giáo trình xử lý, thiết kế ảnh trên photoshop - cơ bản
Trang 1Chương 1.
Cơ sở xử lý ảnh.
Mở đầu.
Xử lý ảnh số có nhiều ứng dụng thực tế Một trong những ứng dụng sớm nhất là
xử lý ảnh từ nhiệm vụ Ranger 7 tại phòng thí nghiệm Jet Propulsion vào những năm
đầu của thập kỷ 60 Hệ thống chụp hình gắn trên tàu vũ trụ có một số hạn chế về kíchthước và trọng lượng, do đó ảnh nhận được bị giảm chất lượng như bị mờ, méo hình học
và nhiễu nền Các ảnh đó được xử lý thành công nhờ máy tính số Hình ảnh của mặttrăng và sao hoả mà chúng ta thấy trong tất cả các tạp chí đều được xử lý bằng nhữngmáy tính số
ứng dụng của xử lý ảnh có khả năng tác động mạnh mẽ nhất đến cuộc sống củachúng ta là trong lĩnh vực y tế Soi chụp bằng máy tính dựa trên cơ sở định lý cắt lớp(projection_slice) sẽ thảo luận trong phần 4.3, được dùng thường xuyên trong trong xétnghiệm lâm sàng, ví dụ như phát hiện và nhận dạng u não Những ứng dụng y học kháccủa xử lý ảnh số gồm cải thiện ảnh X quang và nhận dạng đường biên mạch máu từnhững ảnh chụp mạch bằng tia X (angiograms)
ứng dụng khác, gần gũi hơn với cuộc sống gia đình là cải tiến ảnh tivi Hình
ảnh mà chúng ta thấy trên màn hình tivi có các khuyết tật là độ phân giải hạn chế, bịrung rinh, có ảnh ma ,nhiễu nền và trượt hình do đan dòng ở những mức độ khác nhau
Tivi số không còn xa với th ực tế và xử lý ảnh số sẽ có tác động quyết định đếnviệc cải thiện chất lượng hình ảnh của những hệ truyền hình hiện tại và làm phát triểnnhững hệ truyền hình mới như truyền hình có độ phân giải cao (HDTV)
Một vấn đề chính của truyền thông video như hội nghị video, điện thoại video làcần có có dải tần rộng Việc mã hoá thẳng chương trình video chất lượng quảng bá yêucầu đến 100 triệu bit/sec Nếu hy sinh một phần chất lượng và dùng các sơ đồ mã hoá
ảnh số thì có thể đưa ra thị trường những hệ truyền hìn h chất lượng đủ rõ với nhịp bitchỉ dưới 100 nghìn bit/sec
Trang 2Người máy càng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp và gia
đình Chúng sẽ thực hiện những công việc rất nhàm chán hoặc nguy hiểm , và nhữngcông việc mà tốc độ và độ chính xác vượt quá khả năng của con người Khi người máytrở nên tinh vi hơn , thị giác máy tính sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng Người ta sẽ
đòi hỏi người máy không những phát hiện và nhận dạng các bộ phận công nghiệp, màcòn “hiểu” được những gì chúng “thấy” và đưa ra những hành động phù hợp Xử lý ảnh
số sẽ có tác động lớn đến thị giác máy tính
Ngoài những lĩnh vực ứng dụng mọi người đã biết, xử lý ảnh số còn có một sốứng dụng khác ít được nói đến hơn Người thi hành luật pháp thường chụp hình trongnhững môi trường không thuận lợi ,và ảnh nhận được thường bị xuống cấp Ví dụ, bức
ảnh chụp vội biển đăng kí xe ô tô đang chạy thường bị nhoè, việc làm giảm độ nhoè làcần thiết trong việc nhận dạng ô tô Một ứng dụng ít biết khác là nghiên cứu sự di cưcủa cá voi Khi người ta nghiên cứu hành vi di cư của sư tử, hổ và các động vật khác, họbắt các động vật và cột thẻ vào vị trí thuận lợi ở đuôi hoặc tai Khi bắt được động vật ởnơi khác, thẻ cho biết thông tin về sự di cư của động vật Tuy nhiên, cá voi rất khó bắt
và cột thẻ May thay, cá voi lại thích để lộ đuôi, mà đuôi của chúng có những đặc điểm
có thể giúp để nhận biết chúng Để nhận dạng một con cá voi, bức ảnh chụp vội đuôicủa nó từ trên tàu được so sánh với hàng ngàn ảnh đuôi cá voi khác nhau trong một bộsưu tập Quan sát liên tiếp và nhận dạng một cá thể cá voi nào đó ta có thể theo dõi sự
di cư của nó Tuy nhiên, việc so sánh ảnh cực kỳ nhàm chán và phải dùng xử lý ảnh số
để tự động hoá công việc
Những ứng dụng xử lý ảnh số là vô hạn Ngoài những ứng dụ ng đã thảo luận ởtrên, còn bao gồm cả các lĩnh vực khác như điện tử gia đình, thiên văn học, sinh vậthọc, vật lý, nông nghiệp, địa lý, nhân chủng học, và nhiều lĩnh vực khác Nhìn và nghe
là hai phương tiện quan trọng nhất để con người nhận thức thế giới bên ngoài, do vậykhông có gì đáng ngạc nhiên khi mà xử lý ảnh số có nhiều khả năng ứng dụng, khôngchỉ trong khoa học và kĩ thuật mà cả trong mọi hoạt động khác của con người
Xử lý ảnh số có thể chia làm bốn lĩnh vực, tuỳ thuộc vào loại công việc Đó làcải thiện ảnh, phục hồi ảnh, mã hoá ảnh, và lý giải nội dung (understanding) ảnh Trongcải thiện ảnh, ảnh được xử lý để người xem, như tron g truyền hình, hoặc là được xử lýtrước để trợ giúp hoạt động của máy móc, như trong nhận dạng đối tượng bởi m áy móc.Trong phục hồi ảnh, ảnh bị xuống cấp trong một số trường hợp, chẳng hạn như bị nhoè,
Trang 3liên quan mật thiết đến cải thiện ảnh Khi ảnh bị xuống cấp, việc cải thiện ản h thường
đem lại kết quả làm giảm sự xuống cấp.Tuy nhiên có một số sự khác nhau quan trọnggiữa phục hồi ảnh và cải thiện ảnh Trong phục hồi ảnh, một ảnh lý tưởng bị xuống cấp
và mục đích phục hồi là tạo ra ảnh sau xử lý giống như ảnh ban đầu Trong việc cảithiện ảnh, mục đích cải thiện là làm cho ảnh sau xử lý trông đẹp hơn ảnh chưa được xử
lý Để minh hoạ sự khác nhau này, hãy lưu ý rằng một ảnh gốc chưa xuống cấp khôngthể phục chế hơn nữa, nhưng vẫn có thể được cải thiện bằng cách tăng độ nét Trong m ãhoá ảnh, mục đích là biểu diễn ảnh với một số ít bít nhất trong điều kiện chất lượng ảnh
và độ rõ chấp nhận được cho từng ứng dụng cụ thể, chẳng hạn như hội nghị video Mãhoá ảnh liên quan đến cải thiện ảnh và phục hồi ảnh Nếu có thể cải tiến dáng vẻ b ênngoài (visual appearance) của ảnh được phục hồi, hoặc làm giảm sự xuống cấp do cácnguồn nhiễu, - như nhiễu lượng tử mà thuật toán mã hoá ảnh gây ra, thì ta có thể làmgiảm số lượng bít cần thiết để đại diện ảnh ở một mức chất lượng và độ rõ chấp nhận
được trong lý giải ảnh(understanding), đầu vào là ảnh, mục đích là diễn đạt nội dung
ảnh bằng một hệ ký hiệu nào đó Những ứng dụng của lý giải ảnh bao gồm thị giác máytính, kỹ thuật rôbốt và nhận dạng mục tiêu Lý giải ảnh khác với ba lĩnh vực khác của
xử lý ảnh ở một khía cạnh chính Trong cải tiến, phục hồi và mã hoá ảnh cả đầu vào và
đầu ra đều là ảnh ,và khâu xử lý tín hiệu là phần then chốt trong các hệ thống đã thànhcông trên các lĩnh vực đó Trong lý giải ảnh , đầu vào là ảnh, nhưng đầu ra thường làmột biểu diễn bằng kí hiệu nội dung của ảnh đầu vào Sự phát triển thành công của các
hệ thống trong lĩnh vực này cần đến cả xử lý tín hiệu và những khái niệm trí tuệ nhântạo Trong hệ lý giải ảnh điển hình, xử lý tín hiệu được dùng cho công việc xử lý mứcthấp như làm giảm sự xuống cấp và trích ra các đường bờ (extraction of edges) hoặc các
đặc tính ảnh khác, còn trí tuệ nhân tạo được dùng cho những công việc xử lý mức caonhư thao tác kí hiệu và quản lý cơ sở tri thức Chúng ta chỉ nghiên cứu một số k ĩ thuật
xử lý ở mức thấp dùng trong lý giải ảnh, coi như là một bộ phận của cải thiện, phục hồi,
và mã hoá ảnh Nghiên cứu kỹ hơn việc lý giải ảnh sẽ vượt quá phạm vi của cuốn sáchnày
Trong chương này, chúng tôi trình bầy cơ sở xử lý ảnh Những cơ sở đó sẽ đặtnền móng cho phần thảo luận về cải thiện, phục hồi, mã hoá ảnh trong các chương sau.Trong phần 1, thảo luận về cơ sở xử lý ảnh Trong phần 2 và 3, thảo luận những phầncơbản của hệ thị giác ở con người Trong phần 4, thảo luận những cơ sở của mô i trường
xử lý ảnh điển hình
Trang 41 ánh sáng.
1.1 ánh sáng là sóng điện từ.
Mọi vật mà chúng ta quan sát được nhờ ánh sáng Có hai loại nguồn sáng Loạithứ nhất gọi là nguồn sáng sơ cấp, tự nó phát ánh sáng Ví dụ nguồn sáng sơ cấp gồmmặt trời, đèn điện, đèn cầy (cây nến) Loại khác gọi là nguồn sáng thứ cấp, chỉ phản xạhoặc khuếch tán ánh sáng được phát bởi nguồn khác, ví dụ nguồn sáng thứ cấp gồmmặt trăng, những đám mây và những quả táo
ánh sáng là một phần của dải phổ liên tục bức xạ sóng điện từ Sóng điện từmang năng lượng và sự phân bố năng lượng của sóng điện từ đi qua một mặt phẳngkhông gian có thể mô tả bằng c(x,y,t,), ở đó x và y là hai biến không gian, t là biếnthời gian và là bước sóng Hàm c(x,y,t, ) được gọi là thông lượng bức xạ trên (diệntích x bước sóng) hoặc lượng bức xạ trên bước sóng Bước sóng liên quan với tần số fbởi:
= c/f (1.1)
c là vận tốc của sóng điện từ , khoảng 3.108m/s trong chân không và không khí Mặc dùc(x, y, t, ) có thể biểu diễn tả theo hàm tần số, nhưng sử dụng bước sóng vẫn thuậntiện hơn Đơn vị liên hệ với c(x,y,t, ) là năng lượng trên (diện tích x thời gian x bướcsóng) và là Jun/(m3.s) trong hệ MKS (mét, kg, sec) Nếu chúng ta tích phân c(x,y,t, )theo biến , chúng ta nhận được lượng bức xạ có đơn vị là J/(m2.s) hoặc W/m2 Bức xạmặt trời xuyên qua mặt phẳng thẳng góc với tia bức xạ là 1350 W/m 2 khi không có sựhấp thụ của không khí Nếu chúng ta tích phân c(x,y,t, ) với cả 4 biến x, y, t và ,chúng ta có được tổng năng lượng (bằng Jun) của sóng điện từ xuyên qua mặt phẳngkhông gian
ánh sáng khác với các sóng điện từ khác, - như sóng vô tuyến điện, là mắtngười nhận biết được nó Giả sử ta xé t một điểm cố định (x’,y’) trong không gian vàmột thời điểm cố định (t’), thì hàm c(x,y,t, ) có thể xem như là chỉ là hàm của biến .Chúng ta có thể diễn tả bởi c(x’,y’,t’, ) hoặc c() cho thuận tiện Ví dụ của c() từbức xạ mặt trời được biểu diễn trong hình 1.1 Mắt nhậy cảm với những sóng điện từtrong một dải cực kỳ hẹp của , đó là khoảng từ 350nm đến 750nm (1nm = 10-9 m).Hình 1.2 biểu diễn các loại sóng điện từ theo hàm của bước sóng Bức xạ điện từ với
lớn, từ vài cm đến hàng nghìn mét, có thể tạo ra bởi mạch điện Bức xạ như vậy được
Trang 5sử dụng cho truyền thông vô tuyến và radar Bức xạ với ngay phía trên dải nhìn thấy
được gọi là hồng ngoại, với ngay dưới vùng nhìn thấy được, gọi là tử ngoại Cả bứcxạ hồng ngoại và tử ngoại đều được phát bởi những nguồn sáng điển hình chẳ ng hạnnhư mặt trời Bức xạ với ở phía xa dưới vùng nhìn thấy được gồm tia X, tia , và tia
vũ trụ; với tia vũ trụ, bước sóng nhỏ hơn 10-5 nm hoặc 10-14ms
Hình 1.1: Thành phần phổ của bức xạ mặt trời, ở trên tầng khí quyển của trái đất
(đường liền nét) và trên mặt đất tại Washington vào buổi trưa (đường nét đứt)
1.2 Độ sáng, màu sắc và độ bão hoà
Sự nhận biết ánh sáng của loài người với c( ) được mô tả chung bằng thuậtngữ độ sáng (brightness), màu sắc và độ bão hoà Độ sáng (brightness) liên quan đếnmức độ sáng của ánh sáng Màu sắc liên quan đến màu, chẳng hạn như màu đỏ, màucam hoặc màu mận chín(tía) Độ bão hoà đôi khi còn gọi là sắc độ, liên quan đến mức
độ tươi hoặc xẫm của màu Độ sáng, màu sắc và độ bão hoà là những thuật ngữ về nhậnthức (perceptual terms), phụ thuộc vào một số nhân tố bao gồm dạng chi tiết của c( ),lịch sử quá khứ của những kích thích thị giác mà người quan sát đã trải qua, và môitrường cụ thể nơi ánh sáng được quan sát Tuy nhiên có thể xét đến chúng một cách gần
đúng như những đặc thù của c()
Để liên hệ cảm nhận độ sáng của loài người với c() cần định nghĩa ra một số
đại lượng trắc quang (photometric quantity) Những đại lượng liên hệ với c( ), chẳng
400 500 600 700
Bước sóng [nm]
Trang 6hạn như thông lượng bức xạ, lượng bức xạ và W/m2 được gọi là đơn vị đo bức xạ(radiometric unit) Các đại lượng vật lý đó có thể định nghĩa độc lập với người quan sát
cụ thể Sự đóng góp của c( 1) và c( 2) để tạo ra sự cảm nhận độ sáng của con ngườinói chung là hoàn toàn khác nhau khi 1 2 mặc dầu c(1) có thể giống c(2).Chẳng hạn người quan sát không thể nhìn thấy một sóng điện từ với c( ) bằng khôngtrong vùng khả kiến của , mặc dầu bên ngoài dải khả kiến c() có thể rất lớn Ngaycả trong vùng khả kiến, độ sáng cũng phụ thuộc Vì lý do này, một tích phân đơn củac() trên biến không phản ảnh đúng sự cảm nhận độ sáng
Hình 1.2: Các loại sóng điện từ theo hàm của bước sóng
Các đại lượng có xét đến đặc tính thị giác của con người, - do đó phản ảnh độsáng tốt hơn tích phân của c(), được gọi là những đại lượng trắc quang (photometric)
Đại lượng trắc quang cơ bản là độ chói (luminance), được công nhận năm 1948bởi CIE( Uỷ ban quốc tế về tiêu chuẩn ánh sáng và màu sắc) Xét ánh sáng với c()=0tại mọi nơi ngoại trừ =r, ở đây r là một bước sóng tham chiếu cố định ánh sángchỉ gồm một thành phần phổ (một bước sóng) gọi là ánh sáng đơn sắc Giả sử chúng tayêu cầu người quan sát so sánh độ chói của ánh sáng đơn sắc c( r)với một ánh sáng
rađa
Vi ba
104
102 1
Bước sóngtính bằng nm(10-9 m)Bước sóng
tính bằng m
Trang 7đơn sắc khác c’(t), ở đây t là bước sóng thử Giả sử người quan sát nói rằng c( r)phù hợp với c’(t) về độ sáng Điểm mà độ sáng c(r) và c’(t) bằng nhau có thể nhận
được với thí nghiệm cho chiếu hai vết sáng: c( r) cố định và c’(t) thay đổi, rồi yêucầu người quan sát tăng hoặc giảm biên độ của c’( t) cho đến khi chúng phù hợp về độsáng Tỷ số c( ) / c’(t), ở đó c(r) và c’(t) phù hợp về độ sáng, được gọi là hiệusuất sáng tương đối của ánh sáng đơn sắc t so với r , và gần như độc lập với biên độcủa c(r) trong điều kiện quan sát bình thường Bước sóng sử dụng là 550 nm (ánhsáng vàng- xanh lá cây), là bước sóng ở đó một người quan sát điển hình có độ nhậysáng cực đại Với sự lựa chọn r này, hiệu suất sáng tương đối c(r) / c’(t) luôn béhơn hoặc bằng 1, vì c(r) không lớn hơn c’(t); nghĩa là ở r cần ít năng lượng hơn đểtạo ra độ sáng như nhau Hiệu suất sáng tương đối là hàm của và được gọi là hàmhiệu suất sáng tương đối, kí hiệu bằng v( ) Cả hai ánh sáng đơn sắc c1( 1)và c2(2)biểu hiện có độ sáng như nhau đối với người q uan sát khi :
c1( 1)v(1)= c2( 2)v(2) (1.2)Hàm hiệu suất sáng tương đối v()phụ thuộc vào người quan sát Ngay cả vớimột người quan sát, v() cũng hơi khác nhau khi đo ở những thời điểm khác nhau Đểloại bỏ sự biến thiên, năm 1929 CIE định nghĩa ra người quan sát chuẩn, dựa trên kếtquả thực nghiệm đạt được từ một số người quan sát khác nhau Kết quả hàm v( )đượcgọi là hàm hiệu suất sáng tương đối CIE và được minh hoạ trong hình 1.3 Hàm CIE đạtcực đại bằng 1 tại =550 nm
Đơn vị cơ bản của độ chói là lumen (lm) Độ chói trên diện tích 1 của sáng vớic() được định nghĩa bởi:
v d c
có đơn vị là m
()không có thứ nguyên
Trang 8ánh sáng đơn sắc với độ chói 1W/m2 tạo ra 685 lumen/m2 khi v()=1 Điềunày xảy ra khi =555 nm*
Hình 1.3 : Hàm hiệu suất sáng tương đối CIE.
Với những bước sóng khác, v() < 1, độ chói của ánh sáng đơn sắc phải lớnhơn 1W/m2 để tạo ra độ chói trên diện tích 685 lumens/m2 Có nhiều đơn vị đo cường
độ ánh sáng chẳng hạn như footcandle (lumens/ft2) và phot (lumens/cm2)
Ghi nhớ rằng độ chói và độ chói trên diện tích không đo được sự cảm nhận của
người về độ sáng Ví dụ ánh sáng với 2 lumen/m2 không sáng gấp đôi ánh sáng với 1lumen/m2 Có thể tạo ra môi trường để ánh sáng có giá trị độ chói trên diện tích nhỏ
trông lại sáng hơn một ánh sáng khác mà độ chói trên diện tích lớn hơn Tuy nhiên độ chói trên diện tích liên quan trực tiếp đến sự cảm nhận đ ộ chói của con người nhiều hơn
tích phân của c() Hơn nữa, trong những điều kiện quan sát điển hình (ánh sáng
* Những thảo luận của chúng ta trong phần này có tín h tóm lược, với sự chấp nhận một
số giả định hợp lý Ví dụ (1.2) dựa trên luật bắc cầu , được phát biểu là nếu A và B sáng nhưnhau và B và C sáng như nhau thì A và C cũng sáng bằng nhau Luật bắc cầu này được chứngminh gần đúng bằng thực nghiệm
100 90 80 70 60 50 40 30 20 10
Trang 9không quá yếu mà cũng không quá chói chang) thì ánh sáng với độ chói trên diện tích
lớn hơn sẽ cho cảm giác sáng hơn là ánh sáng màđộ chói trên diện tích nhỏ hơn.
Màu sắc (hue) được định nghĩa là thuộc tính của màu cho phép chúng ta phânbiệt màu đỏ với màu xanh lam Trong một vài trường hợp , màu sắc có thể liên quan tớicác đặc tính đơn giản của c() ánh sáng với c()là hằng số trong dải khả kiến (nhìnthấy được) có màu trắng hoặc không màu Trong những điều kiện quan sát thường, ánhsáng đơn sắc xuất hiện màu và màu của nó phụ thuộc Khi con người quan sát mộtchuỗi dải sáng đơn sắc đặt kề nhau, màu chuyển đổi êm ả từ màu sắc này sang màu sắckhác ánh sáng có thể bị lăng kính phân tích thành một chuỗi dải sáng đơn sắc như tathấy trên hình 1.4 Thí nghiệm này được Newton thực hiện lần đầu vào năm 1666.Newton chia phổ màu trong dải khả kiến thành bảy loại: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm,tím với bước sóng giảm dần, gọi là bảy màu cầu vồng Thoạt tiên Newton chỉ bắt đầuvới các màu đỏ, vàng, lục, lam, tím Sau đó ông thêm màu cam và màu chàm để tạothành số 7 (giống như chia 7 ngày một tuần, nhạc có 7 nốt và v.v )
Hình 1.4 : Lăng kính phân tích ánh sáng trắng thành chuỗi ánh sáng đơn sắc.
Khi ánh sáng không đơn sắc nhưng c( )của nó có dải hẹp và hầu hết toàn bộnăng lượng của nó tập trung trong ’- < < ’+ với nhỏ, thì màu sắctrông thấy tương tự như ánh sáng đơn sắc với = ’ Tuy nhiên màu có biểu hiệnkém tinh khiết hơn ánh sáng đơn sắc cùng màu sắc Khi c( )là hàm bất kỳ, khó có thểcoi màu sắc như một trong những đặc tính đơn giản của c( ) Bằng cách lựa chọnc()thích hợp, có thể tạo ra màu sắc không tương ứng với bất kỳ ánh sáng đơn sắcnào Trộn ánh sáng đỏ với ánh sáng xanh lam có thể taọ ra ánh sáng màu tía (purple)
ánh sáng trắng
Đỏ Cam Vàng Lục Lam chàm Tím
Lăngkính
Trang 10Độ bão hoà liên quan đến tính tinh khiết hoặc sặc sỡ của màu ánh sáng đơn sắc
có phổ tinh khiết và trông rất sặc sỡ, tinh khiết Khi đó người ta nói là độ bão hoà cao.Còn khi thành phần phổ của c()mở rộng, sẽ cảm nhận thấy màu kém chói lọi và tinhkhiết, ta bảo là độ bão hoà kém Độ bão hoà m àu liên quan mật thiết với độ rộng hiệudụng của c()
1.3 Hệ màu cộng và hệ màu trừ
Khi tổ hợp hai ánh sáng c1()và c2(), ánh sáng nhận được là c() được tínhtheo:
c()= c1()+ c2() (1.4)Khi ánh sáng cộng vào nhau như ở (1.4), ta được là hệ màu cộng (additive colorsystem) Đem cộng nhiều nguồ n sáng với những bước sóng khác nhau, sẽ tạo ra đượcnhiều màu khác nhau Ví dụ màn đèn hình tivi màu được phủ với những chấm photphonhỏ rực rỡ xếp thành từng cụm 3 màu Mỗi nhóm gồm 1 điểm màu đỏ, một điểm màulục và một điểm màu lam Sử dụng 3 màu đó l à vì khi tổ hợp một cách thích hợp chúng
có thể tạo ra một dải màu rộng hơn mọi tổ hợp của những bộ ba màu khác, chúng lànhững màu cơ bản của hệ màu cộng Màu của những ánh sáng đơn sắc thay đổi từ từ vàkhó xác định được những bước sóng riêng ứng với đỏ (R) , lục (G) và lam (B) CIEchọn =700 nm cho màu đỏ, =546,1 nm cho màu xanh lục và =435,8 nm chomàu lam
Ba màu cơ bản của hệ màu cộng được biểu diễn trên hình 1.5 Trong hệ màucộng, sự trộn lẫn màu lam và màu lục với số lượng bằng nhau sẽ tạo ra màu lục lam(cyan) Sự trộn lẫn màu đỏ và màu lam với số lượng bằng nhau sẽ tạo ra màu đỏ thẫm(magenta) và sự trộn lẫn màu đỏ và màu lục với số lượng bằng nhau tạo ra màu vàng
Ba màu vàng (Y), lục lam (C) và đỏ thẫm (M) gọi là những màu thứ cấp của hệ màucộng Khi 3 màu R, G, B được kết hợp với số lượng bằng nhau, kết quả sẽ là màu trắng
Do vậy khi các thành phần R,G,B được sử dụng trong màn hình TV màu với số lượngnhư nhau, thì kết quả là sẽ ra hình ảnh đen trắng Đem kết hợp các thành phần R,G và Bvới phân lượng khác nhau, có thể được tạo ra nhiều màu khác nhau Ví dụ, sự trộn lẫn
ánh sáng đỏ và ánh sáng màu lục yếu, không có ánh sáng màu lam, sẽ tạo ra ánh sángnâu
Trang 11Hình 1.5: Các màu cơ bản của hệ thống màu cộng.
Thiên nhiên thường tạo ra màu sắc bằng cách lọc bỏ (trừ đi) một số bước sóng vàphản xạ những bước sóng khác Việc trừ bỏ bước sóng được thực hiện bởi nhữngnguyên tử gọi là sắc tố (pigment), chúng hấp thụ những phần đặc biệt của phổ Ví dụ,khi ánh sáng mặt trời gồm nhiều bước sóng khác nhau chiếu vào quả táo đỏ, hệ thốnghàng tỷ phân tử sắc tố trên bề mặt của quả táo hấp thụ tất cả các bước sóng ngoại trừbước sóng ứng với màu đỏ Kết quả là ánh sáng phản xạ c ó hàm c()gây cảm nhậnmàu đỏ Các sắc tố lấy đi những bước sóng và hỗn hợp của hai loại sắc tố khác nhau sẽtạo ra ánh sáng phản xạ mà bước sóng ngắn hơn Đó là hệ màu trừ (subtractive color
system) Khi hai thứ mực có màu khác nhau được trộn để tạo ra một màu khác trên giấythì đấy cũng là một hệ màu trừ.
Ba màu cơ bản của hệ màu trừ là vàng (Y), lục lam (cyan) và đỏ thẫm (M),
chúng là những màu thứ cấp của hệ màu cộng Ba màu này được biểu diễn trên hình 1.6
Bằng việc trộn các màu đó với những hàm lượng thích hợp, có thể tạo ra một dải màurộng Trộn màu vàng và màu lục lam tạo ra màu lục Trộn màu vàng và màu đỏ thẫmtạo ra màu đỏ Trộn màu lục lam và màu đỏ thẫm tạo ra màu lam Do vậy ba màu đỏ,lục và lam, những màu cơ bản của hệ màu cộng, lại là những màu thứ cấp của hệ màu trừ Khi tất cả ba màu cơ bản Y, C, M được kết hợp, kết quả là màu đen, các sắc tố hấp
thụ tất cả bước sóng ánh sáng nhìn thấy
Điều quan trọng cần lưu ý là: hệ màu trừ khác một cách cơ bản với hệ màu cộng Trong hệ màu cộng, khi chúng ta thêm các màu với bước sóng khác nhau, ánh sángnhận được gồm nhiều bước sóng hơn Chúng ta bắt đầu với màu đen, tương ứng với
Trang 12không có ánh sáng Khi chúng ta đi từ màu cơ bản (RGB) đến các màu thứ cấp (YCM)
và rồi đến màu trắng, chúng ta làm tăng các bước sóng trong ánh sáng nhận được.Trong
hệ màu trừ, chúng ta bắt đầu với màu trắng, tương ứng với không có sắc tố Khi chúng
ta đi từ các màu cơ bản (YCM) đến các màu thứ cấp (RGB) rồi đến màu đen, chúng talàm giảm những bước sóng trong ánh sáng phản xạ nhận được
Hình 1.6: Các màu cơ bản của hệ màu trừ.
Trong một hệ màu cộng, chúng ta có thể coi ánh sáng đỏ, lục, lam, là kết quảcủa ánh sáng trắng đi qua ba bộ lọc thông dải khác nhau Trộn hai màu có thể coi nh ư
ánh sáng trắng đi qua một bộ lọc tổ hợp song song của hai bộ lọc thông dải tương ứng.Trong hệ màu trừ, chúng ta có thể coi các ánh sáng màu vàng, lục lam và đỏ thẫm như
là kết quả của ánh sáng trắng đi qua ba bộ lọc chặn dải khác nhau Trộn hai màu có t hểcoi là kết quả của ánh sáng trắng đi qua hai bộ lọc chặn dải tương ứng đặt nối tiếp
1.4 Biểu diễn ảnh đơn sắc và ảnh màu
Với ảnh đen-trắng, ánh sáng c() có thể được biểu diễn bởi một số I như sau:
Xanh lơ
Đỏ Vàng
Tím
Đen Lục
Lam
Trang 13đen trắng Vì I trong công thức (1.5) biểu diễn công suất trên đơn vị diện tích, nên nóbao giờ cũng không âm và hữu hạn, nghĩa là:
0≤ I≤ ImaxTrong đó Imax là giá trị lớn nhất mà I đạt được Trong xử lý ảnh, I được chiathang (scaled) sao cho nó nằm trong một phạm vi thuận lợi nào đó, ví dụ 0 ≤I≤1 hoặc0≤ I≤ 255 Trong những trường hợp này 0 ứn g với mức tối nhất và 1 hoặc 255 ứngvới mức sáng nhất Vì cách đặt mức thang này nên đơn vị trắc quang (photometric)hoặc bức xạ (radiometric) cụ thể gắn với I trở nên không quan trọng ảnh trắng đen,trong cảm nhận chỉ có một màu Vì vậy có khi gọi nó là ảnh đơn sắc (monochrome)
ảnh mầu có thể coi như 3 ảnh đơn sắc Với ảnh màu, ánh sáng với hàmc()được đại diện bởi 3 con số gọi là giá trị cặp ba (tristimulus values) Một tập 3 con
số thường dùng trong thực tế là R,G, và B, theo th ứ tự đại biểu cho cường độ của cácthành phần đỏ, lục và lam Bộ ba giá trị R, G và B nhận được từ:
và hữu hạn Một bộ SR(), SG()và SB()được biểu diễn trong hình 1.7 Ví dụ của
fR(x,y), fG(x,y) và fB(x,y) đại diện các thành phần đ ỏ, lục, lam của 1 ảnh màu, theo thứ
tự được biểu diễn trong hình 1.8(a), (b) và (c) ảnh màu được hình thành khi ba thànhphần được kết hợp bởi màn hình TV màu
Trang 14Hình 1.7: Ví dụ đặc tính phổ của các cảm biến màu đỏ, lục và lam.
Một cách tiếp cận xử lý ảnh màu là xử lý 3 ảnh đơn sắc R, G và B riêng biệt và
tổ hợp kết quả lại Phương pháp tiếp cận này đơn giản và thường sử dụng trong thực tế.Vì độ sáng, màu sắc và độ bão hoà mỗi cái đều phụ thuộc cả 3 ảnh đơn sắc, nên việc xử
lý riêng biệt R, G và B có thể tác động đến màu sắc và độ bão hoà, mặc dầu có khi mục
0.523 -
0.322 - 0.274 -
0.114 0.587
.
Q
I
Y
211 0
596 0
299 0
1.701 1.104
-0.647 - 0.273 -
0.621 0.956
.
B
G
R
000 1
000 1
000 1
Trang 15Hình 1.9: Các thành phần Y, I và Q của ảnh màu trong hình 1.8(d),
(a) thành phần Y; (b) thành phần I; (c) thành phần Q
Thành phần Y được gọi là thành phần chói, vì nó phản ánh độ chói l trong công
thức (1.3) Nó có vai trò chính trong sự nhận biết độ sáng của ảnh màu, và cũng có thể
sử dụng được với ảnh đen trắng Các thành phần I và Q gọi là các thành phần sắc độ, vàchúng có vai trò chính trong sự nhận biết màu sắc và độ bão hoà của ảnh màu Cácthành phần fY(x,y), fI(x,y) và fQ(x,y) ứng với ảnh màu trong hình 1.8, theo thứ tự đượcbiểu diễn như ba ảnh đơn sắc trong hình 1.9(a),(b) và (c) Vì fI(x,y) và fQ(x,y) có thể
âm nên ta cộng thêm thiên áp cho chúng để hiển thị Cường độ xám trung bình tronghình 1.9(b) và (c) đại biểu cho biên độ không của fI(x,y) và fQ(x,y) So với bộ RGB, bộ
ba giá trị YIQ có thuận lợi là ta có thể chỉ xử lý riêng thành phần Y ảnh đã xử lý sẽkhác với ảnh chưa xử lý trong biểu hiện độ sáng của nó Một thuận lợi khác là hầu h ếtthành phần tần số cao của ảnh màu đều ở trong thành phần Y Do vậy, lọc thông thấpcác thành phần I và Q sẽ không ảnh hưởng đáng kể đến ảnh màu Đặc tính này có thể
được khai thác trong mã hoá ảnh màu số hoặc trong phát tín hiệu TV màu analog
Khi mục đích của xử lý ảnh vượt quá yêu cầu tái tạo chính xác cảnh “gốc” theocảm nhận của con người, chúng ta sẽ không giới hạn trong phạm vi dải sóng con ngườinhìn thấy được Chẳng hạn khi muốn phát hiện một đối tượng phát nhiệt, thì việc có
được một ảnh bằng cảm biến hồng ngoại dễ hơn nhiều so với ảnh màu thông thường
(b) (c)
Trang 16Màng cứng
ảnh hồng ngoại có thể đạt được theo cách tương tự theo công thức (1.7), chỉ cần thay
đổi một cách đơn giản các đặc tính phổ của cảm biến được sử dụng
Hệ thống thị giác bao gồm mắt biến đổi ánh sáng thành tín hiệu thần kinh, vàcác bộ phận hữu quan của não xử lý các tín hiệu thần kinh để lấy ra thông tin cần thiết.Mắt, khởi đầu hệ thống thị giác, là một hình cầu với đường kính khoảng 2 cm Về mặtchức năng mà nói, thì mắt là thiết bị thu gom và hội tụ ánh sáng lên mặt sau của nó
Hình cắt ngang của mắt được b iểu diễn trong hình 1.10 Tại phía trước của mắttrông ra thế giới bên ngoài, là giác mạc cứng (cornea), một màng mỏng dai và trongsuốt Chức năng chính của giác mạc là để khúc xạ ánh sáng Vì có hình tròn, nó hoạt
động như thấu kính hội tụ của camera Nó chịu trách nhiệm về gần 2/3 tổng ánh sángkhúc xạ cần thiết cho việc hội tụ chính xác
Hình 1.10 Hình cắt ngang của mắt người.
Phía sau giác mạc có một thể dịch nước (aqueous humour) là một dung dịch
Thể dịch nước Thuỷ tinh thể
trạch Dịch thuỷ tinh
Trang 17(iris), còn gọi là mống mắt Bằng việc thay đổi kích cỡ đồng tử (con ngươi), một lỗtròn nhỏ ở giữa tròng đen, tròng đen điều khiển lượng ánh sáng vào mắt Đường kính
đồng tử khoảng từ 1,5 mm đến 8 mm, khi tiếp xúc với ánh sáng càng chói thì đườngkính đồng tử càng thu nhỏ Màu của mống mắt qui định màu của mắt Khi chúng ta nóirằng một người có mắt xanh, thì nghĩa là mống mắt màu xanh Màu mống mắt tạo nên
sự hấp dẫn của mắt, không có ý nghĩa gì về c hức năng thị giác
Phía sau mống mắt là thuỷ tinh thể, gồm nhiều sợi trong suốt được bao bọctrong màng mỏng đàn hồi trong suốt, có kích thước và hình dạng như một hạt đậu nhỏ.Thuỷ tinh thể phát triển trong suốt thời gian sống của con người Do vậy thủy tinh thểcủa một người 80 tuổi rộng hơn 50% của người 20 tuổi Như một củ hành, các tế bàothuộc lớp già nhất nằm ở trung tâm, và các tế bào thuộc lớp trẻ hơn nằm xa trung tâm.Thuỷ tinh thể có hình dạng hai mặt lồi và chiết suất 1,4 cao hơn tất cả các phần kháccủa mắt mà ánh sáng đi qua Tuy nhiên thuỷ tinh thể được bao bọc bởi môi trường cóchiết suất gần kề chiết suất của nó Vì lý do này sự khúc xạ ánh sáng tại thuỷ tinh thể
có góc khúc xạ nhỏ hơn nhiều so với tại giác mạc Giác mạc có chiết suất khúc xạ 1,38nhưng nó tiếp xúc với không khí có chiết suất bằng 1 Chức năng chính của thuỷ tinhthể là hội tụ chính xác ánh sáng vào màn ảnh phía sau mắt gọi là võng mạc Một hệthống với thấu kính cố định và khoảng cách cố định giữa thấu kính và màn ảnh, có thểhội tụ những vật ở một khoảng cách cụ thể Ví dụ, nếu vật ở xa hội tụ rõ nét thì vật ởgần sẽ hội tụ phía sau màn ảnh Để có thể hội tụ vật ở gần tại một thời điểm và vật ở xatại vài thời điểm khác, camera thay đổi khoảng cách giữa thấu kính (cố định) và màn
ảnh Đó là trường hợp mắt của nhiều loại cá
Trong trường hợp mắt người, hình dạng thuỷ tinh thể, chứ không phải là khoảngcách giữa thuỷ tinh thể và màn ảnh, được thay đổi Quá trình thay đổi hình dạng đểnhìn được cả gần và xa gọi là sự điều tiết củ a mắt Thay đổi hình dạng là đặc tính quantrọng nhất của thuỷ tinh thể Sự điều tiết của mắt xảy ra gần như ngay lập tức và được
điều khiển bởi mi mắt, một nhóm cơ bao quanh thuỷ tinh thể
Phía sau thuỷ tinh thể là thuỷ tinh dịch, là một chất trong suốt như thạch Nó
được phối hợp về mặt quang học sao cho ánh sáng đã được thuỷ tinh thể hội tụ rõ nétrồi thì ánh sáng cứ giữ nguyên lộ trình Thuỷ tinh dịch chứa trong toàn bộ không giangiữa thuỷ tinh thể và võng mạc, chiếm khoảng 2/3 dung tích mắt Một tron g nhữngchức năng của nó là để giữ nguyên hình dạng mắt
Trang 18Phía sau dịch thuỷ tinh là võng mạc, nó phủ khoảng 65% phía trong nhãn cầu.
Đây là màn hình, nơi ánh sáng vào được hội tụ và các tế bào tiếp nhận quang chuyển
ánh sáng thành tín hiệu thần kinh Tất cả các bộ phận của mắt mà chúng ta nói đến đềuphục vụ cho chức năng đặt một hình ảnh rõ nét lên bề mặt cơ quan cảm nhận Việc ảnh
được tạo ra trên võng mạc, và mắt chỉ đơn giản là một thiết bị nhận ảnh, mãi đến tận
đầu thế kỷ 17 người ta mới biết Ngay cả thời Hy Lạp cổ đại đã biết cấu trúc của mắtmột cách chính xác và đã tiến hành phẫu thuật mắt khá tinh vi cũng chỉ lập luận rằng
có những tia tương tự ánh sáng (light -like) phát ra từ mắt đập vào vật và làm nó có thểthấy được Cuối cùng sự thật xuất hiệ n, năm 1625 Scheiner chứng minh được rằng ánhsáng thâm nhập vào mắt và sự nhìn bắt nguồn từ ánh sáng thâm nhập vào mắt Tách và
và đem trương võng mạc của động vật và nhìn nó từ phía sau, ông đã thấy được ảnh lậplại rất nhỏ của những vật trước nhãn cầu
Có hai loại tế bào cảm nhận ánh sáng trong võng mạc Chúng được gọi là tế bàohình nón và hình que Hình nón, với số lượng khoảng 7 triệu, kém nhậy sáng hơn hìnhque và chủ yếu là để nhìn ban ngày Chúng cũng có trách nhiệm cảm nhận màu sắc Có
ba loại hình nón theo thứ tự nhậy nhất với ánh sáng đỏ, lục và lam Đây là cơ sở sinh lýhọc định tính của việc biểu diễn ảnh màu với ba ảnh đơn sắc đỏ, lục và lam Hình que,
số lượng khoảng 120 triệu, nhậy sáng hơn hình nón và về cơ bản để nhìn ban đêm Vìhình nón chịu trách nhiệm cho ảnh màu không phản ứng khi ánh sáng tù mù, nên chúng
ta không thể thấy màu trong bóng tối
Tế bào hình que và hình nón phân bổ khắp võng mạc Tuy nhiên sự phân bố củachúng không đều Sự phân bố của tế bào hình que và hình nón trong v õng mạc đựơcbiểu diễn trong hình 1.11 Ngay phía sau điểm chính giữa con ngươi có một chỗ trũngtrên võng mạc, gọi là điểm vàng (fovea) ở đó tập trung đa số tế bào hình nón và hoàntoàn không có tế bào hình que
Do đó, đây là vùng nhìn rõ nhất trong ánh sáng trắng Khi ta nhìn thẳng vào mộtvật phía trước, vật được hội tụ trong điểm vàng (fovea) Vì điểm vàng (fovea) rất nhỏ, tathường xuyên di chuyển sự chú ý từ vùng này sang vùng khác, khi xem xét một vùngrộng hơn Tế bào hình que, hoạt động tốt nhất khi trời tối, được tập trung ở vùng xa
điểm vàng (fovea) Vì không có tế bào hình que trong điểm vàng (fovea), nên một vậthội tụ trong điểm vàng (fovea) không thể thấy được trong bóng tối Do đó ban đêm đểthấy một vật, vào ta phải nhìn hơi nghiêng
Trang 19Hình 1.11:Sự phân bố tế bào hình que (đường chấm chấm) và hình non (đường liền nét)trên võng mạc.
Có nhiều lớp mỏng trong võng mạc Tuy tế bào hình que và hình nón là các tếbào cảm nhận ánh sáng, đáng lý ra chúng phải nằm kề thuỷ tinh dịch, nhưng chúng lại
ở xa hơn thuỷ tinh dịch Do vậy ánh sáng phải đi qua các lớp khác của võng mạc, chẳnghạn đi qua các sợi thần kinh để tới tế bào hình nón, hình que Điều này được mô tảtrong hình 1.12 Thật không hiểu tại sao thiên nhiên lại chọn cách làm như vậy, nhưngtrong thực tế cách sắp đặt này vẫn hoạt động tốt Nhưng ít ra thì ta cũng thấy là ở điểmvàng (fovea) các dây thần kinh được đẩy sang một bên để các tế bào hình nón đượcphơi ra trước ánh sáng
Hình 1.12 : Các lớp trong võng mạc Lưu ý rằng ánh sáng phải đi qua nhiều lớp trước khi
ánh sáng
Các tế bào Pigment
Mũi
nón nón
Góc nhìn, độ Thái dương trong
võng mạc
Trang 20Vì cách sắp xếp đặc biệt này, các dây thần kinh ánh sáng phải xuyên qua các lớp
tế bào cảm nhận ánh sáng trên đường tới não Thay vì vượt qua các lớp tế bào cảm nhận
ánh sáng ở khắp võng mạc, chúng được bó lại tại một vùng nhỏ bằng cỡ đầu ghimtrong võng mạc, gọi là điểm mù Vì không có các tế bào cảm nhận ánh sáng trong vùngnày, chúng ta không thể nhìn thấy ánh sáng hội tụ trên điểm mù
Khi ánh sáng đập tới tế bào hình nón và hình que, một phản ứng điện hoá phứctạp xảy ra, và ánh sáng được chuyển thành các xung thần kinh, truyền đến não thôngqua dây thần kinh thị giác Có khoảng 130 triệu tế bào cảm nhận ánh sáng (hình nón vàhình que), nhưng chỉ có khoảng 1 triệu giây thần kinh Điều đó có nghĩa là trung bình
cứ một dây thần kinh phục vụ hơn 100 tế bào cảm nhận ánh sáng Trong thực tế khôngphải là chia đều như vậy Với một số tế bào hình nón trong điểm vàng (fovea) mỗi dâythần kinh phục vụ cho một tế bào, làm tăng tính nhậy sáng trong vùng này Tuy nhiên,các tế bào hình que lại được chia đều cho các dây thần kinh Đây là lý do tại sao tínhnhậy sáng (visual acuity) vào ban đêm không tốt bằng ban ngày, tuy có nhiều tế bàohình que hơn hình nón
Hình 1.13 : Đường các tín hiệh thần kinh đi từ võng mạc đến vỏ não thị giác.
Vật cong gập như đầu gối
Chỗ các dây thần kinh thịgiác giao nhau
Võng mạc
Bó dây thầnkinh thị giác
Bức xạ thị giác