1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xu hướng tái cấu trúc hệ thống tài chính quốc tế sau khủng hoảng

20 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 35,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách đây 12 năm, sự sụp đổ của Tập đoàn ngân hàng Lehman Brothers đã gây hiểm nguy cho toàn thế giới với tác động lan truyền sang hầu hết các nền kinh tế lớn và châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tại những nước bị khủng hoảng tấn công, thị trường tín dụng đóng băng, thanh khoản cạn kiệt nhanh chóng.

Trang 1

Xu h ướ ng tái c u trúc h th ng tài chính ấ ệ ố

Cách đây 12 năm, sự sụp đổ của Tập đoàn ngân hàng Lehman Brothers đã gây hiểm nguy cho toàn thế giới với tác động lan truyền sang hầu hết các nền kinh tế lớn

và châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Tại những nước bị khủng hoảng tấn công, thị trường tín dụng đóng băng, thanh khoản cạn kiệt nhanh chóng

Vai trò của các ngân hàng trung ương

Để đối phó, nhiều ngân hàng trung ương (NHTW) đã cắt giảm các mức lãi suất chính sách, bổ sung thanh khoản và đóng vai trò cho vay cuối cùng để củng cố thị trường tiền tệ liên ngân hàng, tiến hành những biện pháp can thiệp cần thiết để ổn định thị trường tài chính Do quy mô và mức độ phức tạp ngày càng tăng trong hệ thống tài chính hiện đại, nhất là sự phụ thuộc vào nguồn vốn trên thị trường, cần tiến hành những loại hình can thiệp mới và áp dụng với quy mô lớn hơn nhiều so với thời

kỳ trước khủng hoảng Vì thế, bảng cân đối tài sản của các NHTW đã mở rộng quá mức so với thời kỳ bình thường

Tại các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs), tăng trưởng cao trong giai đoạn 2002-2007 đã giúp nhiều nước mở rộng dư địa chính sách tiền tệ Trong đó, lạm phát thấp đã tạo dư địa để mở rộng chính sách tiền tệ với quy mô lớn mà không ảnh hưởng xấu đến niềm tin vào NHTW trong việc kiểm soát lạm phát Trong giai đoạn 2002-2007, khoảng 82% số quốc gia thuộc nhóm EMDEs ghi nhận mức lạm phát một con số, tăng rất cao từ tỷ lệ 35% trong thập kỷ trước Thậm chí, lạm phát tại các nước thu nhập thấp cũng giảm mạnh từ tỷ lệ lạm phát cao và triền miên trong những năm 1980-1990 xuống tỷ lệ trung bình 4,6% trong giai đoạn 2002-2007

Trang 2

Cùng với động thái của các NHTW, nhiều gói kích thích tài chính khổng lồ và bảo lãnh tín dụng được các chính phủ đưa ra để hỗ trợ những ngân hàng yếu kém Từ cuối năm 2008, xu hướng nới lỏng tài khóa không có tiền lệ bắt đầu hình thành trước những lo lắng về tác động tàn phá của khủng hoảng Trong số các nước phát triển, các gói kích thích tài khóa tại Mỹ, khu vực châu Âu, Nhật Bản mở rộng và lần lượt chiếm 5,6%; 2,0%; 7,9% GDP Tại các EMDE, Trung Quốc tung ra các gói kích thích tài khóa lên tới 12,7% GDP, những nước khác trong nhóm G20 như Ấn Độ, CHLB Nga, Arập Xê út, CH Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ cũng tung ra các gói kích tài khóa quy mô lớn Bên ngoài G20, một số nước khác như Ai Cập, Philippines, Singapore, Việt Nam cũng đưa ra các chương trình kích thích tài khóa với quy mô trên 4% GDP Tương tự, nhiều nước thu nhập thấp cũng đưa ra các gói kích thích tài khóa Trái lại, nhiều nước Châu Âu và Trung Á (ECA) không thể áp dụng các gói kích thích tài khóa quy mô lớn do năng lực tài chính hạn hẹp, một số nước như Hungary, CH Kyrgyz, Ukraine kêu gọi IMF hỗ trợ cho vay khẩn cấp,

Trong các gói kích thích tài khóa, nguồn vốn bảo lãnh ngân hàng đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc ngăn ngừa vòng xoáy đổ vỡ tài chính và nguy cơ rút vốn ồ ạt khỏi các ngân hàng, góp phần kiềm chế khủng hoảng một cách hiệu quả Nhờ đó, thế giới đã tránh khỏi nhiều rủi ro tiềm tàng, tình hình kinh tế ổn định trở lại

Cùng với các biện pháp đối phó với khủng hoảng, hàng loạt nỗ lực cải cách đã được tiến hành, phần lớn là nhằm nâng cao tính bền vững của hệ thống tài chính, và

có thể giúp các ngân hàng tránh được nguy cơ khủng hoảng trong tương lai Phần lớn các nỗ lực tập trung vào việc yêu cầu các ngân hàng củng cố quy mô và chất lượng nguồn vốn, nâng tỷ trọng vốn đề phòng rủi ro, tăng thuế đối với các ngân hàng chiến lược toàn cầu Nỗ lực này cũng bao gồm việc đưa ra quy định về nguồn vốn có khả năng hấp thụ lỗ và tỷ lệ thanh khoản trên toàn cầu, tỷ lệ thanh khoản bắt buộc, tăng cường giám sát thận trọng và kiểm tra sát hạch ngân hàng Những biện pháp này đã

Trang 3

giúp các ngân hàng củng cố nguồn vốn và giảm dần mức độ tổn thương trước cuộc khủng hoảng thanh khoản, góp phần nâng cao năng lực tài chính và đưa ra chính sách quyết định để vượt qua khó khăn, kể cả đối với những ngân hàng lớn mà không gây hiệu ứng lan truyền sang phần còn lại trong hệ thống tài chính toàn cầu

Nhìn chung, các biện pháp cải cách chính sách tiền tệ và tài chính đã được tiến hành kế tiếp nhau nhằm tạo dựng nền tảng để phục hồi bền vững Tổng cầu được hỗ trợ thông qua các giải pháp chính sách tiền tệ, nổi bật là các quyết định giảm lãi suất điều hành, thậm chí áp dụng lãi suất âm (trong một số trường hợp), cũng như hàng loạt biện pháp chính sách tiền tệ phi truyền thống Đồng thời, nhiều giải pháp quyết liệt về quản lý và giám sát đã được tiến hành nhằm nâng cao tính bền vững tài chính Đáng chú ý, cải cách Basel đã khắc phục những hạn chế cơ bản trong hệ thống ngân

hàng mà khủng hoảng tài chính đã phát hiện được như: Sử dụng đòn bẩy quá mức,

thiếu nguồn vốn để hấp thụ lỗ, rủi ro thanh khoản quá mức

Trên toàn cầu, mức độ sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ phi truyền thống đã vượt qua giới hạn cần thiết, một phần là nhằm khắc phục những rối loạn trong việc truyền tải chính sách tiền tệ, phần khác là nhằm cung cấp các gói kích thích tiền tệ bổ sung một khi các mức lãi suất chính sách vấp phải khó khăn bắt nguồn từ hiệu ứng giảm lãi suất

Mặc dù các công cụ chính sách tiền tệ phi truyền thống đã dẫn đến những tác động phụ không thể tránh khỏi, nhưng nhìn chung giải pháp này đã giúp các NHTW

xử lý nhiều tình huống khó khăn trong bối cảnh chính sách truyền thống không đáp ứng đầy đủ Nhờ chính sách tiền tệ phi truyền thống, điều kiện thị trường tài chính đã

ổn định, GDP tăng dần, góp phần củng cố niềm tin thị trường và ngăn ngừa rủi ro giảm phát Chính sách tiền tệ phi truyền thống đã bổ sung vào gói chính sách của NHTW và sẽ mang lại hiệu quả cao, nếu được triển khai cùng với các chính sách tài khóa thận trọng và giám sát thích hợp, góp phần giảm gánh nặng lên NHTW

Trang 4

Sau 12 năm kể từ khi xảy ra khủng hoảng, các nền kinh tế chủ chốt đã phục hồi trở lại, tỷ lệ thất nghiệp giảm sâu, hệ thống ngân hàng ngày càng vững mạnh Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này thấp hơn so với trước đây, một phần nguyên nhân là do hậu quả của khủng hoảng, bao gồm sự cần thiết phải khắc phục những khoản nợ còn tồn đọng và tái phân bổ nguồn lực từ những khu vực dư thừa quá mức sang khu vực hiệu quả hơn

Gia tăng gánh nặng nợ nần

Trên toàn cầu, các chương trình kích thích tài chính đã làm tăng gánh nặng nợ nần, nhiều công ty đã bị cuốn hút vào nguồn tín dụng giá rẻ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nay phải đối mặt với tình trạng dư thừa công suất và đang chật vật tìm kiếm người mua Tình hình này đang trở nên trầm trọng, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản đều yếu ớt, kinh tế Trung Quốc tăng chậm lại

Tại báo cáo cập nhật đưa ra vào tháng 01/2020 về triển vọng kinh tế toàn cầu, Ngân hàng Thế giới (WB) cảnh báo, thế giới đang đối mặt với làn sóng nợ thứ tư với quy mô và phạm vi cao hơn nhiều so với trước đây Theo đó trong 5 thập kỷ qua, thế giới đã chứng kiến 4 đợt sóng nợ nần, kể cả tại các nước phát triển và nhóm các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs) Trong đó, ba đợt đầu kết thúc bằng các cuộc khủng hoảng tài chính tại nhiều EMDE Đợt sóng nợ thứ tư bắt đầu từ năm

2010, nợ nần trên toàn cầu đã thiết lập đỉnh cao mới lên khoảng 230% GDP vào năm

2018 - tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay Đặc điểm nổi bật của làn sóng nợ này là, gánh nặng nợ nần tăng nhanh với tốc độ cao và phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với ba đợt sóng trước đó

Đến năm 2018, tổng mức nợ nần tại các EMDE đã lên tới 55 nghìn tỷ USD, chiếm gần 170% GDP, mức tăng cao nhất kể từ tỷ trọng 114% GDP vào năm 2010, khoảng 80% số quốc gia thuộc EMDEs ghi nhận mức nợ tăng cao so với năm 2010

Trang 5

Trong số này, nợ nần tại Trung Quốc tăng rất nhanh, tổng dư nợ tại những EMDE còn lại đã tăng lên gần 107% GDP vào năm 2018 Sau khi giảm sâu trong giai đoạn 2000-2010, nợ nần tại các nước thu nhập thấp (LIC) bật tăng trở lại lên khoảng 270

tỷ USD, chiếm 67% GDP vào năm 2018, tăng từ tỷ trọng 48% GDP (khoảng 140 tỷ USD) vào năm 2010

Tại các nước phát triển, tổng mức nợ công và nợ tư nhân tiếp tục ổn định ở mức cao, chiếm 264% GDP (130 nghìn tỷ USD) vào năm 2018, mặc dù thấp hơn đỉnh cao thiết lập ngay sau khi khủng hoảng tài chính toàn cầu kết thúc Trong đó, nợ công tăng lên 50 nghìn tỷ USD (chiếm 104% GDP), nợ tư nhân giảm nhẹ nhờ nỗ lực giảm đòn bẩy tại một số khu vực kinh tế

Trong môi trường lãi suất thấp hiện nay và tăng trưởng kinh tế yếu ớt, vấn đề lợi ích và rủi ro là chủ đề quan tâm, nhất là khi các chính phủ tiếp tục vay nợ để mở rộng chi tiêu Nhìn chung, nợ công tăng cao mang lại nhiều lợi ích, nhất là tại những EMDE đang gặp khó khăn, nếu được sử dụng để tài trợ các hoạt động đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, như phát triển hạ tầng, y tế, giáo dục Nợ công tăng cao cũng là một phần trong nhóm chính sách chống lại chu kỳ, được coi là giải pháp phù hợp trong giai đoạn trước mắt nhằm khuyến khích tăng nhu cầu và các hoạt động kinh tế trong thời kỳ khó khăn

Tuy nhiên, nợ cao cũng kèm theo những rủi ro rất lớn đối với các EMDE, do nó

có thể gây ra mức độ tổn thương lớn hơn trước những cú sốc từ bên ngoài

Về mức độ tổn thương, kể từ năm 2010, tổng dư nợ nước ngoài tại EMDEs đã tăng lên tỷ trọng trung bình 26% GDP vào năm 2018, tài khoản vãng lai thâm hụt triền miên với quy mô lớn Năm 2018, cán cân vãng lai tại khoảng 55% số quốc gia thuộc nhóm EMDEs yếu hơn so với năm 2010; tài khoản vãng lai thâm hụt tại 76%

số quốc gia thuộc nhóm EMDEs (so với tỷ trọng 69% vào năm 2010); khoảng 44%

số quốc gia chứng kiến cán cân vãng lai thâm hụt trên 5% GDP, số lượng quốc gia thâm hụt tài khóa cũng tăng cao

Trang 6

Ngoài ra, nợ chính phủ và nợ tư nhân tại nhiều EMDEs chuyển dịch sang những loại hình rủi ro hơn, tỷ trọng nợ công do người không cư trú nắm giữ ngày càng tăng cao, nợ ngoại tệ của khu vực tư nhân tăng nhanh Do điều kiện hỗ trợ tài chính nới lỏng đã cho phép các doanh nghiệp phát hành nợ với chất lượng tín dụng thấp hơn, nên tỷ trọng nợ doanh nghiệp do các đối tác rủi ro nắm giữ ngày càng tăng cao Hiện nay, các thị trường tài chính tại EMDEs đã hội nhập sâu hơn vào hệ thống tài chính toàn cầu, dẫn đến rủi ro lan truyền các cú sốc tài chính toàn cầu, cả đối với thị trường

nợ ngoại tệ và nợ bản tệ

Về hiệu quả sử dụng tiền vay, nợ công có xu hướng sử dụng cho các mục đích chi tiêu kém hiệu quả hơn là để đầu tư tạo ra của cải và phát triển nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy tiềm năng tăng trưởng tại các EMDE Đầu tư công tại các EMDE giảm từ tỷ trọng trung bình 2,1% GDP vào các năm 2002-2009 xuống 0,9% GDP vào giai đoạn 2010-2018 Trong số các EMDE xuất khẩu hàng hóa, nguồn thu thuế giảm do giá cả hàng hóa giảm sâu trong giai đoạn 2014-2016 đã làm tăng mức độ thâm hụt tài khóa và gánh nặng nợ nần, mặc dù đầu tư giảm sút

Yếu tố cơ bản làm tăng gánh nặng nợ nần bắt nguồn từ nhu cầu yếu ớt trên toàn cầu, ngoài ra là do các rào cản thương mại được dựng lên trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng chậm Nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, các chính phủ tập trung vào chính sách hướng nội, cản trở các hoạt động giao lưu thương mại

Kể từ khi xảy ra suy thoái toàn cầu, tất cả các nước phát triển và khoảng 70% số nước thuộc nhóm EMDEs đã tăng cường các khung khổ chính sách vĩ mô thận trọng

và củng cố tính bền vững của hệ thống tài chính Trong phạm vi khung khổ Basel III, một số công cụ mới đã được áp dụng để kiềm chế rủi ro hệ thống So với các nước phát triển, các EMDE đã sử dụng các công cụ vĩ mô thận trọng cấp tập hơn như chính sách quản lý ngoại hối và thanh khoản nhằm hạn chế những tổn thương bắt nguồn từ xu hướng chao đảo dòng vốn vào

Trang 7

Sau thời kỳ suy thoái, các nước phát triển đã rút dần các gói kích thích tài khóa, trong khi rất khó đưa chính sách tiền tệ trở lại trạng thái bình thường sau thời gian nới lỏng quá mức Trong hai năm 2009-2010, một số nước thuộc nhóm EMDEs đã đưa ra các gói kích thích tài khóa và tiền tệ, nhưng rất ít nước rút dần những biện pháp nới lỏng này, thậm chí trì hoãn tiến trình thắt chặt tiền tệ Từ giữa năm 2018, làn sóng nới lỏng tiền tệ lại hình thành nhằm đối phó với những thách thức mới trong bối cảnh nhiều nền kinh tế tăng rất chậm và các tổ chức quốc tế liên tục phải điều chỉnh giảm triển vọng kinh tế toàn cầu Khởi đầu là các động thái nới lỏng tiền tệ và các đợt giảm lãi suất tại Mỹ, châu Âu, sau đó lan sang Trung Quốc và nhiều nước đang phát triển khác Tính đến cuối năm 2019, gần 50 quốc gia và vùng lãnh thổ tiến hành một hay vài đợt cắt giảm lãi suất chính sách, dẫn đến tình trạng giảm mặt bằng lãi suất nói chung trên thị trường thế giới

Những thay đổi cơ bản về chính sách quản lý tài chính

Khủng hoảng cũng dẫn đến những thay đổi cơ bản về các chính sách quản lý tài chính, nhất là sau đề xuất của lãnh đạo các nước G20 và của Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) Theo báo cáo hàng năm do Ủy ban Ổn định tài chính (FSB) thuộc G20 công bố vào này 28/11/2018, chương trình tổng thể về cải cách tài chính được G20 đưa ra vào năm 2009 với mục tiêu cơ bản là khắc phục những sai lầm dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu và xây dựng hệ thống tài chính bền vững Chương trình cải cách này bao gồm 4 cấu thành cơ bản: Nâng cao tính bền vững của các định chế tài chính; chấm dứt tình trạng quá lớn không thể đổ vỡ (TBTF); nâng cao tính an toàn của thị trường phái sinh; nâng cao tính bền vững của các định chế tài chính phi ngân hàng

Yêu cầu nâng cao tính bền vững của các định chế tài chính được thực hiện theo các tiêu chí Basel III về tỷ trọng vốn tự có bắt buộc và tỷ lệ thanh khoản an toàn, bắt buộc các ngân hàng chiến lược toàn cầu và các ngân hàng chủ chốt trong nước phải

Trang 8

nâng cao quy mô và chất lượng nguồn vốn để có thể hấp thụ lỗ trong trường hợp cần thiết

Để chấm dứt tình trạng quá lớn không thể đổ vỡ, FSB đã thiết lập quy trình xác định các định chế tài chính chiến lược toàn cầu (G-SIFIs) và được rà soát hàng năm, BCBS tiến hành rà soát và điều chỉnh khung khổ đánh giá các ngân hàng chiến lược toàn cầu (G-SIBs), Hiệp hội Quốc tế về giám sát bảo hiểm (IAIS) triển khai các quy định rất khắt khe về giảm thiểu rủi ro hệ thống trong lĩnh vực bảo hiểm Theo đó, G-SIFIs và G-SIBs phải chấp hành yêu cầu cao hơn về khả năng hấp thụ lỗ, đồng thời nâng cao năng lực giám sát của tập thể theo khung khổ giám sát đề ra, tăng cường chia sẻ thông tin, phối hợp trong việc đánh giá rủi ro và các biện pháp thực hiện cũng như mức độ sẵn sàng đối phó với khủng hoảng

Về quản lý thị trường phái sinh OTC, FSB đã đưa ra khung khổ về thanh toán bù trừ trung tâm, yêu cầu về báo cáo toàn diện các giao dịch phái sinh và nâng tỷ trọng vốn tạm thời đối với những công cụ phái sinh bên ngoài trung tâm thanh toán bù trừ, v.v Mục tiêu của các nỗ lực cải cách là cải thiện thị trường phái sinh OTC theo hướng an toàn, đơn giản và minh bạch hơn so với trước đây

Liên quan đến việc nâng cao tính bền vững của các định chế tài chính phi ngân hàng, FSB đã thiết lập khung khổ giám sát hệ thống nhằm đánh giá xu hướng toàn cầu và rủi ro của của các trung gian tài chính phi ngân hàng, triển khai các giải pháp chính sách về tăng cường giám sát và quản lý những định chế này, góp phần giảm thiểu rủi ro đối với các quỹ tiền tệ trên thị trường

Bên cạnh bốn cấu phần chủ chốt trên đây, một số lĩnh vực cải cách khác cũng được triển khai, thực hiện Các nước đã thành lập cơ quan quản lý vĩ mô thận trọng hay cơ quan nội bộ về chính sách vĩ mô thận trọng, tăng cường giám sát hệ thống, và

sử dụng các công cụ để xử lý rủi ro bất ổn tài chính; tiếp tục khắc phục những hạn chế về quy mô và chất lượng về dữ liệu thống kê theo hướng mở rộng thu thập và

Trang 9

phổ biến kịp thời các dữ liệu thống kê phục vụ các mục tiêu chính sách; các cơ quan quản lý tiền tệ quốc gia đã sử dụng rộng rãi các mức lãi suất chuẩn chủ chốt như LIBOR, EURIBOR, TIBOR làm cơ sở để điều hành lãi suất và chính sách tiền tệ trong nước; tăng cường cải tiến hệ thống tài chính trong nước cho phù hợp với các tiêu chuẩn và thông lệ tài chính quốc tế; v.v

Năm 2010, BCBS đã đưa ra khung khổ Basel III với các tiêu chí khắt khe hơn nhiều so với trước đây, nhất là về tỷ lệ vốn tự có, tỷ lệ đòn bẩy, tỷ lệ thanh khoản an toàn, năng lực hấp thụ lỗ tổng thể, tỷ lệ quỹ bình ổn ròng BCBS đã đưa ra thời gian biểu khá dài về việc triển khai áp dụng Basel III, giúp các nước áp dụng các quy định Basel III theo lộ trình từng bước tùy theo tình hình cụ thể

Khủng hoảng đã dẫn đến những thay đổi cơ bản trong hệ thống ngân hàng trên thế giới

Theo đánh giá về xu hướng thay đổi mô hình kinh doanh, hiệu quả và cấu trúc thị trường tài chính trên toàn cầu do BIS công bố vào tháng 02/2018, khủng hoảng đã dẫn đến những thay đổi cơ bản trong hệ thống ngân hàng trên thế giới

Thứ nhất, về quy mô hệ thống ngân hàng

Khủng hoảng đã chấm dứt giai đoạn phát triển nhanh chóng và quá mức của khu vực ngân hàng nội địa tại hầu hết các nước trên thế giới Sau năm 2008, số lượng ngân hàng chỉ tăng trung bình 4%/năm, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trung bình khoảng 12% trong giai đoạn 2003-2007 Tại một số hệ thống ngân hàng châu Âu, tỷ trọng tài sản ngân hàng so GDP giảm đáng kể Tuy nhiên, tỷ trọng này tăng cao tại những ngân hàng ít chịu tác động của khủng hoảng, nhất là tại các nước mới nổi Trong số này, hệ thống ngân hàng Trung Quốc phát triển rất nhanh, từ tỷ trọng 230% GDP trong năm 2010 lên 310% GDP trong năm 2016, trở thành hệ thống ngân hàng lớn nhất trên thế giới, chiếm khoảng 27% tổng tài sản ngân hàng, tăng trên hai lần so với tỷ trọng 13% vào năm 2010

Trang 10

Cùng với xu hướng cạnh tranh ngày càng gay gắt từ những kênh trung gian tài chính khác, tăng trưởng chậm dần của hệ thống ngân hàng cũng thể hiện qua sự suy giảm về tỷ trọng tài sản của hệ thống ngân hàng trong hệ thống các định chế tài chính tại nhiều nước trên thế giới

Tại Mỹ và châu Âu, quy mô tài sản, số lượng chi nhánh và lao động trong ngành ngân hàng đã giảm mạnh do dư thừa năng lực so với quy mô dân số, chủ yếu là ngân hàng tư nhân Tại một số nước châu Âu, số lượng lao động và mạng lưới chi nhánh giảm dần, nhất là tại những nước dư thừa năng lực so với quy mô dân số như Italia

và Tây Ban Nha Trái lại, số lượng lao động và chi nhánh ngân hàng tại một số nước mới nổi tăng khá nhanh, nhất là tại Trung Quốc, Ấn Độ, và Mêhicô, mặc dù vẫn thấp hơn so với tại hầu hết các nước phát triển, nếu so sánh với quy mô dân số

Thứ hai, về mức độ tập trung hóa hệ thống ngân hàng

Trong thập kỷ qua, số lượng ngân hàng tại hầu hết các nước đều giảm dần, chủ yếu là nhóm ngân hàng nhỏ Tại các nền kinh tế lớn, làn sóng hợp nhất và mua lại ngân hàng có dấu hiệu trầm lắng hơn so với những giai đoạn trước đây Tại châu Âu,

xu hướng suy giảm này thể hiện rõ nét trong nhóm ngân hàng hoạt động xuyên biên giới hơn là nhóm ngân hàng hoạt động trong nước Điều này cho thấy, các ngân hàng

đã tập trung mở rộng thị trường trong nước

Mô hình sau khủng hoảng tài chính cũng cho thấy, xu hướng chủ đạo tại các nước phát triển hàng đầu là tập trung vào củng cố hệ thống ngân hàng hơn là mua bán và sáp nhập Xu hướng củng cố hệ thống ngân hàng cũng tăng cao tại những nước ít chịu tác động của khủng hoảng như Australia, Brazil, Singapore, nhưng giảm tại một

số nước như Vương quốc Bỉ, Trung Quốc, Ấn Độ, và Mêhicô Về tổng thể, làn sóng tập trung hóa ngân hàng sau khủng hoảng có xu hướng tăng cao

Thứ ba, về mô hình kinh doanh

Các ngân hàng đã đánh giá lại các hoạt động kinh doanh, thích ứng với những quy định khắt khe hơn về vốn và thanh khoản Tiền gửi trở thành nguồn vốn được

Ngày đăng: 28/05/2020, 08:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w