1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự dung hợp giữa phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã hà tiên, tỉnh kiên giang hiện nay

103 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 4,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị sự dung hợp của Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay... Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

LÊ TÔ NAM

SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

LÊ TÔ NAM

SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công

bố trên bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Tô Nam

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG 7

1.1 Khái lược chung về đặc điểm Phật giáo ở thị xã Hà Tiên 7

1.1.1 Khái lược về vùng Hà Tiên trong lịch sử 9

1.1.2 Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Hà Tiên 13

1.2 Khái lược về tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang 21 1.2.1 Đặc điểm tín ngưỡng ở thị xã Hà Tiên, Kiên Giang 22

1.2.2 Một số loại hình tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang 22 Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN HIỆN NAY 31

2.1 Biểu hiện qua truyền thuyết, bài trí tượng thờ và nghi lễ trong chùa 31 2.1.1 Về những câu chuyện truyền thuyết, truyện truyền miệng ở Hà Tiên 31

2.1.2 Sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng qua thờ cúng 38

2.2 Qua thực hành một số nghi lễ Phật giáo và tín ngưỡng 45

2.2.1 Những biểu hiện tín ngưỡng ở một số nghi lễ của Phật giáo 45

2.2.2 Những biểu hiện của Phật giáo ở các nghi lễ tín ngưỡng 47

2.3 Một số giá trị và vấn đề đặt ra của sự dụng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên 48

2.3.1 Một số giá trị của sự dụng hợp đem lại cho tâm linh bản địa 48

Trang 5

2.3.2 Một số vấn đề đặt ra trong sự dung hợp 58

2.3.3 Một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị sự dung hợp của Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay 65

Tiểu kết chương 2 71

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Niềm tin tín ngưỡng và tôn giáo ở Hà Tiên đã có từ rất lâu đời nay, ít nhất từ thế kỷ I sau Công nguyên Trải qua nhiều thăng trầm của thời gian, tín ngưỡng và một số tôn giáo ngoại nhập đã có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống văn hóa, chính trị, xã hội và giao thương nơi này Phật giáo trước khi du nhập vào Hà Tiên thì đã có tín ngưỡng trước đó hình thành và phát triển từ lâu

Hà Tiên có phong cảnh tươi đẹp với nhiều loài chim thú, sản vật giá trị thương phẩm cao, đã thu hút nhiều dân tộc tề tựu về đây an cư lập nghiệp, lập làng lập ấp, hình thành nhiều vương triều với những triều đại được duy trì bền

bỉ Các triều đại cũng mang theo tín ngưỡng và tôn giáo của mình vào nơi này, mặc cho có nhiều cuộc chiến tranh vừa cục bộ vừa lâu dài, ít nhiều ảnh hưởng đến sự tồn vong của các triều đại, sự thực hành tâm linh

Phật giáo du nhập rõ nét vào Hà Tiên từ sau đợt kết tập kinh đển đầu tiên vào thế kỷ IV, tín đồ Phật giáo và hàng giáo phẩm tích cực đóng góp công sức cho công cuộc chấn hưng đại cuộc, các hoạt động từ thiện nhân đạo, truyền bá chữ Phạn, dạy học chữ “Hán”, chữ “Pali” và sau này là chữ quốc ngữ với sự duy trì và đóng góp không ngừng nghỉ của các dân tộc anh em gồm Kinh, Hoa, Khmer, Chăm, Philippin, Malaysia và Ấn Độ

Nơi đây, từ dung hợp đã tiếp biến khai sáng một hệ phái mới của Phật giáo (Minh Đăng Quang – Hệ Khất Sĩ) và là nơi phát tâm hình thành một tôn giáo mới nội sinh (Ngô Minh Chiêu - Đạo Cao Đài) Điểm đến của nhiều người có vai trò to lớn như: Mạc Cửu – Khai trấn, lập chùa Tam Bảo; Mạc Thiên Tích – Giữ biên cương, lập Tao Đàn Chiên Anh Các; Đông Hồ - Thi sĩ, người đầu tiên truyền bá chữ Quốc Ngữ vào Hà Tiên,…

Trang 7

Kể từ khi có mặt trên vùng đất này, các loại hình tín ngưỡng và Phật giáo không ngừng phát triển và có chỗ đứng khá vững chắc, tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, đạo đức, lối sống Các mưu đồ chính trị muốn lợi dụng vấn đề dân tộc và Phật giáo để chống phá ta ít khi thực hiện được

Vấn đề tín ngưỡng và Phật giáo có đặc điểm như thế nào, quá trình này diễn ra qua các giai đoạn lịch sử có những đặc điểm gì nổi bật; sự tác động của tín ngưỡng và Phật giáo đối với đời sống cư dân nơi đây ra sao; sự dung hợp giữa tín ngưỡng với Phật giáo như thế nào? Đây là những vấn đề cần làm

rõ Tuy nhiên, cho đến nay, những nội dung nêu trên chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ Sự hiểu biết về các lĩnh vực trên của một số

cư dân ở tỉnh Kiên Giang nói chung và cư dân ở thị xã Hà Tiên nói riêng còn hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu về các lĩnh vực này có ý nghĩa không chỉ về khoa học mà còn về thực tiễn trong giai đoạn hiện nay

Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề Sự dung hợp giữa

Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay

làm đề tài luận văn thạc sĩ Tôn giáo học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu và chỉ ra sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa

ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn có hai nội dung: Khái lược chung về Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị

xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang và chỉ ra những biểu hiện của sự dung hợp giữa

Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay

2.1 Những công trình nghiên cứu về tộc người, văn hóa, tín ngưỡng

ở Kiên Giang, Hà Tiên

Các công trình nghiên cứu có đề cập về vùng Tây Nam bộ và tỉnh Kiên Giang, Hà Tiên: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam) của

Trang 8

Viện Dân tộc học Việt Nam (1984); Tôn giáo, tín ngưỡng các dân tộc Việt Nam của Nguyễn Văn Minh (2013); Lễ hội dân gian ở đồng bằng sông Cửu Long của Trần Văn Nam (2013); Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền của Đỗ Quang Hưng (2014); Chế độ Công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh của Nguyễn Đình Đầu (1992); Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (2017); Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam

Bộ của Trần Hồng Liên (2019); Đặc khảo về tín ngưỡng gia thần của Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc (2013); Đại Nam nhất thống chí của Trần Xán, Lưu Đức Xứng và Cao Xuân Dục (2012); Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo của Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (2003); Nói

về miền Nam, cá tính miền Nam và thuần phong mỹ tục Việt Nam của Sơn Nam (2014); Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam của Sơn Nam (2015); Đại Nam Nhất thống chí, Văn hóa Tùng thư (1959)

Các công trình giới thiệu trực tiếp về tỉnh Kiên Giang: Địa chí Kiên Giang; Người Khmer ở Kiên Giang của Đoàn Thanh Nô (2004); Di tích khảo

cổ học Nền Chùa của Sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Kiên Giang (2009)

Những công trình này phản ánh khá sâu sắc và chi tiết về lịch sử, xã hội, thiên nhiên, con người, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng của vùng Tây Nam bộ và Kiên Giang trong quá khứ cũng như hiện tại

2.2 Những tư liệu liên quan đến đề tài Phật giáo và tín ngưỡng bản địa

Tài liệu cụ thể của các cấp, các ngành, nhà nghiên cứu và cơ quan chuyên môn trong tỉnh: Báo cáo tổng hợp thực trạng tôn giáo trên địa bàn tỉnh Kiên Giang của Ban Tôn giáo tỉnh Kiên Giang (2017); Tập Văn kiện Đại hội

đại biểu Phật giáo tỉnh Kiên Giang lần thứ IV (nhiệm kỳ 2017-2022) của Ban

Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Kiên Giang (2017); Báo cáo công tác tôn giáo trên địa bàn thị xã Hà Tiên của UBND thị xã Hà Tiên (2017); Sách Nghiên cứu Hà Tiên của Trương Minh Đạt (2016); Sách Lược sử những ngôi chùa ở Kiên Giang của Thượng tọa Thích Giác Phước (2002); Luận văn Thạc

Trang 9

sĩ về Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang của Trần Ngọc Quyên (2017); Tập hợp tài liệu do các cơ sở thờ tự cung cấp; Các báo cáo của UBND một số phường, xã trong thị xã

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực địa ở nhiều chùa, đình, miếu trên địa bàn thị xã Hà Tiên hiện nay như sau: (1) Các chùa: Phù Dung, Phật Đà, Thiên Trúc, Tam Bảo, Giải Thoát và tịnh xá Ngọc Hồ (phường Bình San); chùa Tiên Sơn, Mũi Nai, Xà Xía (xã

Mỹ Đức); chùa Thanh Hòa (xã Thuận Yên); Tịnh xá Ngọc Đăng, Ngọc Tiên (phường Tô Châu) (2) Đình: Thần Thành hoàng Hà Tiên (phường Đông Hồ), đình Năm Ông (phường Bình San), đình Ông Bổn (xã Thuận Yên) (3) Miếu: Bà Thủy Long (phường Tô Châu), miếu Quang Thánh đế (phường Bình San), miếu Nam Hải - Tứ vị thần nữ (xã Thuận Yên)

Nguồn tư liệu điền dã thực tế 09 trường hợp, trong đó có 04 nữ giới, tín đồ Công giáo 02 người, Phật giáo 03 người (01 ni cô), 04 người không theo tôn giáo (01 chức việc ở đình) Gia đình thờ cúng: Ông Trần Văn Nhiên

- Số 266/7, đường Nam Hồ, Tô Châu; Bà Trần Thị Diễm Thanh - Số 197/6, đường Phương Thành, Bình San Chủ phương tiện tàu cá: Ông Trần Vãn Ðệ

- Chủ tàu KG-12324-TS, bà Lê Thị Nhớ - Chủ tàu KG-45463-TS; Chủ xe khách: ông Lê Thanh Thành - Chủ xe khách số 68H-025.03, bà Nguyễn Thị Gáo - Chủ xe khách số 68H-154.64, cùng nhiều bài phỏng vấn trực tiếp khác liên quan đến vấn đề này

Nguồn tài liệu này cho phép chúng tôi trình bày sâu sắc hơn những nghiên cứu của mình trong luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu và chỉ ra sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa

ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khái lược chung về Phật giáo và tín ngưỡng bản địa, chỉ ra những biểu hiện của sự dung hợp, những vấn đề đặt ra và một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị của sự dung hợp giữa phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã

Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng chính của luận văn là “Sự dung hợp của Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay”

Luận văn nghiên cứu trong phạm vi thị xã Hà Tiên, cơ cấu tổ chức từ cấp Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thị xã cho đến Ban Trị sự chùa, Gia đình Phật tử, tổ chức từ thiện xã hội Phật giáo; các đình miếu, đời sống

tín ngưỡng và thực hành tín ngưỡng của nhân dân Hà Tiên

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Lý thuyết nghiên cứu

Luận văn sử dụng lý thuyết Thực thể tôn giáo Với lý thuyết này, luận văn tiếp cận hai nội dung: (1) cộng đồng (quá trình hình thành, phát triển, hệ thống tổ chức, chức sắc, chức việc, người tu hành, tín đồ); (2) nghi lễ và thực hành nghi lễ (tập trung vào các cuộc lễ hội diễn ra trong năm)

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành là tôn giáo học, xã hội học Đồng thời cũng áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành gồm: sử học, dân tộc học, triết học, văn hóa học Quá trình thực hiện đã thực hiện các phương pháp chuyên môn như: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, điền dã, phỏng vấn sâu

6 Đóng góp của luận văn

Trang 11

Luận văn bổ sung đầy đủ hơn bức tranh chung về Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở Hà Tiên Từ đó làm rõ một số biểu hiện sự dung hợp của Phật giáo với tín ngưỡng bản địa nơi đây

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo hỗ trợ cho việc áp dụng trong thực tế và công tác giảng dạy chuyên ngành Tôn giáo học và các bộ môn khoa học xã hội khác có liên quan Luận văn còn là cứ liệu khoa học giúp cho chính quyền địa phương hiểu rõ hơn về Phật giáo và tín ngưỡng bản địa Hà Tiên, từ đó đề ra những giải pháp quản lý nhà nước về tôn giáo phù hợp với sự tồn tại của nó ở Kiên Giang

Trên cơ sở nâng cao nhận thức về “Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang hiện nay”, giúp cho công tác quản lý xã hội, quản lý tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là Phật giáo ở tỉnh Kiên Giang được chặt chẽ hơn, các chính sách pháp luật được thực thi đầy đủ, sự quan tâm tích cực của chính quyền đối với Phật giáo và tín ngưỡng bản địa,

để Phật giáo và tín ngưỡng tiếp tục phát triển đồng hành cùng dân tộc, xây dựng một xã hội hòa bình, tốt đẹp, cùng tiến bộ

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương 05 tiết

Trang 12

Chương 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA

Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

1.1 Khái lược chung về đặc điểm Phật giáo ở thị xã Hà Tiên

Trang wedsite Wikipedia tiếng Việt, bài viết về Hà Tiên có ghi: Hà Tiên là thành phố nằm ở phía Tấy Bắc của tỉnh Kiên Giang, thuộc vùng Kinh

tế trọng điểm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và nằm trong vùng tam giác vàng của tỉnh: Rạch Giá - Hà Tiên - Phú Quốc Phía Bắc giáp với Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 13,7km, phía Đông giáp với huyện Giang Thành, phía Nam giáp với huyện Kiên Lương, phía Tây giáp với Vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 26 km [Phụ lục 1, tr.80]

Hà Tiên có 7 đơn vị hành chính với 5 phường (Bình San, Đông Hồ, Mỹ Đức, Pháo Đài, Tô Châu) và 2 xã (Thuận Yên, Tiên Hải) Thành phố Hà Tiên

là một dải đất hẹp nằm ven biển, với đầy đủ các dạng địa hình: vũng, vịnh, đồng bằng, núi, sông, hang động, hải đảo tạo nên nhiều cảnh quan đẹp Được

ví như Vịnh Hạ Long thu nhỏ

Vũng Đông Hồ là cửa đỗ ra biển của hai con sông, sông Giang Thành

từ Campuchia và kênh Vĩnh Tế chảy vê cho lượng nước ngọt quanh năm; Cửa sông Tô Châu từ kênh Hà Tiên - Rạch Giá chảy xuống, rất thuận tiện cho vận tải và du lịch đường sông nước

Các ngọn núi trên địa bàn thành phố hầu hết đều là những thắng cảnh như: núi Tô Châu, núi Đá Dựng, núi Bình San, núi Thạch Động, núi Đề Liêm Ven biển Hà Tiên có nhiều bãi biển đẹp như: bãi biển Lộc Trĩ (bãi biển Mũi Nai) Ngoài khơi có quần đảo Hải Tặc với nhiều đảo đẹp, có tiềm năng du lịch, tuy còn hoang sơ nhưng rất triển vọng phát triển du lịch biển

Trang 13

đảo Nhiều thi sĩ đã xướng họa diễn tả cảm xúc, nổi tiếng có Tao đàn Châu Anh Các với 10 bài vịnh Thập cảnh Hà Tiên

Lượng nắng trung bình từ 6,5 đến 7,5 giờ/ngày Năng lượng bức xạ trung bình 150 - 160 kcal/cm² năm Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng

27 °C (thấp nhất là 23,9 °C vào khoảng tháng 12 - tháng 1; cao nhất là 30,20C vào tháng 4 - 5 Độ ẩm trung bình 81,9% Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 10 Lượng mưa lớn, trung bình 2.118 mm/năm

Diện tích tự nhiên năm 2015 là 10.048,83 ha (đất nông - lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản là 7.472,7 ha (chiếm 74,36 %) với nhiều diện tích có độ phèn mặn cao, đất phi nông nghiệp là 2.373 ha, đất chưa sử dụng chủ yếu là bãi bồi, núi đá không có cây cối chiếm 2,02%)

Kể từ năm 2000- 2001, Hà Tiên có 13 trường, gồm 1 trường mầm non

và 12 trường thuộc ngành giáo dục phổ thông (7 trường tiểu học, 3 trường Trung học cơ sở, 1 trường Phổ thông Trung học, 1 trung tâm giáo dục kỹ thuật hướng nghiệp dạy nghề), tỷ lệ con em đến trường hàng năm trên 99% trẻ em Một bệnh viện tại trung tâm thành phố quy mô 60 giường bệnh, 100%

xã phường có trung tâm y tế và khu dân cư có y tế thôn bản Thế mạnh kinh

tế của Hà Tiên là biên giới giáp Campuchia trên bộ lẫn trên biển, Hà Tiên cách tỉnh lị Kampot 60km và cảng Kep 20km; Đường biển và hàng không đi các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á; đấu nối với các khu du lịch, nghĩ dưỡng trong vùng Trong đó có hoạt động tâm linh rất phát triển [37]

Theo Báo cáo Tổng hợp thực trạng Tôn giáo trên địa bàn Kiên Giang (2017) cho biết: Trên địa bàn thị xã Hà Tiên có 14 chùa, 01 đền thờ, 01 giáo

xứ, 02 giáo họ, 04 đình, 03 miếu, 01 am Có đa dạng tín ngưỡng và nhiều tôn giáo được duy trì gồm Phật giáo, Công giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Phật đường Nam tông Minh sư đạo và Tịnh độ cư sĩ [2] Với 20.266 tín đồ, 19

Trang 14

cơ sở thờ tự, 299 chức sắc, nhà tu hành, chức việc, 01 đơn vị gia đình phật tử với 150 đoàn sinh và 8 cơ sở tín ngưỡng, dân gian [23, tr 39]

Phật giáo có 03 hệ phái (Nam tông, Bắc tông và Khất sĩ), 12 chùa (bắc tông 6, nam tông 3, khất sĩ 3), có 24 chức sắc, 78 chức việc, có 8.113 tín đồ

Tổ chức có Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thị xã, 12 Ban Trị sự chùa, 01 Gia đình Phật tử, 01 tổ chức từ thiện xã hội.[Phụ lục 2, tr.83]

Tín ngưỡng có 01 đền thờ, 04 đình, 03 miếu, 01 am Đối tượng thờ cúng là ông trời, thổ thần, hải thần, nhân thần, thần hỗ [Phụ lục 2, tr.85] Đa

số người Hà Tiên tin tưởng vào các loại hình tín ngưỡng, từ nơi thờ tập trung

ở đình miếu cho đến trong gia đình, trên phương tiện kinh doanh cho đến cập đường lộ Điểm đáng chú ý là ngôi đình thành hoàng làng Hà Tiên thờ cả ba ông cháu gồm Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh; nhà nào cũng có ban thờ thông thiên bên ngoài và thờ tổ tiên, thần tài, thổ địa, ông táo bên trong; trên phương tiện lớn thường có bàn thờ các vị thần phù trợ tránh tai họa.[Phụ lục 2, tr.82]

Trong khuông khổ đề tài luận văn này, là người hoạt động hành chính, xin dùng khái niệm được trích trong Luật Tín ngưỡng tôn giáo được thể hiện tại Khoản 5, Điều 2, Chương I như sau: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo

lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.” [14] Với nhận thức như vậy, luận văn khái lược chung về Phật Giáo ở Hà Tiên như sau

1.1.1 Khái lược về vùng Hà Tiên trong lịch sử

Như đã biết, vùng Hà Tiên xưa kia là một phần của các vương quốc cổ, nằm về phía Đông của các vương quốc này, trong vùng biển Vịnh Thái Lan nhiều rừng núi, hải đảo và sản vật quí Theo sách Lịch sử thế giới trung đại (quyển II) nêu rõ: “Người dân xưa đã có điều kiện để sinh sống bằng lượm hái, săn bắn, đánh cá, trồng trọt, do đó mà không ngừng tiến triển Đây là một

Trang 15

trong những quốc gia đóng góp tích cực vào nền văn hóa lâu đời, vào vận mệnh lịch sử ở Đông Nam Á” [18, tr.219] nói chung, mảnh đất Hà Tiên xưa nói riêng

Vào thế kỷ I sau công nguyên, Hà Tiên là vùng hạ của tiểu quốc Ba Nam xưa, đây là một trong những tiểu quốc lớn mạnh và quan trọng của vương quốc Phù Nam vào thế kỷ I Ba Nam là tên một quả núi (thực ra là một

gò núi nhỏ ở bờ trái hạ lưu sông Mê Kông), còn gọi là Ba Phnom (Nam hay Phnom là núi; Ba hay là dmâk, dalmâk (đặc mục) là người đi săn), về sau gọi theo chữ Phạn trong các bi ký, Vyâdhapura, cũng chỉ là sự dịch nghĩa: Xứ sở của những người đi săn [18, tr.221] Tên Phù Nam (hay Bạt Nam) là chuyển

âm - Đây chắc là nơi sinh sống thuận tiện, nên dân cư sớm tập trung đông đúc Tiểu quốc Ba Nam sớm hình thành, phát triển nhanh, mạnh nên khiến cho các tiểu quốc khác (vốn có quan hệ thân tộc) càng phải kết thân và thần phục Ba Nam trở nên có địa vị lãnh đạo, tiêu biểu cho các tiểu quốc khác, mà tên của nó là đại diện cho sự thống nhất của các quốc gia sơ kỳ của người Khmer: Quốc gia Phù Nam [18]

Những nhà nước hình thành trên lãnh thổ, trong đó có vùng đất này đã được các tài liệu cổ gọi bằng những tên gọi khác nhau, từ Phù Nam, Thủy Chân Lạp, cho đến Việt Nam ngày nay, đã phản ảnh những bước phát triển trong quan hệ xã hội, chính trị của các tộc người anh em Tên gọi Phù Nam xứng đáng là tên chính thức của vương quốc bởi vì thường được nhắc tới trong văn bia của các đời vua và từ một câu chuyện thần thoại truyền thống, phản ánh tính chất phát triển liên tục của lịch sử vùng này “… Ở phía nam quận Nhật Nam, trên bờ phía tây đại dương, rộng 3.000 lý, có một con sông

từ phía tây chạy ra bể Vua nước ấy là một nữ hoàng, tên là Liễu Diệp Sau có một ngýời ở cõi ngoài tên là Hỗn Điền đêm mộng thấy thần ban cho cái cung

và bảo đi thuyền ra bể Sáng sớm, Hỗn Điền đến đền thờ thần, bắt được một

Trang 16

cái cung ở gốc cây, rồi đi thuyền đến nước Phù Nam Liễu Diệp đem quân ra đánh Hỗn Điền giương cao cái cung, từ xa bắn một phát, xuyên qua vỏ thuyền, thẳng tới trúng phải một người Liễu Diệp cả sợ, xin hàng Hỗn Điền bắt làm vợ Rồi ông ta cai trị nước, truyền cho con cháu…” [18, tr.222]

“Quốc gia Phù Nam duy trì đến năm 550 thì suy lụi dần rồi bị vua Chen-la (Thủy Chân Lạp) đánh bại lên nắm bá quyền, chuyển sang một thời

kỳ mới, “Tài liệu xưa ghi chép lại như sau: “Chân Lạp ở phía tây Lâm Ấp Nguyên trước đây là thuộc quốc của Phù Nam…”, “Tổ tiên đã dần dần làm cho nước trở nên hùng cường Chi-tơ-ra-sê-na chiếm được Phù Nam và bắt thần phục Ông ta mất, con là I-sa-na-sê-na nối nghiệp…” [18, tr.226]

Đánh dấu khởi đầu cho thời kỳ Ăng-co là khi ”Campuchia lâm vào tình trạng chia rẽ và ngưng trệ do chế độ thống trị của người Gia-va gây nên Trong nước có nhu cầu khôi phục sự thống nhất và tự chủ Giay-a-vác-man

II, vốn thuộc hoàng tộc Cam-pu-chia, đã phải bỏ chạy sang Gia-va khi nước nhà có tranh chấp nội bộ và ngoại xâm, đã nhân cơ hội này trở về nước, tập hợp lực lượng đấu tranh và lên ngôi vua năm (năm 802).“[18, tr.230-231], đánh dấu một thời kỳ huy hoàng trong giai đoạn lịch sử kéo dài từ năm 802 đến năm 1.434 (hơn 1000 đền đài được xây dựng, nổi tiếng và được UNESCO công nhận phế tích Angkor là di sản thế giới)

“Từ nữa thế kỷ XV, Cam-pu-chia bước vào thời kỳ suy thoái nhanh chóng Vương quốc của người Thái - Thống nhất vào giữa thế kỷ XIV - đã mạnh lên, dồn dập tấn công, cướp phá và lấn đất của Cam-pu-chia trong nữa sau thế kỷ XV và suốt thế kỷ XVI.“ [18, tr.246]

“Đầu thế kỷ XVII, trước sự uy hiếp dữ dội của người Thái, chia hướng tới kết thân và dựa vào người Việt Năm 1.622, vua Campuchia tăng thêm quan hệ hòa hiếu và kết hôn với một công chúa người Việt.“ [18,

Trang 17

Cam-pu-tr.247] Tuy nhiên, chỉ yên ổn hơn 30 năm thì nội bộ quý tộc lại tranh giành gây mâu thuẫn trong hoàng gia, một bên theo Xiêm, một bên theo Việt

Trong quyển Chế độ Công đền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập

ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Nguyễn Đình Đầu đã dẫn lại bài Mạc Cửu và Chúa

Nguyễn ở Hà Tiên của Trần Kinh Hòa, trong tạp chí Văn hóa Á Châu, Và

Phan Khoang, sđd, tr.423: “Nguyên Mạc Cửu là người châu Lôi tỉnh Quảng Đông, trước làm chủ thuyền buôn, kinh doanh lớn, thường lui tới Lữ Tống (đảo Lu-Zon của Phi-lip-pin), Chà Và (đảo Java của In-đô-nê-xi-a), Chân Lạp (Cam-pu-chia và Nam bộ ngày nay) Khi thấy nhà Minh hết hy vọng phục hưng đất nước từ tay thống trị người Mãn Thanh, Mạc Cửu sang ở hẵn Chân Lạp, khoảng năm 1680, và được nhận làm quan tại triều Song chính quyền Chân Lạp lúc đó thường chia rẽ cạnh tranh nhau và bị nước Xiêm can thiệp dòm ngó, nên Mạc Cửu xin tới lập nghiệp trên cửa biển Pe1am (tức Phương Thành) thuộc tỉnh Kham (ta gọi là Màng Khảm) Nơi đây thường có người buôn bán ngoại quốc tụ họp và chung quanh đã có lưu dân lác đác tới khẩn hoang Mạc Cửu mở một sòng bạc để lấy sâu, mở phố xá, xây thành trên bờ biển và chiêu tập thêm lưu dân tới ở các nơi Phú Quốc, Lũng Kỳ (còn gọi Trũng Kè, Lũng Cả, Réam), Cần Bột (Campốt), Rạch Giá, Luống Cày, Hương Úc (tức Vũng Thơm hay Kompong-som) và Cà mau để lập thành 7 xã thôn Tương truyền rằng ở Phương Thành có tiên thường hiện ra trên sông, nên mới đặt tên là Hà Tiên" [8], sau này có ý kiến cho rằng Mạc Cửu đặt tên

Hà Tiên là do nổi nhớ mong quê hương mà thành

Nguyễn Đình Đầu cũng dẫn ở đoạn tiếp theo từ Hoàng Việt Giáp Tý

niên biểu, Nguyễn Bá Trác phụng biên tập, Khải Định năm thứ 10 (1925) ấn

hành, Bửu Cầm Trương Bửu Lâm phiên địch, Sài Gòn 1963, tr.303: “Tuy nhiên bọn cướp biển và chính quyền Xiêm thường tới đốt phá và quấy nhiễu

Hà Tiên, nên muốn được sinh tồn, Mạc Cửu xin thần phục Chúa Nguyễn

Trang 18

Chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận, trao cho Mạc Cửu chức Tổng binh và ấn thụ để tiếp tục cai quản Hà Tiên Từ đó, tức năm 1708, Hà Tiên thuộc bản đồ Việt Nam, tuy ruộng đất thì đã do lưu dân khẩn hoang từ lâu trước nữa".[8]

Mặc dù có nhiều biến cố tan tóc do quân Xiêm xâm lược gây nên vào thời đại dòng họ Mạc cai quản (1718, 1771 và 1833), nhưng các dân tộc anh

em gồm Kinh, Hoa, Khmer, Philippin ở Hà Tiên vẫn tái lập, duy trì và phát triển vững bền cho đến ngày nay

1.1.2 Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Hà Tiên

- Sự du nhập và phát triển

" người Ấn Độ - có lẽ đã đến đây từ đầu công nguyên - đã tham gia một phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, văn hóa và chính trị của các quốc gia Phù Nam Những người Ấn này có thể với những lý do và thời gian khác nhau, nhưng đa số chắc là thương nhân, những người tu hành, đã đến đây làm

ăn sinh sống, truyền bá tôn giáo, đã gắn bó và đồng hóa với dân địa phương [18, tr.223] Về tôn giáo, nếu thời kỳ này chưa ăn sâu trong xã hội, thì ít nhất triều đình Phù Nam cũng đã tin theo đạo Phật Bia Võ Cảnh đã nói lên điều

đó [18, tr.224] Sau thời kỳ kết tập kinh điển lần đầu vào thế kỷ IV, Phật giáo mới thật sự khởi sắc phát triển mạnh mẽ, Hệ phái Phật giáo Nam tông chính thức truyền thừa từ Ấn Độ sang, nhiều người kể từ đây vừa tin theo tín ngưỡng vừa tin theo đạo Phật

Đến thế kỷ XVII bắt đầu có sự bám rễ của hệ phái Phật giáo Bắc tông Nhiều tư liệu chứng minh rằng, có nhiều vị sứ giả, nhà nghiên cứu phía Bắc

đã đi qua đây và để lại nhiều tư liệu lịch sử có giá trị, rất tiếc không ai ở lại xây dựng niềm tin tôn giáo của mình ở nơi đây Mạc Cửu là người đã dừng chân lập trấn và mang theo tín ngưỡng Trung Quốc và Phật giáo Bắc tông vào nơi này Cũng cùng thời kỳ này, có tài liệu minh chứng sự có mặt của một linh mục Công giáo đã có mặt tại đây nhưng không rõ đã làm gì và không có

Trang 19

dấu tích để lại, Công giáo chỉ khởi sắc từ những năm 1960 về sau Đến đầu thế kỷ XX dần xuất hiện các tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hòa Hảo, Cao đài, Phật đường Nam tông Minh sư đạo, Tịnh độ cư sĩ

Riêng Phật giáo, các di tích để lại từ thời cận đại đến nay cho thấy Phật giáo ở Hà Tiên trong thế kỷ XVII có thể hình thành hai chùa, đó là chùa Thiên Trúc và chùa Phù Dung Sang thế kỷ XVIII xuất hiện hai chùa, là chùa Tam Bảo và Tiên Sơn Từ thế kỷ XX xuất hiện đông đảo các chùa khác và các tôn giáo khác

Ở ngôi Thiên Trúc Tự, vào những năm 1960-1963, dưới thời trụ trì Pháp Kiên, trong lúc trùng tu lại ngôi chùa đã tìm thấy một số viên gạch ghi

ký tự Khmer số 1616 dưới Bồ Đoàn, nơi pho tượng Phật lớn ngồi Tượng Phật Lớn bên trong ngôi Chính điện là Phật Thích Ca ngồi trên Bồ Đoàn có gương mặt, dáng ngồi giống như các tượng Phật của Thái Lan được bảo tồn trong viện Bảo tàng tại Bangkok Những người hiểu biết cho hay: Thời Mạc Thiên Tích có hai vị hoàng tử Xiêm lưu vong tại Việt Nam, lưu ở xứ Hà Tiên một thời gian rồi trở về nước phục vị Sau đó các vị hoàng tử cùng các nghệ nhân người Xiêm đã trở lại Hà Tiên tạo tác pho tượng Phật ở Chùa Hang (Hải Sơn Tự - thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang), sau đó là pho tượng Phật Lớn tại Thiên Trúc Tự Bức tượng cao 2,6m, thân tượng ngồi kiết già từ gối trái sang gối phải 1,9m Một bia đá Si-

Ma với đường nét hoa văn theo Thái Lan, các chùa Nam tông trong vùng không có bia đá này [11, tr.4]

Từ các di chỉ trên, có thể suy đoán chùa này đã được thành lập từ trước năm 1616, vì người Khmer và Mã Lai ở đây đầu tiên và luôn hành đạo với đạo Phật (phái Nam tông) Nếu đúng là như thế thì đây là ngôi cổ tự đầu tiên

ở xứ Hà Tiên, theo hệ phái Phật giáo Nam tông có ảnh hưởng văn hóa Thái Lan Tuy nhiên, trải qua trên 400 năm, thời gian ấy khá dài so với nhiều thế

Trang 20

hệ trụ trì chưa rõ tung tích, nhiều thời gian bị bỏ hoang phế, ngôi Thiên Trúc

Tự chưa tìm được tư liệu chứng minh nhiều giai đoạn phát triển hưng thịnh của chùa, rất cần có sự nghiên cứu sâu thêm để chứng minh lịch sử diễn ra

Niên đại ngôi chùa cổ thứ hai có thể là chùa Phù Dung ở núi Đề Liêm, trước tháp hòa thượng Ấn Đàm mất năm 1662 Hiện tại nơi này còn nền chùa

cũ, đã khai quật được lư đồng, chén cổ, kè đá ghi thời Mạc Cửu Qua ba lần bị giặc Xiêm tàn phá, ngôi cổ tự đã bị hoang phế và bỏ hoang cho đến ngày nay chỉ còn thấy nền chùa Nói “Tiêu tự thần chung - Tiếng chuông tĩnh mịch” là tiếng chuông từ chùa này vọng ra hướng Bắc có hào quân sự, có chợ nhỏ ghe tàu từ đầm Đông Hồ vào hướng Rạch Ụ Năm 1846, sau khi khi đánh đuổi quân Xiêm, Tổng đốc An Hà là Doãn Uẩn đã xin triều đình cho cất lại ngôi chùa khác, vì ở chùa cũ không còn tiền nhân, chẳng ai trông coi nữa

Tổng đốc Doãn Uẩn cùng nhân dân xã Mỹ Đức, huyện Hà Châu lập ngôi chùa mới ngay tại nền dinh thự của ông Mạc Thiên Tích ở phía bắc núi Bình San, và ông đã lấy chữ đầu của Phù Dung và chữ giữa của Chiên Anh Các ghép lại đặt tên ngôi chùa mới là Phù Anh Không lâu sau, đối chiếu với

úy của vua Thiệu Trị thì chữ Dung bị phạm úy tên của vua nên đổi lại là Cừ, trở thành tên Phù Cừ Theo Đại Nam nhất thống chí: “Chùa Phù-cừ Ở chân núi Phù-cừ xã Mỹ-đức huyện Hà Châu,…; năm Thiệu Trị thứ 6 (1856), nhân dân tỉnh hạt xây sửa lợp ngói, …, theo núi dựng nhà, án tuệ nghiêm trang, cửa thiền tịch mịch, cũng là 1 nơi danh thắng.” [17, tr.107]

Ngôi chùa cổ thứ ba, chính là ngôi chùa Tam Bảo của gia đình họ Mạc Năm 1730, “Ở huyện Hà Châu; nguyên xưa Mạc-cửu làm Thống-Binh ở Hà-tiên lập ra; mẹ ông là Thái phu-nhân hơn 80 tuổi mộ Phật đến ở, sau bà tọa-hóa (mất) ở trước bàn Phật Mạc-cửu nhân đó đúc tượng bằng đồng để thờ trong chùa, nay vẫn còn” [17, tr.107] Cũng như lịch sử thăng trầm của Hà Tiên, có nhiều giai đoạn gặp chiến tranh gián đoạn, “Đến đời Gia Long

Trang 21

(1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811) Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá

Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại,…” [12, m.B, k.2] Đến nay đã qua 19 đời trụ trì và đã được xây dựng khang trang, giữ được vẻ thanh tịnh vốn có của nó Đây cũng là nơi lưu dấu bức tường cổ, đại hồng chung cổ và tượng phật bằng đồng Mạc Cửu đúc tặng mẹ hơn 300 năm tuổi Chùa đã được triều đình sắc phong nên còn gọi là Sắc tứ Tam Bảo tự, ngày nay được chính quyền công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh

Không thể không nhắc đến ngôi chùa Tiên Sơn trong núi Thạch Động Theo sách Lược sử những ngôi chùa ở Kiên Giang, thượng tọa Thích Giác Phước, chủ biên, NXB TP Hồ Chí Minh, 2002 cho biết: Vào thế kỷ XVIII, Hòa thượng Huỳnh Phong đã đến tu hành tại đây Năm 1790, Hòa thượng Minh Đường (Trung Quốc) đã tìm đến hang động này tu hành và đặt tên là Bạch Vân Am Sau đó, ngài đã giao am lại cho Bạch Vân Cư sĩ và về tu ở chùa Địa Tạng, cách Bạch Vân Am 800m về hướng Đông Nam Đến năm

1888, một nhóm người Minh Hương đã đến tổ chức trùng tu am xưa và cung thỉnh Hòa thượng Thích Chánh Quả, thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời thứ

39, về trụ trì Hòa thượng đã cho đúc một số tượng Phật và Bồ tát, đổi tên Bạch Vân Am thành Linh Sơn Tự Ngài viên tịch năm 1913 Kế thế trụ trì là Hòa thượng Thích Thiện Sĩ đã tổ chức trùng tu, mở rộng ngôi chùa, đặt tên chùa Tiên Sơn Đại đức Thích Minh Luận trụ trì chùa từ nãm 1989 đến nay [38] Ðây là một trong những ngôi chùa ở trong động đá nổi tiếng với sự tích Thạch Sanh - Lý Thông Hiện chùa được trùng tu khá khang trang, hài hòa với thiên nhiên

Theo HT.Thích Thiện Nhơn - Chủ tịch HĐTS TW GHPGVN - trong

bài Phật giáo Kiên Giang qua một góc nhìn đăng trên trang thông tin điện tử

Trang 22

Phật giáo Kiên Giang ngày 18 tháng 6 năm 2017 có đoạn: “Từ thời Vua Gia long thứ 7 (1808) đã đặt ra Đạo Kiên Giang, đất Hà Tiên, Rạch Giá dưới quyền điều hành quản lý của Tổng đốc tình An Hà (tức An Giang, Hà Tiên ngày nay) tên là Doãn Uẩn (1843 - 1867)… Năm 1920, phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam do Hòa thượng Khánh Hòa khởi xướng… Phong trào lần lượt ảnh hưởng đến cả vùng đất Nam Kỳ Lục Tỉnh (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) Trong đó có tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang)” Từ đây đã dần hình thành nhiều ngôi chùa, đó là: Chùa Mũi Nai (1920), chùa Thanh Hòa (1927), chùa Phật Đà (1945), tịnh xá Ngọc Hồ (1957), tịnh xá Ngọc Đăng (1960), tịnh xá Ngọc Tiên (1967), chùa Giải Thoát, chùa Xà Xía

… Năm 1981 thống nhất Phật giáo cả nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập GHPGVN thị xã từ ngày thành lập đến nay, luôn ổn định, phát triển đồng hành cùng dân tộc trong thế kỷ 21 và những thế kỷ tiếp theo của dân tộc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam…”.[34]

- Những đặc điểm cơ bản của Phật giáo Hà Tiên

Về Giáo lý:

Sử dụng các kinh điển từ 45 quyển chánh tạng và 92 quyển chú giải ra tiếng bản xứ của mình để y cứ tu hành Kinh bổn thường dùng các loại sau: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Kim Cang, Kinh Bát Nhã, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Viên Giác, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Kinh Duy Ma Cật, Kinh A Di Đà,… Về cơ bản, giáo lý Phật Giáo đề cập đến nhiều vấn đề của thế giới và nhân sinh, rất trừu tượng, mang tính triết học sâu sắc, chủ yếu giáo thuyết về pháp, bản thể, tâm, vô thường, nhân duyên, sắc không, vô ngã, nhân quả, luân hồi, nghiệp và nghiệp báo, thập nhị nhân duyên, tứ diệu đế, giải thoát và niết bàn Ngoài ra, giáo lý Phật giáo còn có những lý thuyết khác như là thuyết về Thức, mối quan hệ giữa Tâm

Trang 23

và Thức, giữa Tâm và Vật Các hệ phái có cách thức tu tập, hành thiền và sinh hoạt khá khác nhau, mang tính đặc trưng của từng hệ phái trong ngôi nhà chung Phật pháp

Giới luật:

Giới luật hướng dẫn nhiều điều chế định hướng dẫn tu tập Nội dung chủ yếu của giới luật là những điều kiêng cấm nhằm chế ngự dục vọng, từ bỏ việc ác, khuyến khích thực hiện việc thiện để đạt đến sự giải thoát Giới luật quy định cho từng đối tượng riêng: Đối với tín đồ tại gia phải thực hiện “Ngũ giới” và thập thiện Đối với bậc Sa-di, phải giữ 105 giới, người đi tu theo Phật trên tinh thần tự nguyện, đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản gồm: Phải được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng (nếu còn nhỏ); phải là công dân tốt, không trong tình trạng vi phạm pháp luật; phải có thầy dẫn dắt

và có những vật dụng cần thiết của một nhà sư, có thể giữ bậc Sa-di suốt đời Đối với bậc Tỳ kheo, phải thực hiện đầy đủ các giới, gọi là “Cụ túc giới” gồm

250 giới, giới luật ở bậc này quy định rất chi tiết, chặt chẽ từ việc ăn, mặc, ở,

đi, đứng, nằm, ngồi (hành, trụ, tọa, ngọa), nói năng đến mối quan hệ giao tiếp với gia đình, xã hội, đồng đạo, cách thức hành đạo, tu trì, lễ bái

Đối với những người xuất gia, Phật giáo còn nêu lên sáu điều để hướng dẫn tu hành, gọi là “Lục hòa tăng” hay “Lục hòa kinh pháp” Đồng thời đối với cả những người xuất gia lẫn những người tu tại gia có những điều răn dạy

cụ thể: Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả), Vô ngã vị tha (không vì mình mà vì mọi người), hạnh lục độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ) Để thực hiện nghiêm túc giới luật, hàng tháng hai lần vào ngày 15 và ngày 29 hoặc 30 âm lịch, những người xuất gia tu hành trong chùa hay tập hợp lại để tụng giới (lễ tụng giới gọi là lễ bồ tác), tức là đọc lại các giới luật Việc xử lý tăng chúng phạm giới luật được tiến hành theo phép Yết ma (Karma) và phải được toàn thể tăng chúng nhất trí thông qua

Trang 24

Nghi lễ:

Phật giáo luôn đặt nặng nghi lễ, chuộng đời sống chân thật, mộc mạc, rất quan tâm đến giới luật: Lễ kính nhau theo tôn ti hạ lạp, đón rước trịnh trọng có từ lâu đời; trai tăng là không thọ thực quá ngọ; tụng kinh dùng chuông mỏ và xướng tán ngân nga; thờ các vị Phật phù trợ và cúng hương hoa vật thực để tỏ lòng thành kính; tổ chức cúng sao hạn, chuẩn tế, coi ngày tốt xấu; đi khuất thực không nhận tiền bạc, chỉ nhận vật thực đã chín do phật tử tự nguyện dâng cúng, không mở lời xin hay nói khéo để người phải cho; mỗi ngày có hai thời tụng kinh lễ bái Tam Bảo vào buổi sáng và buổi chiều, ngoài

ra chư tăng thường tụng kinh quán tưởng và chúc phúc cho phật tự trước khi thọ thực Khi hành lễ, các vị thường dùng trung y hoặc đại y lễ

Y là trang phục theo nhà Phật, y thuộc loại hoại sắc, có màu vàng đậm, xám hay nâu, đều là đơn giản, trang nghiêm, thanh tịnh Có 03 loại: Y dùng

để mặc bên trong, y dùng để mặc ở giữa, y dùng để đắp ngoài của chư tăng Khi đi đến chốn đông người, đi trì bình, nhập chúng thọ trai, khi lễ tháp, khi nghe kinh, khi lễ cao tăng,… đều có quy định mặc y phục riêng biệt cho từng dịp lễ

Phật giáo Nam tông và Khất sĩ thường đi khất thực, được thể hiện qua

đi bát, được thực hiện trong chùa hoặc một đợt tập trung nhất định được thông báo trước nên ít nhiều làm mất đi tính nguyên bản của khất thực

Phật giáo hàng năm có nhiều ngày lễ được tổ chức ở chùa và ở nơi thuận tiện tại địa phương Việc hành lễ do các vị cao tăng chủ trì cuộc lễ Có các ngày lễ chính trong năm theo âm lịch, gồm: Rằm tháng tư mừng Phật đản sanh, thành đạo và nhập Niết bàn; An cư Kiết hạ là dịp các bậc tăng ni ở trong chùa tu tập liên tục ba tháng để trao dồi thân, khẩu, ý; Lễ Dâng y (Kathina - lễ Dâng bông) thực hiện tâm thí của người cúng dường và người nhận được một cách bền vững, viên mãn Ngoài ra còn có các lễ gắn với tín

Trang 25

ngưỡng, văn hóa, truyền thống và dân tộc: Rằm tháng giêng; Lễ Xá tội Vong nhân; Ở đồng bào Khmer còn có những lễ hội cúng mừng năm mới (Chol Chnam Thmay), lễ cúng trăng (Okcombok), cúng ông Tà (Nek ta), cúng cơm (Sen prên), cúng đáp lễ (cúng thần linh, người khuất mặt), lên tổ (tế lễ, tạ lễ cho thần giữ nhà, thần giữ sóc)…

Kiến trúc:

Các chùa được bố trí trên một khoảng không gian đất đai rộng lớn, có nhiều cây cao bóng cả, yên tịnh và thoáng mát Mặt tiền chùa có thể hướng về hướng khác nhưng chính điện luôn hướng về phương đông theo quan niệm phật ở phương tây hướng về phương đông ban phước Chính điện được xem như là quần thể kiến trúc chính của ngôi chùa nên thường cao hơn kết cấu các tháp, tăng xá hoặc giảng đường khoảng hơn 01m Trong chính điện thường có tam cấp: cấp cao nhất thường tôn trí xá lợi, cấp giữa tôn trí Phật tổ to lớn, cấp cuối tôn trí các pho tượng Phật khác với các tư thế ngồi hoặc nằm với những

ý nghĩa khác nhau Ngoài ra còn có các công trình phụ trợ gồm: phật cảnh, nhà thiền tăng ni, nhà ăn, nhà bếp, nhà vệ sinh,…

Tổ chức:

Đến nay, ở các chùa có 01 hòa thượng, 01 thượng tọa, 04 đại đức, 02 ni

sư, 02 sư cô, hàng tăng ni chúng Nơi này có 01 vị hòa thượng chứng minh, Ban Trị sự GHPGVN thị xã có 21 vị Các Ban Trị sự từng chùa lo giúp việc Phật sự có từ 03 – 07 vị Hàng năm tổ chức cho sư sãi tham gia tu tập, báo hiếu Về pháp lý, các chùa căn cứ vào Hiến chương đề ra chương trình hành động, xây dựng quy chế, nội quy (hội họp, giờ giấc, khóa tu, mùa tu); các hoạt động luân chuyển chức sắc, đăng lý tu tập, xây dựng cơ sở thờ tự, nhà thiện nguyện, hoạt động xã hội,… đều có đăng ký và được chấp thuận từ các cấp chính quyền địa phương

Trang 26

Việc xây dựng chùa chiền, nơi tu tập luôn thực hiện đúng theo pháp luật quy định, được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng, trùng tu Tiền nhân luôn có ý thức lựa chọn những nơi cao ráo, thoáng đảng để tu tập Ví như chùa Ngọc Tiên, Ngọc Đăng hệ phái khất sĩ ở triền núi Tô Châu; chùa Ngọc Đăng (khất sĩ), Phù Dung, Tam Bảo dưới chân núi Bình San; chùa Tiên Sơn trong núi Thạch Động; chùa Vạn Hòa dưới chân núi Thuận Yên, chùa Xà Xía ở trên gò nhỏ Xà Xía (ngôi chùa củ), chùa Mũi Nai trên ngọn núi Mũi Nai Tuy nhiên, vẫn có một vài ngôi chùa do chưa hiểu biết quy trình xin phép xây dựng, trùng tu, cơi nới, bảo vệ di tích lịch sử gắn với cơ sở tôn giáo, đã ảnh hưởng đến trật tự xây dựng đô thị

Ngày nay, các chùa chuyên tâm ổn định tổ chức, nhân sự, (trụ trì, các ban, người tu hành), việc tu tập Công tác từ thiện xã hội nổi bật hơn so với các đơn vị trong khu vực với các công trình nhà nuôi dạy trẻ, quỹ đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ học sinh và người khó khăn, xây nhà đại đoàn kết Cử và trực tiếp mở lớp đào tạo tăng ni, giải quyết các bất đồng, cùng tiến tới “Đạo pháp - Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội” Song song đó cũng còn một số mặt còn có những tồn tại: Các chùa chậm phân bổ người đủ uy tín, phẩm chất, phẩm trật vào các vị trí quan trọng; trong xây dựng còn tình trạng trái phép; còn tranh chấp nội bộ và với bên ngoài (đất đai, vị trí xây dựng, lịch sử lập chùa,…)

1.2 Khái lƣợc về tín ngƣỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang

Cũng tiếp cận Luật Tín ngưỡng tôn giáo, tại Khoản 1, Điều 2, Chương I định nghĩa như sau: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng ” [14] Áp dụng khái niệm vào thực tế tìm hiểu, tín ngưỡng ở Hà Tiên được khái lược một số đặc điểm và loại hình thờ cúng đáng chú ý sau đây

Trang 27

1.2.1 Đặc điểm tín ngưỡng ở thị xã Hà Tiên, Kiên Giang

Tại di tích khảo cổ học Nền Chùa, các nhà khảo cổ học cũng tìm được

19 ngôi mộ hỏa táng trên những gò đá quanh Nền Chùa Ở các gò lớn chôn không có nấm mồ, nhiều hình thù khác nhau, các gò nhỏ được tách riêng biệt hình tròn hoặc hình mai rùa Than tro người chết chôn trong bình gốm dưới trụ gạch trung tâm các ngôi mộ [24] Điều này cho thấy Ấn Độ giáo đã tiếp biến tín ngưỡng thờ thần của đạo Bà La Môn và Hin Đu giáo từ trước đó nữa

Như vậy, có thể khẳng định tín ngưỡng thờ thần là khởi thủy của tâm linh ở nơi này Bắt nguồn từ tâm thức thờ cúng tổ tiên, mong “mẹ thiên nhiên” không “trừng phạt”, cử hành lễ bái mong được an lành Rồi tiếp cận văn hóa bên ngoài, khởi đầu là sự du nhập các vị thần Bà-la-môn theo chân người Ấn Độ truyền sang, người Khmer, người Mã Lai tiếp nhận và truyền thừa duy trì xuyên suốt hàng thế kỷ, cho đến khi Phật giáo tiếp biến và lan rộng trong các tầng lớp xã hội, được truyền tải tâm linh cho đến ngày nay

Tín ngưỡng cũng có hai loại hình, đó là loại hình ngoại nhập và nội sinh Như đã nói ở trên, nội sinh gồm các tín ngưỡng cổ thờ ông bà tổ tiên và nhiên thần (mẹ thiên nhiên) Trong loại hình này, cũng có thể kể đến tín ngưỡng của người Việt, người miền Trung và người từ một số quốc gia lân cận đem đến như: người Việt di cư từ miền Bắc vào Trung rồi đến Nam, người từ miền Trung vào, người từ cao nguyên xuống, các quốc gia cùng tộc người Campuchia cổ từ Phillippin, Malaysia, Thủy Chân lạp sang Nét đặc trưng của dòng tín ngưỡng này chủ yếu tín ngưỡng vùng biển, tín ngưỡng trong gia đình và tín ngưỡng thờ mồ mã ông bà

1.2.2 Một số loại hình tín ngưỡng bản địa ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang

- Thờ cúng tổ tiên trong gia đình

Theo nghĩa hẹp, Tổ tiên là những người có cùng huyết thống và đã mất như: ông bà, cụ kỵ… những người đã có công sinh thành, nuôi dưỡng và có

Trang 28

ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của thế hệ những người đang sống Theo nghĩa rộng, Tổ tiên là những người có công với đất nước, với cộng đồng làng xã, người đã sống và chết lâu đời tại địa phương [28, tr.24]

Thờ cúng tổ tiên có hai loại hình, đó là thờ chung dòng tộc và thờ trong từng gia đình, mồ mả ông bà Bàn thờ gia tiên là nơi con cháu tưởng nhớ và báo hiếu với tổ tiên sau khi chết (con cháu có nghĩa vụ báo hiếu khi còn sống

và khi đã chết) Đây là nơi đi về của tổ tiên, là biểu tượng của thế giới người chết hiện hữu trong thế giới người sống; Là sợi dây tâm linh nối liền cuộc sống ở “trần gian” với cuộc sống nơi “chín suối” Mọi biểu hiện bất thường xảy ra trên bàn thờ cũng đều là những dấu hiệu báo trước những bất ổn đã xảy

ra ở cõi âm và sẽ xảy ra ở cõi trần

Thờ cúng tổ tiên ở Hà Tiên có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội Giáo dục ý thức uống nước nhớ nguồn, truyền thống yêu quê hương đất nước Góp phần củng cố các mối quan hệ, tạo nên sức mạnh cộng đồng, phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán và phương thức sống của đồng bào ta Đây là một kho tàng lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống được lưu giữ bền vững, truyền bá rộng khắp và không ngừng phát triển theo chiều sâu Đây là nơi tìm thấy sự bình đẳng, cân bằng tâm lý và tự tin hơn trong cuộc sống Đồng thời, tạo ra cơ hội hội nhập, phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi cộng đồng

Tuy nhiên, ngày nay lễ hội này còn có những hạn chế là làm gia tăng các hiện tượng mê tín dị đoan trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như đốt vàng

mã, xem bói, “kinh doanh tín ngưỡng” qua việc tổ chức đình đám

- Thờ ông trời (thông thiên)

“Bàn ông Thiên” hay “bàn Thiên” là bàn thờ được đặt phổ biến ở trước sân nhà người Việt ở Nam Bộ “Thiên” theo từ điển Hán Việt nghĩa là trời,

“bàn ông Thiên” tức là bàn thờ ông trời Theo tín ngưỡng dân gian, trời được

Trang 29

xếp trước Phật trong các đối tượng được thờ, theo thứ tự “Trời - Phật - Thánh

- Thần”, nên việc thờ Trời là việc đầu tiên của mỗi người, mỗi nhà “Bàn thờ Thông Thiên” có nhiều loại Trước đây, người ta thường làm “bàn ông Thiên” bằng cây gỗ đơn sơ, gồm một cây cột cao khoảng 1 m, phía trên đặt một tấm ván hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 04cm Về sau, một số gia đình khá giả, dựng bàn ông Thiên bằng cột bê tông, bên trên bàn thờ dán gạch men

Bàn thờ ông Thiên của người Hà Tiên vừa thể hiện sự mộc mạc, giản dị

và chân thành của người dân đất phương Nam, vừa ẩn sâu trong đó là triết lý

âm - dương đã tồn tại qua hàng ngàn năm với biểu tượng vuông - tròn vốn hiện hữu lâu đời trong tâm thức của người Việt Bàn thờ hình vuông tượng trưng cho đất (thuộc âm), lư hương hình tròn tượng trưng cho Trời (thuộc dương) Điều đó còn thể hiện khát khao vươn đến sự hoàn hảo của con người phương Nam, thể hiện qua hình ảnh “bàn ông Thiên” có vuông - có tròn, có

âm - có dương

Vào những ngày quan trọng như ngày vía mùng 9 tháng Giêng, mồng một, ngày rằm hoặc những dịp cúng tổ nghề, lễ, tết, người ta cúng ở bàn thờ ông Thiên trang trọng hơn, có thể là chén gạo, muối, chè, và ngày Tết còn có thêm đĩa hoa quả.[16, tr.159-160]

- Thần Hổ

Hổ còn là một linh vật trong 12 con giáp của người Việt ta, tượng trưng cho sức mạnh, nó còn là một trong Tứ Thánh thú cai quản Hổ được tôn thờ, sùng bái và gọi một cách trân trọng là ông, ngài, cậu, chúa Hổ là loài vật linh thiêng, là kẻ thù của các tà thần, nên thường được hiện diện như những vị thần linh canh cửa các ngôi miếu, đình, chùa, nhà cửa Hình tượng Hổ tượng trưng cho sức mạnh của trần gian, đại diện cho các thần linh ở dưới mặt đất

Thần Hổ uy linh và đầy huyền bí đã đi vào đời sống tâm linh của cư dân Ở phương vị phù trợ, loài Hổ không được vị trí độc tôn thờ phụng (thờ

Trang 30

chánh) mà là những con vật thờ phụ, thờ theo những bậc công danh, tiền hiền, thánh nhân, khiến nó có nét giống với các động vật được phụng thờ khác như chim, cá, muôn thú Chính vì thế thường thấy Hổ được bày trí dưới gian thờ chính, trước cổng đình chùa, nhà cửa

Qua khảo sát, cho thấy thờ thần hổ chủ yếu ở các đình miếu, am thờ vong linh, các ngôi mộ và trước cổng một ít nhà cư dân Đa số cư dân không thờ thần hổ trong nhà, họ chỉ tổ chức thờ chung với các vị thần để phù trợ cho ngôi đình miếu của họ

- Cô hồn

Với quan niệm là các cô hồn có mặt ở khắp mọi nơi, họ bị chết trong các trường nhợp không người thân, không nơi nương tựa, từ người chết trên biển, trên sông, trên rừng, trên đường cho đến người chết trẻ, người chết già, người chết không rõ nguyên nhân, người bệnh chết Chính vì thế nên cư dân cho rằng, nếu gặp tai nạn, bệnh tật, chuyện rủi ro là do các cô hồn đói khát đòi

ăn Do đã lâu không ai cúng nên về phá phách, nếu cúng kiến đầy đủ thì mọi việc sẽ xuông sẽ, bình an [16, tr.11-13]

Ở các ngôi miếu và trong mọi gia đình ở Hà Tiên, khi dọn cỗ làm đám giỗ, lễ động thổ, cúng hạ điền và thượng điền, tế thần, lễ tết, mừng tròn tháng, đầy năm, đều có mâm cơm riêng cho các cô hồn Trong miếu cũng như trong gia đình, luôn có cô hồn là người thân cũng có cô hồn là người phương xa đến, cho nên trên mâm cơm này có đủ rượu thịt, hương hoa, đèn trà, bài trí từ bốn đến tám chén (bát) cơm để đủ cho các cô hồn Riêng ở miếu thì bài cỗ cúng tập thể thịnh soạn bằng một con heo đã mổ thịt và một số sản vật đánh bắt được

Đối với phương tiện kinh doanh vận tải trên bộ, ngoài việc hàng ngày thấp hương thờ cúng với hương hoa quả nước, hàng tháng các xe thường cúng phòng ngừa tai nạn rủi ro vào ngày mùng 2 và ngày 16 âm lịch Lễ vật

Trang 31

gồm có trà rượu, hoa quả, một hoặc hai con gà luộc, có dĩa muối hột chung với ít gạo

Trong ghe, tàu, thuyền: Những chiếc tàu nhỏ chỉ thấp hương trước mũi tàu và thấp hương khấn vái vào chập tối, mong cho “Bà cậu”, thần sông thần biển, thần đảo, những người phù trợ cho chiếc tàu này được may mắn, thu hoạch cá tôm đầy khoan Những chiếc tàu lớn thì có hẵn một bàn thờ, trên là tôn giáo của họ, một bên dưới là bàn thờ Thần tài Thổ địa, một bên thờ cô hồn, binh tướng dưới biển, trong sông, trên rừng, trên đảo Đến ngày lễ cúng còn có thêm một hoặc hai con vịt luộc với mong muốn vịt giúp bơi vượt qua các tai nạn, rủi ro, bền bỉ, thu được nhiều cá tôm Trên phương tiện này thường cúng lễ trọng vào ngày xuất hành ra khơi, sau khi cập bến bốc dỡ và

vệ sinh xong ghe tàu, ngày vía các vị “Bà Cậu”, “ngày tốt, ngày lành” và các cuộc cúng lễ tết có liên quan trong gia đình chủ phương tiện

Trên đường, chân núi, trên đảo, bờ sông, bờ biển: Đi trên đường ở Hà Tiên, thấy những nơi có đặt một cái nhà thờ nhỏ chưa đến 1m2, bên trong có một bài vị và bát hương, 3 - 4 chung nước là nơi thờ các cô hồn Miễu trên đường lộ là thờ những người bị tai nạn giao thông chết tại khu vực này, sau

đó có nhiều vụ tai nạn khác xãy ra tại đây, nơi nào có 1, 2 hoặc 3 người đã chết thì trong vòng một năm sau cũng có trường hợp tương tự, nên cư dân lập bàn thờ tránh tiếp tục xãy ra tai nạn, thường sau khi lập miếu thì nơi đây hết xãy ra tại nạn, nếu lâu ngày không có người cúng kiến thì sẽ có tai nạn trở lại Những ngôi miễu trên bờ sông, bờ biển, trên đảo thì thờ cô hồn chết trôi dạt vào, nếu không lập miếu thờ thì trong vòng một năm sau cũng sẽ có người chết đuối tại đây

- Tổ nghề

Còn gọi là tổ sư, thánh sư, nghệ sư Đây là những người phát minh, sáng lập, gây dựng nên một nghề hoặc là người đầu tiên truyền nghề cho cư

Trang 32

dân trong một cộng đồng quần cư hay miền nào đó, được người đời sau tôn thờ như bậc thánh Tổ nghề có thể là nam giới hoặc nữ giới

Người dân bản địa không cầu kỳ khi lễ bái, cúng kiến như ở nơi khác Đến ngày giỗ tổ nghỉ một ngày tổ chức cúng kiến linh đình, vui chơi giải trí Trong ngày giỗ tổ, thức ăn chỉ cần có tâm dâng lên là đủ, không cần cao lương mĩ vị; trang phục thì chỉ cần áo dài tay, quần chạm cẳng chân là được; bàn thờ luôn có bài vị hay hình ảnh, câu đối, tên tiền nhân, khẩu hiệu của nghề; không thể thiếu hương, hoa, trà, rượu, thịt Trong ngày này, họ rất kiên

kỵ gây xích mích, tranh cãi Ngoài ra, mỗi tổ nghề cũng có cách thức thờ cúng

và nghi thức, lời khấn khác nhau, điển hình như sau:

- Hải thần:

Hạ bạc là nghề đánh bắt tôm cá trên sông nước, biển cả Ngày nay, nghề hạ bạc dùng để gọi cho những người đóng tàu, ghe đi biển Song, với đặc tính là ven biển, sinh sống từ tài nguyên biển nên cư dân và ngư dân vẫn thờ chung một tổ nghề hạ bạc là “Bà Cậu” “Bà Cậu” chính là “Bảy bà ba cậu”, gồm “Bà chúa Tiên, bà chúa Ngọc, bà chúa Xứ, bà chúa Động, bà Cố

Hỉ, bà Thủy Long, bà Thủy Tề; cậu Trầy, cậu Qúi, cậu Lý, cậu Thông, nhưng nói theo vần kể có ba cậu Về sau không rõ tông tích của cậu Lý và cậu Thông”

Giỗ tổ Thủy Tề ngày 16 – 17 tháng Giêng, vía bà Thủy Long ngày

18 – 19 tháng 5ÂL Thường vái “Bà Cậu” phù hộ cho sóng êm gió lặng và bắt được nhiều tôm cá Hiện tại có 02 ngôi miếu thờ “Bà cậu”, ông Nam Hải (Nam Hải tướng quân, giỗ vào ngày 03 – 04 tháng chạp), Tứ vị Thần

nữ Đó là miếu bà Thủy Long ở phường Tô Châu và đình Thuận Yên ở xã Thuận Yên Riêng đình Thuận Yên đã có sắc phong của vua triều Nguyễn vào năm 1888

Trang 33

về với sông hồ, biển cả [16, tr.35-41] Cư dân nơi đây cho rằng, ông Táo cưỡi

cá chép lên trời thưa với Ngọc Hoàng Thượng đế những sự kiện xảy ra trong năm vừa qua ở dưới trần gian Không cúng bia rượu, vì khi đã say ông Táo không về chầu trời được, trường hợp đi được thì khi say khó thưa đúng chuyện ở trần gian, hoặc vào chầu mà say sỉn sẽ bị Ngọc Hoàng quở trách Lễ cúng rước Ông Táo về cũng nghi thức và lễ vật như trên Song, có khác là có thêm con gà luộc hoặc thức ăn mặn, bia rượu để mời Ông về với gia đình, vui chơi thỏa thích

- Thổ Địa

Còn gọi là Ông Địa, Thổ thần, Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần

Ông Địa nghĩa là người cai quản đất đai cho chủ nhà, Thổ thần là thần trông coi một vùng đất, Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần là danh hiệu được Ngọc hoàng phong sau khi Trọng Cao chết cháy trong đống rươm cùng với

vợ và Phạm Lang (Thổ công)

Thổ Địa được xem là một trong những vị thần quan trọng trông coi nhà cửa, đất đai Chính vì thế mỗi khi có việc đụng chạm đến đất đai như xây cất, đào ao, đào huyệt, mở ruộng vườn đều phải làm lễ “động thổ” hoặc “khởi công” Khi có lễ bái đều phải cúng Thổ Địa trước rồi mới cúng bàn Phật, bàn thờ tổ tiên, bàn thờ thông thiên Khi cúng thức ăn thì người cúng phải nếm trước vì Thổ Địa rất sợ bị đầu độc Ngày vía Thổ Địa vào các ngày mùng 1 và

Trang 34

ngày rằm hàng tháng [16, tr.108-121] Ở Hà Tiên, việc thờ cúng Thần tài và Thổ địa khá đa dạng

Thờ trong nhà và nơi kinh doanh:

Bàn thờ được đặt dưới đất, trong một góc riêng, thường là cạnh bàn thờ tổ tiên, dưới bàn thờ Phật Tùy theo nhà khá hay nhà khó thì cách bày trí sang trọng hay đơn giản Có nhà khá thì thờ chung với tượng con cóc ngặm đồng tiền, có nhà để tiền hoặc biểu trưng vàng bạc dưới tượng hoặc bên cạnh Thần Tài Thức ăn cúng hai ông không xa hoa, lãng phí, có chi cúng nấy, thứ thích nhất là chuối Lá Xiêm, chè, xôi, bánh kẹo Những nơi kinh doanh thường cúng nải chuối Lá Xiêm, điếu thuốc lá và một ly càfê

Thờ trong xe ô tô:

Có một số xe tải hàng, xe khách bài trí bàn thờ có Thần Tài và Ông Địa trước đầu xe, sau kính chắn gió khá trang trọng, thấp hương vào chuyến khởi hành đầu tiên trong ngày hoặc mỗi chuyến đi Vật cúng thường là hương, hoa, nước, bánh ngọt hay trái cây Người theo Phật giáo thì thờ Phật Bà Quan Âm với tay phải cầm nhánh Dương Liễu, tay trái cầm bình hồ ơ trước ngực; người theo Công giáo thì thờ Đức mẹ Maria đứng ngửa hai tay ban phước Thường thì các vị này được đặt chung bàn thờ Ông Địa và Thần Tài Cũng có phương tiện chỉ thờ độc tôn một vị Phật hay mẹ Maria

- Thần Tài

Thần tài còn gọi là Tài bạch tinh quân, Triệu công nguyên soái Theo dân gian, đời nhà Thương ở Trung Quốc có một người tên Triệu Công Minh, sau khi tu đắc đạo được phong làm Chính nhất huyền đàn nguyên soái, trông coi việc đuổi dịch bệnh, trừ tà ma trong triều đình Ở Hà Tiên, vào ngày vía Thần Tài, nhiều cửa hàng, xí nghiệp, cơ sở buôn bán, người kinh doanh buôn bán sẽ khai trương, mở hàng, có nơi còn tổ chức múa lân có ông địa, nhiều người còn đốt vàng mã Trong dịp này nhiều người dân còn tấp nập, đổ xô đi mua vàng vào ngày vía Thần Tài, món cá lóc nướng là món ăn được ưa chuộng để cúng Thần Tài trong dịp này [16, tr.133-142]

Trang 35

Ở Hà Tiên, mọi nhà, mọi hộ kinh doanh mua bán đều thờ Thần tài chung với Ông Địa, Ông Địa bên phải còn Thần Tài bên trái Ngoài ra Thần Tài còn được in thành lịch treo tường, phong bì lì xì vào năm mới Người nào

đi đường nhặt được Thần Tài thì xem như sự may mắn đã đến, liền đem về thờ, không cho người khác Thường thì đa số có may mắn khi nhặt được tượng hoặc bài vị của Thần Tài

- Đình Thành hoàng thờ Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh

Theo nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, đình này nguyên sơ là miếu Hội Đồng Năm 1888 được sĩ phu yêu nước trong xứ này vận động trùng tu tôn tạo Niên hiệu năm Tự Đức thứ năm đổi thành Đình Thần hoàng Bổn cảnh

xã Mỹ Đức, thờ Quảng hậu Chánh Trực Hữu thiện Đôn ngưng chi thần Đến năm 1945, vua Bảo Đại căn cứ vào các sắc văn những đời vua trước ban phong làm Mạc thị Thần chi, tư Thành hoàng Tôn thần, Hàm quang Dực bảo Trung nhưng Thượng Đẳng thần (Thượng Đẳng thần họ Mạc) Hiện là một trong bốn Di tích Lịch sử cấp tỉnh ở thị xã Hàng năm, lễ Kỳ Yên từ ngày 15 đến 17 tháng hai âm lịch, giỗ Đồng Cuộc các tướng sĩ tuẫn nạn ở Xiêm ngày

24 tháng 10 âm lịch, Đại khánh Cầu an bản xứ 12 tháng 12 âm lịch, lễ Thanh Minh vào ngày chánh tiết tháng ba.[7, tr.95-96]

Tiểu kết chương 1

Tín ngưỡng và Phật giáo theo chân các vương triều cổ đại đã xuất hiện

ở Hà Tiên từ rất sớm trong suốt quá trình hình thành và phát triển luôn gắn với sự mở mang bờ cỏi của các vương triều cũng như công sức khai thác, giao thương sản vật giá trị của các dân tộc anh em

Dù cho có những biến đổi của thời cuộc, hoạt động tín ngưỡng và Phật giáo vẫn giữ gìn bản sắc nguyên sơ và có sự tiếp biến không đáng kể Thông qua hoạt động thờ cúng, lễ bái, thực hành mà hình thành nét dung hợp lẫn nhau khá đặc sắc, mang đậm bản sắc văn hóa của cư dân vùng biển

Trang 36

Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN HIỆN NAY

2.1 Biểu hiện qua truyền thuyết, bài trí tượng thờ và nghi lễ trong chùa

Theo sách Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý xuất bản năm

1999, đã viết: “Sự dung hợp là dung hòa với nhau trong một thể thống nhất”[39] Còn theo Từ điển tiếng Việt do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm

1996 có ghi: “Sự dung hợp là hòa vào nhau để hợp thành một thể thống nhất”[29] Trong khuôn khổ luận văn, xác định sự dung hợp là: Phật giáo dung nạp, hòa hợp với tìn ngưỡng bản địa để trở thành nhất thể mang đậm bản sắc tâm linh và nhập thế Vấn đề đựợc trình bày qua những câu chuyện truyền thuyết, truyền miệng và kết quả nghiên cứu sự dung hợp dưới đây

2.1.1 Về những câu chuyện truyền thuyết, truyện truyền miệng ở

Hà Tiên

Chuyện truyền thuyết có thể hiểu là những câu chuyện dân gian truyền miệng nhằm lý giải một số hiện tượng tự nhiên hoặc sự kiện lịch sử Đặc điểm chung thể hiện bởi các yếu tố kỳ diệu, thần thoại, viễn tưởng, nhưng lại được cảm nhận là xác thực, diễn ra một khoảng không gian và thời gian nhất định nào đó

Chuyện truyền miệng được hiểu là những câu chuyện dân gian được lưu giữ bằng phương thức truyền miệng từ đời này sang đời khác, từ địa phương này sang địa phương khác Ở Hà Tiên, có nhiều câu chuyện truyền thuyết và truyền miệng được lưu truyền trong dân gian mang đậm màu sắc văn hóa tâm linh con người nơi đây Nó đã góp phần bổ sung vào sự phong phú trong thế giới tâm linh từ tín ngưỡng cho đến tôn giáo nơi biên cương Tổ quốc

Trang 37

- Câu chuyện dung hợp ở ngôi chùa Phù Dung với tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên và tín ngưỡng ngoại lai:

Theo truyền miệng, từ một câu chuyện truyền miệng và một lăng mộ của người xưa sau chính điện, đã tạo nên một câu chuyện nửa thật nửa ảo gây xúc động lòng người Câu chuyện kể về bà Dì Tự là thứ thiếp và có con chết non với Mạc Thiên Tích, Bà có tài văn phú, thường phục vụ chồng trong các buổi tiếp tao nhân mặc khách xa gần, lòng luôn hướng về Phật pháp Sau những biến nạn do quân Xiêm gây ra ở Hà Tiên, Bà thức tỉnh lý vô thường, kiếp nhân sinh chỉ là huyễn hóa và kiên quyết đi theo đường tu học đạo Phật Mạc Thiên Tích biết không lay chuyển được lòng thứ thiếp yêu quí của mình, Ông nén lòng ưng thuận cho Bà theo đường xuất gia tu hành Danh gọi Sư nữ Phù Cừ xuất hiện kể từ đây

Theo các nhà nghiên cứu, thì đây là chuyện không đúng với lịch sử, bởi

vì: Chùa Phù Dung có lịch sử xây dựng và phát triển từ trước thời Mạc Cửu đến vùng đất này Qua nhiều cuộc biến loạn, chùa đã có hai lần xây dựng trên hai vị trí khác nhau Ngôi chùa cũ có trước năm 1662 ở núi Đề Liêm, ngày nay có thể nhìn rõ nền chùa xưa và ngôi tháp cổ của Hòa thượng Ấn Đàm đời Lâm Tế thứ 36 Chùa Phù Dung ngày nay ta thấy trên nền Chiêu Anh Các củ, sau khi Mạc Công Du và hai con trai theo Lê Văn Khôi tạo phản bị triều đình nhà Nguyễn xử án tru di cả họ, 12 năm sau vua Thiệu Trị xuống lệnh ân xá cho họ Mạc, được Tổng đốc An Hà là Doãn Uẩn cùng với nhân dân xã Mỹ Đức dựng lên trên nền Tao Đàn Chiêu Anh Các, ở đầu bắc núi Bình San vào năm 1846 Do xây lại trên nền nhà xưa có Tao đàn Chiêu Anh Các nên Doãn Uẩn đã đặt tên ngôi chùa mới là “Phù Anh” (ghép từ hai chữ Phù Dung và Chiêu Anh Các), thời vua Thiệu Trị do phạm úy nên đổi thành “Phù Cừ” Song, người Hà Tiên vẫn quen gọi là Phù Dung cho đến nay Hiện trong khuông viên chùa này có điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế dựng năm 1752;

Trang 38

Ngôi nhà thờ Phật, thờ tổ, thờ vong từ năm 1846; Nhà thờ phật và nhà thờ bà Mạc Mi Cô mới dựng những năm đầu thế kỷ XXI gần đây Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt bức xúc: Câu chuyện Phù Cừ chỉ là tư duy sáng tác văn học của nữ sĩ Mộng Tuyết và đây chính là một trường hợp "lộng giả thành chân" trong nghiên cứu lịch sử [7]

Như vậy, xuất phát từ một ngôi mộ mang tâm thức tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên của người xưa, một số vị sư tu ở chùa Phù Dung cho đây là vị khai sơn của ngôi chùa này, rồi “Để ghi công trạng” đã phong một phụ nữ chưa đủ tuổi

hạ làm “Bồ Tát” đáng kính (Bà chết chỉ sau Mạc Thiên Tích vài năm) Đây chính là biểu hiện rõ nét trong tâm thức dân gian về sự dung hợp giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và ở Hà Tiên

- Câu chuyện Chùa Sắc tứ Tam Bảo được dựng nên từ một giấc mộng: Chuyện nằm mộng chưa được chứng minh thật cụ thể thuộc phạm trù văn hóa hay là tâm linh, khoa học hay tâm thức Nhưng rõ ràng nó hiện hữu trong tất cả mọi người, ai ai cũng nằm mộng ít nhất mỗi tuần vài lần Việc nằm mộng có nhiều loại: có thiện mộng, ác mộng, báo mộng, tiềm thức mộng Giấc mộng liên quan đến tâm linh, mà rõ nét nhất là tín ngưỡng trong các giấc mộng là khá phổ biến

Truyền miệng kể lại rằng, vào một ngày nọ, bà Thái Thái Bà Bà nằm mộng thấy có một con rồng màu vàng ngậm cành hoa sen quấn trên một cột bườm của một chiếc ghe thương hồ từ hướng Bắc đến Bà đã thuật lại điềm mộng trên cho Mạc Cửu nghe và Mạc Cửu cho là điềm lành sắp đến Quả vậy, ít lâu sau có một vị tu sĩ tướng mạo oai vệ xin được diện kiến Hỏi qua mới biết tu sĩ trước là tướng Minh triều, chán cảnh thế nhân nên quy phục Nam triều xuất gia theo Phật pháp Điều này ứng với điềm mộng của Thái Thái Bà Bà, bởi đạo hiệu của tu sĩ là Huỳnh Long, tức là con rồng vàng Lão

Trang 39

Hòa thượng được mời ở lại hướng đạo cho Bà cũng như cho người dân Hà Tiên đến khi viên tịch, được lập tháp thờ phượng cho đến ngày nay.[9]

Nghiễm nhiên, nơi bà thường trú ngụ trở thành nơi thuyết giảng hành đạo, được Mạc Cửu cho xây dựng thành ngôi chùa nhỏ để mẹ dùng làm nơi tu tập sau dinh thự của mình Từ đây, cũng là khởi nguyên của hệ phái Phật giáo Bắc tông được truyền vào Hà Tiên, đầu tiên là do giấc mộng đẹp của bà Thái Thái phu nhân mà hình thành và phát triển khởi sắc cho đến ngày nay

Từ câu chuyện này, đã phản ánh sự khởi đầu của một ngôi chùa Bắc tông trên mảnh đất Hà Tiên hữu tình là qua sự phát tâm của những tín đồ ngoan đạo, gieo nhân, lập chùa tu tâm dưỡng tánh cho hàng thế hệ từ xưa đến nay Theo Sư cô Như Thảo, đang tu tại chùa cho biết: “Sau khi chết, tưởng nhớ công đức của Bà và nhà sư, đã lập tháp thờ tại chùa Từ đó có hoạt động thờ cúng tổ tiên tại đây” Khi được hỏi mọi người có đồng thuận hay không, thì Sư cô cho biết thêm: “Chúng ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, uống nước nhờ nguồn từ lâu đời Cho nên việc thờ cúng ân sư, tổ sư và người có công là chuyện nên làm Không nghiêm trì thờ cúng nhà chùa cảm thấy có lỗi với tiền nhân Chưa nghe ai phản đối việc này Trong Phật giáo không chùa nào không thờ các vị này”.[Phụ lục 3, tr.91]

- Tượng Phật gỗ ở bờ biển giúp mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu: Theo tài liệu của Đại đức Thích Pháp Hảo, hiện đang trụ trì chùa Thiên Trúc cung cấp, chùa Thiên Trúc thuộc hệ phái Nam tông, từ thế kỷ XX đến nay được biết là nơi tu tập của cả nam lẫn nữ người Kinh hoặc người Kinh lai Khmer, một nơi hiếm có ở khu vực Nam bộ, bởi vì thường thì người hành đạo theo hệ phái Nam tông chỉ có ở đồng bào Khmer, Mã Lai hoặc In Đô và chỉ

có người nam đi tu Chùa Thiên Trúc tọa lạc ở số 197/11 đường Phương Thành, chùa đang trong giai đoạn hoàn thiện về xây dựng các công trình chính Xung quanh sự tồn tại và phát triển của ngôi chùa, xuất hiện những câu

Trang 40

chuyện tưởng như huyền hoặc mà có thật, khiến dư luận một thời gian bàn tán Sự tin vào những câu chuyện này của các tăng ni trong chùa đã thể hiện những nét tin vào tín ngưỡng thờ thần một cách khá độc đáo

Những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, thời tiết không thuận mùa, nắng nóng hạn hán liên tục kéo dài, việc lao động sản xuất gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống nhiều người dân Lúc này có rất nhiều người ngủ ban đêm cùng nằm mộng nghe thấy có người mách bảo trong mấy ngày

liên tiếp kêu gọi “Hãy ra bãi biển Mũi Nai thỉnh Phật về ngôi Thiên Trúc tự”

Những người được báo mộng đến chùa gặp nhau ngồi bàn bạc, họ nhận thấy tuy thời gian khác nhau nhưng nội dung nằm mộng đều như nhau Sau thời gian bán tính bán nghi lại nằm mộng thấy nhiều đêm sau nữa, họ quyết định cùng nhau ra bãi biển Mũi Nai thắp hương vái lạy và quả thật họ tìm được một pho tượng phật trên bãi biển Họ đem về xem xét thấy đây là tượng phật bằng gỗ, được chạm khắc theo mẫu tự Khmer, bị nhiều vết trầy xước Sau đó bức tượng đã được phục dựng lại, an trí ở bậc trung, trước pho tượng Phật Lớn trong ngôi chính điện như ngày nay ta thấy [11] Kể từ khi thỉnh được pho tượng Phật về chùa Thiên Trúc thì nhân dân nơi đây được mưa thuận gió hòa, mùa màn bội thu Trụ trì Thích Pháp Hảo bày tỏ: “…đáp ứng nhu cầu chung trong cộng đồng dân cư thời xa xưa mang tính phổ quát, hài hòa, phát triển tâm linh theo dấu chân Đức Phật, được bao đời trụ trì kế thừa sự nghiệp hoằng dương Phật pháp, ích đời - đẹp đạo mà các bậc Tiền hiền - chư vị trụ trì

- chư Tôn Đức Tăng từ thời khai sơn lập tự truyền thừa cho đến ngày nay”.[11]

- Câu chuyện Mãng Xà không ăn thịt người mà còn “tặng quà” cho chùa: Cũng tại ngôi chùa Thiên Trúc Vào khoảng 13 giờ trưa nắng trong dịp

lễ Cầu An tháng giêng năm 1962, trong lúc trụ trì chùa là đại đức Pháp Kiên đang thiền định trong tịnh thất riêng được dựng lên bằng chất liệu gỗ thiếc

Ngày đăng: 27/05/2020, 16:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w