của đối tượng Phụ nữ bị bạo lực gia đình thường có đặc điểm tâm sinh lý mặc cảm, tự ti, chán nản, rất khó chia sẻ đời sống riêng tư Nên khi làm việc với nhóm đối tượng này nhân viên CTXH phải như những người bạn, những người cùng cảnh ngộ, đặt mình là người bị bạo lực, cùng chia sẻ, động viên, giúp đỡ, thấu hiểu, đồng cảm cho hỗ trợ đối tượng kịp thời Nhân viên CTXH phải chính là nguồn động viên tinh thần lớn đối với nhóm phụ nữ này để giúp họ can đảm, tự tin để họ giảm bớt phần nào những căng thẳng, khủng hoảng từ bạo lực gia đình màn lại khiến họ tự tin hơn để tái hòa nhập với cuộc sống Đặc biệt khi thân chủ giúp đỡ thân chủ của mình, NVXH phải tìm hiểu rõ hơn về hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, phải đi sâu tìm hiểu những nguyên nhân tác động trực tiếp đến đối tượng gây lên những hành vi sai trái Ở Hội Liên hiệp Phụ nữ quận Đồ Sơn thành phố
Trang 4031
Hải Phòng đã có rất nhiều những nhân viên công tác xã hội nhiệt huyết, tận tâm, trách nhiệm và họ đã giúp đỡ hỗ trợ những mảnh đời bị bạo lực đạt hiệu quả bền vững được Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hải Phòng và các cấp ủy đảng ghi nhận trong suốt nhiều năm qua
Nhân viên CTXH phải là người có trình độ chuyên môn trong đó có kỹ năng tham vấn, nghĩa là phải được đào tạo đúng chuyên ngành CTXH, có kỹ năng, kiến thức về CTXH Khi làm việc với nhóm phụ nữ bị BLGĐ, nhân viên CTXH phải nắm được Luật hôn nhân và gia đình, luật Bình đẳng giới, luật Phòng, chống bạo lực gia đình, qua đó biết được phụ nữ có những quyền
và nghĩa vụ như thế nào, hiểu được các hành vi bạo lực có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe và tính mạng con người dựa vào những quy định đó để bảo
vệ quyền lợi, biện hộ cho đối tượng trước pháp luật
Khi làm việc, trò chuyện với phụ nữ bị BLGĐ phải luôn giữ thái độ hòa nhã, tin tưởng, không có thái độ lên án hay miệt thị, luôn luôn giữ thái độ nhiệt tình, thân thiện, cảm thông chia sẻ, không áp đặt lên thân chủ của mình Phải để cho thân chủ của mình bộc lộ suy nghĩ, nói lên tiếng nói của mình , được đưa ra những quyết định mang tính định hướng tương lai cho bản thân như nghề nghiệp, giáo dục, Nhân viên xã hội phải luôn giữ thái độ tôn trọng với thân chủ Hay nói ngắn gọn Nhân viên công tác xã hội phải có đạo đức nghề
Trình độ chuyên môn luôn ảnh hưởng hoạt động CTXH Khi có trình
độ chuyên môn cao, nhân viên CTXH có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình như kết nối nguồn lực, tham vấn, tư vấn cho đối tượng, từ đó có thể trợ giúp cho đối tượng của mình một cách hiệu quả Nếu trình độ chuyên môn chưa cao, chưa sâu thì có thể khiến đối tượng chưa tin tưởng và mong muốn có được sự trợ giúp của mình Từ đó, hạn chế hiệu quả trong hoạt động CTXH với phụ nữ bị BLGĐ cũng như công tác PCBLGĐ