1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG ĐÁNH GIÁ RỦI RO KHI XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HIỆU QUẢ TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN

14 187 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mọi hoạt động của doanh nghiệp nói chung và Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nói riêng đều có thể phát sinh rủi ro, vì vậy mà đơn vị phải luôn đánh giá và phân tích những nhân tố ảnh hưởng tạo nên rủi ro có thể làm cản trở quá trình đạt được mục tiêu và phải cố gắng kiểm soát để tối thiểu hóa những tổn thất do các rủi ro này gây nên. Chính vì vậy, đánh giá rủi ro (ĐGRR) được xem là bước quan trọng đầu tiên để có sơ sở xác định, thiết lập các thủ tục kiểm soát phù hợp để quản lý rủi ro, nhằm đạt được mục tiêu đơn vị đã đề ra. Trong đánh giá rủi ro nhà quản lý phải cân nhắc đến những thay đổi có thể xảy ra của môi trường bên ngoài cũng như môi trường bên trong của tổ chức có thể cản trở khả năng đạt được các mục tiêu. Trong phạm vi bài viết, tác giả đưa ra những vấn đề cần lưu ý đối với cấu phần đánh giá rủi ro khi xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trong quá trình hoạt động của QTDND.

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG ĐÁNH GIÁ RỦI RO KHI XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HIỆU QUẢ

TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN …….//…….

TÓM TẮT:

Mọi hoạt động của doanh nghiệp nói chung và Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nói riêng đều có thể phát sinh rủi ro, vì vậy mà đơn vị phải luôn đánh giá và phân tích những nhân tố ảnh hưởng tạo nên rủi ro có thể làm cản trở quá trình đạt được mục tiêu

và phải cố gắng kiểm soát để tối thiểu hóa những tổn thất do các rủi ro này gây nên Chính vì vậy, đánh giá rủi ro (ĐGRR) được xem là bước quan trọng đầu tiên để có sơ sở xác định, thiết lập các thủ tục kiểm soát phù hợp để quản lý rủi ro, nhằm đạt được mục tiêu đơn vị đã đề ra Trong đánh giá rủi ro nhà quản lý phải cân nhắc đến những thay đổi có thể xảy ra của môi trường bên ngoài cũng như môi trường bên trong của tổ chức

có thể cản trở khả năng đạt được các mục tiêu Trong phạm vi bài viết, tác giả đưa ra những vấn đề cần lưu ý đối với cấu phần đánh giá rủi ro khi xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trong quá trình hoạt động của QTDND

Giới thiệu:

Theo khoản 6, Điều 4 Luật TCTD 2010 thì QTDND là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã, để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của luật này và luật hợp tác xã, nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống QTDND hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các

Trang 2

hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống Hoạt động của QTDND phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển

Được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1993 cũng như trải qua hơn 25 năm hình thành và phát triển, hệ thống QTDND Việt Nam đã khẳng định được vị thế và vai trò của mô hình kinh tế hợp tác xã kiểu mới trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, đóng góp ngày càng quan trọng cho công cuộc xoá đói giảm nghèo, mở rộng dịch vụ ngành nghề, tạo công ăn việc làm, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi và đẩy lùi một số tệ nạn ở nông thôn, là một kênh huy động vốn quan trọng và đóng góp tích cực trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn

Tuy nhiên hiện nay, với sự cạnh tranh và những khó khăn nhiều chiều từ nền kinh

tế, tổ chức tín dụng nói chung và QTDND nói riêng ngày càng quan tâm nhiều hơn đến quản trị rủi ro và xây dựng hệ thống kiểm soát - kiểm toán nội bộ đầy đủ và hiệu quả, nhằm giúp tổ chức hạn chế những sự cố, mất mát, thiệt hại, tăng hiệu quả hoạt động của

tổ chức Trong thời gian qua, nhiều QTD đã phải gánh chịu tổn thất lớn là do không nhận biết và đánh giá rủi ro trong sản phẩm, hoạt động mới, hoặc không cập nhật kết quả đánh giá rủi ro khi có thay đổi đáng kể trong môi trường pháp lý mới hay điều kiện kinh doanh Nhiều trường hợp cho thấy các hệ thống kiểm soát thích hợp với các sản phẩm đơn giản không có khả năng xử lý các sản phẩm phức tạp hơn; Doanh thu cao từ các khoản cho vay nhất định làm cho ban lãnh đạo sao nhãng nhu cầu phải đánh giá toàn diện các rủi ro, gắn liền với các giao dịch, dành đủ nguồn lực cho việc giám sát trực tiếp

và rà soát rủi ro Khi môi trường hoạt động thay đổi, Ban lãnh đạo không cập nhật quá trình đánh giá rủi ro, thể hiện như khi phát triển sản phẩm tinh vi và phức tạp hơn, KSNB đã không được nâng cấp để đáp ứng những sản phẩm này, hay khi triển khai một hoạt động kinh doanh mới mà không đánh giá toàn diện về các rủi ro liên quan hệ thống KSNB sẽ khó có thể xử lý rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh mới Như vậy, Kiểm soát nội

bộ ( tổ chức, điều hành, vận hành quy trình, con người…) của QTD đã không phù hợp với bản chất, độ phức tạp và rủi ro của các hoạt động nội bảng và ngoại bảng của QTD

Trang 3

Để giới hạn rủi ro ở mức chấp nhận được, nhà quản lý phải dựa trên các mục tiêu

đã được xác định, tiến hành nhận dạng và phân tích rủi ro, nhận diện và phân tích những thay đổi trọng yếu, từ đó mới có thể quản trị được rủi ro

Nội dung nghiên cứu

1 Nhận diện rủi ro trong hoạt động của QTDND

Rủi ro được hiểu là tập hợp các nhân tố bên trong và bên ngoài có thể cản trở QTDND thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình Như vậy, rủi ro không chỉ bao gồm khả năng xấu có thể xảy ra (mối nguy hiểm), mà còn là khả năng tốt đẹp có thể xảy

ra (các cơ hội), hoặc khả năng kết quả thực tế không giống với những gì mong đợi (sự không chắc chắn) và bất kỳ điều gì có thể ảnh hưởng đến việc làm giảm vốn tự có, thu nhập dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của QTDND

Để việc nhận diện rủi ro đạt hiệu quả, QTDND cần chú ý đến những nội dung sau:

Đối với thông tin đầu vào trong quy trình nhận diện rủi ro

+ Thông tin về các sự kiện bên ngoài

Nền kinh tế, ngành nghề kinh doanh, môi trường pháp lý cũng như những hoạt động của

QTDND luôn thay đổi và phát triển Kiểm soát nội bộ ( KSNB) hữu hiệu trong điều kiện này có thể lại không hữu hiệu trong điều kiện khác Do vậy, nhận diện rủi ro cần được tiến hành một cách liên tục và việc xác định các mối đe dọa gặp phải thông qua xem xét các thông tin về các sự kiện bên trong và bên ngoài tổ chức là việc làm rất quan trọng

Đối với các thông tin về sự kiện bên ngoài thường liên quan đến môi trường chính trị -pháp luật, môi trường kinh tế, môi trường văn hoá xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường công nghệ, khách hàng và đối thủ cạnh tranh Trong đó, chính trị và pháp luật sẽ

là yếu tố đầu tiên mà các nhà quản lý QTDND phải quan tâm phân tích để dự báo mức

độ an toàn trong các hoạt động Khi các yếu tố như thể chế chính trị, sự ổn định hay biến động về chính trị tại quốc gia hay một khu vực là những tín hiệu ban đầu giúp các nhà quản trị nhận diện đâu là cơ hội hoặc đâu là nguy cơ của tổ chức để đề ra các quyết định

Trang 4

đầu tư, kinh doanh Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong hệ thống luật pháp cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của QTDND, có thể dẫn đến gia tăng áp lực cạnh tranh và sẽ làm cho phạm vi hoạt động của QTDND bị tác động và ảnh hưởng , từ đó rủi ro gia tăng một cách đáng kể

Điển hình, trên giác độ của người thực hiện thì việc thay đổi đồng thời nhiều nội dung hoạt động theo quy định của Thông tư 04/2015, hay Chỉ thị 06/CT-NHNN/2018 sẽ làm thay đổi căn bản hoạt động của một số Quỹ do các nguyên nhân khách quan và chủ quan sẽ khiến các QTDND gặp những khó khăn nhất định trong thực hiện

Chẳng hạn, một số QTD gặp nhiều khó khăn trong việc xét kết nạp thành viên, góp vốn xác lập tư cách thành viên và thường niên cũng như thủ tục, trình tự tăng vốn để tuân theo các quy định tại Luật các TCTD 2010, Thông tư 04/2015/TT-NHNN và Thông

tư 05/2018/TT-NHNN Quy định vốn góp xác định tư cách thành viên là 300.000 VNĐ/ người, phí duy trì tư cách thành viên tối thiểu là 100.000 VNĐ/người/năm khiến các Quỹ gặp khó khăn trong việc giữ thành viên cũ, vận động thành viên mới Số tiền theo quy định này là khá cao đối với nhiều thành viên, khiến họ có thể rút khỏi Quỹ, từ đó khiến số lượng thành viên nhiều Quỹ giảm sút trong thời gian qua Với đa số các Quỹ, quy định lượng vốn huy động từ thành viên QTDND phải đạt 50% đối với QTDND hoạt động trên một địa bàn xã, phường, và 60% đối với QTDND hoạt động liên xã, phường cũng đã hạn chế các QTD trong việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong người dân, cũng như hạn chế phát triển thành viên, gây khó khăn cho Quỹ vì với các Quỹ này, hầu hết các thành viên muốn dùng tiền để đầu tư, sản xuất kinh doanh chứ ít có tiền nhàn rỗi để

đi gửi

Hay đối với việc cho vay vốn thì QTD cũng gặp khó khăn do vốn tự có của Quỹ thấp, với ràng buộc về giới hạn các tỷ lệ an toàn theo Thông tư 32/2015/TT-NHNN quy định, các khách hàng - thành viên của Quỹ là các thành viên trong một gia đình thì tổng

dư nợ cho vay không được vượt quá 25% vốn tự có của QTD Khi các khách hàng -thành viên của quỹ có nhu cầu vay vốn với số dư nợ lớn nhằm đủ vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, các Quỹ này gặp khó khăn và không đáp ứng đủ nhu cầu vay

Trang 5

vốn của một số khách hàng này Mặt khác, các QTDND tại địa bàn đô thị còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ cácTCTD trên cùng địa bàn hoạt động Các NHTM với quy mô vốn tự có lớn hơn cũng như đối tượng khách hàng đa dạng, phong phú hơn, từ đó các NHTM có khả năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng về cả quy mô, thời hạn lẫn chi phí các khoản vay Việc họ cung cấp cho khách hàng vay vốn nhiều ưu đãi hơn so với QTDND khiến các QTDND hoạt động ở khu vực đô thị càng có nhiều khó khăn vướng mắc trong hoạt động vay vốn

Ngoài ra, trong rất nhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ khách hàng của QTDND Nhưng bên cạnh đó, đôi khi chính sự mất cân bằng về môi trường sinh thái, thảm họa thiên nhiên sẽ có tác động trực tiếp đến khách hàng của QTDND dẫn đến sự gia tăng rủi ro mà đơn vị cần quan tâm để đảm bảo phát triển bền vững

+ Thông tin về các sự kiện thuộc môi trường nội bộ của QTDND

QTDND không chỉ đối diện với những rủi ro xuất phát từ những ảnh hưởng của nhân tố bên ngoài, mà còn xuất phát từ các sự kiện thuộc môi trường nội bộ Nếu QTDND xây dựng được một cơ chế có khả năng dự đoán những thay đổi ảnh hưởng đến đơn vị, sẽ giúp tránh những rủi ro đe dọa và tạo thuận lợi cho những cơ hội sắp đến Một đơn vị càng dự đoán những thay đổi và những ảnh hưởng của nó càng nhiều thì những tình huống bất ngờ không mong muốn càng ít xảy ra Trong đó, QTDND cần đặc điệt lưu ý đến những thay đổi liên quan đến mô hình kinh doanh, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, kỹ thuật mới, thay đổi nhân sự chủ chốt Thí dụ, sự ra đời của một sản phẩm mới cũng có thể làm phức tạp thêm danh mục sản phẩm, làm cho nó khó khăn hơn cho nhân viên để giải thích rõ ràng những gì tổ chức đã cung cấp và làm cho nó khó khăn hơn cho khách hàng

để quyết định sản phẩm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của họ Mỗi khi một sản phẩm mới được thêm vào, khối lượng thông tin phải nhớ và phải tổ chức tăng lên, điều này làm tăng khả năng nhầm lẫn và sai sót

QTD cũng cần lưu ý đến các thông tin lịch sử QTDND có thể soát xét môi trường nội bộ thông qua đánh giá các nguồn thông tin có sẳn như : Kết quả theo dõi, phân tích và

Trang 6

dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính, tiền tệ, môi trường pháp lý và lĩnh vực khác có liên quan; Báo cáo cập nhật về tình hình tuân thủ quy định pháp luật, quy định nội bộ của QTDND; Kết quả theo dõi, giám sát, cập nhật tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của QTDND; Kết quả giám sát, đánh giá, phân tích các tài

sản, nợ phải trả, cơ cấu vốn chủ sở hữu, kế hoạch vốn và rủi ro phát sinh trong các lĩnh

vực liên quan đến hoạt động kinh doanh của QTDND; Kết quả đánh giá nội bộ về mức

đủ vốn, báo cáo nội bộ về các loại rủi ro và kết quả kiểm tra sức chịu đựng; Hệ thống văn bản nội bộ; Báo cáo và biên bản các cuộc họp của QTDND; Các quy trình, thủ tục và các sổ tay nghiệp vụ Với những thông tin lịch sử sẽ giúp cho nhà quản trị có sự theo dõi, so sánh và soát xét thì thông qua những dẫn liệu có thể cho thấy có vấn đề trong hoạt động kinh doanh của QTDND

Những yếu tố quan trọng trong nhận diện rủi ro

Xác định mục tiêu phù hợp và cụ thể

Xác định mục tiêu không phải là một nhân tố của KSNB, nhưng nó là một điều kiện tiên quyết để KSNB có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình bởi nhà quản lý phải dựa trên các mục tiêu đã được xác định thì mới thực hiện nhận dạng và phân tích rủi ro, nhận diện và phân tích những thay đổi trọng yếu làm ảnh hưởng đến việc đạt mục tiêu,

từ đó mới có thể quản trị được rủi ro Khi xác định mục tiêu thì phải ở hai cấp độ: toàn

tổ chức và từng bộ phận (Trên cơ sở đánh giá tổng thể tiềm lực, cơ hội thách thức mà tổ chức phải đối mặt để xác định mục tiêu chung, từ đó sẽ xây dựng mục tiêu cụ thể của từng bộ phận, từng cá nhân

Thí dụ, một QTDND có dự định triển khai dự án nhằm mục tiêu cải thiện tình trạng kinh tế và đời sống của người dân trên địa bàn bằng cách cung cấp dịch vụ tài chính cho phụ nữ nghèo thông qua việc giúp Hội phụ nữ phát triển mô hình cho vay trả góp, thì mục tiêu trước hết là thí điểm ở vài nơi, sau đó mới mở rộng ra nhiều địa điểm khác nhằm hạn chế rủi ro trên diện rộng Để đạt được mục đích cuối cùng là xoá đói giảm nghèo và tăng thu nhập thì chương trình tín dụng này QTD phải đạt được các mục tiêu

Trang 7

cụ thể là: cung cấp tín dụng cho phụ nữ nghèo có vốn đầu tư vào các hoạt động sản xuất, thu hồi được nợ…

Như vậy, nhà quản lý cần cụ thể hóa mục tiêu, thông thường có ba nhóm mục tiêu: hoạt động, thông tin, tuân thủ Trong đó mục tiêu hoạt động liên quan đến sự hữu hiệu

và hiệu quả của các hoạt động của QTD bao gồm kết quả hoạt động, kết quả tài chính và bảo vệ tài sản Mục tiêu hoạt động được xác định rõ ràng sẽ tạo điều kiện phân bổ các nguồn lực chủ yếu của đơn vị dễ dàng hơn, tập trung vào những nơi cần thiết để đạt được mục tiêu Nếu mục tiêu hoạt động của đơn vị không rõ ràng và không thuyết phục, thì nguồn lực của đơn vị có thể bị phân bổ không hợp lý

Cân nhắc gian lận tiềm tàng khi nhận diện các rủi ro phát sinh trong quá trình đạt dược các mục tiêu

Nhận diện rủi ro không chỉ bao gồm rủi ro do sai sót mà còn cả rủi ro do gian lận gây ra Các loại gian lận thường bao gồm gian lận trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính, biến thủ tài sản và tham ô Đối với mỗi loại gian lận sẽ ảnh hưởng đến các mục tiêu khác nhau Thí dụ, khi các báo cáo bị cố ý trình bày sai lệch hoặc thiếu thông tin để đánh lừa người sử dụng thì loại gian tài lận này thường ảnh hưởng đến mục tiêu báo cáo Hay khi cho vay một khách hàng vượt quá 15% trên vốn tự có thì gian lận này sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu tuân thủ

Rủi ro do gian lận thường phát sinh khi hội đủ ba yếu tố, đó là: động cơ, cơ hội thực hiện việc gian lận và thái độ cá tính Trong đó, thái độ cá tính đóng vai trò rất quan trọng vì không phải tất cả mọi người khi gặp áp lực và có cơ hội cũng đều thực hiện gian lận, vì nó còn phụ thuộc rất nhiều vào thái độ hay cá tính của từng cá nhân Chủ thể thực hiện hành vi gian lận thường liên quan đến hai nhóm đối tượng, đó là : trong và ngoài

QTDND Đối với chủ thể bên trong thường rơi vào những trường hợp lợi dụng chức vụ

quyền hạn để thực hiện hành vi tham nhũng hay lợi dụng vị trí công tác, uy tín của QTD

để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của Quỹ Tổ chức và cá nhân thông qua các biện pháp nghiệp vụ như huy động vốn cho QTD, sau đó không đưa vào QTD

mà chiếm đoạt luôn tiền, tài sản của các cá nhân, tổ chức; hay trường hợp vì để đảm bảo

Trang 8

đạt chỉ tiêu được giao nên cán bộ nhiệp vụ sử dụng các xảo thuật để thực hiện hành vi gian lận Lưu ý, ngoài gian lận liên quan đến tài sản, tham ô thì còn việc gian lận trên báo cáo tài chính khi thông tin rên báo cáo tài chính bị bóp méo, phản ánh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lường gạt người sử dụng thông tin Chẳn hạn, ghi nhận doanh thu không có thật, che dấu nợ phải trả và chi phí, ghi sai niên độ hay khai báo không đầy đủ thông tin Đối với gian lận từ bên ngoài cũng xảy ra nhưng không quá nhiều như NHTM bởi đặc thù hoạt động của QTDND trong phạm vi một phường, một xã hay liên xã liên kề Chính điều này giúp cho cán bộ QTDND am hiểu về khách hàng nhiều hơn, từ đó hạn chế bớt những gian lận từ khách hàng bên ngoài

Nhận dạng rủi ro phải được thực hiện ở tất cả các cấp trong đơn vị

Nhận dạng rủi ro cần xem xét các rủi ro ở các cấp độ khác nhau trong cơ cấu tổ chức của QTD, bao gồm rủi ro ở mức độ toàn đơn vị và rủi ro ở mức độ hoạt động của từng đơn vị phòng ban, từng quy trình kinh doanh Đánh giá đúng rủi ro ở mức độ hoạt động sẽ góp phần duy trì rủi ro ở mức độ toàn đơn vị trong phạm vi chấp nhận được Muốn vậy, QTD phải nhận dạng và hiểu rõ bản chất, nguyên nhân gây ra các rủi ro trong mọi hoạt động kinh doanh Thí dụ, đối với các QTD có địa bàn hoạt động ở những vùng miền núi khó khăn thì khách hàng của họ đa phần là các hộ nghèo sinh sống ở khu vực nông thôn, nên hoạt động nông nghiệp và sản xuất nhỏ là chủ yếu, do đó khi tiến hành cho vay nếu không kết hợp sự tư vấn chặt chẽ của các hiệp hội, ngành nghề, chính quyền địa phương để tạo ra sản phẩm có giá trị cao, giúp tăng thu nhập cho hộ nghèo sẽ khó đảm bảo hiệu quả cho các chương trình cũng thu hồi vốn vay của đơn vị

Hiểu được khẩu vị rủi ro và xác định hạn mức rủi ro mà QTD có thể chấp nhận

Một cơ chế quản trị rủi ro tốt sẽ đem lại kết quả là rủi ro được quản lý trong phạm

vi khẩu vị rủi ro mà QTD hiểu rõ và chấp nhận, đảm bảo không có những tổn thất bất ngờ ngoài dự kiến đối với hoạt động kinh doanh Khẩu vị rủi ro phản ánh thái độ đối với việc chấp nhận rủi ro ở giới hạn/mức độ nhất định, trong giới hạn đó QTD có khả năng và

sự sẵn sàng (có chuẩn bị trước) để hứng chịu, khắc phục và vượt qua các rủi ro (tổn thất) tác nghiệp Khẩu vị rủi ro phải xác định rõ đâu là các loại rủi ro mà QTD không chấp nhận;

Trang 9

các loại rủi ro mà QTD có thể chấp nhận tới một mức độ nào đó khi đưa ra một sản phẩm/dịch vụ/quy trình nghiệp vụ mới; các loại rủi ro mà QTD có thể chấp nhận vì mục tiêu cạnh tranh, như giá thành dịch vụ thấp, không thu phí đối với một sản phẩm dịch vụ

cụ thể hay một nhóm đối tượng khách hàng nào đó Trong mỗi giai đoạn cần xác định rõ khẩu vị rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro mong muốn có xứng đáng với lợi ích, mục tiêu tăng trưởng không và phù hợp với mục tiêu chiến lược

Đối với hạn mức rủi ro (bao gồm hạn mức rủi ro định tính, hạn mức rủi ro định lượng) thường được quy định bằng văn bản do Ban Điều hành ban hành theo thẩm quyền tối thiểu gồm các nội dung: Hạn mức rủi ro; thay đổi hạn mức rủi ro; trường hợp ngoại lệ không tuân thủ hạn mức rủi ro; chế tài và quy trình xử lý đối với các trường hợp

vi phạm hạn mức rủi ro

Cách xác định đúng rủi ro

Để xác định đúng rủi ro thì QTD cần lưu ý các vấn đề sau:

Nhận dạng rủi ro dựa vào mục tiêu hoat động của QTD Tất cả các rủi ro trọng yếu (gồm cả rủi ro đang có, rủi ro chưa được phát hiện và rủi ro mới) ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động kinh doanh của QTD phải được nhận ra và hiểu được

 Thường xuyên và liên tục nhận dạng rủi ro theo giao dịch và danh mục tài sản đảm bảo nhận diện đầy đủ tính liên kết của rủi ro và tính tương tác giữa các rủi ro Chỉ khi nào thực sự xác định và lượng hóa được mỗi rủi ro, chúng ta mới quyết định được rủi ro đó cần được hạn chế, triệt tiêu, hay duy trì

 Định kỳ hằng năm hoặc khi cần thiết, nhà quản trị nên thực hiện kiểm tra sức chịu đựng để kiểm tra khả năng chịu đựng của QTD đối với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro tập trung và sự thay đổi về tỷ lệ an toàn vốn

Lập tài liệu rủi ro

Để giúp cho việc nhận diện và đánh giá rủi ro được thực hiện đạt hiệu quả cao thì trong quá trình hoạt động, QTD phải lập tài liệu rủi ro thông qua việc ghi chép thường xuyên và lưu trữ hồ sơ liên quan đến các vấn đề như: Chủ đề, đối tượng có thể cản trở

Trang 10

việc đạt được mục tiêu, xác định nguy cơ có thể xảy ra; tác động tiêu cực cần tránh; mức độ nghiêm trọng của tác động; khả năng xảy ra và mức độ rủi ro cũng như hành động phòng ngừa (bao gồm ai là người thực hiện quản lý rủi ro và khi nào thực hiện) Các rủi ro cần được xác định và giám sát liên tục trong phạm vi toàn tổ chức, tại từng bộ phận, cơ sở vật chất của bộ phận quản lý rủi ro và KSNB của QTD phải bắt kịp với những thay đổi trong mức độ và loại hình rủi ro mà đơn vị đương đầu (bao gồm cả rủi

ro do tăng trưởng) và với các yếu tố rủi ro của môi trường bên ngoài

Phương pháp nhận diện rủi ro

Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nhận diện rủi ro, QTD có thể sử dụng kết hợp các phương pháp nhận diện khác nhau Những phương pháp thường được sử dụng

có thể kể đến là thống kê các sự kiện; tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội họp, trao đổi; phỏng vấn, điều tra và làm bảng hỏi; Đánh giá của chuyên gia; Phân tích các báo cáo tài chính; Sử dụng lưu đồ; Phân tích SWOT Thí dụ, rủi ro có thể được nhận diện trực tiếp bởi các chuyên gia có kinh nghiệm phù hợp với các dự án hoặc các lĩnh vực kinh doanh tương ứng Các chuyên gia này cần được xác định bởi người quản lý dự án và mời đến

để xem xét tất cả các khía cạnh của dự án và đề xuất rủi ro có thể dựa vào kinh nghiệm

và lĩnh vực chuyên môn của họ trước đó Các đánh giá có tính chất thành kiến của các chuyên gia nên được xem xét trong quá trình nhận diện và đánh giá rủi ro Hay bằng cách phân tích bảng tổng kết tài sản, báo cáo hoạt động kinh doanh, các tài liệu hỗ trợ khác người ta có thể xác định được mọi nguy cơ rủi ro của tổ chức về mặt tài sản, nguồn nhân lực và trách nhiệm pháp lý và nhân sự…Từ đó, nhà quản lý cấp cao có thể dự đoán được các nguy cơ rủi ro tiềm tàng từ các báo cáo tài chính và dự đoán ngân sách tài chính của tổ chức

Danh sách rủi ro

Việc liệt kê danh mục các rủi ro chủ yếu có khả năng tác động trực tiếp đến chất lượng hoạt động và sự tồn tại của QTD là vấn đề hết sức cần thiết Vì vậy, danh mục rủi

ro (trong đó các rủi ro được xác định, đánh giá, giám sát, báo cáo) luôn có sẵn để những người phụ trách quản trị rủi ro và nhà quản lý cấp cao xem xét Các rủi ro chính có thể

Ngày đăng: 28/05/2020, 08:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w