Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, nhận thức về Công ty cổ phần không chỉ bó hẹp trong phạm vi từ lúc công ty chính thức hoạt động đến khi chấm dứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
HIÖU LùC CñA C¸C GIAO DÞCH TIÒN C¤NG TY
Cæ PHÇN THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
HIÖU LùC CñA C¸C GIAO DÞCH TIÒN C¤NG TY
Cæ PHÇN THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ CHÂU
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Quỳnh Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC CỦA CÁC GIAO DỊCH TIỀN CÔNG TY CỔ PHẦN 9
1.1 Một số vấn đề pháp lý về công ty cổ phần 9
1.1.1 Sự hình thành của công ty cổ phần 9
1.1.2 Đặc tính cơ bản của Công ty cổ phần 13
1.1.3 Phân loại công ty cổ phần 16
1.1.4 Bản chất pháp lý của Công ty cổ phần 20
1.2 Khái quát về hiệu lực của giao dịch tiền công ty cổ phần 23
1.2.1 Bản chất của Giao dịch tiền công ty trong Công ty cổ phần 23
1.2.2 Phân loại Hợp đồng tiền công ty 28
1.2.3 Đặc điểm, vai trò của giao dịch tiền công ty cổ phần 33
1.2.4 Nội dung cơ bản của Hợp đồng tiền công ty cổ phần 38
1.3 Phạm vi tác động của Hợp đồng tiền công ty cổ phần và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của các Hợp đồng tiền công ty cổ phần 48
1.3.1 Phạm vi tác động của Hợp đồng tiền công ty cổ phần 48
1.3.2 Những yếu tổ ảnh hưởng đến hiệu lực của các hợp đồng tiền công ty cổ phần 49
Kết luận Chương 1 52
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HIỆU LỰC CỦA
CÁC GIAO DỊCH TIỀN CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY 53
2.1 Các quy định pháp luật về hiệu lực của Hợp đồng tiền công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay 53
2.1.1 Điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng tiền công ty cổ phần 56
2.1.2 Các trường hợp hợp đồng tiền công ty cổ phần vô hiệu 62
2.1.3 Hậu quả pháp lý của giao dịch tiền công ty cổ phần vô hiệu 67
2.2 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan đến Hợp đồng tiền công ty vô hiệu 72
2.2.1 Các loại tranh chấp thương gặp liên quan đến hợp đồng tiền công ty 72
2.2.2 Phương thức Giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tiền công ty 78
2.3 Đánh giá thực trạng pháp luật về hiệu lực của giao dịch tiền công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam 87
2.3.1 Đánh giá quy định pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay 87
2.3.2 Đánh giá việc áp dụng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay 90
2.3.3 Nguyên nhân của những bất cập trong quy định và áp dụng của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tiền công ty cổ phần 92
Kết luận Chương 2 93
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HIỆU LỰC CỦA CÁC GIAO DỊCH TIỀN CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 94
3.1 Mục tiêu yêu cầu hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của giao dịch tiền công ty cổ phần tại VN hiện nay 94
Trang 63.2 Các kiến nghị cụ thể 96
3.2.1 Bổ sung các quy định điều chỉnh về Hợp đồng tiền công ty và pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan đến Hợp đồng tiền công ty 96
3.2.2 Thảm khảo kinh nghiệm nước ngoài để hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của giao dịch tiền công ty 100
Kết luận Chương 3 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CTCP Công ty cổ phần DNNN Doanh nghiệp Nhà nước BLDS Bộ luật dân sự
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ thực tế khách quan do đòi hỏi của sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường, việc hình thành các công ty cổ phần (CTCP) và vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là tất yếu đối với quá trình phát triển mạnh của nền kinh tế nước ta hiện nay Hình thức CTCP đã xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, mà trước tiên là ở nước Anh sau đó là nước Pháp Trải qua quá trình phát triển của nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn mà cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra thì CTCP phát triển rất mạnh mẽ Đến những năm đầu thế
kỷ XX thì CTCP đã trở thành hình thức kinh doanh rất phổ biến ở các nước
có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh
Ngày nay, Công ty cổ phần có mặt ở hầu hết các hoạt động kinh tế, đời sống và xã hội Công ty cổ phần là một trong những phát minh thể chế quan trọng nhất của loài người Được phát triển sau hàng trăm năm với vô số định dạng và biến thể khác nhau, công ty cổ phần trở thành một trong những thể chế tổ chức phổ biến nhất trên thế giới và uy quyền cũng như ảnh hưởng của
nó nhiều khi còn lớn hơn cả các quốc gia Các hình thức công ty khác nhau ra đời để đáp ứng nhu cầu liên kết của các nhà đầu tư mong muốn tìm kiếm lợi nhuận thông qua hoạt động tổ chức kinh doanh
Thuật ngữ “Công ty cổ phần” đã tồn tại nhiều năm trên thế giới, được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện
pháp lý, nhằm tiến hành một mục tiêu chung nào đó Tuy nhiên, thuật ngữ này
mới xuất hiện ở Việt Nam kể từ khi chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường Định nghĩa về công ty cổ phần mới đầu còn rất sơ lược Mãi đến luật doanh nghiệp năm 1999 và nay là luật doanh nghiệp năm 2014, thuật ngữ đó mới
Trang 92
được ghi nhận một cách đầy đủ, tuy vậy, định nghĩa trong luật thiên về liệt kê các đặc điểm của loại hình công ty này Từ cách định nghĩa thì Công ty cổ phần là một trong những chủ thể quan trọng của luật kinh tế và cũng là chủ thể được quan tâm hàng đầu trong đời sống kinh tế - xã hội Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, nhận thức về Công ty cổ phần không chỉ bó hẹp trong phạm vi từ lúc công ty chính thức hoạt động đến khi chấm dứt số phận pháp lý, mà cũng cần một cái nhìn toàn diện và thấu suốt về thời kỳ tiền công ty với các giao dịch và hợp đồng thời
kỳ tiền công ty cũng như hậu quả pháp lý của nó Các hoạt động kinh doanh thực tế nêu lên rằng, có những giao dịch và/hoặc hợp đồng được xây dựng và
ký kết trước cả thời điểm Công ty được thành lập do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như: Yêu cầu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; Thủ tục đăng ký kinh doanh kéo dài; Giao dịch cần được thực hiện ngay và trước thời điểm công ty hoàn thiện các thủ tục hành chính thành lập công ty… vv
Cơ sở pháp lý của các giao dịch giai đoạn tiền công ty cổ phần cũng như trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia vào giao dịch đã được quy định khá cụ thể trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, các công trình nghiên cứu có tính chất độc lập, chuyên sâu hay tổng quát về vấn đề này cũng tồn tại không ít Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam những tranh chấp trong giao dịch tiền công ty xảy ra tương đối phổ biến, nhưng dường như vẫn chưa
có được sự quan tâm cần thiết từ phía nhà làm luật và cả chính các chủ thể khi hoạt động kinh doanh Điều luật thiếu vắng, sơ sài đã khiến cho việc các chủ thế không có căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như việc giải quyết các tranh chấp tại giai đoạn này trở nên khó khăn, thiếu căn cứ
Những năm gần đây, số lượng công ty cổ phần trên thực tế phát triển nhanh chóng, đặc biệt là các doanh nghiệp “Startup”, kéo theo đó là rất nhiều tranh chấp cần giải quyết ngay từ khâu trước thành lập, trong quá trình thành
Trang 103
lập và hậu thành lập Thế nhưng, với những nhận thức chưa đầy đủ, quy phạm pháp luật sơ sài, việc xét xử tranh chấp đối với các vấn đề tiền công ty và hậu thành lập như hợp đồng thành lập công ty, hợp đồng giữa sáng lập viên với bên thứ ba… dường như chưa hiệu quả
Xuất phát từ yêu cầu thực tế phát sinh, tầm quan trọng của việc làm rõ vai trò, trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia vào việc kinh doanh thông qua thành lập công ty, các giao dịch được thực hiện ở thời kỳ tiền công ty và hậu quả pháp lý của nó, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn cao học
của mình là: “Hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam” Mục đích chính của đề tài là lựa chọn và vận dụng cơ sở lý
luận, kinh nghiệm quốc tế để phân tích thực trạng, đánh giá kết quả thực hiện
và những mặt còn hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong việc quy định trách nhiệm, vai trò của chủ thể khi tham gia hoạt động kinh doanh qua hình thức thành lập công ty Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho lĩnh vực này, qua đó góp phần nâng cao vai trò của pháp luật đối với việc điều chỉnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể hoạt động kinh doanh, góp phần định hướng hành vi thương mại tạo lập tính ổn định và thúc đẩy các giao dịch kinh tế phát triển
Đây không phải là một vấn đề hoàn toàn mới theo pháp luật Việt Nam nhưng lại chưa được quan tâm và có sự điều chỉnh cần thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và hệ thống hóa
lý luận về pháp luật và thực trạng pháp luật liên quan đến hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần và đưa ra phương hướng hoàn thiện chế định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia các giao dịch tiền công
ty ở Việt Nam hiện nay
Trang 114
3 Tính mới và đóng góp của đề tài
Đề tài hy vọng sẽ là công trình nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống về cơ sở lý luận phạm vi Hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam Luận văn kế thừa những công trình nghiên cứu
đã có về các vấn đề liên quan nhưng vẫn phần nào thể hiện được tính mới của
đề tài Đặc biệt trong bối cảnh chưa có một công trình nào trùng lặp hoàn toàn
về mặt ý tưởng và cách thể hiện, đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ và toàn diện hơn, làm cơ sở lý luận cho việc áp dụng trong thực tiễn thành lập và giải quyết tranh chấp của các chủ thể đối với các giao dịch được thực hiện ở giai đoạn tiền công ty
Luận văn không chỉ phân tích, đánh giá và chỉ ra những điểm còn hạn chế của quy định pháp luật Việt Nam trong việc quy định cụ thể, chi tiết và phù hợp trách nhiệm của từng chủ thể tham giao vào hoạt động kinh doanh thông qua hình tức thành lập công ty, mà còn đưa ra được những hướng khắc phục các bất cập đó thông qua kinh nghiệm thực tế áp dụng các mô hình của một số nước phát triển trên thế giới và yêu cầu thực tế phát sinh từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về Hiệu lực
của các giao dịch tiền công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam và một số nước phát triển trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu: Pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công
ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam
5 Tổng quan tài liệu
Hiệu lực của các giao dịch tiền công ty không phải là một vấn đề quá mới Trước đây đã có một số công trình khoa học, bài báo nghiên cứu xung quanh về vấn đề này
Trang 125
Việc nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia giao dịch tiền công ty nói chung đã được đặt ta từ lâu nhưng chưa thực sự được quan tâm đúng mức Hiện nay có khá nhiều sách và công trình nghiên cứu của các tác giả, tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu đó chỉ đề cập chung
về quá trình thành lập công ty cổ phần trong đó có nói đến các hợp đồng tiền công ty một cách ngắn gọn Một số công trình có thể kể đến ở đây là:
- Luận án tiến sĩ Lê Thị Châu, “Xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền
sở hữu tài sản của công ty đối vốn ở nước ta”, năm 2001, đề cập đến các giao
dịch thời kỳ tiền công ty ở khía cạnh làm rõ các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên kết, hùn vốn theo hình thức công ty đối vốn, giúp thiết lập một hình thức pháp lý thích hợp về các mối quan hệ trong nội bộ công ty, mối quan hệ giữa công ty với bên thứ ba
- Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, “Luật doanh nghiệp, vốn và quản lý
trong công ty cổ phần”, NXB Trẻ Ở cuốn sách này, tác giả đề cập đến một số
quy định của Luật Doanh nghiệp để áp dụng chúng vào công ty cổ phần, thể hiện qua bản điều lệ công ty và ở đây chỉ tập trung vào hai điểm là vốn và quản lý công ty Trong đó, vấn đề về “từ hùn hạp từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang đến công ty cổ phần” được nhắc đến, tuy nhiên về bản chất và sự cần thiết của việc xác định hiệu lực của các giao dịch về vốn tại giai đoạn công ty chưa thành lập lại chưa được quan tâm
- PGS.TS Ngô Huy Cương, “Công ty, từ bản chất pháp lý tới các hợp
đồng”, tạp chí kinh tế - luật số 1/2003
- PGS.TS Ngô Huy Cương, “Một số nội dung của hợp đồng thành lập
công ty”, tạp chí kinh tế - luật số 4/2003 Trong đó đã nêu lên một cách khoa
học và bài bản về các nội dung của hợp đồng thành lập công ty trên cơ sở lý luận của pháp luật Anh, Singapo, Malaysia và pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, bài viết chưa đề cập đến các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt
Trang 13ty, một bộ phận quan trọng của các hợp đồng tiền công ty
Ngoài ra, cơ sở lý luận về trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia vào các giao dịch tiền công ty cũng được quy định tại một số quốc gia,
cụ thể là:
Bộ luật Dân sự của Pháp quy định
Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hoặc khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận hoặc kiếm lời có thể thu được qua hoạt động đó
Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do luật định bằng hành vi tự nguyện của một người
Các thành viên công ty cam kết cùng chịu lỗ (Điều 1832)
Bộ luật Dân sự của Đức quy định
Việc thành lập một hội có tư cách pháp nhân, trong chừng mực mà không dựa vào các qui định dưới đây, được điều chỉnh bởi khế ước lập hội (Điều 25)
Bộ luật Dân sự của Ý quy định:
Thông qua hợp đồng công ty, hai hay nhiều người góp tài sản hay dịch vụ nhằm thực hiện chung một hoạt động kinh tế với mục đích chia sẻ lợi nhuận kiếm được từ hoạt động đó (Điều 2247)
Bộ luật Thương mại cộng hòa Czech
Một công ty được thành lập trên cơ sở một hợp đồng lập hội
Trang 147
(thỏa thuận thành lập hoặc thoả thuận hợp danh) được ký kết bởi mọi người sáng lập, trừ khi các qui định của Bộ luật này đòi hỏi khác (Điều 57, khoản 1)
Còn Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan định nghĩa
Hợp đồng thành lập một hợp danh hay một công ty là một hợp đồng, theo đó hai hay nhiều người thỏa thuận cùng nhau liên kết trong một cam kết chung với mục tiêu chia sẻ các lợi ích thu được
từ đó (điều 1012)
Trách nhiệm pháp lý và hậu quả pháp lý mà các chủ thể tham gia giao dịch tiền công ty ở Việt Nam phải gánh chịu nói chung chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu Hơn thế nữa, lĩnh vực này khá phức tạp, tài liệu tham khảo trong nước không nhiều, đặc biệt là sách nghiên cứu về vấn đề này
hầu như rất ít
6 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần và kinh nghiệm ở một số nước phát triển trên thế giới như khái niệm, đặc điểm, nội dung, bản chất…
Phân tích, đánh giá pháp luật và thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật điều chỉnh hiệu lực pháp luật của các giao dịch tiền công ty cổ phần
ở Việt Nam theo pháp luật hiện hành trên thực tế, từ đó thấy được những điểm bất cập và thiếu sót trong quy định pháp luật
Từ việc nghiên cứu lý luận và phân tích đánh giá thực tiễn trên đưa ra được phương hướng hoàn thiện những quy định pháp luật Việt Nam, hạn chế,
khắc phục những tồn tại mà pháp luật hiện hành chưa giải quyết được
7 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chung của
Trang 158
khoa học xã hội và các phương pháp đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài Các phương pháp chủ yếu bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân loại, v.v
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng chủ yếu để làm sáng tỏ những quy định của pháp luật liên quan đến hiệu lực của các giao dịch tiền công ty
cổ phần theo pháp luật Việt Nam
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên cứu một cách hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên hợp
lý, dễ hiểu
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh quy định của pháp luật hiện hành về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam với thực tiễn thực hiện
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính trong thu thập và xử
lý thông tin, dữ liệu để phân tích, so sánh, tổng hợp Cách thức tiếp cận nguồn
dữ liệu là thông qua quan sát, thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau) Nguồn dữ liệu thu thập từ bên ngoài bao gồm: các bài báo, bài nghiên cứu, báo cáo thường niên,… được đăng tải trên các báo, tạp chí, thông tin từ các website,
báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam và các tổ chức có uy tín v.v
8 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
9 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về hiệu lực của các giao dịch tiền
công ty cổ phần
Chương 2 Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công
ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 Kiến nghị xây dựng và hoạn thiện pháp luật về hiệu lực của
các giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam
Trang 169
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC CỦA CÁC
GIAO DỊCH TIỀN CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Một số vấn đề pháp lý về công ty cổ phần
1.1.1 Sự hình thành của công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một loại hình chủ thể kinh doanh, ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn
và thị trường tiền tệ Công ty cổ phần là một loại hình công ty phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người
để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển [1, tr.18]
Công ty cổ phần là một ý tưởng cách mạng diễn biến theo một quá trình rất dài, thậm chí ngay từ 3000 năm trước Công nguyên, từ người Assyria, Phoenicia rồi người Hy Lạp Họ đã lập ra những tổ chức để kinh doanh thương mại ở vùng Địa Trung Hải [1, tr.18-19]
Đến thời của người La Mã, tầng lớp quý tộc lập ra những societas (hội
xã) lúc đầu là để phụ các hiệp sĩ thu thuế nông nghiệp, sau đó là để đi chinh phục các lãnh thổ và đúc khí giới, áo giáp cung cấp cho các đoàn quân viễn chinh Ở tầng lớp thứ dân, những người thợ thủ công và thương gia mở các
collegia hay corpora (công ty), tự bầu ra người quản lý và được cấp phép
hoạt động Theo William Blackstone, luật gia vĩ đại vào thế kỷ XVIII của
Anh, thì vinh dự phát minh ra corpora (công ty – công ty cổ phần) hoàn toàn
thuộc về người La Mã Họ đã đưa ra những ý niệm nền tảng về luật lệ công
ty, nhất là ý tưởng một nhóm người họp lại với nhau tạo nên một thực thể tách
rời khỏi họ Họ nối kết công ty với gia đình (familia) tạo ra đơn vị căn bản
Trang 17là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty tới phần vốn góp của mình Loại công ty này được xem là công ty đối vốn, theo đó vốn
có giá trị trước hết, không kể đến nhân thân người góp vốn Và vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần Công ty được phát hành chứng khoán động sản Hình thức công ty này không nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các thành viên mà chỉ nhấn mạnh tới vốn, tính chất trách nhiệm hữu hạn,
và khả năng huy động vốn Do đó, có thể nói, công ty cổ phần ra đời với tiền
đề kinh tế là tập trung vốn và phân tán rủi ro của các nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường; cùng với tiền đề pháp lý là quyền tự do khế ước và quyền
tự do lập hội được pháp luật thừa nhận [1, tr.18-19]
Ở các nước khác nhau, Công ty cổ phần có thể có những tên gọi khác nhau Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha) [35, tr.5]
Quá trình công nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ
18, 19 cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà tư bản đã làm xuất
Trang 1811
hiện loại hình công ty cổ phần Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực kinh tế của mình Công ty cổ phần là hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, nhu
nhận định của Các Mác “Qua các công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện
được việc đó trong nháy mắt” [7, tr.199]
Về mặt lịch sử hình thành, Công ty cổ phần ra đời sau các loại công
ty đối nhân nhưng là hình thức công ty đối vốn điển hình trên thế giới Công ty cổ phần được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý Chẳng hạn như ở Anh, Luật công ty được ban hành lần đầu tiên năm 1844 nhưng trước đó hơn 100 năm
đã có sự xuất hiện của các công ty cổ phần Và đến năm 1856, ở Anh mới
có Luật về công ty cổ phần [47]
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, Công ty cổ phần bắt đầu phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm… các nước Tư bản phát triển và
về sau phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới Đến những năm 20, 30 của thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sơ hạ tầng kinh tế – xã hội Sự ra đời của công ty cổ phần đã giúp cho các nhà đầu tư giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo [7, tr.199]
Công ty cổ phần là thuật ngữ pháp lý đã tồn tại nhiều năm trên thế giới, được hiểu như là một sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân
Trang 1912
bằng một sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành một mục tiêu chung nào đó Tuy nhiên, thuật ngữ này mới xuất hiện ở Việt Nam kể từ khi chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường Ở Việt Nam, Luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định là trong “Bộ Dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (Chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn Trong đó hội vốn được chia thành hai loại là hội vô danh (công ty cổ phần) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn giản) Nhìn chung, quy định của Pháp luật thời kỳ này về công ty cổ phần còn rất sơ khai [8, tr.17]
Từ năm 1975 và trên phạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm
80 của thế kỷ 20, với chính sách kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức công ty nói chung và công ty cổ phần nói riêng hầu như không được pháp luật thừa nhận Khái niệm “công ty” trong giai đoạn này không được hiểu đúng bản chất pháp lý mà chỉ được hiểu theo hình thức kinh doanh Các hình thức
tổ chức sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn này chủ yếu bao gồm các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã (đối với thành phần kinh tế tập thể) và công tư hợp danh (hình thành từ quá trình cải tạo công thương nghiệp XHCN) Trong giai đoạn này, mặc dù Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước CHXHCN Việt Nam (ban hành kèm theo Nghị định 115/CP của Chính phủ ngày 18/4/1977) có đề cập đến hình thức công ty cổ phần khi quy định
“xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp” có thể thành lập theo hình thức “công ty vô
danh” (một tên gọi khác của công ty cổ phần) nhưng lại không có văn bản
pháp luật nào quy định về tổ chức và hoạt động của hình thức công ty cổ phần này Và trên thực tế, cũng không có xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp nào được thành lập theo hình thức “công ty vô danh” theo quy định của Điều lệ về đầu
tư của nước ngoài năm 1977 kể trên [47]
Cho đến khi Luật công ty được ban hành ngày 21/12/1990, hình thức công ty cổ phần mới chính thức được quy định cụ thể Sau khi Luật Công ty
Trang 2013
ra đời, nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhưng được tổ chức dưới hình thức công ty [47] Hoạt động của các doanh nghiệp này một mặt phải tuân thủ các quy định của Luật Công ty, mặt khác,
do đặc thù riêng của các ngành nghề kinh doanh, hoạt động của các doanh nghiệp này còn phải tuân thủ theo quy định của các luật chuyên ngành
Sau gần 10 năm thực hiện, Luật Công ty đã phát huy được tích cực vai trò của mình, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, thực tiễn các quan hệ kinh doanh ở nước ta trong thời kỳ này liên tục biến đổi, Luật công ty đã bộc lộ rất nhiều bất cập, nhất là trong vấn đề thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh Nhiều quy định của luật này tỏ ra lạc hậu với cách thức tổ chức một công ty theo cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế Việc sửa đổi, thay thế luật này được đặt ra như là một sự tất yếu khách quan
Ngày 12/6/1999, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp, sau hơn nhiều năm đi vào hoạt động, Luật Doanh nghiệp 1999 đã được thay đổi bằng Luật Doanh nghiệp 2005 và đến nay là Luật Doanh nghiệp 2014 Trong các văn bản này, công ty cổ phần vẫn tiếp tục được ghi nhận và được quy định theo hướng tiếp cận dần đến các chuẩn mực quốc tế về quản trị công ty cổ phần Xuất phát từ thực tế khách quan do đòi hỏi của sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường Do đó, việc hình thành các công ty cổ phần và vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là tất yếu đối với quá trình phát triển mạnh của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Với những ưu thế vượt trội của mình trong việc huy động được nguồn vốn rộng rãi trong công chúng không ít các nhà đầu tư lớn đã lựa chọn mô hình công ty cổ phần để phát triển
1.1.2 Đặc tính cơ bản của Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp cơ bản và phổ biến nhất đối với doanh nghiệp có quy mô lớn Công ty cổ phần phải có số lượng cổ đông
Trang 2114
tối thiểu theo quy định trong suốt quá trình tồn tại và không giới hạn về số lượng tối đa các cổ đông Ở một số quốc gia, công ty cổ phần có thể không có
cổ đông sáng lập nếu được chuyển đổi từ các loại hình doanh nghiệp khác Do
đó, trước khi công ty được thành lập, nhất thiết phải có thỏa thuận giữa các sáng lập viên của công ty về cách thức thành lập, về góp vốn, tên gọi, trụ sở đăng ký, mục tiêu hoạt động của công ty; chế độ trách nhiệm của các thành viên trong công ty… Hay nói cách khác, một hợp đồng liên kết các sáng lập viên cần thiết phải được tạo lập và làm tiền đề cho công ty ra đời Hợp đồng
đó chính là hợp đồng thành lập công ty cổ phần Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty cổ phần trong phạm vi
số cổ phần mà họ sở hữu, số cổ phần đó có thể được họ đăng ký mua hoặc đã mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh
Công ty cổ phần là công ty đối vốn là dạng công ty không quan tâm đến
các yếu tố thuộc về nhân thân của người góp vốn, mà chỉ quan tâm đến số vốn góp vào công ty, tư cách góp vốn và tài sản góp vốn Việc thành lập và tổ chức công ty hoàn toàn dựa trên sự góp vốn của các sáng lập viên của công
ty Các thành viên này không nhất thiết phải quen biết nhau, họ tìm đến để thỏa mãn nguyện vọng và mong muốn đầu tư thông qua các kênh thông tin khác nhau Trách nhiệm của họ chỉ liên quan đến công ty thông qua những hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng thành lập công ty Khi việc mua “cổ phần” này diễn ra trong giai đoạn chuẩn bị thành lập công ty thì nó được xem xét là một loại hợp đồng tiền công ty cổ phần
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc cấp phép hoạt động và loại hình doanh nghiệp này gắn với chế độ trách nhiệm hữu hạn về tài sản trong kinh doanh,
vì thế các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn mà họ đã góp hoặc cam
Trang 22ty đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ
Công ty cổ phần có cơ cấu quản lý phức tạp và hoàn chỉnh so với các loại hình doanh nghiệp khác, tức là có quyền lựa chọn cơ cấu tổ chức quản lý
và hoạt động theo hai mô hình cơ bản Mô hình thứ nhất bao gồm: (i) Đại hội đồng cổ đông; (ii) Hội đồng quản trị và (iii) Ban kiểm soát Trong mô hình này, Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra và ngang cấp với Hội đồng quản trị Trong trường hợp công ty cổ phần có số lượng cổ đông ít và không có cổ đông là tổ chức sở hữu quá nhiều cổ phần thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát bởi lẽ các cổ đông có thể tự mình thực hiện kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của công ty để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân Mô hình thứ hai bao gồm: (i) Đại hội đồng cổ đông, (ii) Hội đồng quản trị và (iii) Ban kiểm toán nội bộ Trong mô hình thứ hai này, Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị, ngoài ra, phải có thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập trong mô hình này Ở mô hình thứ hai, không có sự xuất hiện của Ban kiểm soát, Ban kiểm toán nội bộ sẽ tổng hợp số liệu liên quan đến tình hình tài chính, kế toán và chuyển cho các thành viên độc lập Với những tài liệu này các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý, điều hành công ty
Cơ quan quản lý cao nhất của công ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông bao gồm những cổ đông có quyền biểu quyết
và là cơ quan quyết định những vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động của công ty cổ phần
Trang 2316
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ phần có thể được chuyển nhượng tự do trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác Cổ đông công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình
và không phụ thuộc vào bất kỳ hạn chế chuyển nhượng cổ phần nào trừ hai trường hợp áp dụng với cổ đông sáng lập nắm giữ cổ phần tại thời điểm đăng
ký thành lập Doanh nghiệp và cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết
Công ty cổ phần được phép phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác Đây là một trong những đặc tính cơ bản để phân biệt cổ phần với các loại hình doanh nghiệp khác, chỉ có duy nhất công ty cổ phần được phép phát hành cổ phần để huy động vốn Các điều kiện và yêu cầu về phát hành chứng khoán tuân thủ theo quy định của luật liên quan
1.1.3 Phân loại công ty cổ phần
Căn cứ vào mục đích hoặc tính chất khác nhau mà công ty cổ phần có thể phân ra thành các loại hình khác nhau:
Nếu căn cứ vào quy mô hoạt động, công ty cổ phần có thể chia ra
thành công ty cổ phần đại chúng, công ty cổ phần đóng và công ty cổ phần
một thành viên Theo đó, công ty cổ phần đại chúng có các đặc trưng là cổ
phần của công ty phát hành cho các nhà đầu tư công cộng, công ty được điều hành bởi những nhà quản lý chuyên nghiệp nhưng họ chỉ sở hữu một phần nhỏ công ty, những cổ đông của công ty đại chúng thông thường không quan tâm
đến hoạt động quản lý công ty Ngược lại với công ty cổ phần đại chúng, công
ty cổ phần đóng là những công ty có số lượng cổ đông nhỏ, cổ phần của công
ty không phát hành rộng rãi cho công chúng và chỉ những cổ đông nắm quyền kiểm soát công ty mới có quyền quản lý hoạt động kinh doanh [41, tr.861]
Còn công ty cổ phần một thành viên là dạng công ty cổ phần đặc biệt nhất,
không phổ biến trong thực tế Tương tự như công ty trách nhiệm hữu hạn một
Trang 24ty đối vốn, nên nhiều quốc gia không thừa nhận hoặc không phổ biến hình thức công ty cổ phần một thành viên Vì vậy, công ty cổ phần một thành viên thường rất hiếm gặp
Dưới góc độ lý luận, giới học thuật đã có nhiều định nghĩa về công ty đại chúng Bryan A Garner, tác giả của cuốn đại từ điển luật nổi tiếng Black Law Dictionary định nghĩa công ty đại chúng là công ty cổ phần có cổ phiếu được chào bán ra công chúng và thực hiện giao dịch công khai trên thị trường chứng khoán Theo từ điển The Oxford Modern English, thuật ngữ công ty đại chúng được giải thích cũng tương đối ngắn gọn dựa vào động thái chào bán cổ phiếu của công ty, cụ thể, công ty đại chúng là công ty bán cổ phiếu của mình cho tất cả những người mua trên thị trường chứng khoán [51]
Cả 2 cách giải thích về thuật ngữ công ty đại chúng nêu trên đều cho thấy tiêu chí để xác định công ty đại chúng là dựa vào phạm vi chào bán cổ phiếu của công ty cổ phần cho các nhà đầu tư Tính đại chúng được thể hiện thông qua việc công ty cổ phần đã chấp nhận chào đón sự tham gia của công chúng vào hàng ngũ chủ sở hữu công ty thông qua hành vi chào bán cổ phiếu
Trang 2518
vào tiêu chí về cấu trúc cổ đông Theo đó, công ty đại chúng có tên gọi C
Corporation nhằm phân biệt với S Corporation - hình thức công ty có tính chất
nội bộ Cơ cấu cổ đông của S Corporation bị ràng buộc bởi những giới hạn như:
(1) công ty chỉ được phát hành loại cổ phần duy nhất; (2) số lượng cổ đông không vượt quá 100; (3) cổ đông phải là cá nhân và là công dân Mỹ [51]
- Theo luật công ty tại Anh (the Companies Act 2006), công ty đại chúng được gọi là public limited company (viết tắt là Plc) để phân biệt với công ty tư nhân hay gọi là công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phần (private
limited company) [49] Các nhà làm luật nước này đặt ra rất nhiều quy định
điều chỉnh việc xác lập tư cách công ty đại chúng Theo đó, công ty muốn được xác lập tư cách công ty đại chúng phải đáp ứng nhiều điều kiện luật định như: (1) vốn cổ phần danh nghĩa không được thấp hơn 50.000 Bảng Anh hoặc giá trị tương đương; (2) giá trị tài sản ròng được ghi nhận trong sổ sách kế toán được kiểm toán, vào thời điểm trong vòng 6 tháng trở lại tính từ ngày đăng ký, không được thấp hơn giá trị vốn cổ phần danh nghĩa và các khoản lợi nhuận chưa phân phối; (3) cùng một số điều kiện khác về thủ tục pháp lý
- Tại Úc, Điều 112 Đạo luật Công ty của quốc gia này (the Corporations
Act 2001) quy định theo hướng cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình
thức công ty sở hữu tư nhân/nội bộ (proprietary company) hoặc công ty đại chúng (public company) [51]
Các công ty nội bộ thường có quy mô nhỏ và số lượng chủ sở hữu tối
đa không quá 50 cổ đông không phải là người lao động trong công ty
(non-employee shareholders), trong khi đó, các công ty đại chúng thì không bị hạn
chế số lượng cổ đông Đồng thời, chỉ công ty đại chúng mới có quyền huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu ra công chúng [51]
Như vậy, từ góc độ lý luận đến quy định trong pháp luật thực định của các quốc gia, tiêu chí xác định công ty đại chúng có thể không hoàn toàn
Trang 2619
giống nhau nhưng đều xoay quanh một vài tiêu chí cốt lõi Cụ thể, pháp luật các nước đều đề cập đến hai khía cạnh: (i) Khả năng công chúng có thể trở thành chủ sở hữu của công ty thông qua hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng; (ii) Mức độ tự do chuyển nhượng cổ phiếu công ty của các nhà đầu tư
là chủ sở hữu hiện hữu với những nhà đầu tư tiềm năng thông qua việc công
ty có niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán có tổ chức hay không Bên cạnh đó, quy mô vốn và số lượng cổ đông cũng được quan tâm, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Điều này đảm bảo rằng công ty đại chúng phải là những công ty đủ tiềm lực để tuân thủ các yêu cầu khắt khe hơn về quản trị, tuân thủ và trách nhiệm giải trình so với các công ty tư nhân/nội bộ [51]
Nếu căn cứ vào mục tiêu hoạt động thì công ty cổ phần được chia
thành công ty hoạt động vì lợi nhuận, công ty hoạt động phi lợi nhuận Trong
đó, công ty hoạt động vì lợi nhuận là loại công ty phổ biến hơn, hoạt động của công ty nhằm tạo ra những lợi ích về kinh tế cho các cổ đông trong công ty Công ty hoạt động phi lợi nhuận hay doanh nghiệp xã hội thì lại tập trung vào việc mang lại những lợi ích vật chất hoặc giá trị tinh thần cho công chúng (công ty hoạt động vì lợi ích chung) hoặc cho chính những thành viên (công
ty hoạt động vì lợi ích lẫn nhau) hoặc cho một tổ chức tôn giáo (công ty tôn giáo) [41, tr.886] Hiện nay, còn có sự xuất hiện của loại hình doanh nghiệp
xã hội, loại hình doanh nghiệp có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề
xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; Sử dụng phần lớn tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký và phải duy trì mục tiêu và điều kiện này trong suốt thời gian hoạt động
Nếu căn cứ vào cách thức hình thành, công ty cổ phần được chia
thành công ty được thành lập mới và công ty thành lập trên cơ sở tổ chức lại
công ty hoặc những công ty khác Hình thức tổ chức lại công ty rất đa dạng,
Trang 27nhận qua nhiều học thuyết khác nhau như: Học thuyết hư cấu hay thực thể
nhân tạo (fiction or artificial entity theory) được bắt nguồn từ Luật La Mã và
luật giáo hội với quan niệm về persona ficta xem công ty là một pháp nhân hay một thực thể nhân tạo được thiết lập bởi nhà chức trách.; Học thuyết thừa
nhận (fiat theory) hay học thuyết nhượng quyền (concession theory) xem sự
tồn tại của công ty bởi sự nhượng bộ của nhà nước [15] Các đặc quyền từ sự nhượng bộ này cho phép các chủ sở hữu và các nhà đầu tư kinh doanh như một công ty Quan niệm này có giá trị rất lớn ở những thời kỳ trước đây khi người ta ấn định các điều kiện hoặc các giới hạn quan trọng đối với việc thành lập công ty.Học thuyết này còn có các tên gọi khác như học thuyết nguồn gốc chính phủ (government paternity theory) hoặc học thuyết quyền công dân
(franchise theory); Học thuyết hiện thực (realistic theory) hay học thuyết về
tính vốn có (inherence theory) xem nhân tính của công ty là sự thừa nhận các
lợi ích nhóm như một hiện tượng thực tế đã tồn tại; Học thuyết doanh nghiệp
(enterprise theory) nhấn mạnh tới doanh nghiệp thương mại cơ bản, không
nhấn mạnh tới thực thể-sự liên kết của những thực thể cấu thành; Học thuyết
biểu tượng (symbol theory) xem công ty là một biểu tượng cho sự liên kết của
những cá nhân tạo thành công ty có nhân tính nhóm; Học thuyết mối liên hệ
hợp đồng (nexus of contracts) do các nhà kinh tế học phát triển để tạo dựng
Trang 2821
các mô hình kinh tế [15] Học thuyết này xem công ty là một giả tưởng pháp
lý bao gồm một mạng lưới các quan hệ hợp đồng giữa những cá nhân như: chủ sở hữu của lao động, nguyên vật liệu và vốn (đầu vào), cũng như khách hàng của công ty (đầu ra) và những mối liên hệ khác Theo học thuyết này, những giám đốc của công ty là những nhân vật chính có chức năng kết hợp các nguồn lực hiện hữu đã được cung cấp để tiến hành các hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận tối đa Những người nắm giữ cổ phần trong công ty không được xem là những chủ sở hữu của công ty mà chỉ là những người cung cấp vốn, cùng với những người nắm giữ cổ phiếu và những chủ nợ khác chờ đợi thu nhập từ hoạt động đầu tư Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, người nắm
giữ cổ phần cũng có thể tham gia quản lý công ty như những giám đốc; Học
thuyết hợp đồng được sử dụng để giải quyết mối quan hệ pháp lý giữa các
thành viên của công ty với nhau; giữa các thành viên của công ty với bản thân công ty và giữa công ty với nhà nước Các học thuyết khác nhau về bản chất của công ty đã góp phần cho việc giải thích khái niệm hiện đại về công ty, nhưng mỗi học thuyết chỉ chiếm một vị trí nhất định trong việc giải thích này
và không bao trùm được toàn bộ [15]
Còn theo các nước thuộc họ pháp luật La Mã - Đức thì bản chất của công
ty là một hợp đồng được tạo lập một cách khách quan trên cơ sở tự do ý chí, tự
do thỏa thuận giữa các bên giao kết (các sáng lập viên của công ty), do đó những định nghĩa về công ty thường xây dựng dựa trên bản chất pháp lý này [15]
Với quan điểm bản chất pháp lý của công ty cổ phần là một hợp đồng được tạo lập bởi các thành viên sáng lập nên công ty (hợp đồng thành lập công ty, hay hợp đồng công ty), bởi vì về lý thuyết hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, hay nói cách khác, hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó ràng buộc các bên có liên quan bởi các quyền và nghĩa vụ với nhau Trên thực tế, trong một công ty
Trang 2922
cổ phần luôn tồn tại những nghĩa vụ xác định giữa các thành viên và nghĩa vụ của công ty trong mối quan hệ đối với các thành viên của mình Những nghĩa
vụ đó trước hết được tạo nên bởi ý chí chung của các thành viên, và công ty
cổ phần chỉ tồn tại được khi các nghĩa vụ như vậy được xác định Do đó, công
ty được coi là một hợp đồng
Theo nghiên cứu của PGS.TS Ngô Huy Cương, việc chấp nhận học thuyết hợp đồng có hai khuynh hướng, tuy nhiên không tỏ ra rõ rệt Khuynh hướng thứ nhất xác định rõ công ty là một hợp đồng giữa những nhà đầu tư Khuynh hướng thứ hai xem hợp đồng là phương tiện thể hiện sự liên kết giữa hai hoặc nhiều người nhằm mục tiêu lợi nhuận
Theo khuynh hướng thứ nhất, luật thực định của nhiều nước có các
quy định rất rõ ràng
Bộ luật Dân sự của Pháp quy định:
Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hoặc khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận hoặc kiếm lời có thể thu được qua hoạt động đó Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do luật định bằng hành vi tự nguyện của một người Các thành viên công ty cam kết cùng chịu lỗ (Điều 1832)
Bộ luật Dân sự của Đức quy định:
Việc thành lập một hội có tư cách pháp nhân, trong chừng mực mà không dựa vào các qui định dưới đây, được điều chỉnh bởi khế ước lập hội (Điều 25)
Bộ luật Dân sự của Ý quy định:
Thông qua hợp đồng công ty, hai hay nhiều người góp tài sản hay dịch vụ nhằm thực hiện chung một hoạt động kinh tế với mục đích chia sẻ lợi nhuận kiếm được từ hoạt động đó (Điều 2247)
Trang 3023
Bộ luật Thương mại cộng hòa Czech:
Một công ty được thành lập trên cơ sở một hợp đồng lập hội (thỏa thuận thành lập hoặc thoả thuận hợp danh) được ký kết bởi mọi người sáng lập, trừ khi các qui định của Bộ luật này đòi hỏi khác (Điều 57, khoản 1)
Còn Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan định nghĩa:
Hợp đồng thành lập một hợp danh hay một công ty là một hợp đồng, theo đó hai hay nhiều người thỏa thuận cùng nhau liên kết trong một cam kết chung với mục tiêu chia sẻ các lợi ích thu được
từ đó (Điều 1012)
Các Bộ luật Dân sự của các chế độ cũ ở Việt Nam đều có một chương dành riêng cho khế ước lập hội xác định rõ bản chất pháp lý của công ty hay thương hội
là hợp đồng Ví dụ, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật (Bộ luật dân sự Trung Kỳ) năm
1936 đã có những quy định trong chương X về khoản ước lập hội Trong đó có
định nghĩa:“Khoản ước lập hội là khoản ước do hai hay nhiều người đồng ý xuất
tài sản chung nhau để lấy lợi mà chia nhau” (Điều 1425) [15]
Theo khuynh hướng thứ hai, một số học giả quan niệm “công ty được
hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được một mục tiêu chung nào đó” Giải
thích cho thuật ngữ “sự kiện pháp lý” của quan niệm này, có nhiều quan điểm cho rằng, nó bao gồm “điều lệ, hợp đồng hoặc quy chế” Tuy nhiên có thể hiểu bản điều lệ, bản quy chế hoặc bản văn hợp đồng là một hình thức biểu hiện của một quan hệ pháp lý nào đó, mà ở đây được hiểu là một quan hệ đầu
tư vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận và chia sẻ rủi ro giữa những nhà đầu tư có ý chí liên kết với nhau dưới một hình thức nhất định [15]
1.2 Khái quát về hiệu lực của giao dịch tiền công ty cổ phần
1.2.1 Bản chất của Giao dịch tiền công ty trong Công ty cổ phần
Một giao dịch trong lĩnh vực dân sự được hiểu là hợp đồng hoặc hành
Trang 31dân sự, trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình hoặc bên còn lại trong quan hệ Tuy nhiên, bên kia có thể tham gia hoặc không tham gia giao dịch,
điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan hoặc khách quan Do vậy,
đặt trong phạm vi và bối cảnh của các Giao dịch ở giai đoạn tiền công ty thì hành vi pháp lý đơn không xuất hiện ở giai đoạn này, mà bản chất của Giao dịch tiền công ty cổ phần chính là những hợp đồng xuất hiện ở giai đoạn đầu tiên và sơ khai để góp phần hình thành nên công ty cổ phần
Nói về quan điểm về việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự”, có ý kiến cho rằng cần bỏ từ “dân sự” ra khỏi “giao dịch dân sự” vì việc sử dụng thuật ngữ này không có trên thế giới mà chỉ có ở Việt Nam, có thể chuyển đổi thành “giao dịch” hoặc “giao dịch pháp lý” để bao quát được cả những giao dịch thương mại, chứ việc sử dụng như hiện nay sẽ bị giới hạn là chỉ dành cho phạm vi dân sự Theo PGS.TS Ngô Huy Cương: Việc sử dụng thuật ngữ
“giao dịch dân sự” trong Bộ luật Dân sự là không chính xác bởi lẽ người ta thường sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” hay “hành vi dân sự” để phân biệt với “giao dịch thương mại” hay “hành vi thương mại”, trong khi đó Bộ luật Dân sự áp dụng cho cả quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động [26, tr.57]
Hiệu lực pháp luật của giao dịch chính là giá trị pháp lý của giao dịch
đó để thi hành hoặc áp dụng trên thực tế Hợp đồng tiền công ty cổ phần là các hợp đồng được xác lập phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của
Trang 32Công ty cổ phần mới ở đây chỉ áp dụng đối với công ty cổ phần được hình thành và chưa từng tồn tại trong thực tế, chứ không bao hàm trường hợp
công ty cổ phần được hình thành do tổ chức lại công ty mặc dù trường hợp
sau cũng tạo ra pháp nhân mới Bởi vì những hợp đồng tiền công ty cổ phần không cần thiết phải tồn tại trước khi hình thành một công ty cổ phần do tổ chức lại hoặc chuyển đổi loại hình các công ty
Sự tồn tại của các hợp đồng tiền công ty cổ phần là tất yếu, quá trình hình thành nên công ty cổ phần phải thông qua các giao dịch diễn ra một cách khách quan, phù hợp với những nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Như đã phân tích ở trên, bản chất pháp lý của công ty chính là một hợp đồng được tạo lập một cách khách quan trên cơ sở tự do ý chí, tự do thỏa thuận của các bên Hợp đồng tiền công ty cổ phần cũng như vậy, cũng xuất phát trên cơ sở tự do ý chí và tự do thỏa thuận của các bên tham gia, nó chính là cơ sở pháp lý điều tiết những quyền lợi riêng của từng nhà đầu tư hay chính là các cổ đông trong công ty, những quyền lợi chung giữa họ, nhưng quyền lợi của công ty do họ lập ra và các lợi ích liên quan của cộng đồng nhằm hướng tới mục tiêu làm cho công ty
cổ phần có thể tồn tại lâu dài, bền vững [17, tr.8] Bởi vì nó giải quyết được nhiều vấn đề tranh chấp trong và xung quanh công ty Do đó các hợp đồng hình
Trang 3326
thành trong giai đoạn tiền công ty, dù có các tên gọi khác nhau hay được thể hiện dưới các hình thức khác nhau, luôn được thừa nhận là một tài liệu hay cơ
sở cần thiết nhằm đáp ứng thủ tục thành lập công ty ở các nước
Tính khách quan của sự xuất hiện các giao dịch và hợp đồng ở giai đoạn tiền công ty cổ phần được thể hiện thông qua ba bước trước khi chính thức tạo ra một pháp nhân là: Phát hiện ra cơ hội kinh doanh; Nghiên cứu thị trường và thăm dò dư luận để xác định tính khả thi của hoạt động kinh doanh
dự kiến; và thứ ba là hình thành mối liên kết giữa các nhà đầu tư thông qua việc kêu gọi đầu tư và cùng tập trung nguồn lực để tổ chức hoạt động kinh doanh Những quan hệ này thường được thể hiện dưới dạng hợp đồng
Các bước trên được thể hiện thông qua sơ đồ sau:
Khi đã hoàn thành ba bước đầu tiên của sơ đồ, sáng lập viên mới có thể thành lập công ty cổ phần bằng cách tự mình hoặc thuê đơn vị tư vấn, hoặc luật sư chuẩn bị và nộp hồ sơ thành lập công ty, tổ chức cuộc họp về việc thành lập công ty, xác định cơ cấu tổ chức, đăng ký mua cổ phần và bắt đầu hoạch định kế hoạch phục vụ cho việc hoạt động kinh doanh [43, tr.834]
Các hợp đồng tiền công ty mang bản chất của Hợp đồng nói chung, vì
đó là những thỏa thuận giữa các sáng lập viên, các nhà đầu tư với nhau (Hợp đồng góp vốn, Thỏa thuận góp vốn…) và giữa các sáng lập viên với những Bên thứ ba (Hợp đồng phục vụ cho việc thành lập công ty như Hợp đồng dịch
vụ pháp lý; Hợp đồng thuê trụ sở; Hợp đồng với tổ chức định giá nếu việc góp vốn được thực hiện bằng tài sản khác không phải là tiền…) nhằm ràng buộc nghĩa vụ lẫn nhau [17, tr.44] Cụ thể là:
Chính thức thành lập CT
Trang 3427
Trong hợp đồng giai đoạn tiền công ty các sáng lập viên thỏa thuận với nhau đóng góp tài sản hay công sức để tạo thành sản nghiệp của công ty, có nghĩa là các sáng lập viên bằng việc thực hiện nghĩa vụ của mình để tạo ra một “Bên thứ ba” (công ty là một hình thức của thực thể kinh doanh mới) và
để tự mình tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích (những quyền lợi trong công ty) Về bản chất đây là hợp đồng vì lợi ích của Bên thứ ba Theo đó, tự mỗi sáng lập viên ràng buộc chính mình với một thực thể được hình thành trong tương lai Trong những hợp đồng khác, sự ràng buộc trách nhiệm giữa các bên ký kết có khác nhau trong hai thời điểm trước và sau khi công ty được thành lập Trước khi công ty được thành lập, sự thỏa thuận giữa các sáng lập viên và đối tác sẽ ràng buộc nghĩa vụ của họ với nhau Còn sau khi công ty được thành lập, thông qua điều khoản chuyển tiếp hoặc qua hợp đồng/điều khoản chuyển đổi trách nhiệm trong các hợp đồng tiền công ty, thì các thỏa thuận đó sẽ ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ của công ty và bên đối tác, còn các sáng lập viên được giải phóng khỏi những nghĩa vụ đó
Ngoài ra, trong trường hợp công ty cổ phần không được thành lập thì
hệ quả chung đối với tất cả các hợp đồng trên, đó là các sáng lập viên phải cùng nhau chịu trách nhiệm hay liên đới với những hợp đồng do mình ký kết
Có ý kiến cho rằng, thỏa thuận thành lập công ty giữa các sáng lập viên không phải là hợp đồng bởi vì không thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm bắt buộc giữa các bên ký kết Việc cam kết góp vốn của một hoặc một số sáng lập viên vẫn có thể thay đổi hoặc hủy bỏ Tuy nhiên, lập luận trên là thiếu cơ sở bởi các lý do rằng: Thỏa thuận đó ràng buộc chính các sáng lập viên hay là các cổ đông sáng lập với thực thể được hình thành trong tương lai (công ty cổ phần) chứ không phải ràng buộc giữa các sáng lập viên với nhau hoặc giữa các sáng lập viên và các cổ đông dự kiến như các hợp đồng thông thường; Và sự ràng buộc trách nhiệm thể hiện đồng thời trong hai mối
Trang 3528
quan hệ, quan hệ giữa tất cả các sáng lập viên (cổ đông sáng lập) với công ty
cổ phần và quan hệ giữa từng sáng lập viên (cổ đông sáng lập) với công ty Hai mối quan hệ này có sự liên quan mật thiết với nhau Cụ thể là: từng cổ đông sáng lập đều là người có tài sản nợ với công ty khi họ chưa đóng góp
đủ số vốn như đã cam kết Do đó, từng cổ đông sáng lập đó phải có nghĩa vụ thanh toán đủ số vốn cam kết góp trong một thời hạn nhất định từ khi công
ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 thì khoảng thời gian đó là chín mươi ngày) Trong trường hợp, một hoặc một số sáng lập viên không có khả năng hoặc không đóng góp đủ số vốn như đã cam kết thì tất cả những cổ đông sáng lập còn lại đều phải có nghĩa vụ với công ty trong phạm vi số vốn chưa góp của một hoặc một số cổ đông sáng lập đó Họ phải đóng góp phần vốn còn thiếu và phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác của công ty cổ phần trong phạm vi giá trị số cổ phần chưa góp đủ đó Đồng thời tất cả sáng lập viên cũng phải có nghĩa vụ đóng góp một số lượng cổ phần nhất định trong một khoảng thời gian nhất định để đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của công ty
1.2.2 Phân loại Hợp đồng tiền công ty
Các hợp đồng tiền Công ty cổ phần có thể được phân ra thành hai loại chính Đó là hợp đồng thành lập công ty (chủ thể của Hợp đồng là các sáng lập viên với nhau) và những hợp đồng phục vụ cho việc thành lập công ty (chủ thể của hợp đồng là giữa các sáng lập viên và một bên thứ ba để phục vụ cho việc thành lập công ty cổ phần) Ngoài ra, pháp luật một số nước còn quy định loại hợp đồng thứ ba là hợp đồng chuyển đổi trách nhiệm từ các thành viên sáng lập sang công ty Có thể mô tả về các loại hợp đồng tiền công ty cổ phần theo sơ đồ sau:
Trang 3629
Một số loại hợp đồng cụ thể như sau:
Thứ nhất, hợp đồng thành lập công ty hay còn gọi là thỏa thuận giữa
các sáng lập viên để thành lập công ty cổ phần Đây là một hợp đồng đặc biệt bởi lẽ hậu quả pháp lý của hợp đồng này là tạo ra một thực thể kinh doanh, một pháp nhân Đó là cơ sở pháp lý ban đầu để công ty cổ phần ra đời và tồn tại Hợp đồng thành lập công ty có nhiều đặc điểm khác biệt với các loại hợp đồng thông thường là tạo ra một pháp nhân và tạo ra hình thức công ty có khả năng gây ảnh hưởng lớn đến xã hội Để bảo vệ trật tự công cộng, đạo đức xã hội và người thứ ba, đồng thời bảo hộ quan hệ hợp đồng, nhất là quyền lợi của các bên, và dẫn dắt công ty do hợp đồng tạo ra đi theo một định hướng nhất định phục vụ tốt cho sự phát triển kinh tế, xã hội, do đó pháp luật thường đòi hỏi thể loại hợp đồng này phải thể hiện nhiều điều khoản bắt buộc
Trên thực tế, có những nước (như Anh, Úc, Malaysia, Singapo…) công nhận sự tồn tại của hợp đồng thành lập công ty và coi đó là một phần của hồ
sơ trình lên cơ quan nhà nước để đăng ký thành lập công ty Những nước đó thừa nhận sự tồn tại song song của hợp đồng thành lập công ty và điều lệ công
ty [15] Những vấn đề liên quan đến công ty đều được quy định ở hai văn bản này, chỉ khác ở chỗ bản điều lệ sẽ quy định cụ thể và chi tiết hơn về hoạt động
tổ chức và điều hành của công ty
HỢP ĐỒNG
TIỀN CÔNG TY
Hợp đồng thành lập công ty
Hợp đồng phục vụ cho việc thành lập công ty
Hợp đồng chuyển đổi trách nhiệm
Hợp đồng giữa sáng lập viên và cổ đông dự kiến
Hợp đồng giữa sáng lập viên và người thứ ba Thỏa thuận lập hội
Trang 3730
Ví dụ như luật công ty Malaysia có quy định:
Người nào muốn thành lập công ty phải nộp bản hợp đồng thành lập công ty và bản điều lệ cùng với những giấy tờ cần thiết khác theo quy định của luật này cho cán bộ thực hiện việc đăng ký thành lập công ty… (điều 16)
Pháp luật Việt Nam trong chế độ cũ cũng có quy định tương tự như vậy Ví dụ như trong Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật năm 1936 có quy định:
Hội nào đã lập đúng phép thời được hưởng tư cách pháp nhân định
ở thiên thứ X quyển thứ I của luật này; nhưng chỉ khi nào khoán ước lập hội ấy đã trước bạ rồi và một bản khoán ước ấy đã để ở phòng lục sự tòa án tỉnh nơi hội tọa lạc để cho người ngoài được biết rồi thời hội viên mới được viện có tư cách ấy (điều 1434) Nhưng cũng có những nước lại không bắt buộc hợp đồng này là điều kiện đăng ký kinh doanh mà đồng nhất nó với điều lệ công ty, coi điều lệ là sự hình thức hóa quan hệ hợp đồng đã có giữa các sáng lập viên với nhau Theo lập luận đó, luật có quy định nội dung điều lệ công ty (gồm tất cả những vấn
đề có liên quan đến thành lập cũng như quản lý nội bộ công ty) nhưng ngầm hiểu đó cũng chính là những nội dung của bản hợp đồng thành lập công ty
Xét về bản chất thì hợp đồng thành lập công ty và điều lệ công ty cổ phần không giống nhau, dù cả hai văn bản này đều có chức năng tạo nên “luật riêng” của công ty trên cơ sở tuân thủ các quy định của Pháp luật về Doanh nghiệp nói chung Trong khi hợp đồng thành lập công ty cổ phần là thỏa thuận của các chủ thể là các nhà đầu tư nhằm thành lập một thực thể kinh doanh chứ không nhằm bắt buộc áp dụng vào việc quản lý hoạt động của thực thể kinh doanh đó sau khi nó ra đời [17, 48] Do đó, hợp đồng thành lập công
ty thiết lập những điều kiện chủ yếu để đảm bảo cho sự tồn tại của công ty cổ phần, đồng thời cũng quy định những cơ sở thiết yếu cho các hoạt động của
Trang 3831
công ty Khi công ty cổ phần ra đời, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp hoặc một hình thức “khai sinh” tương đương, công ty cổ phần lại hoạt động theo Điều lệ công ty Điều lệ công ty được xây dựng bằng cách cụ thể hóa các thỏa thuận trong hợp đồng thành lập công ty nhằm mục đích điều chỉnh tổ chức và hoạt động của chính công ty cổ phần đó [17, 48] Điều đó có nghĩa là, hợp đồng thành lập công ty cổ phần và điều lệ công ty cổ phần đóng vai trò quan trọng ở hai giai đoạn khác nhau trong quá trình hình thành và hoạt động của công ty Hai văn bản này tồn tại song song trên thực tế và bản điều lệ
kế thừa những tư tưởng chủ yếu trong hợp đồng thành lập công ty
Hợp đồng thành lập công ty của những sáng lập viên là sự gia nhập tự nguyện và bình đẳng, do đó thường những điều kiện chính đã được dự liệu, thống nhất trước trong bản hợp đồng Những người tham gia ký kết hợp đồng này với các sáng lập viên hoặc với những người đại diện theo ủy quyền của
họ sẽ trở thành cổ đông sáng lập của công ty cổ phần Do tính chất hạn chế tự
do ý chí, tự do thỏa thuận của hợp đồng gia nhập, nên khi có những tranh chấp hay mâu thuẫn xảy ra, tòa án thường giải thích hợp đồng theo hướng bảo
vệ cho bên yếu thế là các cổ đông dự kiến của công ty Luật doanh nghiệp Việt Nam chưa có một quy định trực tiếp nào về loại hợp đồng này, tuy nhiên
có quy định một cách gián tiếp thông qua điều luật về danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần và điều luật về cổ phiếu Hai điều luật trên thể hiện việc
đã có quan hệ hợp đồng giữa các sáng lập viên và các cổ đông dự kiến
Thứ hai, các hợp đồng phục vụ cho việc thành lập công ty là những
hợp đồng giữa sáng lập viên và bên thứ ba Đây là loại hợp đồng do sáng lập viên hoặc người đại diện theo ủy quyền của họ ký kết với các mục đích khác
nhau như: yêu cầu hỗ trợ như: Dịch vụ tư vấn trong soạn thảo hợp đồng/thỏa
thuận góp vốn thành lập công ty hay hồ sơ đăng ký kinh doanh, Điều lệ; Hợp
đồng dịch vụ định giá tài sản góp vốn; Hợp đồng tư vấn pháp lý…); chuẩn bị
Trang 3932
cơ sở vật chất – kỹ thuật như: thuê văn phòng và cơ sở vật chất khác, mua tài
sản, trang thiết bị…); tuyển chọn nhân sự (chuyên gia, người quản lý, nhân
công…) cho công ty dự kiến được thành lập [20]
Trong số các hợp đồng được nêu thì hợp đồng thuê trụ sở công ty, hợp đồng lao động như thuê giám đốc (tổng giám đốc)… đối với những công ty đăng ký kinh doanh ngành nghề mà theo quy định của pháp luật yêu cầu phải
có chứng chỉ hành nghề… thường không thể thiếu được bởi vì hồ sơ đăng ký kinh doanh công ty cổ phần theo quy định hiện hành đòi hỏi phải có những giấy tờ chứng minh đã có thỏa thuận liên quan đến những hợp đồng đó
Các nước theo hệ thống luật Châu Âu lục địa với mục đích nhằm xác định trách nhiệm của các sáng lập viên đối với những hợp đồng tiền công ty thì sáng lập viên phải chịu trách nhiệm cá nhân với tất cả những hợp đồng do mình ký kết trên danh nghĩa công ty Đồng thời, tất cả những đồng sáng lập viên còn lại cũng có thể phải chịu trách nhiệm liên đới đối với những khoản
nợ sinh ra do những hợp đồng tiền công ty trên mang lại, nếu họ đã đồng ý hoặc cho phép người sáng lập viên kia ký kết những hợp đồng đó [45] Ngược lại, do thỏa thuận lập hội ít được quan tâm trong hệ thống luật Anh - Mỹ, nên sáng lập viên phải chịu trách nhiệm cá nhân với những hợp đồng tiền công ty
mà anh ta ký kết còn các đồng sáng lập nhìn chung không phải chịu trách nhiệm gì với những giao dịch đó [45, tr.189-191]
Thứ ba, hợp đồng chuyển đổi trách nhiệm và nghĩa vụ từ sáng lập viên
sang công ty khi công ty được thành lập Hợp đồng này ra đời nhằm giải phóng cho sáng lập viên khỏi trách nhiệm đối với những hợp đồng tiền công
ty mà họ ký kết Về nguyên tắc đây là hợp đồng ba bên giữa sáng lập viên, công ty và bên thứ ba [38, tr.569] Theo đó, trách nhiệm của sáng lập viên đối với những hợp đồng tiền công ty sẽ được chuyển đổi sang cho công ty khi cả công ty và bên thứ ba nhất trí với toàn bộ nội dung của bản hợp đồng
Trang 4033
Trên thực tế, hợp đồng này có thể được thay thế bằng một điều khoản
tự động chuyển đổi hoặc chuyển tiếp trách nhiệm khi công ty được thành lập trong tất cả các hợp đồng tiền công ty (trong đó ghi nhận việc chuyển đổi thực tế hơn là chỉ đơn giản công nhận công ty là một bên trong hợp đồng và ghi nhận cụ thể việc giải phóng trách nhiệm của sáng lập viên) hoặc hợp đồng này không cần tồn tại khi luật pháp có quy định về quy tắc chuyển đổi Tuy nhiên, xét về mặt khách quan, sự tồn tại của hợp đồng chuyển đổi trách nhiệm có tác dụng quan trọng, nhằm đơn giản hóa việc giải quyết những tranh chấp sau này liên quan đến trách nhiệm của công ty và của sáng lập viên trong hợp đồng tiền công ty
1.2.3 Đặc điểm, vai trò của giao dịch tiền công ty cổ phần
Do các hợp đồng tiền công ty cổ phần mang bản chất là hợp đồng, nên chúng cũng mang những đặc điểm chung của hợp đồng thông thường như chủ thể giao kết hợp đồng phải có năng lực giao kết hợp đồng và phải tự nguyện khi giao kết hợp đồng, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội, hợp đồng có hình thức nhất định… Tuy nhiên, vì mục đích nhằm thành lập nên một công ty nên những hợp đồng này mang những đặc điểm khác biệt sau đây:
Về chủ thể của hợp đồng: Các sáng lập viên là các cá nhân hoặc tổ
chức có năng lực chủ thể Sở dĩ các sáng lập viên phải có năng lực chủ thể bởi
vì họ là một bên tham gia vào hợp đồng tiền công ty, họ bị ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó, phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp và liên đới với các hợp đồng tiền công ty do họ
ký kết Trong hợp đồng tiền công ty, về bản chất công ty không phải là một bên chủ thể, bởi vì vào thời điểm đó công ty chưa được thành lập tức là chưa
có sự tồn tại thực tế của chủ thể này Vì vậy, trách nhiệm này chỉ chuyển sang