Từ những năm 19501960, Chính phủ Hàn Quốc đã chủ trương xây dựng các tập đoàn kinh tế Chaebol lớn mạnh theo mô hình tương tự như các Zaibatsu hoặc Keiretsu tại Nhật bản để trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng chung của cả nền kinh tế và góp phần đưa nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu của Hàn Quốc trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại trên thế giới. Theo đó, Chính phủ Hàn Quốc đã có những chính sách ưu đãi về tín dụng cho các Chaebol và theo nhiều nghiên cứu thì những chính sách ưu đãi này đã mang lại hiệu quả cho việc phát triển các Chaebol trong những thập niên đầu cải cách kinh tế tại Hàn Quốc. Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, bài viết cũng rút ra các bài học về chính sách tín dụng cho Việt Nam trong quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân.
Trang 1Chính sách tín dụng của Chính
phủ Hàn Quốc để phát triển các tập đoàn kinh tế Chaebol và bài học rút ra cho Việt Nam
Từ những năm 1950-1960, Chính phủ Hàn Quốc đã chủ trương xây dựng các tập đoàn kinh tế Chaebol lớn mạnh theo mô hình tương tự như các Zaibatsu hoặc Keiretsu tại Nhật bản để trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng chung của
cả nền kinh tế và góp phần đưa nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu của Hàn Quốc trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại trên thế giới Theo đó, Chính phủ Hàn Quốc đã có những chính sách ưu đãi về tín dụng cho các Chaebol và theo nhiều nghiên cứu thì những chính sách ưu đãi này đã mang lại hiệu quả cho việc phát triển các Chaebol trong những thập niên đầu cải cách kinh tế tại Hàn Quốc Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, bài viết cũng rút ra các bài học về chính sách tín dụng cho Việt Nam trong quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân
1 Sự phát triển và vai trò của các Chaebol trong nền kinh tế Hàn Quốc
Chaebol là mô hình các tập đoàn thuộc sở hữu của gia đình ở Hàn Quốc Từ đầu những năm 1960, Hàn Quốc đã đưa ra các kế hoạch 5 năm và chiến lược phát triển kinh tế, chọn một số tập đoàn lớn để phối hợp thực hiện chiến lược phát triển kinh tế quốc gia theo hướng xuất khẩu và đồng thời thay thế hàng nhập khẩu Sự hợp tác giữa chính phủ với các chaebol đã đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và tạo nên những kỳ tích về tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc Kinh
tế Hàn quốc đã phát triển nhanh chóng từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới đã trở thành một trong những cường quốc kinh tế, một quốc gia công
Trang 2nghiệp hiện đại có GDP đứng thứ tư Châu Á và thứ mười hai trên thế giới trong năm 2018 GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc tăng từ mức 158 USD năm
1960 lên đến 31.362 USD năm 2018 và Hàn Quốc được xem là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình trên 10% trong nhiều thập niên bất chấp các ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997, kinh tế quốc gia nay đã khôi phục nhanh chóng và phát triển bền vững Năm 1996, Hàn Quốc trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) bao gồm các nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới và các Chaebol giữ vai trò trung tâm trong việc đưa nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu của Hàn Quốc vào những năm
1960 trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới
Trong những năm từ 1970 đến 1980, Kinh tế Hàn Quốc tập trung vào các ngành công nghiệp nặng và sản xuất xe hơi và các Chaebol đảm nhiệm vai trò
là các doanh nghiệp đầu tàu trong các lĩnh vực này Hiện nay, trong lĩnh vực sản xuất thép, POSCO là nhà sản xuất hàng đầu Hàn Quốc và đứng thứ 3 trên thế giới
về sản xuất thép Hàn Quốc là nước có ngành công nghiệp đóng tàu lớn nhất trên thế giới với các công ty hoạt động đa quốc gia thuộc hai Chaebol là Samsung và Huyndai chiếm lĩnh thị phần lớn nhất trên thị trường đóng tàu toàn cầu Ngành công nghiệp sản xuất ô tô cũng phát triển một cách nhanh chóng, và Hàn Quốc đã trở thành một trong những nước sản xuất lắp ráp xe hơi đứng hàng đầu thế giới khi sản lượng sản xuất ô tô đứng thứ 5 toàn cầu với các thương hiệu nổi tiếng như Huyndai và Kia Bên cạnh lĩnh vực công nghiệp nặng và xe hơi, các lĩnh vực điện tử, điện thoại, sản xuất chất bán dẫn của Hàn Quốc cũng nằm trong những những nhà cung cấp, sản xuất, xuất khẩu hàng đầu thế giới hiện nay với các sản phẩm được sản xuất bởi tập đoàn Samsung và LG Bên cạnh sự đóng góp của các Chaebol vào nền kinh tế Hàn Quốc trong nhiều thập niên gần đây thì sự phát triển
Trang 3của các Chaebol đã cho thấy sự phụ thuộc của nền kinh tế nước này vào các tập đoàn lớn rất rõ rệt Trong năm tập đoàn đứng đầu là Samsung, Hyundai, SK Group,
LG và Lotte, chiếm khoảng 50% giá trị thị trường chứng khoán Hàn Quốc Trong năm 2017, 10 tập đoàn lớn nhất Hàn Quốc đã có kết quả doanh thu lên đến 677,8
tỷ USD, tương đương 44,2% GDP của quốc gia Trong khi đó, tỷ lệ này ở Nhật Bản năm 2017 là 24,6% GDP ở Mỹ là 11,8% GDP Chỉ riêng hai tập đoàn Samsung Electronics Co và Hyundai Motor Co đã có doanh thu chiếm đến 1/5 GDP nền kinh tế Trong năm 2017, Samsung Electronics có mức doanh thu 224,2
tỷ USD, tương đương 14,6% GDP, Hyundai Motor đứng thứ hai với 5,9% GDP, tiếp sau đó là LG Electronics Inc với 3,8% GDP, Posco với 3,7% GDP và Korea Electric Power Corp với 3,7% GDP Trong khi công ty có doanh thu hàng đầu ở
Mỹ, Walmart Inc có doanh thu năm 2017 chỉ chiếm 2,6% GDP Công ty có đóng góp lớn nhất vào GDP Nhật Bản năm 2017 là Toyota Motor Corp với 5,7% GDP
2 Các chính sách tín dụng, quy mô cấu trúc các khoản tín dụng và quản
lý rủi ro nhằm phát triển các Chaebol
Các chính sách tín dụng của Chính phủ
Nguyên nhân mang đến thành công như hiện nay của các Chaebol là nhờ sự hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Trong nhiều thập kỷ, chính phủ Hàn Quốc đã hỗ trợ các Chaebol dưới nhiều hình thức khác nhau, từ trợ cấp, cho vay cho đến ưu đãi thuế giúp các Chaebol trở thành trụ cột của nền kinh tế quốc gia này Từ sau Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), nhờ nguồn viện trợ của Mỹ cho Hàn Quốc, Chính phủ đã cung cấp hàng trăm triệu USD cho các khoản vay đặc biệt cũng như các hình thức hỗ trợ tài chính khác cho các Chaebol để xây dựng lại nền kinh tế, đặc biệt là các ngành công nghiệp quan trọng như xây dựng, hóa chất, dầu và thép Từ đầu những năm 1960 các Chaebol tiếp tục phát triển mạnh khi Chính phủ Hàn Quốc có chiến lược phát triển kinh tế định hướng xuất khẩu Bắt đầu từ năm 1961
Trang 4Chính phủ Hàn Quốc đã từng bước mua lại cổ phần và là cổ đông chi phối của một
số các ngân hàng thương mại, đồng thời Bộ Tài chính Hàn Quốc sẽ quyết định về vấn đề bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt tại các ngân hàng thương mại này hàng năm Ngoài ra, Hàn Quốc có các ngân hàng được thành lập và kiểm soát hoàn toàn bởi Chính phủ với việc nhà nước nắm giữ 100% cổ phần Chính phủ thông qua các ngân hàng thương mại mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối, các ngân hàng nhà nước nắm toàn bộ cổ phần để cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho các Chaebol
Vào thập niên 1960, Hàn Quốc là một quốc gia nghèo với tổng tiết kiệm nội địa của nền kinh tế rất thấp Để có thêm nguồn lực tài chính đầu tư cho các chiến lược phát triển công nghiệp mà trọng tâm là phát triển các Chaebol Chính phủ Hàn Quốc đã thông qua luật về bảo lãnh các món nợ nước ngoài nhằm tạo hành lang pháp lý đảm bảo cho các khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp Hàn Quốc Sau khi luật này được thông qua nhiều công ty Hàn Quốc dễ dàng hơn trong việc vay nợ nước ngoài để mở rộng đầu tư Theo đó, các khoản vay nợ có đảm bảo phải được chấp thuận của Hội đồng Kế hoạch kinh tế, trong đó quyết định tổng số nợ cần vay và các ưu tiên đầu tư vào các lĩnh cụ thể trong kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm Bộ Tài chính sẽ giám sát tất cả các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và lộ trình trả nợ của các doanh nghiệp Vào năm 1966, Chính phủ Hàn quốc còn cho phép các ngân hàng tham gia bảo lãnh các khoản vay mà không cần thông qua của Quốc Hội Tuy nhiên, tại các ngân hàng này thì Chính phủ là cổ đông nắm cổ phần chi phối
Hàn Quốc có các chương trình tín dụng xuất khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu Chương trình thông qua hệ thống ngân hàng thương mại cấp tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như nhập khẩu các nguyên liệu thô, hàng hóa trung gian để sử dụng sản xuất phục vụ mục tiêu xuất khẩu Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc cũng mở rộng cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng
Trang 5thương mại để cấp tín dụng cho các dự án đầu tư trang thiết bị trong lĩnh vực công nghiệp nặng, hóa chất vì những ngành này được ưu tiên phát triển trong giai đoạn thập niên 1970 Bên cạnh đó, chính phủ Hàn Quốc cũng thành lập ngân hàng xuất nhập khẩu với mục tiêu chính là cung cấp các khoản vay trung và dài hạn cho các doanh nghiệp xuất khẩu
Năm 1965, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện thay đổi chính sách về lãi suất Theo đó, lãi suất tiền gửi sẽ tăng lên và dao động khoảng từ 15%/năm đến 30%/năm, trong khi lãi suất cho vay của các khoản tín dụng dao động từ 16%/năm đến 26%/năm Sự thay đổi về chính sách lãi suất này đã khiến lãi suất nhiều khoản tín dụng còn thấp hơn lãi suất huy động, do đó sẽ khuyến khích tiết kiệm trong nền kinh tế và giảm gánh nặng nợ cho các doanh nghiệp Để hỗ trợ và đảm bảo việc kinh doanh có lãi của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc trả lãi suất ở mức 3,5%/năm cho các khoản dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Trung ương Đối với các khoản cho vay xuất khẩu lãi suất ở mức rất ưu đãi khoảng 6.5%/năm trong khi mặt bằng lãi suất đối với các khoản cho vay thông thường có lúc tăng lên 26%/năm Ngoài ra, lãi suất tiền gửi tăng đã dịch chuyển dòng vốn tiết kiệm của dân chúng từ các thị trường tài chính phi chính thức vào hệ thống ngân hàng thương mại Cụ thể, trong ba tháng đầu tiên
áp dụng chính sách lãi suất mới tổng tiền gửi tại các ngân hàng đã tăng 50% và trong 4 năm sau tỷ lệ tăng trưởng tiền gửi hàng năm là gần 100%/năm Đồng thời, tăng trưởng tín dụng hàng năm từ mức 10,9%/năm trong giai đoạn 1963-1964 lên đến 61.5%/năm trong giai đoạn 1965 - 1969
Chính phủ Hàn Quốc ban hành Nghị định về chính sách lãi suất và kiểm soát
sự phân bổ các khoản cho vay tín dụng trong nền kinh tế Theo Nghị định, cấm các khoản cho vay trên thị trường tín dụng phi chính thức và giảm lãi suất các khoản cho vay trong hệ thống ngân hàng từ khoảng 23%/năm xuống còn 15,5%/năm Hàn
Trang 6Quốc tăng cường cho vay theo chính sách tín dụng chỉ định đối với các nghành công nghiệp sản xuất ô tô và công nghiệp nặng Năm 1973, Chính phủ Hàn Quốc thiết lập một quỹ đầu tư quốc gia để tài trợ cho vay đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp nặng và sản xuất ô tô Quỹ này được đóng góp từ các trung gian tài chính và Chính phủ đã chiếm khoảng 60% các khoản cho vay trong đầu tư đối với lĩnh vực công nghiệp nặng và sản xuất ô tô Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc cũng tăng kỳ hạn cho vay đối với đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp nặng và sản xuất ô tô tối đa từ 8 năm lên 10 năm Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc ban hành hướng dẫn cho vay trong hệ thống ngân hàng thương mại khi quy định lĩnh vực công nghiệp nặng và sản xuất ô tô là ưu tiên hàng đầu khi xem xét cấp tín dụng
Quy mô và cấu trúc các khoản tín dụng cho các Chaelbol
Quy mô các khoản tín dụng từ chính sách hỗ trợ của Chính phủ Hàn quốc cho các Chaebol chiếm khoảng 50% tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tài chính trong nước trong những năm 1970 Tuy nhiên, quy mô tín dụng này đã giảm khoảng còn 31% trong cuối những năm 1980 bởi vì sự mở rộng kinh doanh của các
tổ chức tài chính phi ngân hàng và các tổ chức này không có nghĩa vụ phải đáp ứng các khoản cho vay tín dụng chính sách cho các Chaebol từ Chính phủ, đồng thời, Chính phủ thay đổi định hướng tín dụng nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp Trong giai đoạn 1973 - 1981, cho vay đối với xuất khẩu chiếm
tỷ lệ lớn nhất trong tổng tín dụng ưu đãi của Chính phủ cho các Chaebol khi chiếm 21,3%, nhưng tỷ lệ này đã giảm dần từ giữa năm 1980 khi cán cân thương mại của Hàn Quốc đã đạt thặng dự lớn và đến giai đoạn 1987-1991 quy mô của các khoản tín dụng xuất khẩu trong tổng tín dụng chính sách giảm xuống còn 5,2%
Trang 7Tại Hàn Quốc nguồn vốn để cho vay đối với các khoản tín dụng chính sách theo định hướng của Chính phủ cho các Chaebol đến từ Ngân hàng Trung ương, tiền gửi được huy động qua các ngân hàng trong nước, các quỹ tài chính của Chính phủ Trong đó, nguồn vốn hỗ trợ cho các khoản tín dụng chính sách từ các quỹ tài chính Nhà nước chiếm khoảng 7.6%, Ngân hàng Trung ương Hàn quốc đóng vai trò quan trọng hơn chiếm khoảng 35,1% khi tái chiết khấu hay có các chính sách
ưu đãi để tài trợ các khoản tín dụng của các ngân hàng thương mại trong nước Từ giữa năm 1980 trở đi, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc tăng cường cho vay tái chiết khấu để tài trợ cho ngân hàng thương mại cấp tín dụng nhằm tái cấu trúc các doanh nghiệp yếu kém trong các lĩnh vực vận tải biển, xây dựng các dự án ở nước ngoài và điện tử với tổng dư nợ trong giai đoạn 1985 - 1987 là 1,7 nghìn tỷ won với lãi suất 3% Đối với lĩnh vực xuất khẩu, trong giai đoạn 1973 - 1991, ngân hàng Trung ương Hàn Quốc đã có các chính sách ưu đãi thông qua các ngân hàng thương mại để cho vay xuất khẩu hoặc trực tiếp cho vay tái chiết khấu các giấy tờ
có giá từ các ngân hàng thương mại để tài trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu và
tỷ trọng dư nợ cho vay xuất khẩu đến từ hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương chiếm trên 50% tổng dư nợ cho vay xuất khẩu, trong khi đối với lĩnh vực nông lâm thuỷ
sản chỉ chiếm khoảng 18,5% Do đó, thực chất Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc
đã sử dụng chính sách tái chiết khấu như một công cụ để trực tiếp hỗ trợ các khoản
cho vay của ngân hàng thương mại đến các lĩnh vực kinh tế nằm trong ưu tiên chiến lược
Vai trò của chính phủ trong giải quyết các rủi ro sụp đổ của các Chaebol
Đầu tư cho các ngành công nghiệp của Hàn Quốc được tài trợ chủ yếu thông qua vay nợ trong suốt ba thập niên từ những năm 1960 Mặc dù các chính sách tài khoá cùng với lãi suất tín dụng cho vay thấp đã giúp cho các doanh nghiệp tích luỹ được lợi nhuận kiếm được từ các hoạt động đầu tư kinh doanh, tuy nhiên việc thiếu
Trang 8một thị trường vốn hiệu quả dẫn đến tín dụng từ ngân hàng và các khoản nợ nước ngoài là nguồn tài chính chủ yếu cho các dự án đầu tư mở rộng các sản xuất trong ngành công nghiệp Giai đoạn 1963 - 1971 dự nợ cho vay đối với lĩnh vực sản xuất tăng lên gấp 4 lần mặc dù khi thị trường chứng khoán bắt đầu có những bước phát triển từ những năm 1980 tạo điều kiện cho các doanh nghiệp niêm yết có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán nhưng kênh vay nợ từ hệ thống ngân hàng hoặc các khoản nợ nước ngoài vẫn là chủ yếu để tài trợ cho các hoạt động đầu tư Với tỷ lệ vay nợ cao trong các doanh nghiệp dẫn tới Hàn Quốc dễ bị tổn thương bởi các cú sốc trong nước và ngoài nước, tuy nhiên, rủi ro được giảm bớt khi Chính phủ Hàn Quốc thường có các chính sách để tháo gỡ cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong nền kinh tế Thực tế, Chính phủ Hàn Quốc đã có các chính sách tháo gỡ khó khăn cho các tập đoàn kinh tế trong các thời điểm 1969 - 1970,
1972, 1979-1981 và 1984 - 1988 để giúp nền kinh tế thoát khỏi suy thoái và khủng hoảng tài chính
Nền kinh tế được kiểm soát chặt chẽ bởi Chính phủ và dựa vào tín dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư là lý do chính giúp Chính phủ dễ dàng hơn các quốc gia khác trong việc tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp thông qua can thiệp vào thị trường trường tín dụng Chính phủ sẽ can thiệp để tháo gỡ các khó khăn trên thị trường tài chính khi cần thiết được xem là việc làm có tiền lệ ở Hàn Quốc,
do đó, các tập đoàn công nghiệp lớn có thể thực hiện các dự án đầu tư mạo hiểm khi Chính phủ luôn có các giải pháp hỗ trợ các ngành công nghiệp ưu tiên trong giai đoạn khó khăn và Chính phủ sẽ cùng chia sẻ những rủi ro kinh doanh với các Chaebol Tuy nhiên, sự chia sẻ rủi ro giữa Chính phủ và các Chaebol cũng mang lại những mặt trái đó là sẽ khuyến khích các Chaebol không đánh giá đầy đủ kỹ lưỡng về hiệu quả kinh doanh đối với các dự án đầu tư làm đầu tư quá mức và ngày càng phụ thuộc vào Chính phủ trong những giai đoạn khó khăn về tài chính
Trang 9Đồng thời cũng hạn chế các ngân hàng thương mại nâng cao đổi mới cách thức quản lý, ứng dụng công nghệ bởi Chính phủ sẽ can thiệp bất cứ lúc nào đối với các khoản nợ của doanh nghiệp trong hệ thống ngân hàng thương mại có khó khăn về tài chính
Chức năng của hệ thống ngân hàng khi tín dụng được kiểm soát bởi Chính phủ
Theo đánh giá về hệ thống ngân hàng dưới quan điểm truyền thống về tài chính và sự phát triển, một quốc gia với hệ thống ngân hàng được kiểm soát bởi Chính phủ như Hàn Quốc sẽ dẫn tới nền kinh tế phát triển trì trệ Tuy nhiên, nền kinh tế Hàn Quốc đã tăng trưởng nhanh trong nhiều thập kỷ và hệ thống ngân hàng được xem là công cụ hiệu quả để Chính phủ thúc đẩy sự phối hợp và tuân thủ giữa các doanh nghiệp nhằm khuyến khích xuất khẩu và công nghiệp hoá đất nước
Chính sách hỗ trợ tín dụng đã giúp Chính phủ phân phối nguồn lực vốn linh động dựa theo kết quả hoạt động của các doanh nghiệp hoặc ngành công nghiệp nằm trong danh sách được ưu đãi Các doanh nghiệp trong ngành xuất khẩu và các ngành công nghiệp ưu tiên sẽ tiếp tục nhận được nguồn vốn vay hoặc tăng thêm hạn mức cho vay nếu hoạt động kinh doanh đạt kết quả tốt theo các năm trong khi những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh kém sẽ bị giảm bớt dư nợ tín dụng hoặc chấm dứt hoàn toàn về hỗ trợ tín dụng Để tiếp tục được hưởng các ưu đãi về tín dụng của Chính phủ các doanh nghiệp phải làm hài lòng Chính phủ bằng cách
mở rộng xuất khẩu, đầu tư xây dựng các nhà máy Do đó, các chương trình chính sách ưu đãi tín dụng đã trở thành một công cụ hiệu quả trong thực hiện chính sách công nghiệp hoá của Chính phủ và được xem hiệu quả hơn các ưu đãi về tài khoá Ngoài ra, Chính phủ Hàn Quốc thường xuyên đối thoại với các lãnh đạo doanh nghiệp, tăng cường giám sát tình hình kinh doanh thông qua các kênh như các cuộc
Trang 10họp về thúc đẩy xuất khẩu hay cuộc họp về báo cáo xu hướng kinh tế được tổ chức hai lần một tháng và có sự tham gia của các thành viên Chính phủ, các lãnh đạo doanh nghiệp Thông qua đó, doanh nghiệp sẽ kiến nghị những khó khăn hiện thời
để Chính phủ có những giải pháp tháo gỡ kịp thời từ đó giảm thiểu rủi ro của các khoản tín dụng chính sách Chẳng hạn, khi các doanh nghiệp xuất khẩu báo cáo trong cuộc họp về thị trường xuất khẩu khó khăn và nhu cầu quốc tế tăng chậm dẫn đến hàng tồn kho nhiều thì Chính phủ sẽ yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng thêm hạn mức cho vay đối với tín dụng tài trợ cho vốn lưu động
Ngoài ra, trong giai đoạn đầu những năm 1950 - 1960 Hàn Quốc là một quốc gia đang phát triển với thị trường vốn không hoàn hảo Chính phủ cũng chưa hoàn thiện được bộ máy, cơ chế cần thiết để vận hành thị trường vốn hiệu quả Trong hệ thống ngân hàng, các ngân hàng thương mại sẽ cấp tín dụng cho những
dự án an toàn trong khi sẽ hạn chế cho vay đối với các dự án có triển vọng mang lại lợi nhuận tiềm năng cao nhưng lại nhiều rủi ro mặc dù những doanh nghiệp có nhu cầu vốn trong các dự án này sẵn sàng trả lãi suất tín dụng ở mức cao hơn Nếu một quốc gia có thị trường vốn hoạt động hiệu quả thì các dự án này có thể được tài trợ thông qua thị trường chứng khoán và nhà đầu tư có thể chia sẻ cả lợi nhuận
và rủi ro đối với doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư mở rộng các dự án tiềm năng
Do đó, qua các chính sách ưu đãi của Chính phủ Hàn Quốc phân phối tín dụng trực tiếp cho các ngành và lĩnh vực ưu tiên được xem như một phương pháp đổi mới để vượt qua rào cản về thị trường vốn không hoàn hảo của nước này
3 Một số kinh nghiệm rút ra cho chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển các tập đoàn tư nhân Việt Nam
Các ưu đãi về chính sách tín dụng trong giai đoạn đầu của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã phát triển hình thành nên những tập đoàn kinh tế