1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số phương pháp phát triển tư duy phản biện của học sinh trong dạy học chủ đề khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng việt nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1930

57 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 135,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾNMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ: KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆ

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ: KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX

ĐẾN NĂM 1930

1 Lời giới thiệu

Việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa phương hóa, đadạng hóa quan hệ hợp tác với nước ngoài, tiến tới hội nhập nền kinh tế toàn cầu,chúng ta cần có những con người đủ đức, đủ tài, năng động, sáng tạo để xây dựng

và phát triển đất nước Đó cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra đốivới nền giáo dục Việt Nam nói chung và trường phổ thông nói riêng: Phải đào tạonhững con người mới có đủ đức, tài, nắm vững khoa học công nghệ, tiến kịp sựphát triển như vũ bão của thế giới, có ý thức chủ động, tích cực bày tỏ quan điểm,lập trường trước những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, hướng tới chân lí củamọi vấn đề Trong dạy học, tất cả các bộ môn cần rèn luyện cho học sinh biết tranhluận, phản biện vấn đề, tạo thói quen tốt trong nhìn nhận,đánh giá các vấn đề trongcuộc sống, góp phần thực hiện mục tiêu kết hợp dạy “người” với dạy “chữ”, líthuyết phải gắn với thực hành Khả năng phản biện của học sinh trong quá trìnhhọc tập sẽ giúp học sinh phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong học tập, rènluyện được khả năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm

Lịch sử là môn học có nhiều ưu thế giúp HS phát triển loại năng lực này.Bởi, lịch sử là nhận thức của con người về cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ vớinhững nguồn sử liệu phong phú và nhận thức lịch sử đa chiều Học tập lịch sửkhông chỉ để hiểu quá khứ đã diễn ra như thế nào mà còn là cơ sở để nhận thứcthực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm để giải quyết các tình huống trong cuộc sống,

dự đoán các vấn đề sẽ xảy ra trong tương lai với mục tiêu phấn đấu xây dựng một

xã hội tương lai tốt đẹp hơn

Trang 2

Thực tế cho thấy, học sinh tích cực trong học lịch sử, đặc biệt là khả năngphản biện vấn đề ở học sinh THPT ở nông thôn còn tồn tại dưới dạng tiềm năng,chưa được khai thác Nhiều học sinh muốn phản biện, hoặc đã từng phản biệnnhưng chưa được giáo viên tạo điều kiện, chưa được các bạn trong lớp hưởng ứng.

Có nhiều lí do khác nhau khiến cho khả năng này chưa trở thành kỹ năng Phát huyđược tính tích cực của học sinh, đặc biệt là khả năng phản biện vấn đề của học sinh,chắc chắn chất lượng dạy và học sẽ được nâng lên một mức đáng kể Trong môitrường giáo dục ở nông thôn hiện nay, các trường THPT không ngừng đổi mớiphương pháp để phát huy tính tích cực của học sinh, hình thành năng lực phản biệncho học sinh, tạo kỹ năng tự chủ cho học sinh Trên thực tế giảng dạy, học sinhtrường THPT Phạm Công Bình còn yếu về kỹ năng phản biện, thiếu sự chủ động tưduy trong giờ học Học còn mang tính thụ động, một chiều

Trong khi đó, xu hướng chung của những nền giáo dục tiến bộ trên thế giới

là xây dựng một nền giáo dục thực sự dân chủ Phản biện của học sinh trong quátrình dạy học là một biểu hiện tích cực của một giờ học dân chủ và một nền giáodục dân chủ Phát huy khả năng phản biện của học sinh là một trong những cáchgóp phần xây dựng những giờ học dân chủ và một nền giáo dục dân chủ, tiến bộ

Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đổi mới cách dạyhọc và kiểm tra - đánh giá, thay vì giáo viên truyền đạt tri thức một cách thụ độngcho học sinh, mà cần phải hình thành các năng lực và phẩm chất cho người học.Đồng thời, với mong muốn “hiện đại hóa” giờ học lịch sử, khiến cho giờ học hấpdẫn hơn và tạo cơ hội cho học sinh có điều kiện thể hiện bản thân, rèn luyện kĩnăng thuyết trình, tranh luận, và tự tin bảo vệ chính kiến của mình trên cơ sở những

tài liệu khoa học, tôi lựa chọn chủ đề: Một số phương pháp phát triển tư duy phản

biện của học sinh trong dạy học chủ đề: khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1930.

2 Tên sáng kiến

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CỦA HỌCSINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ: KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢNTRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾNNĂM 1930

Trang 3

3 Tác giả sáng kiến

- Họ và tên: PHẠM THỊ KIM DUNG

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Phạm Công Bình – Nguyệt Đức – YênLạc – Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0973823132 Email: phamdunghdk1986@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Phạm Thị Kim Dung

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

- Kiến thức lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX thuộc các bài 22,23 của lịch sử

11 ban cơ bản; một phần kiến thức thuộc các bài 12,13 trong lịch sử 12 ban cơ bản.Sáng kiến này được áp dụng cho học sinh lớp 12

- Sáng kiến giải quyết được vấn đề còn yếu hiện nay của học sinh THPT ởnông thôn, đặc biệt là ở trường THPT Phạm Công Bình, đó là hình thành và pháttriển tư duy phản biện của học sinh trong công tác dạy và học Từ đó, hình thành kỹnăng mềm cho học sinh, tạo điều kiện cho các em chủ động trong việc rèn luyệnsau này khi đã ra trường

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

- Ngày áp dụng lần đầu: 6/11/2019, thực hiện tại lớp 12D1

7 Mô tả bản chất sáng kiến

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mục tiêu giáo dục trong nhà trường phổ thông hiện nay là đào tạo con ngườiViệt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp,trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡngnhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc

Mục tiêu của bộ môn Lịch sử là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, căn cứ vào vịtrí, nội dung, chức năng, nhiệm vụ của bộ môn, chương trình giáo dục phổ thông.Đồng chí Đỗ Mười - nguyên Tổng bí thư BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam từng

nhấn mạnh: “Phải coi trọng giáo dục lịch sử dân tộc, phải coi lịch sử là tài nguyên

giáo khoa số một trong nhà trường Nếu không làm tốt giáo dục lịch sử, thanh thiếu niên sẽ chạy theo đồng tiền, chạy theo lợi ích khác, có hại cho sự nghiệp chung”.“Bởi vì, tri thức lịch sử là một yếu tố của nền văn hóa chung của loài người và không thể coi việc giáo dục con người đã hoàn thành đầy đủ nếu không trang bị cho học sinh những hiểu biết cần thiết về lịch sử…”.Như vậy, môn Lịch sử

ở trường phổ thông có vị trí rất quan trọng, nó giúp cho học sinh có được những kiếnthức cơ bản cần thiết về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, góp phần hình thành ở họcsinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dântộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắntrong đời sống xã hội

Tuy nhiên, thực tiễn của việc dạy - học của môn Lịch sử ở trường phổ thônghiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ, cónhiều sự đổi mới Do đặc trưng của bộ môn, kiến thức lịch sử là những kiến thức củaquá khứ, học sinh khó học, khó nhớ, “khô khan”, học sinh thường nảy sinh tâm lí

“chán”, “sợ” học môn lịch sử Hàng năm, số thí sinh tham dự các kì thi môn Lịch

sử đạt điểm dưới trung bình rất lớn Hiện nay, số lượng HS đăng kí môn Sử làmmôn thi tự chọn trong kì thi THPT quốc gia đã tăng hơn trước, nhưng kết quả đạtđược chưa cao Theo thống kê điểm thi THPT QG năm 2019 thì điểm trung bìnhmôn Lịch sử rất thấp, chỉ cao hơn so với điểm trung bình của môn Tiếng anh Điều

đó cho thấy, việc dạy – học lịch sử ở các trường trung học THPT hiện nay cần phải

Trang 5

khắc phục, phát huy có hiệu quả hơn nữa các biện pháp đổi mới.

Theo tôi, có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, như do quan niệm

của xã hội, tư tưởng học sinh coi Lịch sử là “môn phụ” và “thi gì thì học đấy”,…

Song chủ yếu vẫn là phương pháp tổ chức dạy - học của thầy - trò Nhiều ngườicho rằng giáo viên chậm đổi mới, không tích cực hưởng ứng và vận dụng cácphương pháp đã cải tiến Trong đó, giáo viên chưa khơi dậy được tư duy phản biệncủa HS trong dạy học Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử phải mang tính toàndiện, cốt lõi, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo trong tư duy và hoạt động củahọc sinh, nhất là tư duy phản biện của HS Tại trường THPT Phạm Công Bình, sức “ỳ

tư duy” của học sinh là rất lớn, các em chưa tương tác tốt trong các giờ học

Theo ma trận kiến thức môn Lịch sử trong đề thi tham khảo THPT quốc gia2019:

Chủ đề

g

Nhận biết

Thôn

g hiểu

Vận dụng

Vận dụng cao

Cách mạng tháng Mười Nga năm

1917: Công cuộc xây dựng CNXH ở

Liên Xô và các nước Đông Âu

(1945-1991) Liên bang Nga (1991-2000)

Trang 6

Theo ma trận đề THPT QG, đề thi môn Lịch sử THPT quốc gia 2019 khá antoàn so với đề thi THPT quốc gia 2018 Điều này thể hiện ở tỉ lệ câu hỏi lớp 11đưa vào đề thi chỉ chiếm 12,5% (5/40 câu hỏi của đề thi), không có kiến thức lớp

10 như thông tin trước đó Câu hỏi phần lịch sử Việt Nam đóng vai trò chủ đạo,trong đó phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919- 1930 đóng một vai trò quan trọng.Trong đề thi chính thức của kì thi THPT QG năm học 2019, các câu hỏi trải đều ởcác chuyên đề lớp 12, ở lớp 11 chủ yếu tập trung vào phần lịch sử Việt Nam; bámsát theo ma trận của đề thi tham khảo Với ma trận kiến thức phân bổ như này, họcsinh chỉ cần nắm chắc kiến thức sách giáo khoa là có thể đạt được điểm 7-8 Đểđạt được điểm cao, ngoài kiến thức sách giáo khoa, học sinh còn cần phải có nănglực phân tích, đánh giá và khái quát kiến thức cao

Thực tiễn giảng dạy, trong quá trình ôn luyện phục vụ cho kì thi THPT QG,nhất là đối với nhận thức chưa cao, đầu vào còn thấp, tư duy còn yếu của học sinhtrường THPT Phạm Công Bình, thì việc hệ thống lại kiến thức một cách ngắn gọn,

dễ hiểu, và được nhắc đi nhắc lại, sẽ giúp các em nhớ được các kiến thức cơ bản.Đồng thời, với sự lồng ghép kiến thức cơ bản với nâng cao sẽ giúp chuyên đề đápứng được nhận thức của từng đối tượng học sinh,từ yếu kém đến khá – giỏi Vớiđối tượng học sinh cụ thể ở trường THPT Phạm Công Bình, việc đổi mới tronggiảng dạy, cũng như xây dựng các chuyên đề phù hợp với nhận thức của các em làđiều cần thiết Trong quá trình dạy, giáo viên sẽ vận dụng linh hoạt lượng kiến thứcphù hợp với từng lớp Vừa đảm bảo kiến thức cơ bản, đồng thời giáo viên phải tạođộng lực, khích lệ học sinh tham gia vào hoạt động học

Với phương pháp cụ thể, chất lượng của môn học cũng như thứ hạng củatrường không ngừng được nâng lên từ năm 2017 đến năm 2019:

Trang 7

sử Trên cơ sở đó,ta thấy được những đóng góp của khuynh hướng cách mạng nàyđối với phongtrào dân tộc dân chủ ở Việt Nam, thấy được những mặt tích cực vàhạn chế, đánh giá cho khách quan và chính xác.

Với những lý do trên, tôi quyết định chọn chuyên đề “Một số phương pháp

phát triển tư duy phản biện của học sinh trong dạy học chủ đề: Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1930.”.

2 Mục đích của đề tài

Tích hợp một phần kiến thức lịch sử lớp 11 (bài 22, 23), vốn là kiến thứctrọng tâm của kiến thức học, củng cố cũng như khắc sâu được kiến thức trọng tâm,nối liền đến phần kiến thức ở các bài 12, 13 thuộc lịch sử Việt Nam lớp 12 Qua đó,trên cơ sở các bài học cụ thể đã học, học sinh hệ thống được kiến thức theo chiềudọc xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển và chấm dứt của khuynh hướng dân

Trang 8

chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam Hiểu rõ hơn thông qua nhữngkiến thức được khái quát hóa, ngắn gọn, đủ ý và dễ nhớ.

Đổi mới phương pháp nhằm tăng sự hứng thú với môn học của học sinh,thay đổi tư duy của giáo viên và học sinh trong dạy và học Qua đó, nâng cao chấtlượng nhận thức kiến thức của chủ đề, nâng cao chất lượng ôn thi và kết quả thiTHPT QG

Đề tài nhằm khai thác rộng và sâu những kiến thức liên quan đến khuynhhướng dân chủ tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Namnhững năm1919-1930 Qua đó giúp bản thân giáo viên nâng cao hiểu biết về nộidung kiếnthức này.Trên cơ sở đó, giáo viên chuyển hóa đề tại này thành chuyên đề, có thểchắt lọc từ trong đề tài một số vấn đề để từ đó nêu lên thành câu hỏi, thành tìnhhuống có vấn đề để để dạy chohọc sinh phục vụ kì thi THPT QG, cũng như trongđội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp tỉnh

Chuyên đề được xây dựng nhằm đáp ứng được các mức độ nhận thức củakiến thức, trong đó chủ yếu ở mức độ nhận biết và thông hiểu, phù hợp với trình độnhận thức đại trà của học sinh ở mức 5- 6 điểm; cũng như phù hợp với trình độnhận thức khác nhau giữa các lớp (cụ thể đối với 2 lớp tôi dạy là 12D1 có nhậnthức khá hơn, còn lớp 12A5 thì yếu hơn hẳn)

3 Phương pháp để đạt được mục đích của đề tài

- Đề ra kế hoạch học chuyên đề cụ thể, khớp với nội dung học trên lớp

- Giáo viên xây dựng kiến thức một cách cơ bản, ngắn gọn, dễ nhớ giúp học sinhnhớ được nét cơ bản nhất của bài

- Sử dụng các phương pháp cụ thể trong dạy học: trao đổi nhóm, thảo luận, sửdụng các bảng biểu, sơ đồ hóa kiến thức, tạo trò chơi lịch sử trong dạy học

Trang 9

4 Đối tượng, phạm vi kiến thức

- Đối tượng: Học sinh đại trà lớp 12, có nhận thức từ trung bình yếu đến khá, chủyếu là trung bình

- Phạm vi kiến thức: Kiến thức lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX thuộc các bài 22,23của lịch sử 11 ban cơ bản; một phần kiến thức thuộc các bài 12,13 trong lịch sử 12ban cơ bản

5 Bố cục của đề tài

- Mở đầu: tác giả đưa ra lý do, mục đích của đề tài, các phương pháp cần để đạtđược mục đích của đề tài

- Nội dung: gồm cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, nội dung cơ bản của chủ đề

và các phương pháp áp dụng trong chủ đề nhằm phát huy tính tích cực của họcsinh, đặc biệt là tư duy phản biện

- Kết quả đạt được của chuyên đề khi thực hiện, những kiến nghị

Trang 10

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Cơ sở lý luận

1.1 Tư duy phản biện là gì?

- Thuật ngữ “Phản biện” (Opponency) mới được xuất hiện không lâu vànhanh chóng được dùng một cách rộng rãi “Phản biện” là dùng lý lẽ và dẫn chứng

để lập luận chống lại một ý kiến, quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá, hành động,việc làm … nhằm thuyết phục người nghe nhìn nhận, đánh giá vấn đề theo cáchkhác có sức thuyết phục hơn, đúng hơn Phản biện khác với chỉ trích: Chỉ tríchnhắm vào người Phản biện cũng khác với phê bình hay phê phán: Ở cả hai từ này,đối tượng có thể là người mà cũng có thể là vật thể Phản biện là chống đối mộtluận điểm bằng cách đề xuất một cách nhìn hay một góc nhìn khác để người bịphản biện phải cố gắng chứng minh quan điểm của mình là đúng đắn nhất và đểmọi người có thể lựa chọn Phản biện được xây dựng trên tinh thần đối thoại, và do

đó, có tính tích cực và xây dựng Mục tiêu đầu tiên của phản biện không phải là bác

bỏ (như trong biện bác) hay đả kích (như trong chỉ trích) hay tìm khuyết điểm (nhưtrong phê phán) hoặc cả khuyết điểm lẫn ưu điểm (như trong phê bình).Mục tiêuchính của phản biện là thúc đẩy mọi người cân nhắc lựa chọn cái tối ưu Mục tiêuthứ hai của phản biện là buộc đối tượng bị phản biện phải tăng cường sự thuyếtphục cho các quan điểm của họ Họ phải chứng minh là họ đúng hơn Về phươngdiện chính trị và xã hội, với hai mục tiêu ấy (tìm cái tối ưu và thuyết phục), phảnbiện rõ ràng là một điều cần thiết không những để tránh những chính sách sai lầm

mà còn để thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, quá trình hiện đại hóa của đất nước

- Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích vàđánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằmlàm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề Muốn có phản biện trướchết phải có tư duy phản biện Tư duy phản biện thể hiện tính tích cực của chủ thể

- Phản biện xã hội là phản biện về các vấn đề của đời sống xã hội, thường lànhững vấn đề mới nảy sinh, còn nóng bỏng, gây chú ý, gây bức xúc trong nhân dân.Phản biện xã hội thường diễn ra giữa hai hay nhiều người nhưng trước sự theo dõi

Trang 11

của đông đảo tầng lớp nhân dân Phản biện xã hội thường xuất hiện trên cácphương tiện thông tin đại chúng: báo chí (báo in, báo mạng), phát thanh, truyềnhình ; trên các diễn đàn, hội nghị… Phản biện xã hội thể hiện tính dân chủ trong xãhội văn minh.

- Phản biện khoa học là phản biện trong các ngành khoa học Đây là phảnbiện của những người nghiên cứu khoa học, có trình độ chuyên môn cao Phản biệnkhoa học diễn ra trong các hội nghị khoa học, các buổi bảo vệ luận văn, luận ánkhoa học, công bố công trình khoa học… Phản biện khoa học thể hiện những bướctiến và trí tuệ của con người

- Phản biện trong dạy học là phản biện diễn ra trong quá trình dạy học, giữahọc sinh với học sinh, học sinh với giáo viên và ngược lại Phản biện trong dạy họcthể hiện tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của người học và tính dân chủ củagiờ học

- Lập luận phản biện là quá trình lập luận để đưa ra phản biện Nó là sự phốikết hợp các thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận… Lậpluận phản biện phải rõ ràng, lôgíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm Phản biện

có sức thuyết phục hay không là nhờ lập luận

1.2 Biểu hiện của tư duy phản biện trong học tập lịch sử

Đặc điểm của người có tư duy phản biện là:

- Không có thành kiến: người có tư duy phản biện là người ham tìm hiểu,

biết lắng nghe và có thể chấp nhận ý kiến trái ngược với mình

- Biết vận dụng các tiêu chuẩn: Một khẳng định bất kỳ phải được dựa trên

những sự thật chính xác có liên quan, từ các nguồn đáng tin cậy, rõ ràng, khôngthiên lệch, thoát khỏi logic ngụy biện, hợp logic, lí lẽ vững chắc

- Có khả năng tranh luận: đưa ra các lí lẽ với các bằng chứng hỗ trợ.

- Có khả năng suy luận: có khả năng rút ra kết luận từ một hoặc nhiều chi tiết.

- Xem xét vấn đề từ nhiều phương diện khác nhau: người có tư duy phản

biện cần phải tiếp cận hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau

- Áp dụng các thủ thuật tư duy: Người có tư duy phản biện sử dụng nhiều

thủ thuật tư duy khác nhau, bao gồm đặt câu hỏi, đưa ra các phán đoán, thiết

Trang 12

lập các giả định.

Như vậy, biểu hiện của HS có tư duy phản biện là ở bất cứ thời điểm nào,trong hoàn cảnh, tình huống nào cũng phải sẵn sàng động não, suy luận và đánhgiá; luôn luôn sẵn sàng lắng nghe, nhưng trước khi chấp nhận bất cứ ý kiến nàophải chủ động phân tích và đánh giá Trước khi giải quyết một vấn đề, luôn xemxét kỹ mọi góc độ, mọi khía cạnh, đưa ra nhiều phương án khác nhau và lựa chọnđược phương án tối ưu với những lập luận có cơ sở vững chắc, từ đó tránh đượchiện tượng nhìn nhận xem xét vấn đề một chiều, phiến diện Ngoài ra, HS có tư duyphản biện là người có kĩ năng giao tiếp tốt, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến củangười khác trong lúc tranh luận, sẵn sàng chấp nhận một kết luận khi có luận điểm,luận cứ khoa học, logic và hợp lí

Tham khảo các đặc điểm trên, tư duy phản biện trong học tập Lịch sử đượcbiểu hiện qua một số dấu hiệu sau:

- Biết đề xuất những câu hỏi thắc mắc về các nhân vật, sự kiện Lịch sử.Muốn đề xuất thắc mắc hay câu hỏi thì đầu tiên là HS phải biết nhận diện, xác địnhđược vấn đề đang được nói đến, đó có thể là: các nhân vật, sự kiện, hiện tượng,quan điểm nhìn nhận trong Lịch sử

- Biết thu thập và đánh giá thông tin về các sự kiện, nhân vật Lịch sử Người

có TDPB là người biết xem xét vấn đề ở nhiều phương diện, muốn vậy cần phải hiểusâu sắc và cặn kẽ về vấn đề đó Vì vậy, việc thu thập và đánh giá thông tin về mộtvấn đề LS là yêu cầu quan trọng bởi vì Lịch sử chỉ xảy ra duy nhất một lần nhưngnhận thức về nó có nhiều và không phải nhận thức nào cũng đúng, khách quan Một

sự kiện Lịch sử càng có nhiều tư liệu, thông tin chứng minh càng chính xác

- Xem xét một vấn đề Lịch sử từ nhiều khía cạnh khác nhau, biết chấp nhậntính đa dạng, đa chiều trong nhận thức Lịch sử

- Có khả năng bình luận, đánh giá quan điểm khác nhau về một vấn đề Lịch

sử Đồng thời sẵn sàng bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình với các luận điểm, luận

cứ lí lẽ chuẩn xác thuyết phục người nghe, người đọc

- Đưa ra được nhận xét, đánh giá về sự kiện, nhân vật, hiện tượng Lịch sử

Có khả năng lựa chọn tư liệu, sự kiện cho bài biết của mình

Trang 13

1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển tư duy phản biện cho HS trong dạy học lịch sử

Học tập trong thời đại mới không nhằm vào cung cấp kiến thức vì tham vọngtrang bị đầy đủ tri thức cho HS là không thể thực hiện được Giáo dục hiện nay cầntập trung vào trang bị kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng thu nhận những tri thức cầnthiết – tri thức mà người học thấy cần cho họ Đó chính là lí do việc phát triểnTDPB cho HS được coi trọng Dạy học Lịch sử cũng không nằm ngoài yêu cầuchung đó

Trong dạy học Lịch sử việc rèn luyện cho học sinh TDPB có ý nghĩa quantrọng, nó góp phần thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trườngphổ thông

Về kiến thức: Tư duy phản biện là thước đo mức độ mức độ tiếp thu kiến

thức của HS bởi vì nó không chỉ giúp HS thu nhập kiến thức Lịch sử một cách có

hệ thống mà còn hiểu Lịch sử một cách chính xác nhất, sâu sắc nhất Tư duy phản

biện chỉ được hình thành trên cơ sở HS nắm được kiến thức cơ bản của bài, trìnhbày được ý kiến, tranh luận với người khác Muốn vậy, HS phải có sự hiểu biết sâusắc vấn đề đang được bàn luận Không có con đường chiếm lĩnh tri thức nào khácngoài con đường tự mình tìm kiếm, đọc hiểu và tiếp thu Qua quá trình tìm kiếm,chọn lọc thông tin các em đã có những hiểu biết nhất định về các nhân vật sự kiệnLịch sử, những hiểu biết ấy sẽ được kiểm chứng, được xem xét đánh giá, được làm

rõ hơn qua quá trình tranh luận, thảo luận với bạn bè, thầy cô

Tư duy phản biện giúp HS nhìn nhận, đánh giá sự kiện, nhân vật Lịch sử một cách chính xác, khoa học, ở nhiều khía cạnh khác nhau, với nhiều cách nhìn làm

cho nhận thức Lịch sử của các em mang tính đa chiều, khoa học và khách quanhơn Qua những lần lập luận, tranh luận, HS thu được kiến thức phong phú, sâusắc, toàn diện về một vấn đề Đó thực sự là kiến thức do chính các em kiến tạo nên

bởi vì “kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nó là thành quả của tư duy chứ không

phải của trí nhớ” (Leptonxtoi).

Về kĩ năng: Tư duy phản biện hiện nay đã trở thành một xu hướng trong lĩnh

vực giáo dục Nói cách khác tư duy phản biện là một loại năng lực tư duy HS cần

phải có Dạy học Lịch sử nhằm phát triển năng lực sáng tạo sẽ giúp HS rèn luyện

nhiều thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận, lập luận…đó

là những thao tác tư duy cần thiết trong học tập nói chung, học tập Lịch sử nói

Trang 14

riêng Đồng thời, khi có được năng lực phản biện, HS có được nhiều kĩ năng cơ bảncần thiết khác như khả năng giao tiếp tốt, kĩ năng nêu và giải quyết vấn đề, kĩ năngđặt câu hỏi, kĩ năng phân tích và lập luận

Tư duy phản biện giúp HS vận dụng linh hoạt kiến thức đã học vào việc tiếp thu kiến thức mới và thực tiễn cuộc sống, phát triển năng lực thực hành Học tập

Lịch sử không chỉ là việc thu nhận tri thức mà quan trọng hơn HS phải vận dụngđược những tri thức Lịch sử, những bài học kinh nghiệm từ Lịch sử vào chính cuộcsống của mình Vì vậy, khi xem xét, đánh giá sự kiện, nhân vật Lịch sử là cơ sở để

HS có thể vận dụng để đánh giá các vấn đề, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống.Mục đích cuối cùng của học Lịch sử là biết dùng "tư duy sử học" để nhận thức hiệnthực một cách phê phán, khoa học và lô - gic Từ nhận thức đúng đắn sẽ dẫn tớihành động nhân văn, hợp với lẽ đời

Về thái độ: Tư duy phản biện giúp HS lựa chọn niềm tin, tìm ra chân lý từ

đó các em có tình cảm, thái độ đúng đắn với các sự kiện, nhân vật Lịch sử Những con người thật, việc thật ấy có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm và định hướng hành động cho HS.

Mục đích cuối cùng của dạy học Lịch sử không phải để giúp HS nhớ rõ nămtháng, tên nhân vật, tên địa danh… mà qua những sự kiện Lịch sử chân thực, chínhxác HS có hiểu biết về quy luật phát triển của Lịch sử loài người, hiểu hiện thực xãhội mình sống Từ đó có thái độ tích cực trong việc góp phần xây dựng một cuộcsống tương lai tốt đẹp hơn trên cơ sở những kinh nghiệm, bài học từ quá khứ

Thông qua việc đánh giá sự kiện, nhân vật Lịch sử góp phần hình thành ởcác em những suy nghĩ, tình cảm tốt đẹp, trong sáng như: niềm tin vào chân lý, vào

sự thật; Thái độ mến yêu, khâm phục, biết ơn những con người có đạo đức phẩmchất tốt, dũng cảm, yêu nước và có đóng góp cho Lịch sử; Học tập theo những tấmgương anh hùng, những người có ý chí cao cả; cảm thông chia sẻ với những conngười trong quá khứ; xúc động trước những hành động hi sinh vì chính nghĩa, vìđộc lập dân tộc; nuôi khát vọng, mơ ước được đóng góp vào sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ tổ quốc

1.4 Cấu trúc của giờ học lịch sử nhằm phát triển TDPB cho học sinh

Dựa vào đặc trưng của tư duy phản biện, các nguyên tắc của tư duy phản

Trang 15

biện và kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu, tôi cho rằng cấu trúc một giờ họcLịch sử nhằm phát triển tư duy phản biện cho HS bao gồm các bước cơ bản sau:

Bước thứ nhất: GV “đề xướng” vấn đề, đưa ra vấn đề cần thảo luận Đây

là bước quan trọng nhất, quyết định đến sự thành công của giờ học Vấn đề GV

đưa ra cần đáp ứng các điều kiện sau: Thứ nhất, phải là vấn đề có sức cuốn hút, hấp dẫn, thu hút sự tò mò và mong muốn tìm hiểu của HS Thứ hai, đó là vấn đề

có thể có nhiều cách nhìn nhận khác nhau, nhiều ý kiến khác nhau khiến HS tranh

luận sôi nổi Thứ ba, phải là vấn đề liên quan đến nội dung học tập được quy định

trong chương trình, SGK và khi càng tìm hiểu kĩ về nó HS sẽ có được những hiểubiết về Lịch sử một cách phong phú, sâu sắc và đúng đắn

Bước thứ hai: Sau khi đề xướng vấn đề GV tổ chức cho HS thiết lập giả

thiết (đưa ra ý kiến) và tiến hành thảo luận, tranh luận dưới các hình thức khácnhau như theo nhóm học tập, toàn lớp, giữa các cá nhân

Cách tiến hành thảo luận là mỗi câu hỏi HS sẽ đưa ra các ý kiến (giả thuyết)của mình, GV có thể chọn ra các giả thuyết để ghi lên bảng cho cho HS tranh luận.Mỗi một giả thuyết được nêu ra phải có sự giải thích, chứng minh Các HS có giảthuyết được lựa chọn sẽ phải bảo vệ, chứng minh nó Những HS khác sẽ nhận xét,đưa ra câu hỏi, phản đối, phê phán, tạo ra cuộc tranh luận giữa các HS Cuối cùng,

GV sẽ giúp HS đánh giá các giả thuyết bằng việc lấy ý kiến tán thành cho mỗi giảthuyết (cho HS giơ tay biểu quyết hoặc bỏ phiếu tán thành)

Bước thứ ba: Tổng kết và hướng dẫn HS học tập sau giờ học

Sau khi buổi thảo luận, tranh luận kết thúc GV có thể đưa ra các gợi ý chonhững câu hỏi và vấn đề đã được thảo luận, tranh luận hoặc đưa ra gợi ý về nộidung kiến thức HS cần nắm trong bài học Để kiểm tra kết quả nhận thức và tư duyphản biện (TDPB) của HS, làm sâu sắc thêm nhận thức Lịch sử của HS, GV có thểđưa ra bài tập, các câu hỏi kiểm tra Bài tập và câu hỏi kiểm tra tuỳ theo mục tiêucủa bài, mục đích sư phạm của GV nhưng cần hướng vào việc vận dụng tri thứchoặc thu hoạch kết quả của buổi thảo luận, tranh luận

Trong giờ học Lịch sử nhằm phát triển TDPB thì GV có vai trò là ngườiđiều khiển, tổ chức giống như các “huấn luyện viên” hay “điều phối viên” đồngthời GV còn đóng vai trò là người “trọng tài”, “tư vấn” và là trung tâm giải đáp

Trang 16

các thắc mắc của HS Như vậy, GV phải là người không chỉ có kiến thức chuyênmôn sâu mà còn là người có năng lực tổ chức, điều khiển giờ học.

HS là chủ thể nhận thức tích cực, tự chủ, sáng tạo trong việc tìm kiếm thôngtin, đưa ra các câu hỏi, xây dựng các lập luận, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, đưa

ra các ý tưởng, ý kiến của mình…

Như vậy, chúng ta có thể thấy đặc điểm của giờ học nhằm phát triển tư duyphản biện là giờ học HS là chủ thể của quá trình nhận thức, kiến thức bài học, mọikết luận, mọi câu trả lời đều do HS tự tìm kiếm và chiếm lĩnh qua quá trình thảoluận, tranh luận, phản bác nhau HS trung học phổ thông có đặc điểm tâm lí muốnkhẳng định bản thân mình, luôn cố gắng chứng minh để bảo vệ ý kiến của mình,thậm chí còn có tâm lí ganh đua, đố kị Đặc điểm tâm lí này có tác dụng tích cựctrong giờ học phát triển TDPB Vì vậy, hoạt động thảo luận và không khí tranhluận, phản bác nhau trong lớp luôn diễn ra sôi nổi Thông qua việc nêu ý kiến, đưa

ra giả thuyết, chứng minh nó, đặt câu hỏi, trả lời, phản đối, phản bác nhau, tranhluận với nhau HS sẽ dần có năng lực phản biện, năng lực xử lí thông tin

Chúng ta có thể thấy rằng bản chất của giờ học nhằm phát triển TDPB cho

HS chính là giờ học theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề Đó là quá trình HSnhận biết vấn đề, tìm phương án giải quyết và cuối cùng quyết định cách giải quyết

Giờ học phát triển TDPB có ưu điểm so với các giờ học thông thường là ở đó

HS chủ động tham gia vào quá trình trao đổi, thảo luận, thu hút được tất cả HStrong lớp vào quá trình học tập, ai cũng được tự do phát biểu suy nghĩ của mình,không khí giờ học thoải mái, vui vẻ và HS cảm thấy hứng thú Quan điểm chỉ đạocủa giờ học là HS không tiếp nhận thụ động, vô điều kiện các tri thức mà GV đưa

ra, coi nó là chân lý tuyệt đối mà dưới sự trợ giúp, hướng dẫn của GV, HS sẽ phảitìm kiếm các tri thức từ nhiều nguồn khác nhau và biến nó thành tư duy của mình

2 Phản biện trong dạy học ở Việt Nam và quan niệm của giáo viên về TDPB trong dạy học lịch sử

Ở Việt Nam, các nhà giáo dục cũng đã quan tâm đến phát triển tư duy phảnbiện cho học sinh Đa số giáo viên đều nhận thức được và khẳng định vai trò quantrọng của việc phát triển TDPB cho HS trong DHLS và môn Lịch sử có khả năng,

ưu thế trong việc phát triển TDPB cho HS Vì vậy, chú trọng loại tư duy này trongdạy học là cần thiết

Trang 17

Quan niệm của GV về TDPB: Một số GV quan niệm TDPB là quá trình vậndụng tích cực trí tuệ vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, ý tưởng, giảthuyết Một số GV khác đồng ý với quan niệm là một quá trình tư duy nhằm chấtvấn các giả định hay giả thiết để khẳng định một nhận định là đúng hay sai Nhiều

GV cho rằng TDPB là một quá trình tư duy giúp con người đánh giá, phân tích mộtthông tin, một vấn đề đã có ở nhiều khía cạnh hoặc theo các cách nhìn khác nhaunhằm làm rõ tính chính xác và khẳng định niềm tin của chính mình

Quan niệm của GV về các phương pháp, kĩ thuật dạy học có ưu thế và tácdụng phát triển TDPB cho HS trong dạy học Lịch sử Trong đó, các phương phápdạy học được các GV cho là mang lại hiệu quả cao: Thảo luận, tranh luận; làm việcnhóm; dạy học giải quyết vấn đề và những kĩ thuật dạy học mới Tuy nhiên, vẫncòn một số lượng không nhỏ GV còn chậm đổi mới, vẫn quen với mô hình dạy học

“thầy thuyết trình, trò lắng nghe, ghi chép” Kiểu dạy học “truyền thụ tri thức này”

là rào cản cho việc thực hiện mục tiêu phát triển TDPB cho HS

3 Thực trạng về nhu cầu và năng lực TDPB của học sinh

Khi được hỏi về phương pháp dạy học LS em được thường xuyên tiếp cận làgì: Đa số HS trả lời “nghe thầy cô giảng và ghi chép” Một số HS được học tậptheo phương pháp tổ chức trao đổi thảo luận với bạn bè thầy cô, làm việc nhóm.Nhiều HS phản ánh chưa bao giờ được trình bày ý kiến, quan điểm riêng của mình

về các nhân vật, sự kiện Lịch sử Số HS khác tâm sự rằng đã nhiều lần thắc mắc vàhoài nghi về một vấn đề nào đó của Lịch sử nhưng không dám đứng lên hỏi thầy cô

và phát biểu

HS lười tư duy đặc biệt là chưa có TDPB, điều đó thể hiện qua việc HS lúngtúng, không trả lời được với những câu hỏi như: Làm thế nào để đánh giá đúng mộtnhân vật, một sự kiện Lịch sử hay một vấn đề nào đó trong cuộc sống? Khi có nhiềuthông tin khác nhau về một vấn đề, làm thế nào để tìm ra thông tin đáng tin nhất?

Qua thực tế giảng dạy, hiện tượng “ỳ tư duy” trong học sinhg Trường THPTPhạm Công Bình là đáng báo động Trong các giờ học, các em ít tương tác, họcmột cách thụ động, không hào hứng với tiết dạy Các câu hỏi cũng như hoạt động

do giáo viên đưa ra chỉ có một bộ phận nhỏ học sinh hưởng ứng

Trang 18

CHƯƠNG II: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT HUY TƯ DUY PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ ĐẦU

1.2 Mục tiêu

1.2.1 Kiến thức

- Nắm được những điều kiện dẫn đến sự ra đời của khuynh hướng dân chủ tưsản ở Việt Nam, rút ra được điều kiện cơ bản đóng vai trò quyết định cho sự hìnhthành đó

- Nắm được những nét cơ bản của tư tưởng dân chủ tư sản, thông qua đó cóbước so sánh với phong trào đấu tranh theo ý thức hệ phong kiến cuối thế kỉ XIX,cũng như so sánh với khuynh hướng cách mạng vô sản

- Những hoạt động tiêu biểu, bước phát triển của khuynh hướng dân chủ tưsản từ đầu thế kỉ XX đến những năm 1919- 1925 Qua đó, đánh giá được nhữngđóng góp, vai trò của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản đối với sự nghiệpcách mạng Việt Nam

- Rút ra được nguyên nhân thất bại, cũng như bài học kinh nghiệm để lại củakhuynh hướng dân chủ tư sản đối với cách mạng Việt Nam

- Nắm được các dạng bài tập của chuyên đề

Trang 19

1.2.2 Tư tưởng, thái độ

- Nhận thức được quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc là một quá trình đấutranh gian khổ của dân tộc; sự sàng lọc khắt khe của lịch sử để chọn ra con đườngđúng đắn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam

- Hiểu được khuynh hướng dân chủ tư sản giống như cây cầu nối, đánh dấu sựchuyển tiếp phát triển của cách mạng Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1930

- Trân trọng những thành quả cách mạng mà cha ông ta để lại; nhận thức rõ để

có được thắng lợi của cách mạng đã phải đánh đổi rất nhiều sự hi sinh của cha ông

- Tác động của những chuyển biến xã hội đến sự hình thành phong tràocách mạng Việt Nam theo các khuynh hướng khác nhau, đặt ra yêu cầu cần phải

có một con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc

1.2.5 Phương pháp

Trang 20

- Thực hiện xây dựng kiến thức theo hướng bổ dọc kiến thức, tạo thành hệthống kiến thức xuyên suốt, học sinh dễ hiểu và nắm được kiến thức.

- Thực hiện hoạt động trao đổi nhóm, tham vấn, chơi trò chơi lịch sử kếthợp với các lược đồ, tranh ảnh, bảng biểu Việc thực hiện trò chơi lịch sử tronggiờ học sẽ tạo không khí mới, khuyến khích học sinh hoạt động; giờ học bớt căngthẳng, phù hợp với học sinh trường THPT Phạm Công Bình Giáo viên chia thànhcác nhóm, các nhóm chuẩn bị trước phần câu hỏi hoặc trò chơi để hỏi hoặc tổchức cho các nhóm còn lại Trong quá trình thực hiện chuyên đề, tác giả sử dụngchủ yếu là bảng biểu và trò chơi lịch sử

tranh của khuynh

hướng dân chủ tư

Nắm được ý nghĩalịch sử, nguyênnhân thất bại củakhuynh hướng

So sánh đượckhuynh hướng dânchủ tư sản với ýthức hệ phongkiến cuối thế kỉXIX và khuynhhướng vô sản từchiến tranh thếgiới thứ nhất đếnnăm 1930

Rút ra được néttiến bộ, hạn chếcủa khuynh hướngdân chủ tư sản.Giải thích được tạisao lại thất bại

Trang 21

2.2 Kiến thức cơ bản

I Điều kiện hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam

1 Điều kiện khách quan

- Thế kỉ XX là thời kỳ cáo chung của chế độ phong kiến, sự thắng thế của CNTBtrên quy mô toàn thế giới, nhiều nước châu Á mang nặng tư tưởng phong kiến cũng

đã chuyển biến theo con đường tư sản đã tác động mạnh đến nhận thức của giới sỹphu yêu nước tiến bộ Việt Nam

- Tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ trên thế giới đã được du nhập vào Việt Nam:

+ Tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản tiến bộ ở Pháp

+ Tư tưởng duy tân ở Nhật Bản với cuộc cải cách của Minh Trị, cuộc vậnđộng duy tân của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi ở Trung Quốc…

+ Tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn với cuộc cách mạng Tân Hợi 1911

ở Trung Quốc

2 Điều kiện chủ quan

- Phong trào đấu tranh theo ý thức hệ phong kiến cuối thế kỉ XIX, tiêu biểu làphong trào Cần Vương, thất bại đã đặt ra yêu cầu cần phải tìm ra một con đườngcứu nước mới

- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 – 1914) đã tácđộng mạnh mẽ đến nến kinh tế Việt Nam, dẫn đến sự phân hóa xã hội Đặc biệt, sự

ra đời của các lực lượng xã hội mới (tư sản, công nhân, tiểu tư sản) đã tạo nên cuộcvận động bên trong của phong trào yêu nước theo khuynh hướng cứu nước mới đầuthế kỉ XX: khuynh hướng dân chủ tư sản

Trang 22

- Một bộ phận văn thân sĩ phu tiến bộ đã tiếp thu tích cực luồng tư tưởng mới, vàtích cực hoạt động trong những năm đầu thế kỉ XX.

- Đầu thế kỉ XX, khuynh hướng dân chủ tư sản đã ra đời, nhanh chóng được quầnchúng nhân dân hưởng ứng, đặc biệt là các văn thân sĩ phu tiến bộ, tiêu biểu làPhan Bội Châu và Phan Châu Trinh

II Khuynh hướng dân chủ tư sản trong những năm đầu thế kỉ XX

1 Hoạt động của Phan Bội Châu

- Mục đích: đánh đuổi giặc Pháp, giải phóng dân tộc, xây dựng nền dân chủ

- Hoạt động tiêu biểu:

+ Từ 1904- 1908: thành lập Hội Duy tân, tổ chức phong trào Đông Du nhưngthất bại

+ Từ 1912 đến 1914: Thành lập Việt Nam Quang phục hội, tổ chức bạo độnggiành chính quyền

+ Năm 1913: Phan Bội Châu bị bắt

2 Hoạt động của Phan Châu Trinh

- Mục đích: đánh đuổi giặc Pháp, giải phóng dân tộc, xây dựng nền dân chủ

Trang 23

- Chủ trương: cải cách, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, dựa vào Pháp lật đổchế độ phong kiến, , coi đó là điều kiện tiên quyết để giải phóng dân tộc.

- Xu hướng: cải cách

- Hoạt động tiêu biểu:

+ Từ 1906 – 1908: Tổ chức Cuộc vận động Duy tân ở Trung Kì cùng một sốvăn thân sĩ phu tiến bộ, tiến hành cải cách trên một số lĩnh vực: kinh tế, văn hóa,giáo dục

+ Năm 1908: Phan Châu Trinh bị Pháp bắt và đưa sang Pháp

* Bảng so sánh hoạt động của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh

dân chủ

Giải phóng dân tộc, thành lập dânchủ

Điểm giống: Đều muốn giải phóng dân tộc, chịu sự chi phối của hệ tư tưởng dânchủ tư sản; muốn xây dựng xã hội mới dân chủ tiến bộ

Điểm khác: Phan Bội Châu chủ trương bạo động, Phan Châu Trinh chủ trương cảicách

3 Nguyên nhân thất bại

* Khách quan

- Thực dân Pháp còn mạnh, bộ máy cai trị đã ổn định

* Chủ quan

Trang 24

- Chưa có một giai cấp tiên tiến và đường lối cứu nước đúng đắn:

+ Người tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản là các sĩ phu xuất thân từ nho giáonên có những hạn chế

+ Tư tưởng dân chủ tư sản tuy còn mới với người dân Việt Nam nhưng khôngđáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc

- Xã hội Việt Nam chưa phân hóa thuần thục: giai cấp tư sản và tiểu tư sản chưa rađời, giai cấp công nhân còn ít về số lượng và trong tình trạng tự phát; giai cấp nôngdân nặng về ý thức tư hữu và không có hệ tư tưởng riêng

- Phong trào đấu tranh thiếu sự liên kết, thống nhất

4 Điểm mới của khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX so với ý thức hệ phong kiến cuối thế kỉ XIX.

- Xã hội: có sự ra đời của các lực lượng xã hội mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản)

- Tư tưởng: nhận thấy được sự thối nát của chế độ phong kiến, muốn xây dựng một

xã hội dân chủ mới tiến bộ hơn; gắn liền cứu nước với cứu dân

- Lãnh đạo: Bộ phận văn thân sĩ phu tiến bộ, tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản từ bênngoài vào

- Lực lượng tham gia: đông đảo quần chúng nhân dân

- Phương pháp đấu tranh: không hạn chế trong khởi nghĩa vũ trang, phương phápđấu tranh phong phú (bạo động, cải cách…)

III Sự phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản từ 1919 đến năm 1930

1 Tình hình xã hội Việt Nam trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất

* Trên thế giới

Trang 25

- Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, một trật tự thế giới mới hình thành:Trật tự Vecxai – Oasinhtơn.

- Cuộc cách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi năm 1917 đã tác động mạnh mẽđến phong trào cách mạng thế giới

- Sự phát triển của phong trào công nhân trên thế giới, với sự ra đời của các đảngcộng sản (Đảng công sản Pháp…) đã dẫn đến sự ra đời của Quốc tế Cộng sản nhằmlãnh đạo phong trào cách mạng thế giới

- Thực dân Pháp là nước thắng trận nhưng bị tàn phá nặng nề Để khắc phục hậuquả chiến tranh và khôi phục vị thế của Pháp trước chiến tranh, một mặt Pháp tăngcường bóc lột nhân dân lao động trong nước, mặt khác đẩy mạnh khai thác hệthống thuộc địa, trong đó có Việt Nam

- Về xã hội: phân hóa sâu sắc

+ Địa chủ phong kiến: phân hóa thành hai bộ phận: đại địa chủ ngày cànggiàu có, trở thành tay sai của thực dân Pháp; trung tiểu địa chủ: ít nhiều có tinh thầnkháng Pháp

+ Nông dân: tiếp tục bị bần cùng hóa; là lực lượng cách mạng to lớn và chỉphát huy được sức mạnh khi đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trang 26

+ Công nhân: phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng; sớm tiếpthu tư tưởng tiến bộ, trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Namvới đội tiên phong là Đảng Cộng sản.

+ Tư sản: ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất, còn non trẻ và sớm bị tưbản Pháp chèn ép nên bị phân hóa thành hai bộ phận: Tư sản mại bản có quyền lợikinh tế gắn chặt với Pháp, là tay sai của Pháp; Tư sản dân tộc có tinh thần kinhdoanh độc lập, bị Pháp chèn ép nên có tinh thần kháng chiến chống Pháp

+ Tiểu tư sản: là lực lượng tiếp cận sớm nhất với tư tưởng tiến bộ trên thếgiới, là lực lượng tham gia nhiệt tình phong trào dân tộc dân chủ trong những năm

20 của thế kỉ XX

 Sự ra đời và phát triển của các giai cấp trong xã hội Việt Nam, đặc biệt là giaicấp tư sản và tiểu tư sản đã tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh theo khuynhhướng dân chủ tư sản tiếp tục phát triển trong những năm 1919-1930

- Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930 là phongtrào dân tộc dân chủ phát triển mạnh mẽ theo hai khuynh hướng song song:khuynhhướng dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sản Đây là giai đoạn đấu tranh giànhquyền lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam giữa hai khuynh hướng trên

2 Sự phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản trong giai đoạn 1919- 1930

a Các cuộc đấu tranh của tư sản, tiểu tư sản trong những năm 1919 – 1925

* Cuộc đấu tranh của tư sản

- Mục đích: chủ yếu đòi quyền lợi về kinh tế

- Tính chất: cải lương, dễ thỏa hiệp; không triệt để

- Phương pháp đấu tranh: mittinh, đưa ra yêu sách, xuất bản sách báo tiến bộ, thànhlập tổ chức chính trị

Trang 27

- Các cuộc đấu tranh tiêu biểu:

+ 1919: Mở cuộc vận động tẩy chay hàng hóa người Hoa “chấn hưng nội hóa,bài trừ ngoại hóa”

+1923: Đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn và xuất khẩu gạo của Pháp

ở Nam Kì

+Tư sản và địa chủ Nam Kì thành lập “Đảng Lập hiến” (1923)

* Cuộc đấu tranh của tiểu tư sản

- Mục đích: đòi các quyền tự do, dân chủ

- Tính chất: sôi nổi, quyết liệt, lôi kéo được các tầng lớp khác tham gia

- Phương pháp đấu tranh: mittinh, đưa ra yêu sách, xuất bản sách báo tiến bộ, thànhlập tổ chức chính trị

- Các cuộc đấu tranh tiêu biểu:

+ Thành lập một số tổ chức chính trị như: “Việt Nam nghĩa đoàn”, “Hội PhụcViệt”, “Đảng Thanh niên”

+ Sáng lập nhiều tờ báo ra đời như An Nam trẻ, Người nhà quê, Chuông rè…

+ Hoạt động mít tinh biểu tình, bãi khóa Sự kiện nổi bật là đấu tranh đòi trả tự

do cho Phan Bội Châu (1925), cuộc truy điệu và để tang Phan Châu Trinh (1926)

b Sự thành lập và hoạt động của Việt Nam quốc dân đảng

* Sự ra đời:

- Ngày 25-12-1927: trên cơ sở hạt nhân đầu tiên là nhà xuất bản tiến bộ “Nam đồngthư xã”, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính thành lập “Việt Nam Quốc dân đảng”

Trang 28

- Đây là tổ chức đại diện cho tư sản dân tộc

* Nền tảng tư tưởng

- Lúc mới thành lập còn chung chung chưa rõ ràng

- Sau đó chịu ảnh hưởng của Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc theo khuynh hướng dânchủ tư sản

* Mục đích: không rõ ràng

- Lúc đầu, nêu chung chung “trước làm cách mạng dân tộc, sau làm cách mạng thế giới”

- Năm 1929: đưa ra bản “chương trình hành động”, nêu rõ:

+ Cách mạng Việt Nam chia làm 4 giai đoạn, giai đoạn cuối tiến hành đánhđuổi thực dân Pháp, khôi phục Việt Nam, thiết lập dân quyền

+ Nguyên tắc tư tưởng: “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”

* Chủ trương: tiến hành cách mạng bằng bạo lực  tiến bộ.

Ngày đăng: 27/05/2020, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bộ giáo dục và đào tạo (2010), Giáo dục kĩ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ thông (tài liệu dành cho giáo viên), Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ năng sống trong hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NxbGiáo dục Việt Nam
Năm: 2010
7. Bộ giáo dục và đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn LS, cấp THPT (lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giákết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn LS, cấp THPT
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2014
8. Nguyễn Thị Thế Bình (2014), Phát triển kĩ năng tự học LS cho HS, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kĩ năng tự học LS cho HS
Tác giả: Nguyễn Thị Thế Bình
Nhà XB: Nxb Đại họcSư phạm
Năm: 2014
9. Nguyễn Thị Côi (2013), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học LS ở trường phổ thông, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy họcLS ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2013
10. Nguyễn Gia Cầu (2012), “Tôn trọng những ý kiến khác biệt của HS trong quá trình dạy học”, Tạp chí giáo dục, số 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn trọng những ý kiến khác biệt của HS trong quátrình dạy học
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2012
11. Nguyễn Hữu Châu (2006), “Đổi mới giáo dục THPT”, Tạp chí khoa hoc giáo dục số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giáo dục THPT
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Năm: 2006
12. Dự án Việt Bỉ (2001), Người giáo viên cần biết, Bộ giáo dục và đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người giáo viên cần biết
Tác giả: Dự án Việt Bỉ
Năm: 2001
13. Phạm Văn Đồng (1999), Vấn đề giáo dục và đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo dục và đào tạo
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
14. Nguyễn Thị Hoàng Hà (2010), “Rèn luyện năng lực phản biện cho sinh viên trong dạy học các học phần phương pháp chuyên ngành sư phạm mầm non”, Tạp chí giáo dục số 249 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực phản biện cho sinh viêntrong dạy học các học phần phương pháp chuyên ngành sư phạm mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Hà
Năm: 2010
19. Nguyễn Thanh Hoàn (2006), “Định hướng đối với người hoc những năm đầu thế kỉ XXI”, Tạp chí Khoa học giáo dục số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng đối với người hoc những năm đầuthế kỉ XXI
Tác giả: Nguyễn Thanh Hoàn
Năm: 2006
21. Nguyễn Thị Diệu Phương (2009), “Xây dựng và sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học sinh thái ở trung học phổ thông”, Tạp chí giáo dục, số 214, kì 2, tháng 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng và sử dụng tình huống có vấn đềtrong dạy học sinh thái ở trung học phổ thông”
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Phương
Năm: 2009
1. Sách giáo khoa lịch sử 12 – ban cơ bản, NXB Giáo dục, 2016 Khác
2. Sách giáo khoa lịch sử 11 – ban cơ bản, NXB Giáo dục, 2016 Khác
3. Sách giáo viên lịch sử 12 , NXB Giáo dục, 2016 Khác
4. Sách giáo viên lịch sử 12, NXB Giáo dục, 2016 Khác
15. Bứt phá điểm thi môn khoa học xã hội: Phần Lịch sử , ThS. Hồ Như Hiển, NXB Hồng Đức, 2018 Khác
16. Chinh phục kì thi THPT QG , PGS-TS Nguyễn Mạnh Hưởng, NXB Sư phạm, 2018 Khác
17. Câu hỏi trắc nghiệm lịch sử 1, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội , 2017 Khác
18. Ôn luyện thi trắc nghiệm THPT năm học 2018 môn Lịch sử, PGS - TS Nguyễn Mạnh Hưởng, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2018 Khác
20. Phát triển tư duy học sinh trong dạy học LS ở trường phổ thông cấp III 1971-1972 (Tài liệu học tập chuyên đề), Khoa sử Đại học sư phạm Hà Nội I Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w