1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

báo cáo kết quả nghiên cứu ứng dụng sáng kiến phát triển năng lực học sinh trong dạy học ngữ văn ở trường THPT ứng dụng vào thực tiễn dạy học truyện ngắn người trong bao sê khốp

48 78 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 781,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh hiện nay, môn văn đang đứng trước nguy cơ bị học trò “quay lưng” do nhiều nguyên nhân: do tác động của cơ chế thị trường; do quan niệm đã trở thành thâm căn cố đế - “lập t

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC

TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến:

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT ỨNG DỤNG VÀO THỰC TIỄN DẠY HỌC BÀI “NGƯỜI TRONG BAO” CỦA SÊ-KHÔPTác giả sáng kiến: Trịnh Lan Anh

Mã sáng kiến: 095101

Tam Dương, tháng 02 năm 2020

Trang 2

1.Giới thiệu đề tài

Từ xưa đến nay, công việc của người giáo viên, nhất là người giáo viên

dạy văn vốn nhọc nhằn và cũng thật cao quý bởi “Mặt trời mọc rồi lặn, mặt trăng tròn lại khuyết nhưng ánh sáng mà người thầy rọi vào ta sẽ còn mãi trong cuộc đời” (Quách Mạt Nhược) Vinh quang của người thầy bao giờ cũng hóa

thân trong thành công của học trò Thành công của người thầy dạy văn suy chocùng chính là vun đắp cho các thế hệ học trò có những rung cảm văn chương,biết yêu những điều tốt lành, hướng thiện, biết ghét và biết tránh những thói xấu

xa, bạc ác Môn văn còn giúp cho các em hình thành các kĩ năng sống, hìnhthành và phát triển năng lực còn khuất lấp, để mai này ra cuộc đời, cần lắm chobài học về sự thành công

Có điểu, ở mỗi thời điểm lịch sử khác nhau đòi hỏi người thầy cần cónhững phương pháp và kĩ thuật khác nhau Trong bối cảnh hiện nay, môn văn

đang đứng trước nguy cơ bị học trò “quay lưng” do nhiều nguyên nhân: do tác động của cơ chế thị trường; do quan niệm đã trở thành thâm căn cố đế - “lập thân tối hạ thị văn chương”(Viên Mai); do sự hạn hẹp trong việc tuyển sinh và

tuyển dụng…Nhưng có một nguyên nhân cơ bản còn xuất phát từ thực tế dạyhọc hiện nay: việc đổi mới phương pháp dạy học còn hạn chế, chưa thật nhiềutiết học được đầu tư công phu, phương pháp chưa phù hợp để các em có những

tiết học không chỉ được “say” với văn chương, có những rung cảm sâu sắc từ

vốn sống và kiến thức người thầy truyền thụ Hơn thế nữa, người giáo viên thật

sự tạo ra những “sân chơi trí tuệ” để học trò thể hiện và phát huy năng lực Bởi

lẽ, nhu cầu tự khẳng định bản thân hơn bao giờ hết đã trở thành một nhu cầumạnh mẽ trong giới trẻ hiện nay

Do đó, việc đổi mới dạy học để phát huy năng lực học sinh là tất yếu, làphù hợp với xu thế chung của thời đại và sự tiến bộ của xã hội Để có giờ họctốt, đòi hỏi cả giáo viên và học sinh đều phát huy tối đa trí lực Thay đổi phươngpháp dạy truyền thống bằng dạy học phát triển năng lực sẽ hứa hẹn những bấtngờ về khả năng của trò Mỗi giờ học trở thành mỗi giờ khám phá, sáng tạo và

giáo viên sẽ là người khơi nguồn cho mọi đam mê, tạo sân chơi trí tuệ để học

sinh tự phát hiện ra năng lực trong mình bấy lâu nay còn tiềm ẩn chưa được dịpbộc lộ

Từ thực tế dạy học trong năm qua, người viết chọn bài “Người trong bao”

(Sêkhôp) – một tác phẩm văn học nước ngoài tưởng khô cứng và thường không

được giáo viên và học sinh chú ý trong chương trình Ngữ văn để minh họa cho

Trang 3

việc dạy học phát huy năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn ở nhà trườngTHPT hiện nay của mình Người viết hi vọng những ứng dụng thực tiễn củamình sẽ có những đóng góp cho con đường đi tìm những phương pháp dạy họcvăn còn nhiều tranh biện trong nhà trường hiện nay.

2 Tên sáng kiến

Phát triển năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT Ứng dụng vào thực tiễn dạy học truyện ngắn “Người trong bao” của Sê-khôp

3 Tác giả sáng kiến

- Họ và tên: Trịnh Lan Anh

- Địa chỉ : Trường THPT Trần Hưng Đạo - Tam Dương - Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0947845888

- Email: trinhlananh.gvtranhungdao@vinhphuc.edu.vn

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trịnh Lan Anh

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

Chương trình ngữ văn lớp 11 Cụ thể bài “Người trong bao” (Sêkhốp) nhằm

phát triển năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu : 22/2/ 2019

7 Mô tả bản chất của sáng kiến

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH MÔN NGỮ VĂN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm năng lực

Năng lực là vấn đề rộng với nhiều định nghĩa khác nhau:

Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì năng lực có thể

được hiểu theo hai nét nghĩa:

(1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó [4]

(2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao [4]

Hiểu theo (1) năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông quaviệc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của người học Hiểu theo (2)năng lực là một một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp

họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống Như vậy, từ hai nét

nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng

Trang 4

tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống

Theo PGS.TS Nguyên Công Khanh dẫn: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002) [2]

Như vậy, năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động,động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và

có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi

Có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm

“năng lực” chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải

quyết một tình huống có thực trong cuộc sống Từ đó chúng ta có thể nhận định

năng lực của học sinh phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức,

kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em

1.1.2 Các năng lực của học sinh

, Các năng lực xã hội: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác

Các năng lực công cụ: Năng lực tính toán, Năng lực sử dụng ngôn ngữ, Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

*Các năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn

Năng lực sử dụng tiếng Việt , năng lực đọc – hiểu bản (năng lực đọc văn), năng lực tạo lập văn bản (năng lực làm văn), năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mỹ

Từ việc phát huy các năng lực sẽ giúp hình thành trong học sinh 6 phẩm

chất: Yêu gia đình, quê hương đất nước; Nhân ái khoan dung; Trung thực, tự trọng, chí công, vô tư; Tự lập, tự tin, tự chủ; Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại; Nghĩa vụ công dân

1.1.3 Đánh giá theo năng lực học sinh

Trang 5

Theo quan niệm truyền thống: đánh giá chỉ là đánh giá một chiều: giáo viênđánh giá học sinh và việc đánh giá thường chỉ được thực hiện chủ yếu dựa vào điểm

số của các bài kiểm tra cuối kì hoặc điểm số của các bài kiểm tra một tiết

Theo quan điểm dạy học tích cực: thì việc đánh giá phải diễn ra đa chiều:kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò, có thể tham chiếu thêm sựđánh giá lẫn nhau giữa trò và trò Việc đánh giá nên được diễn ra thường xuyên,liên tục trong suốt quá trình học chứ không chỉ mang tính chất định kì như kiểmtra học kì hoặc giữa kì Giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh tự đánh giákhông chỉ bằng điểm số mà phản hồi lại cho giáo viên những nỗ lực, quá trìnhphấn đấu và kết quả mà mình đạt được

Theo Nguyễn Công Khanh thì “đánh giá học sinh theo cách tiếp cận năng lực là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra… nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt tới một chuẩn nào đó”

Như vậy, đánh giá theo năng lực học sinh theo cách hiểu này đòi hỏi phải đáp

ứng hai điều kiện chính là: phải có sản phẩm đầu ra và sản phẩm đó phải đạt được một chuẩn nào đó theo yêu cầu

Như vậy đánh giá theo năng lực không chỉ là đánh giá việc thực hiện

nhiệm vụ học tập của học sinh mà phải hướng tới việc đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh để thực hiện nhiệm vụ học tập theo một chuẩn nhất định Đánh giá theo năng lực phải dựa trên việc miêu tả rõ

một sản phẩm đầu ra cụ thể mà cả hai phía giáo viên và học sinh đều biết và cóthể đánh giá được sự tiến bộ của học sinh dựa vào mức độ mà các em thực hiệnsản phẩm

1.1.4 Một số hình thức đánh giá

Đánh giá năng lực (ĐGNL) không chỉ là việc đánh giá việc thực hiện

nhiệm vụ hoặc hành động học tập Nó bao hàm “việc đo lường khả năng tiềm ẩn của học sinh và đo lường việc sử dụng những kiến thức, kỹ năng, và thái độ cần

có để thực hiện nhiệm vụ học tập tới một chuẩn nào đó” ĐGNL dựa trên việc

miêu tả các sản phẩm đầu ra cụ thể, rõ ràng tới mức giáo viên, học sinh và cácbên liên quan đều có thể hình dung tương đối khách quan và chính xác về thànhquả của học sinh sau quá trình học tập ĐGNL cũng cho phép nhìn ra tiến bộ củahọc sinh dựa trên mức độ thực hiện các sản

Đánh giá học sinh theo cách tiếp cận năng lực là đánh giá theo chuẩn vềsản phẩm đầu ra… nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà chủ

Trang 6

yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có để thực hiệnnhiệm vụ học tập đạt tới một chuẩn nào đó.

Sử dụng các phương pháp không truyền thống: quan sát, phỏng vấn sâu

và hội thảo, nhật ký người học, hồ sơ học tập, bài tập lớn, đánh giá thực hành(bao gồm tập hợp bài tập và các sản phẩm…), học sinh tự đánh giá và đánh giálẫn nhau…

Để đánh giá năng lực học sinh, giáo viên có thể thực hiện đánh giá qua:việc tổ chức dạy học trên lớp và theo dự án

1.1.4.1 Đánh giá qua tổ chức dạy học trên lớp

Đây là hình thức dạy học phổ biến nhất trong nhà trường Trong quá trình

tổ chức dạy học thì phương pháp dạy học (PPDH) và kĩ thuật dạy học (KTDH)

là quan trọng nhất PPDH có thể hiểu là hình thức, cách thức hành động của GV

và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của giáo viên và học sinh Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học (QTDH)

Mỗi QĐDH có những PPDH cụ thể phù hợp với nó; mỗi PPDH cụ thể cócác KTDH đặc thù Tuy nhiên, có những PPDH cụ thể phù hợp với nhiềuQĐDH, cũng như có những KTDH được sử dụng trong nhiều PPDH khác nhau(Ví dụ: kĩ thuật đặt câu hỏi được dùng cho cả phương pháp đàm thoại và phươngpháp thảo luận) Có rất nhiều phương pháp, song người ứng dụng một sốphương pháp dạy học tích cực sau:

a Phát huy năng lực qua phương pháp hoạt động nhóm

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợptác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành cácnhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành cácnhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việccủa nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tínhtrách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS

b Phát huy năng lực bằng phương pháp giải quyết vấn đề

Phát hiện và giải quyết vấn đề (GQVĐ) là PPDH đặt ra trước HS các vấn

đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển

Trang 7

HS vào tình huống có vấn đề , kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầumong muốn giải quyết vấn đề.

c Phát huy năng lực học sinh qua phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “ làm thử” một sốcách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định `Đây là phương pháp nhằmgiúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụthể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải làphần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phầndiễn ấy

d Phát huy năng lực học sinh phương pháp trò chơi

Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn

đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông quamột trò chơi nào đó

Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gâynhàm chán cho HS Sau khi chơi, giáo viên cần cho HS thảo luận để nhận ra ýnghĩa giáo dục của trò chơi

1.1.4.2 Đánh giá qua hồ sơ học sinh

Hồ sơ học tập của học sinh là một bộ sưu tập có mục đích và có tổ chứcnhững công việc của học sinh, được tích lũy trong suốt một thời gian và thể hiện

sự nỗ lực, tiến trình của học sinh và những gì các em đạt được Có thể phân loại

Hồ sơ học tập:

*Hồ sơ đọc – hình thức đánh giá năng tiếp nhận văn bản

Hồ sơ đọc này có thể là một hồ sơ lưu trữ tất cả tài liệu đọc độc lập củacác em Nó được học sinh dùng để chuẩn bị bài mới, ghi chép lại nhận xét củacác em về bài học, ở mức độ cao hơn là đọc những tác phẩm bên ngoài sáchkhoa (theo gợi ý của giáo viên hoặc theo sở thích cá nhân của học sinh) Hìnhthức cụ thể của hồ sơ đọc cần được giáo viên hướng dẫn cho học sinh và đảmbảo tất cả các em đều hiểu và có thể làm được

* Hồ sơ bài viết – hình thức đánh giá năng lực tạo lập văn bản

Hồ sơ bài viết có thể hiểu là hồ sơ theo dõi sát sao quá trình tạo lập cácloại văn bản của người học trong suốt học kì hoặc cả năm Giáo viên không chỉxem hồ sơ bài viết này như một phản hồi của người học mà còn phải xác định rõvới học sinh nó là một căn cứ để đánh giá năng lực tạo lập văn bản của các em.Theo hình thức đánh giá này, hồ sơ bài viết sẽ được giáo viên xem xét và thảoluận với từng học sinh mỗi cuối học kì để đánh giá mức độ phát triển của các

Trang 8

em Từ đó giáo viên có thể đánh giá cả quá trình học của học sinh, cụ thể hơn là

sự tiến bộ của học sinh qua từng bài viết

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực tiễn tổ chức dạy học

Chương trình theo cách tiếp cận nội dung thì dạy cho học sinh biết cái gì;Còn chương trình hướng đến năng lự’*c cho học sinh là học sinh làm được gìtrên cơ sở các em biết Như vậy năng lực là đích, là đầu ra của giáo dục Với

cách tiếp cận như vậy nó sẽ chi phối các yếu tố của chương trình như mục tiêu tức là dạy để làm gì; nội dung dạy học - tức dạy cái gì; phương pháp và hình thức tổ chức dạy học - tức là học bằng cách nào; và cuối cùng là thi, kiểm tra, đánh giá và chất lượng giáo dục.

- Để phát huy năng lực của học sinh, cần trăn trở và tìm tòi hướng đi mớicho mỗi bài dạy, cách tổ chức sao cho phù hợp với từng bài và từng đối tượnghọc sinh Từ đó, có thể thấy rõ sự khác biệt giữa dạy học truyền thống và dạyhọc theo định hướng phát triển năng lực học sinh

1.2.1.1.Thực trạng dạy học truyền thống

Dạy học văn hiện nay đang chịu sự tác động của cơ chế thị trường, vị thế

môn văn trong nhà trường THPT bấy lâu bị “xem nhẹ” Các em năng động hơn

cũng đồng nghĩa với nguy cơ sống thực dụng nhiều hơn Học sinh không nhậnthức vai trò của môn văn là để bồi đắp tâm hồn, rèn luyện kĩ năng giao tiếp, tạolập văn bản, để trau dồi vốn sống và nhân cách nữa Cách dạy học thụ độngtruyền thống dường như không còn phù hợp với sự nhạy bén của học sinh thờinay

1.2.1.2 Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh

Để phát huy năng lực của người học, giáo viên luôn phải chủ động trongviệc tổ chức giờ học Tức là quá trình chuẩn bị cho một tiết học là khâu quantrọng nhất Tùy đặc thù từng bài cũng như các phân môn khác nhau sẽ địnhhướng hình thành năng lực học sinh khác nhau Mục đích phát triển năng lựcnào sẽ đề ra phương pháp và cách thức nấy

Để tổ chức tốt một giờ dạy theo đinh hướng phát triển năng lực học sinh trướchết giáo viên cần định hướng những năng lực mà học sinh cần được phát huy tronggiờ dạy Sau đó hình dung ra các công việc học sinh có thể hoàn thành, phân côngnhiệm vụ cho các nhóm Cuối cùng là kiểm tra đánh giá kết quả

Trang 9

Thực tiễn dạy học cho thấy học sinh vô cùng hứng thú với các tiết họcnày Có thể lập bảng so sánh tiết dạy học truyền thống với tiết dạy học phát triểnnăng lực học sinh như sau:

triển năng lực Học

sinh HS khó nhớ bài học, không nắm vững

hay tiếp thu được nội dung kiến thức

HS nhớ và có ấn tượng sâu sắc

về bài học, hiểu và nắm vữngkiến thức ngay trên lớp

HS không hợp tác, thụ động, lười tư

duy, xa thực tiễn

HS chủ động hợp tác, biết vậndụng kiến thức để liên hệ vàothực tiễn

HS còn mất tập trung trong giờ học HS tập trung tham gia giờ học

HS chưa thể hiện được bản thân,

thiếu tự tin, hạn chế về kĩ năng giao

HS thiếu tính sáng tạo, không có khả

năng tư duy độc lập, khẻ năng hợp tác

và tự học, tự quản hạn chế

- HS chủ động hợp tác, tinhthần tự học và tự quản tốt

- HS sáng tạo

Giáo

viên

GV làm việc nhiều nên đôi khi ham

truyền tải một chiều dẫn tới thụ

động, mệt mỏi

GV làm việc ít, chủ độngtruyền đạt kiến thức cơ bản,chính xác, khoa học, có trọngtâm

Phương pháp dạy học đơn điệu,

không đổi mới phương pháp dạy học,

chưa tích hợp được kiến thức liên

môn…

Giáo viên đạt được mục tiêukiến thức - kỹ năng của bài dạy.Giờ học sinh động, có thể tíchhợp kiến thức liên môn theochủ đề

Giáo viên còn áp đặt kiến thức, còn

tồn tại tình trạng “thầy đọc, trò chép”

Giờ học sinh động, hấp dẫn, sôinổi, không khí thân thiện, bàigiảng lôi cuốn

GV dạy chay, thiếu đồ dùng DH Phương tiện, phương pháp hỗ

trợ phù hợp, linh hoạt, có tínhtích hợp, lồng ghép kiến thức

Trang 10

thực tế

1.2.2 Thực tiễn kiểm tra đánh giá

Qua thực tiễn dạy học, sự khác biệt cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tậptheo hướng bồi dưỡng năng lực tự học với kiểm tra, đánh giá kiểu dạy họctruyền thống như sau:

2 Đánh giá kết quả học tập theo các

tiêu chí: kiến thức, kỹ năng

Đánh giá kết quả học tập theo cáctiêu chí: Độc lập, sáng tạo

3 Thầy giữ vị trí độc tôn trong đánh giá Kết hợp đánh giá của thầy với tự

đánh giá và đánh giá lẫn nhau của trò Xưa nay, đánh giá kết quả học tập là việc làm của thầy giáo, học sinh làđối tượng được đánh giá Trong dạy học theo hướng định hướng phát triển nănglực thì người thầy cần bồi dưỡng cho trò khả năng tự kiểm tra đánh giá sảnphẩm học tập của mình, đánh giá lẫn nhau, để điều chỉnh cách học sao cho cóhiệu quả nhất

CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT

2.1 Phát triển năng lực học sinh qua hình thức tổ chức dạy học trên lớp

Trang 11

Trong thực tiễn dạy học, với mỗi đối tượng khác nhau giáo viên có nhữngphương pháp, kĩ thuật dạy học khác nhau Để phát huy năng lực của học sinh

không thể không ứng dụng các phương pháp kĩ thuật (đã nêu ở chương 1).

Người viết bài vận dụng các phương pháp, kĩ thuật đó vào quy trình dạy học trênlớp để phát triển các năng lực học sinh

Môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung không còn đơn

điệu nếu người giáo viên không ngừng trau dồi chuyên môn, đam mê nghề

nghiệp, luôn “giữ lửa” và “truyền lửa” đến các em học sinh Nhưng hơn hết là

học sinh cần thoát khỏi cái vỏ tự ti, thụ động, được khích lệ thể hiện năng lựccủa bản thân Năng lực ấy cần phải được học sinh trong lớp ghi nhận, giáo viênđánh giá thỏa đáng, kịp thời

Các năng lực của học sinh luôn đồng thời được thể hiện nếu như ngườigiáo viên biết định hướng và tổ chức cho các em học sinh Trong các tiết dạyhọc theo định hướng này, người viết đề xuất và thực hiện theo quy trình sau:

Các bước

tiến hành

Quy trình thực hiện dạy học theo định hướng

phát triển năng lực học sinh Bước 1 Xác định mục tiêu theo chuấn KT- KN, các năng lực cần hướng

tới

Bước 2 Xây dựng tiến trình, nội dung, kết cấu bài dạy

Bước 3 Giao nhiệm vụ cụ thể Cần yêu cầu học sinh có sản phẩm đầu ra

Thống nhất về thang điểm và tiêu chí giá năng lực học sinh

Bước 4 Chuẩn bị chu đáo về phương tiện, kĩ thuật dạy học Cần đầu tư

thời gian chuẩn bị phiếu học tập, hình dung ra các phần làm việc của học sinh để chuẩn bị tư liệu, kiến thức, phương tiện bổ trợ

Bước 5 Tổ chức tiết dạy theo định hướng phát triển năng lực

Bước 6

Đánh giá năng lực học sinh theo các tiêu chí đã xây dựng

Cần lưu lại các sản phẩm của học sinh để làm tư liệu

Mỗi quy trình được coi là một nhiệm vụ học tập Mỗi nhiệm vụ học tập lại

có những phương pháp, kĩ thuật dạy học riêng đề phát huy năng lực học sinh.Trong quá trình dạy học, tôi vận dụng chủ yêu các phương pháp, kĩ thuật sau:phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đóng vai,phương pháp tổ chức trò chơi…Mỗi phương pháp tôi lại ứng dụng những kĩ

thuật phù hợp như kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật giao

nhiệm vụ…

Trang 12

2.1.1 Phát huy năng lực qua phương pháp hoạt động nhóm

Khi dạy học theo định hướng phát triển năng lực qua hoạt động nhómngười viết thường áp dụng theo cách thưc sau:

* Hoạt động nhóm trên lớp :

Bước 1:Thành lập nhóm Bước 2: Xác định nhiệm vụ của các nhóm, yêu cầu về thời gian và sản phẩm đấu ra

Bước 3: Trình bày kết quảBước 4: Đánh giá

* Hoạt động nhóm khi về nhà: HS nhận nhiệm vụ và thực hiện theo các cách

Bước 1: Chuẩn bị chỗ làm việcBước 2: Lập kế hoạch làm việcBước 3: Thoả thuận quy tắc làm việcBước 4: Tiến hành giải quyết các nhiệm vụBước 5: Chuẩn bị báo cáo kết quả

Trong bước phân công nhiệm vụ và yêu cầu sản phẩm đầu ra: giáo viênphân công nhiệm vụ cần xác định đúng mức độ công việc có phù hợp với từnghọc sinh, nhóm học sinh không? Phải chú ý là học sinh nào cũng được giaonhiệm vụ, đòi hỏi cá nhân hoặc nhóm học sinh có sự tương tác Tránh hiệntượng chỉ có rất ít học sinh tham gia, các học sinh khác ỉ lại vào những bạn có

năng lực hơn mình Muốn vậy, giáo viên cần hướng dẫn nhóm học sinh lập Sổ theo dõi chuyên cần Trong cuốn sổ đó ghi rõ các thành viên trong nhóm, nhiệm

vụ được phân công, công việc tham gia và hoàn thành Học sinh trong nhóm cóthể tự đánh giá năng lực của nhau, từ đó là cơ sở cho giáo viên đánh giá

Khi phân nhóm giáo viên cần linh hoạt và đổi mới cách chia nhóm để

các em có cơ hội giao tiếp, hợp tác, thấu hiểu giữa các thành viên Để xây dựngcác nhóm tôi căn cứ vào đặc điểm cụ thể của nhiệm vụ, của bài, đối tượng họcsinh như:

- Tùy thuộc từng nhiệm vụ cụ thể mà số lượng học sinh có thể nhiều hay ít

- Có thể chia nhóm HS theo không gian có thể căn cứ vào vị trí ngồi trênlớp, theo địa phương để dễ dàng trao đổi

- Phân nhóm theo sở thích và năng lực của học sinh

- Phân nhóm sau một trò chơi cụ thể…

Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm nhận mộtnhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung Chú ý khi tổ chức

Trang 13

phòng làm việc, phòng học, cần kê bàn ghế cho thân thiện, phù hợp với hoạtđộng nhóm.

2.1.2 Phát huy năng lực qua phương pháp dạy học nêu vấn đề

Đây là phương pháp khá phổ biến trong các giờ dạy học ngữ văn Để họcsinh có thể phát triển năng lực tự học, tự quản, giải quyết vấn đề, giải quyết cáctình huống thực tiễn giáo viên cần vận dụng phương pháp này một cách linhhoạt Để thực hiện phương pháp này, người viết đã vận dụng theo quy trình sau:

Chuyển vấn đề đến học sinh

Quy trình Học sinh thu thập thông tin

Giải quyết vấn đề Đề ra phương án giải quyết

Thực hiện phương án phù hợp Đánh giá hiệu quả

Tuy nhiên người viết bài thấy rằng, trong quá trình thực hiện phương phápnêu vấn cần lưu ý: vấn đề/ tình huống phải hù hợp với chủ đề bài học, phù hợpvới trình độ nhận thức của học sinh, gần gũi với cuộc sống thực của các em, cócách thể hiện bằng hình ảnh sinh động và cách giải quyết tối ưu đối với mỗi em

có thể giống hoặc khác nhau

Ví dụ, khi dạy bài “Đàn ghi ta của Lorca”, để tìm hiểu 6 dòng thơ đầu,

sau khi nêu vấn đề giáo viên phân công nhiệm vụ cho học sinh:

Làm rõ hình tượng Lorca trong bối cảnh chính trị và nghệ thuật của Tây Ban Nha thế kỉ XIX?

Để thực hiện nhiệm vụ này, nhóm học sinh 12A3 đưa ra cách giải quyếtvần đề theo trình tự sau:

Một Lorca bất tử và bất hạnh qua hình ảnh“những tiếng đàn bọt nước”

Một Lorca anh dũng trên đấu trường cách tân nghệ thuật và bảo vệ công lí

Trang 14

Một Lorca cô đơn trong không gian mênh mông và thời gian thăm thẳm

Với quy trình này, rõ ràng học sinh

đã thể hiện được năng lực giải quyết vấn đề, tự học, tự quản bản thân tốt Haykhi giáo viên nêu tình huống:

Hãy chứng minh rằng sông Hương là dòng sông âm nhạc và thi ca? khi

dạy học bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhóm

học sinh được giao đã thực hiện như sau:

- Cử đại diện hát một đoạn của bài hát về sông Hương, xứ Huế

- Sông Hương là cái nôi hình thành nên nền âm nhạc cổ điển Huế Chiếu 1đoạn clip về ca Huế trên sông Hương để minh họa

- Khẳng định niềm tự hào và tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với Huế.Gần đây nhất, khi tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực bài

“Ông già và biển cả” (Hêminh- uê), giáo viên giao việc cho các nhóm lần lượt tìm hiểu các vấn đề trong tác phẩm Trong đó, khi nhóm 1 trình bày về nguyên

lí ”Tảng băng trôi” , các em có cách giải quyết vấn đề như sơ đồ sau:

Rõ ràng để có được sơ đồ này, học sinh phải phát huy được năng lực tựhọc, tự quản và hợp tác tốt

Nhóm thứ 2, phân tích hình tượng ông lão đánh cá Xantriagô, ngoài phần

sơ đồ kiến thức, học sinh đã cho cả lớp xem clip trong bộ phim cùng tên, sau đórút ra đặc điểm nhân vật bằng sơ đồ tư duy

Như vậy có thể khẳng định phương pháp dạy học nêu vấn đề là một trongphương pháp chủ đạo và tích cực để định hướng học sinh chủ đạo tiếp nhận kiến thức

Một hình tượng bi tráng để người đọc

cảm phục và xót thương

Trang 15

Kiến thức học sinh như thế nào, sản phẩm của học sinh tốt hay không phụ thuộc vàocách tổ chức và nêu vấn đề của người dạy có độc đáo và phù hợp hay không

2.1.3 Phát huy năng lực qua phương pháp đóng vai

Đây là phương pháp được học sinh hứng thú nhất Không phải bài nàocũng có thể áp dụng phương pháp phân vai nhưng nếu ứng dụng vào những bàiphù hợp sẽ mang lại hiệu quả tích cực Để thực hiện phương pháp đóng vai,người viết thực hiện theo quy trình sau:

Bước 1: Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu

đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gianđóng vai của mỗi nhóm

Bước 2: Các nhóm thảo luận, lên kế hoach về nội dung, phân công các

thành viên trong nhóm tham gia

Bước 3: Tổ chức cho lớp nhận xét về cách tổ chức phân vai, diễn xuất.

Giáo viên đánh giá năng lực của học sinh

Khi thực hiện phương pháp đóng vai, giáo viên cần lưu ý: Tình huống phảiphù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh, lớp học Thứ hai, tình huống không nênquá phức tạp, cần diễn ra trong thời gian cụ thể, không cho học sinh trước kịchbản, lời thoại để rèn cho học sinh năng lực tạo lập văn bản Nên có hoá trang vàđạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai

Trong chương trình Ngữ văn có nhiều bài có thể cho học sinh sử dụng

phương pháp đóng vai, nhất là những bài đọc văn Người viết bài đã thực hiệnnhững tiết dạy có sử dụng phương pháp này và nhận thấy giờ học đạt được hiệu

quả và học sinh có “sân khấu” để thể hiện năng lực rõ rệt Chẳng hạn, thay vì

việc đọc hay tóm tắt văn bản truyện ngắn “Chí Phèo” (Nam Cao), giáo viên đã

phân lớp thành ba nhóm thực hiện các nhiệm vụ sau:

Nhóm 1: Tìm hiểu đoạn trước khi Chí Phèo gặp thị Nở và dựng lại chân

dung Chí Phèo trong cơn say Thời gian diễn xuất 2 phút

Nhóm 2: Tìm hiểu đoạn Chí Phèo gặp thị Nở và tái hiện lại bằng tiểu

phẩm trong vòng 3 phút

Nhóm 3: Tìm hiểu đoạn cuối của truyện “Chí Phèo” và tái hiện lại bằng

tiểu phẩm Thời gian diễn xuất 2 phút

Với cách phân vai như vậy, giờ học không còn nhàm chán, học sinh rất

háo hức mong đợi một giờ văn khi các em được “đồng sáng tạo” với tác giả,

được hóa thân vào nhân vật Hơn thế nữa các năng lực như giải quyết vấn đề, tựhọc, giao tiếp, sử dụng tiếng Việt, tạo lập văn bản, đọc hiểu được thể hiện

Trang 16

Quan trọng nhất là rèn cho các em tinh thần tự tin và tự chủ bản thân Phươngpháp dạy học phân vai có thể ứng dụng trong nhiều tác phẩm khác như đoạn

trích: “Chí Phèo”, “Người trong bao”, “Người cầm quyền khôi phục uy quyền”

- V Huygô), “Vợ nhặt” và cả trong dạy học văn học dân gian

2.1.4 Phát huy năng lực qua phương pháp tổ chức trò chơi

Trong quá trình dạy học, để thay đổi không khí giờ học giáo viên có thểkhéo léo lồng ghép phương pháp tổ chức trò chơi trong một số bài học Phươngpháp này khiến kiến thức được truyền thụ tự nhiên, tăng cường sự tập trung cho

các tiết dạy Ví dụ như, khi dạy bài Diễn đạt trong văn nghị luận (Ngữ văn 12)

giáo viên có thể đưa ra một loạt dữ liệu, trong đó có những từ dùng sai hoặc

chưa chuẩn Từ đó chia nhóm tổ chức cuộc thi Ai nhanh hơn Nhóm nào phát

hiện nhiều từ sai, sửa sai được nhiều hơn nhóm đó thắng Dạy bài Phát biểu tự

do giáo viên có thể sử dụng phương pháp trò chơi thông qua trò Hái hoa dân chủ Mỗi bông hoa là một chủ đề phát biểu theo yêu cầu của giáo viên hoặc

nhóm học sinh tự đặt cho nhau Cho thời gian chuẩn bị, bốc thăm trả lời

Ở một số bài học có thể đưa trò chơi vào phần củng cố Các trò chơi có

thể ứng dụng như: Nhìn hình bắt chữ (Giáo viên chuẩn bị tranh, ảnh tư liệu liên quan, yêu cầu học sinh tìm từ ngữ tương ứng để trả lời); “Trình bày một phút”

(giáo viên chia nhóm, mỗi nhóm đặt một câu hỏi cho nhóm bạn về vấn đề liênquan đến bài học yêu cầu nhóm bạn trả lời trong một phút Nhóm thắng là nhóm

có câu tra lời ngắn gọn, hàm súc và độc đáo nhất Các câu hỏi cũng như các câutrả lời học sinh đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho giáoviên thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào Qua hình thức tổ chức nhưvậy, các em hình thành được năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng ngôn ngữ,năng lực tự quản bản thân tốt

2.1.4 Kết quả đạt được sau thực tiễn ứng dụng các phương pháp dạy học phát triển năng lực học sinh

Qua việc ứng dụng các phương pháp/ kĩ thuật dạy học trên, học tôi thấycác em hình thành đồng thời nhiều năng lực Có thể mô tả bằng sơ đồ sau:

Trang 17

Qua các phương pháp trên các năng lực tiêu biểu được thể hiện như:

* Năng lực giải quyết vấn đề, tự học hợp tác , tự quản

Thực tế cho thấy khi đặt học sinh vào một tình huống đòi hỏi phải

có sự hợp tác giữa các thành viên sẽ duy trì được tinh thần đồng đội, tinh thầnđoàn kết, học sinh có cơ hội bộc lộ những lợi thế của mình Học sinh cần cónhững cách ứng xử hài hòa với nhau, học hỏi nhau

Một sản phẩm của học sinh thể hiện năng lực tự học

Muốn học sinh có sản phẩm đầu ra và qua đó bộc lộ ý thức tự học, tựnghiên cứu thì bản thân người thầy cũng cần hướng dẫn cho học sinh các phươngpháp, kĩ thuật, tự học như: kĩ thuật sơ đồ tư duy, phương pháp thống kê – phân loại,

so sánh, phân tích, tổng hợp…Có như vậy, việc tự học mới đạt hiệu quả

Để phát triển năng giải quyết vấn đề học sinh sẽ phải hợp tác để hoànthành nhiệm vụ tốt nhất Để đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động nhóm pháthuy năng lực hợp tác giáo viên đã ứng dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy

học tích cực như kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật mảnh ghép…Kết quả cho thấy học sinh luôn có sự tương tác giữa

Trang 18

các thành viên trong và ngoài nhóm tốt Những giờ học vì thế không còn nhàmchán với các em.

* Năng lực Công nghệ thông tin và truyền thông

Đây là một trong những năng lực vượt trội của học sinh ngày nay Họcsinh vốn thông minh và dễ tiếp thu cái mới Chính vì thế cần phải tổ chức dạyhọc để làm sao các em có cơ hội thể hiện và tự khám phá bản thân

Để phát triển năng lực này, quan trọng nhất là giáo viên cần phải nêuđược tình huống, yêu cầu sản phẩm đầu ra cho học sinh Học sinh có thể bộc lộ

khả năng này ở nhiều góc độ: Soạn thảo một văn bản, Thiết kế bài học trên powerponrt, cắt video, lồng ghép âm thanh, tạo clip…Người viết bài luôn cảm

thấy bất ngờ trước năng lực các em thể hiện trong lĩnh vực này

Khi dạy bài “Đàn ghi ta của Lorca” một nhóm học sinh khi phân tích câu

thơ “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt” đã dựng lại bối cảnh chính trị và nghệ

thuật Tây Ban Nha thế kỉ XIX bằng việc minh họa clip đấu trường, vũ điệuframenco…Điều này không chỉ thể hiện năng lực CNTT vượt trội và còn cảnăng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo…

Còn rất nhiều những tiết học khác học sinh thể hiện được năng lực vượttrội này của mình Đây cũng là phần các em hứng thú và chủ động đấu tư về thờigian, tâm sức Thiết nghĩa, sân chơi trí tuệ ấy cần được nhân rộng như một điềutất yếu

* Năng lực sáng tạo

Mỗi một học sinh là một thế giới với những tư duy phong phú, những ýtưởng không lặp lại Năng lực sáng tạo của các em được biểu hiện rất phong

phú Trong môn ngữ văn các em lại càng “biết khơi những nguồn chưa ai khơi

và sáng tạo những cái gì chưa có” (Nam Cao) Được biểu hiện như: có cách

cảm nhận và thể hiện độc lập, mới mẻ về một vấn đề văn học; Biết đề xuất ýtưởng và giải pháp đề giải quyết vấn đề

Năng lực sáng tạo thể hiện niềm đam mê và khát khao được tìm hiểu củahọc sinh, không suy nghĩ theo lối mòn, đồng sáng tạo với mỗi tác phẩm vănchương…Rõ ràng dạy học theo hướng phát triển năng lực không chỉ phá tankhông khí trầm lặng của lớp học mà đưa môn văn về đặc trưng của nó: một mônhọc vừa là môn khoa học, vừa là môn nghệ thuật

* Năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn

Đây là nội dung mà phương pháp dạy học truyền thống thường không chútrọng đến Người viết bài quan niệm rằng, mục đích cao nhất của giáo dục

Trang 19

không chỉ truyền tri thức mà qua tri thức hình thành vốn sống, kĩ năng và nhâncách sống Vì vậy trong quá trình dạy học đổi mới, người viết luôn gắn với các

vấn đề thực tiễn Chẳng hạn, khi dạy học bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

(Hoàng Phủ Ngọc Tường), người viết tích hợp với môn giáo dục công dân qua

các câu hỏi tình huống sau trong phiếu học tập (Phụ lục 1):

Vấn đề thứ nhất: Theo em, nhà văn đã truyền cho chúng ta thông điệp

gì để góp phần bảo vệ dòng sông thiên nhiên, dòng sông lịch sử và văn hóa? ( Tích hợp với Bài 12 – Lớp 11: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường

(SGK Giáo dục công dân lớp 11 – tr 95)

Vấn đề thứ hai: Em cảm thấy đất nước ta như thế nào qua bài kí? Bản thân em cần làm gì để góp phần bảo vệ môi trường trên những dòng sông quê hương? (Tích hợp với Bài 16 – Lớp 10: Tự hoàn thiện bản thân)

Qua việc chủ động học tập và qua các tình huống dạy học, học sinh cóthể chủ động nhận thức được tình cảm bản thân, nhận biết tình cảm của ngườikhác và những biểu hiện của cuộc sống từ phương diện thẩm mĩ, làm chủ nhữngliên hệ, những giá trị con người và cuộc sống

* Năng lực sử dụng tiếng Việt và các năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn

* Năng lực sử dụng tiếng Việt

Thông qua những bài học cụ thể, học sinh biết vận dụng vốn ngôn ngữ phùhợp trong hoạt động giao tiếp Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bốicảnh để học sinh được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh,nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học Dạy học theo hướng tíchcực là dạy theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụngnhững kiến thức tiếng Việt trong bối cảnh đa dạng của cuộc sống

Trong các giờ dạy ngữ văn, nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ởcác kĩ năng nghe, nói, đọc, viết

Bên cạnh đó còn thể hiện năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn như đọchiểu, thưởng thức, rung cảm thẩm mĩ văn chương

Tóm lại, qua thực tiễn dạy học phát triển năng lực của học sinh ở trườngTHPT, tôi nhận thấy lợi ích của phương pháp mới này không hề nhỏ Địnhhướng dạy học mới này tạo ra hướng dạy học đột phá trong môn ngữ văn nóiriêng và các môn khoa học khác nói chung Cách nhìn nhận và đánh giá học sinh

vì thế chính xác và toàn diện hơn

Trang 20

CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH QUA DẠY HỌC

TRUYỆN NGẮN “NGƯỜI TRONG BAO” CỦA SÊ-KHỐP

A.P.Sê-khốp (1860 – 1904), là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa hiện thựcNga thế kỉ XIX ở thể loại truyện ngắn và kịch Ông là bậc thầy truyện ngắn củaNga và của nhân loại, có vai trò quan trọng trong việc cách tân truyện ngắn thế

kỉ XX Nhắc đến Sêkhốp người ta không chỉ nhắc tới số lượng tác phẩm đồ sộ(khoảng hơn 500 truyện) với nhiều thành tựu kì vĩ mà còn ghi nhận ảnh hưởngcủa ông đối với thể loại này qua nhiều cây bút truyện ngắn bậc thầy khác xuyên

suốt thế kỉ XX như Phôncơnơ, Hêminhuê, Macket… Sêkhôp có thể coi là người

mở đường cho thể loại truyện ngắn của nhân loại.

Truyện ngắn Sêkhốp không khoa trương mà bình lặng, đầy suy tư Chỉ lànhững truyện trong nhà, ngoài đường phố, những truyện đời thường nhưngSêkhôp đã đặt ra vấn đề lớn lao, phanh phui những thói xấu xa đê tiện, đấu tranh

cho sự tiến bộ của nhân loại Với quan niệm “Người nghệ sĩ chân chính phải là nhà nhân đạo trong cốt tủy”, ông “biết nói ngắn về những truyện dài”, trang văn Sêkhôp vẫn đậm chất thơ và mạch ngầm văn bản thì vô cùng vô tận Dẫu có

phong phú về mặt chủng loại đến đâu chăng nữa thì truyện Sêkhôp bao giờ cũngtoát lên cái nhìn nhân hậu về cuộc đời, toát lên cái không khí ngột ngạt, nhu cầuvượt thoát cảnh ngộ thực tại

Truyện ngắn “Người trong bao” được viết vào mùa hè năm 1898 thuộc kiểu truyện luận đề của Sêkhốp khi xây dựng hình tượng Bêlicốp rất tiêu biểu

cho thế giới nhân vật của ông Với tư cách là một nghệ sĩ – bác sĩ, Sêkhốp đãthực sự tạo nên phong cách độc đáo của riêng mình Là nhà văn hiện thực, con

mắt nghề nghiệp (từng là bác sĩ) đã giúp ông bắt mạch, lần tìm và mổ xẻ đúng

căn bệnh trầm kha của thời đại qua nhân vật Bêlicốp Nhưng là nghệ sĩ tráctuyệt, tâm hồn ông vươn tới tận miền thẳm sâu, đầy bí ẩn trong vô thức, trongbản thể con người Bêlicốp cô đơn và tẻ nhạt, sợ hãi và bạc nhược, máy mócgiáo điều và ích kỉ, kì quặc…Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn được thểhiện qua lối kể khách quan, kết cấu đặc sắc, chi tiết sắc bén, tình huống độc đáo,giọng điệu hóm hỉnh và thâm thúy Với những yếu tố đó, những thói xấu xa đêtiện được sinh ra bởi xã hội Nga chuyên chế cuối thế kỉ XIX được Sêkhốp chuẩn

bệnh và giải phẫu Cái nhìn của Sêkhôp xuất phát từ cảm quan nghệ sĩ: “cuộc sống vẫn phát triển theo quy luật riêng của nó Ngay cả khi trong này nhân vật

Trang 21

trăn trở không ngủ được vì bao điều day dứt âu lo thì ngoài kia mưa vẫn rả rích rơi đều, hạt vẫn nảy mầm, cây vẫn đâm chồi nảy lộc và một ngày mới lại hé rạng trên cõi nhân sinh” (Lê Huy Bắc)

“Người trong bao” là một truyện ngắn đặc sắc của Sêkhôp được tuyển

chọn đưa vào chương trình dạy học ở THPT Tuy nhiên, trong tâm lí giáo viên

và học sinh thường ít coi trọng tác phẩm văn học nước ngoài nên thực trạng dạy

học các tác phẩm này còn “qua loa đại khái” mặc cho những tác phẩm được tuyển chọn đều là những tác phẩm “kinh điển” của nhân loại “nằm ngoài những định luật của băng hoại Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết ! (M Y.

Saltykov-Shchedrin) Chính vì thế những văn bản văn học nước ngoài dễ rơi vàoquên lãng, các tiết học thiếu sự đầu tư công phu, học sinh tiếp nhận thụ động…

Người viết bài qua quá trình thực nghiệm và chọn việc dạy học truyện

ngắn “Người trong bao” minh họa cho việc phát huy năng lực trong dạy học

ngữ văn đã mang lại hiệu quả rõ rệt Trong chương này của SKKN, tôi mô tảquá trình dạy học trên lớp và đề xuất phương án dạy học tích hợp theo dự án

3.1 Dạy học phát triển năng lực trên lớp qua truyện “Người trong bao”

(Sêkhốp)

Quy trình tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinhđòi hỏi phải có sự đầu tư công phu của cả người dạy và người học Trong đógiáo viên vừa như người biên kịch, vừa lên kế hoạch xây dựng kịch bản, vừa làđạo diễn Học sinh chính là các diễn viên, là kĩ thuật âm thanh, ánh sáng, đạo cụ,hóa trang…Có điều vai trò của đạo diễn là phải biết “phân vai”, phải nắm bắtđược năng lực của từng người để giao việc cho phù hợp Quy trình dạy học theohướng phát triển năng lực trên lớp được tôi triển khai theo quy trình sau:

3.1.1 Chuẩn bị giáo án dạy học trên lớp

Để xây dựng giáo án theo định hướng phát triển năng lực, người viết chú

trọng đến 3 khâu: xác định mục tiêu, xây dựng nội dung bài học theo CKT-KN

và lựa chọn phương pháp, phương tiện – kĩ thuật dạy học Từ cơ sở thực tiễn (trong chương 1) người viết nhận thấy có sự khác biệt trong thiết kế giáo án cũ

và theo định hướng phát triển năng lực như sau:

Trang 22

- Tập trung cho hoạt độngdạy

- Chú trọng truyền đạt tri thức với phát triển kĩ năng, rèn luyện thói quen tự học

Từ nhận thức ấy, người viết bài xây dựng giáo án dạy học truyện ngắn

“Người trong bao” Trong đó:

- Về mục tiêu chú ý đến việc hình thành năng lực học sinh

- Về nội dung: vẫn bám sát CKT-KN

- Về phương pháp-KTDH: chú ý ứng dụng các phương pháp: nêu vấn đề, phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp phân vai và phương pháp trò chơi…Mỗi phương pháp lại ứng dụng kĩ thuật linh hoạt.

Trong giáo án, tôi chú ý đến việc tích hợp liên môn, tích hợp giáo dục môi trường và liên hệ tới các tình huống thực tiễn đời sống…

Từ những định hướng trên, người viết xây dựng giáo án như sau:

NGƯỜI TRONG BAO

- Có thái độ căm ghét và đấu tranh với sống thu mình trong bao: háodanh, xu nịnh, giáo điều, hèn hạ trước quyền lực Từ đó, góp phần xây dựng đạođức và lối sống trung thực, tự tin, lành mạnh, chan hòa với mọi người vì lýtưởng cao đẹp

- Giúp HS nắm vững các kĩ năng: kĩ năng trình bày vấn đề, kĩ năng làmvăn nghị luận…

Trang 23

- Phát triển các năng lực của học sinh: Năng lực giải quyết vấn đề, tự học,giao tiếp, công nghệ thông tin, sáng tạo, năng lực giải quyết các tình huống thựctiễn, năng lực đọc – hiểu, sử dụng tiếng Việt

B Phương tiện / kĩ thuật thực hiện

Trang 24

- Phương tiện: SGK, CKT-KN, Giấy A0, bút dạ, bảng phụ, máy chiếu,

tranh ảnh, video

- Kĩ thuật: Sơ đồ tư duy, nêu vấn đề, chia nhóm

C Cách thức tiến hành: Vận dụng linh hoạt các phương pháp: thảo luận nhóm,

nêu vấn đề, đóng vai, tổ chức trò chơi

D – Tiến trình dạy học

1 Kiểm tra bài cũ

2: Giới thiệu bài mới

- Tích hợp với môn địa lí, lịch sử:

Câu hỏi: Nêu ấn tượng của em về

nước Nga sau khi học các nội dung về đất nước này trong môn địa lí, lịch sử?

- HS trình bày vị trí của Nga

*GV chiếu video về nước Nga,

lịch sử và văn học Nga thế kỉ XIX tạo tâm thế

- GV tổ chức lớp tìm hiểu tác giả, tác phẩm

Câu hỏi: Yêu cầu nhóm HS trình

bày những nét chính về cuộc đời

và sự nghiệp của A Sêkhốp?

(Có sản phẩm kèm theo)

- GV phát phiếu học tập số 1

- Nhóm HS trình bày về tác giả, tác phẩm

- HS vừa theo dõi nhóm 1 trình bảy, vừa thu hoạch thông tin vào

+ Sêkhốp là nhà văn nhân đạo

vĩ đại của nước Nga, của Châu

Âu mà còn của cả thế giới.

+ Là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa hiện thực Nga thế kỉ XIX

12 tập thư từ, ghi chép, nghiên

cứu -> di sản văn chương đồ

sộ, phong phú, độc đáo

+ Nội dung: thể hiện sâu sắc, chân thật cuộc sống, tư tưởng tình cảm của mọi tầng lớp nhân

dân Nga " trong buổi hoàng hôn"

của lịch sử 2 Văn bản

a) Hoàn cảnh sáng tác

Ngày đăng: 27/05/2020, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bài “Bước đầu tìm hiểu khái niệm Đánh giá theo năng lực và đề xuất một số hình thức đánh giá năng lực ngữ văn của học sinh” , Nguyễn Thành Ngọc Bảo, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM số 56, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu khái niệm Đánh giá theo năng lực và đề xuất một sốhình thức đánh giá năng lực ngữ văn của học sinh
2. Bài “Một số vấn đề chung về năng lực và đề xuất khung năng lực cốt lõi của học sinh phổ thông sau 1915, Nguyễn Công Khanh, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 95, Tháng 08/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về năng lực và đề xuất khung năng lực cốt lõi củahọc sinh phổ thông sau 1915, Nguyễn Công Khanh
3. Bài Xây dựng chương trình Giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực, PGS – TS Đỗ Ngọc Thống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài "Xây dựng chương trình Giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận nănglực
4.Tài liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh” môn Ngữ văn – Bộ Giáo dục và Đào tạo 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh”
5. Sách Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, NXB Từ điển Bách khoa ấn hành, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa ấn hành
7. Sách Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT - PGS Trương Dĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w