1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

báo cáo kết quả nghiên cứu ứng dụng sáng kiến một số phương pháp sử dụng atlat địa lí việt nam

17 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 572,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊNTRUNG TÂM GDNN-GDTX BÌNH XUYÊN =====***===== HỒ SƠ XÉT CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRONG DẠY VÀ HỌ

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN

TRUNG TÂM GDNN-GDTX BÌNH XUYÊN

=====***=====

HỒ SƠ XÉT CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRONG DẠY VÀ HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12 Ở TRUNG TÂM GDNN - GDTX BÌNH XUYÊN

Tác giả sáng kiến: Cao Hà Mai Phượng

Đơn vị: Trung tâm GDNN-GDTX Bình Xuyên

Chức vụ: Tổ trưởng tổ Giáo vụ

Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Quản lý giáo dục

Bình Xuyên, tháng 2 năm 2020

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên

a) Tác giả sáng kiến: Cao Hà Mai Phượng

- Ngày tháng năm sinh: 02/01/1986 ; Giới tính: Nữ

- Đơn vị công tác: Trung tâm GDNN - GDTX Bình Xuyên

- Chức danh: Giáo viên

- Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ

b) Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Cao Hà Mai Phượng

c) Tên sáng kiến; lĩnh vực áp dụng; mô tả bản chất của sáng kiến; các thông tin cần được bảo mật (nếu có):

* Tên sáng kiến: Một số phương pháp sử dụng atlat địa lí việt nam trong

dạy và học địa lí lớp 12 ở trung tâm GDNN-GDTX Bình Xuyên

* Lĩnh vực áp dụng: Áp dụng để dạy và học Địa lí 12, ôn thi THPT Quốc

gia, Ôn thi học sinh giỏi

Thời gian áp dụng đề tài từ 9/2018 đến nay

* Mô tả sáng kiến

Ngày nay, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang quyết tâm đưa đất nước tiến lên theo con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa Hơn bao giờ hết việc đào tạo một thế hệ trẻ có đầy đủ năng lực, phẩm chất để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước là một vấn đề mang tính thời đại Vì vậy, mục tiêu của giáo dục hiện nay cũng thay đổi cho phù hợp với yêu cầu mới của xã hội Sự thay đổi về mục tiêu đào tạo đã tác động đến việc đổi mới phương pháp dạy học Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học ta cần chú trọng đến việc sử dụng các phương tiện giảng dạy trong giờ học đối với các môn học nói chung, môn Địa lí nói riêng Một trong những phương tiện dạy học đem lại hiệu quả cao trong môn Địa lí là Atlat Địa lí Việt Nam

Trong việc dạy và học môn Địa Lí ở trường phổ thông, các loại Atlat nói chung và Atlat Địa lí Việt Nam nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng, đây là phương tiện giảng dạy và học tập rất cần thiết và hữu ích Atlat Địa lí là nguồn cung cấp kiến thức, thông tin tổng hợp, có hệ thống, giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, đối với học sinh Atlat còn là một phương tiện để các em

Trang 3

học tập, rèn luyện các kĩ năng địa lí tại lớp, ở nhà và trả lời phần lớn các câu hỏi kiểm tra về bộ môn này

Cùng với quá trình đổi mới về chương trình học và sách giáo khoa thì nội dung của Atlat cũng thay đổi cho phù hợp với chương trình và sách giáo khoa do

Bộ Giáo Dục và Đào tạo ban hành, nên việc khai thác và sử dụng hiệu quả Atlat Địa lí là yếu tố vô cùng quan trọng

Mặt khác, Atlat Địa lí Việt Nam là một “quyển sách giáo khoa” Địa lí đặc biệt, mà nội dung của nó được thể hiện chủ yếu bằng “bản đồ” và “biểu đồ” Sử dụng Atlat thông thạo sẽ giúp các em giảm áp lực, tự tin hơn trong việc học bài,

ôn bài và làm bài

Atlat là một dạng thu nhỏ của bản đồ, được sắp xếp thành nhiều lớp có hệ thống, trong đó mỗi lớp chứa đựng một hoặc một số nội dung được sử dụng để học tập và nghiên cứu

Atlat Địa lí Việt Nam là tài liệu học tập hữu ích không chỉ đối với học sinh mà còn cả với giáo viên Trung học, việc dạy và học Địa lí không thể tách rời bản đồ nói chung và AtLat nói riêng Atlat là cuốn sách giáo khoa thứ hai, khi khai thác AtLat chúng ta không chỉ hiểu được kiến thức mà còn là hình ảnh trực quan giúp giáo viên và học sinh trong giảng dạy và học tập

Vì vậy, học sinh biết cách khai thác Atlat địa lí Việt Nam sẽ rất tiện lợi và hiệu quả; dù đi đâu, ở vị trí nào các em cũng có thể đem theo và sử dụng được Atlat để tra cứu các tư liệu dễ dàng, không phải dùng đến các bản đồ cồng kềnh, những dụng cụ hay tài liệu phức tạp mà vẫn đạt được mục đích mà mình mong muốn

Kĩ năng khai thác bản đồ nói chung và Atlat Địa lí Việt Nam nói riêng là

kĩ năng cơ bản của môn Địa lí Nếu không nắm vững kĩ năng này thì khó có thể hiểu và giải thích được các sự vật, hiện tượng địa lí và mối liên hệ giữa các đối tượng, đồng thời cũng rất khó tự mình tìm tòi các kiến thức địa lí khác Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng làm việc với bản đồ nói chung, Atlat Địa lí Việt Nam nói riêng, là không thể thiếu khi học môn Địa lí

Tuy nhiên, cho đến nay việc khai thác, sử dụng Átlát vào trong giảng dạy

và học tập ở nhà trường phổ thông nói chung, nhất là ở khối giáo dục thường xuyên nói riêng vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục Học sinh học Địa lí với phương tiện chủ yếu là bản đồ giáo khoa treo tường, thường là bản đồ tự nhiên, bản đồ dân cư, bản đồ kinh tế Các em được quan sát các bản đồ từ xa và cơ bản chỉ có một, hai bản đồ đơn lẻ Học sinh xác định được phương hướng, rút ra được những kiến thức dễ nhận biết nhưng đa số học sinh không rút ra được đầy

đủ những kiến thức cần thiết, không tìm được mối liên hệ địa lí

Đối với “Trung tâm giáo dục thường xuyên Bình Xuyên – Vĩnh Phúc”, nhà trường tuyển sinh theo hình thức xét tuyển, các học sinh thi trượt vào các trường công lập trong toàn huyện, điểm đầu vào của học sinh thấp nên phần lớn học sinh học yếu các bộ môn văn hoá cơ bản trong đó có bộ môn địa lí Vì nhiều

Trang 4

lý do khác nhau mà học sinh ngại học, không thích học và chưa có phương pháp học tập bộ môn này, có học sinh sử dụng Atlat chưa thành thạo, cũng có em chưa biết cách sử dụng Atlat trong quá trình học tập Việc sử dụng Atlat trong dạy, học môn Địa lí ở Trung tâm giáo dục thường xuyên chưa thật sự phổ biến nhất là trong các tiết học địa lí lớp 12, cường độ, mức độ sử dụng Atlát nhìn chung còn hạn chế Kỹ năng mô tả, minh họa chưa thuần thục, linh hoạt

- Về nội dung của sáng kiến

1 Một số phương pháp sử dụng Át lát địa lí Việt Nam trong dạy và ọc Đọa lí 12.

Muốn sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam để dạy và học môn Địa lí đạt hiệu quả cao có nhiều phương pháp nhưng trong đề tài này tôi chỉ xin đề xuất một số phương pháp chủ yếu sau:

1.1 Nguyên tắc khai thác Atlat địa lí Việt Nam.

Để sử dụng Atlat trong dạy và học Địa lí cần phải:

- Đọc kĩ câu hỏi xem nội dung yêu cầu những gì

- Để đáp ứng yêu cầu của câu hỏi thì cần phải sử dụng những bản đồ nào Bản đồ ấy nằm ở đâu

- Nắm vững bảng ký hiệu nằm ở trang bìa

- Tìm đến bản đồ cần sử dụng (tên bản đồ), rất nhiều học sinh đã bỏ qua việc làm này trong khi ở một trang bản đồ đôi khi có nhiều bản đồ với nhiều nội dung khác nhau, một nội dung nhưng nó lại có ở nhiều trang, nhiều bản đồ khác nhau (Về cơ bản các nội dung về nguồn lực nằm ở nửa đầu, các nội dung về các ngành, các vùng nằm ở các trang sau)

- Xem trong bảng chú thích: các nội dung mình cần tìm được kí hiệu như thế nào Có những nội dung nào được thể hiện trên bản đồ đó (Các màu sắc, các biểu đồ trên bản đồ, các kí hiệu nó có ý nghĩa gì trên bản đồ )

- Phân tích, tổng hợp, so sánh và rút ra nhận xét, kết luận theo yêu cầu của câu hỏi – đây là việc làm khó nhất, đôi khi phải sử dụng nhiều bản đồ mới đưa

ra được một kết luận, một nhận xét cần thiết

1.2 Phương pháp sử dụng Atlat để đọc, hiểu các nội dung trong bản

đồ, biểu đồ.

Các trang bản đồ trong Atlat là hình ảnh thu nhỏ của trang bản đồ giáo khoa Muốn tìm hiểu được nội dung của mỗi bản đồ, biểu đồ trong Atlat thì việc hiểu các ngôn ngữ của nó là việc hết sức quan trọng

Ngôn ngữ được dùng t rong Atlat là những quy định thống nhất, chính xác về màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ của bản đồ nên khi đọc bất cứ trang nào của Atlat, cần tìm hiểu và nắm vững các quy ước ở mục chú giải của trang đó Để có thể đọc nhanh, đúng bản đồ và từ đó phân tích chính xác hơn, giáo viên yêu cầu các em

Trang 5

đọc kĩ các kí hiệu ở trang đầu của Atlat, càng thuộc nhiều ký hiệu càng dễ học tập, không phải xem lại những kí hiệu đã học nữa

Hệ thống ký hiệu bản đồ trong Atlat Địa lí Việt Nam bao gồm cả màu sắc, chữ viết, hình tượng… nó rất phong phú và đa dạng, không những thể hiện về vị trí, số lượng mà còn thể hiện cả tính chất của sự vật, hiện tượng địa lí

* Trong quá trình giảng dạy và học tập, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh khi đọc bất cứ một bản đồ nào phải đọc theo trình tự các bước sau:

Bước 1 – Đoc tên bản đồ để hình dung ra nội dung của bản đồ

Bước 2 - Đọc phần chú giải để hiểu rõ các kí hiệu được dùng cho bản đồ đó

Bước 3 - Tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học được thể hiện trên bản đồ, biểu đồ trong Atlat Từ đó rút ra những nhận xét về các yếu tố của tự nhiên hay xã hội theo từng nội dung của bài học

* Đọc các biểu đồ trong Atlat, cần đọc theo trình tự:

Bước 1 - Tên biểu đồ để hình dung ra nội dung của nó

Bước 2 - Đọc các kí hiệu phần chú giải để biết mục đích thể hiện của biểu đồ

Bước 3 - Phân tích các số liệu ghi trên biểu đồ, so sánh các số liệu để nhận xét kết luận theo nội dung bài học

Ví dụ 1:

* Khai thác Atlat Địa lí Việt Nam trang 6, 7 (Bản đồ Hình thể).

Bản đồ Hình thể thể hiện được những nét khái quát nhất về hình thể lãnh thổ Việt Nam: Vùng đất, vùng trời, vùng biển, các đặc điểm chung của địa hình Việt Nam (tỉ lệ tương quan giữa đồi núi và đồng bằng, các điểm độ cao của địa hình, hướng địa hình ), cũng như sự phân chia các khu vực địa hình: khu vực núi cao, khu vực núi trung bình, các sơn nguyên, cao nguyên và đồng bằng thấp

Trang 6

- Khi khai thác cần nắm theo thứ tự các bước:

+ Những đặc điểm chính của địa hình: tỉ lệ diện tích các loại địa hình, sự phân bố, hướng nghiêng của địa hình, các bậc địa hình, tính chất cơ bản của điạ hình

+ Một số mối quan hệ giữa địa hình với các nhân tố khác:địa hình với vận động kiến tạo, địa hình với nham thạch, địa hình với khí hậu

+ Các khu vực địa hình: khu vực núi (sự phân bố, diện tích, đặc điểm chung ), khu vực đồng bằng (sự phân bố, diện tích, tính chất, các tiểu khu )

+ Ảnh hưởng của địa hình đến phân bố dân cư và phát triển kinh tế - xã hội

Từ đó học sinh thấy được hình dáng chữ S của lãnh thổ nước ta, có chiều dài lớn, bề ngang hẹp, trải qua các vĩ độ và kinh độ nào Giáp với các quốc gia nào Đặc điểm địa hình Việt nam Tỷ lệ của núi, đồng bằng tương quan ra sao Ngoài ra còn có các đảo và vùng biển rộng gấp 3 lần diện tích đất liền…

Ví dụ 2:

* Khai thác Atlat Địa lí Việt Nam trang 9 (Bản đồ khí hậu)

Để tìm hiểu về đặc điểm khí hậu, các mùa khí hậu của nước ta Giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành các bước sau:

Bước 1: Đọc từng miền khí hậu

Bước 2: Phân tích từng yếu tố khí tượng:

- Nhiệt độ:

+ Vị trí kí hiệu của biểu đồ nhiệt độ

+ Độ cong của đường biểu diễn nhiệt độ

+ Biên độ nhiệt các tháng trong năm

- Lượng mưa:

+ Vị trí kí hiệu của biểu đồ

Trang 7

+ Độ cao của các cột biểu đồ.

+ So sánh lượng mưa chênh lệch giữa các tháng, mùa mưa nhiều nhất, ít nhất của địa phương vào những tháng nào trong năm

+ Giải thích sự khác nhau về mùa mưa, mùa lũ của ba miền khí hậu

- Gió

Gió được biểu thị bằng biểu đồ hoa gió: cánh hoa gió màu đỏ chỉ hướng gió mùa hạ, cánh hoa gió màu xanh chỉ hướng gió mùa đông

+ Gió bão: được thể hiện bằng các mũi tên màu đen, hướng của mũi tên chỉ hướng di chuyển của bão, độ lớn của mũi tên thể hiện số lượng cơn bão xuất hiện  giáo viên hướng dẫn học sinh xác định và giải thích được các vùng thường xảy ra nhiều bão, tháng nào bão xảy ra nhiều hơn, các vùng ít có bão và nêu tác hại của các trận bão

Từ đó học sinh rút ra được kết luận: Việt Nam gồm 3 miền khí hậu: Miền khí hậu phía Bắc; miền khí hậu Đông Trường Sơn; miền khí hậu phía Nam

+ Có thể sử dụng biểu đồ nhiệt và lượng mưa ở các nơi tiêu biểu như: Hà Nội, Đà Nẵng, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh kết hợp kiến thức đã học để minh họa đặc điểm của ba miền khí hậu trên

+ Học sinh thấy được hướng gió mùa Hạ (chủ yếu là hướng Tây Nam), gió mùa Đông (chủ yếu là hướng Đông Bắc), giáo viên hướng dẫn học sinh rút

ra nhận xét gió Tây khô nóng

+ Thông qua trang Atlat này học sinh biết được hướng di chuyển và tần suất các cơn bão ở các tháng 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 Trong đó tháng 9 có tần suất cao nhất từ 1-3 đến 1-7 cơn bão trên tháng và hướng đi chủ yếu vào khu vực giữa của Bắc Trung bộ

- Nhiệt độ trung bình năm cao nhất ở phía Nam và các tỉnh duyên hải từ Hoành Sơn vào Nam ( trừ một số tỉnh ở Tây Nguyên)

+ Nhiệt độ trung bình tháng giêng: Nhiệt độ trung bình cao nhất ở vùng Nam Trung Bộ và Nam bộ

+ Nhiệt độ trung bình tháng 7: Cao nhất là Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh duyên hải miền Trung, đặc biệt nền nhiệt độ lên cao nhất trong năm

- Lượng mưa trung bình năm, tổng lượng mưa từ tháng 11 – 4 (mùa mưa ít), tổng lượng mưa từ tháng 5 -10 ( mùa mưa nhiều)

+ Lượng mưa trung bình năm: Nơi mưa nhiều là Thừa thiên Huế, Quảng Nam, Hà Giang Giải thích dựa vào hướng gió qua biển kết hợp địa hình núi và ảnh hưởng của các cơn bão

+ Tổng lượng mưa từ tháng 11- 4: Tổng lượng mưa nhiều ở Thừa Thiên Huế, Quảng Nam Giải thích dựa vào gió Đông Bắc qua biển kết hợp địa hình Trường Sơn

Trang 8

+ Tổng lượng mưa tháng 5 -10: Những nơi mưa nhiều là Hà Giang, Lai Châu, Quảng Nam, Kiên Giang, Cà Mau Giải thích do nhận được gió mùa mùa

hạ nhiều hoặc vị trí đón gió mùa hè

Ví dụ 3:

* Khai thác Atlat Địa lí Việt Nam trang 13 (Bản đồ các miền tự nhiên )

Khi hướng dẫn học sinh sử dụng trang bản đồ này, giáo viên cần lưu ý: Trên hai miền tự nhiên, yếu tố chính được thể hiện là địa hình, yếu tố có liên quan đến địa hình là hướng nghiêng và sông ngòi Địa hình được thể hiện kết hợp bằng đường bình độ và phân tầng độ cao

Trên bản đồ biểu hiện hai miền tự nhiên còn có hai đường lát cắt A-B,

C-D Dựa vào lát cắt và kiến thức đã học, giáo viên hướng dẫn học sinh mô tả theo đường lát cắt, hướng cắt từ đâu đến đâu, độ dài của lát cắt (dựa vào thước tỉ lệ ), các dạng địa hình và độ cao tương ứng, các thung lũng mà đường cắt đi qua 

Từ đó rút ra kết luận chung về đặc điểm tự nhiên của từng miền

Cụ thể khi mô tả lát cắt A-B cần thấy được:

- Hướng lát cắt: Tây Bắc-Đông Nam, từ sơn nguyên Đồng Văn đến cửa sông Thái Bình

- Hướng nghiêng địa hình: cao ở Tây bắc và thấp dần về phía Đông Nam

- Đường cắt đi từ biên giới Việt-Trung qua vùng núi phía Đông của sơn nguyên Hà Giang, cắt ngang sông Gâm, qua sườn phía Tây vùng núi Phi -Ya, rồi cắt ngang sông năng và qua đỉnh núi Phia-Boóc (1578m), qua phía Đông thị xã Bắc Cạn và thượng nguồn sông Cầu của khu Việt Bắc

- Đường cắt tiếp tục đi qua cánh cung Ngân Sơn, Bắc Sơn và các vùng đồi núi xen kẽ giữa 2 cánh cung, vùng đồi núi thoai thoải của khu Đông Bắc rồi thấp dần về phía đồng bằng Trước khi đến cửa sông Thái Bình lát cắt đi qua các sông Thương, Lục Nam, Kinh Thầy, Văn úc của khu Đồng bằng Bắc Bộ

Trang 9

Ví dụ 4:

* Khai thác Atlat Địa lí Việt Nam trang 15 (Bản đồ Dân số).

- Nội dung của bản đồ thể hiện được mật độ dân số (năm 2007, đơn vị: người/km2 ), các điểm dân cư, biểu đồ thể hiện tình hình dân số Việt Nam qua các năm, kết cấu dân số theo giới tính và theo tuổi, cơ cấu lao động đang làm việc theo khu vực kinh tế

- Mật độ dân số được biểu hiện bằng phương pháp nền chất lượng Các thang mật độ dân số được lựa chọn (mật độ dân số càng thấp màu càng nhạt, mật

độ càng cao màu càng đậm), phản ánh đặc điểm dân cư Việt Nam Dân cư tập trung chủ yếu ở đồng bằng, thưa thớt ở trung du và miền núi

- Trên nền mật độ dân số, các điểm dân cư đô thị được thể hiện theo quy

mô dân số và cấp đô thị Phương pháp thể hiện dân cư đô thị là phương pháp kí hiệu với dạng kí hiệu hình học Quy mô dân số các điểm dân cư được thể hiện thông qua kích thước và hình dạng kí hiệu với các bậc thang số lượng cấp bậc quy ước Cấp đô thị được thể hiện theo kiểu chữ từ cấp đô thị đặc biệt đến cấp

đô thi loại 1; 2; 3; 4

- Trên trang bản đồ còn trình bày các biểu đồ Mục đích của các biểu đồ phụ này nhằm giải thích rõ nội dung chính trình bày trên bản đồ Biểu đồ Dân số Việt Nam qua các thời kỳ trình bày số dân nước ta tăng liên tục từ 1921-2003 Biểu đồ Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi trình bày tháp dân số Việt Nam

ở hai thời điểm: năm 1989 và 1999, học sinh phân tích, so sánh hai tháp dân số

về hai nội dung:

- Hình dạng của tháp dân số nói lên điều gì

- Cơ cấu dân số theo độ tuổi và theo giới tính

- Tỷ lệ dân số phụ thuộc

- Xu hướng thay đổi cơ cấu dân số theo độ tuổi Nguyên nhân

- Thuận lợi, khó khăn, biện pháp

Trang 10

- Phân tích biểu đồ cơ cấu dân số hoạt động theo ngành năm 2000 Nêu xu hướng chuyển dịch cơ cấu dân số hoạt động theo ngành

Như vậy việc khai thác kiến thức qua bản đồ, biểu đồ, học sinh nhận thức kiến thức địa lí một cách nhẹ nhàng, đơn giản, tăng thêm hứng thú, trên cơ sở đã

mã hoá các thông tin bằng ký hiệu, mầu sắc, kích thước làm cho học sinh say

mê học môn Địa lí hơn

1.3 Phương pháp sử dụng Atlat địa lí Việt Nam để rút ra nhận định

về tình hình phát triển các vùng kinh tế nước ta.

Trong chương trình Địa lí lớp 12 nội dung về kinh tế xã hội chia theo các vùng:

Nội dung kiến thức quan trọng của chương trình Địa lí 12 là nghiên cứu các vùng Kinh tế Vấn đề phát triển kinh tế của mỗi vùng vừa thể hiện đặc điểm chung của cả nước, vừa thể hiện tính chất đặc thù riêng của từng vùng Vì vậy khi trình bày nội dung kiến thức của vùng đòi hỏi phải có kỹ năng sử dụng nhiều trang Atlat để tìm hiểu kiến thức

- Trước hết học sinh phải xác định vị trí, ranh giới của vùng Dựa vào bản

đồ trong Atlat xác định vị trí: phía Bắc, phía Nam, phía Đông, phía Tây giáp đâu

- Xác định đặc điểm tự nhiên : Địa hình, khí hậu, sông ngòi…

- Từ những đặc điểm trên, tìm thuận lợi khó khăn cho việc phát triển kinh

tế của vùng

- Sau đó dựa vào bản đồ để phát hiện được các tiềm năng, các thế mạnh kinh tế của vùng đó

Ví dụ 1:

* Khai thác Atlát trang 26 (Bản đồ Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, vùng đồng bằng Sông Hồng) để xác định vị trí địa lí của vùng Đồng bằng sông

Hồng:

Ngày đăng: 27/05/2020, 19:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w