Tình hình nghiên cứu về ngân sách Nhà nước và quyết toán NSNN Do công tác quyết toán NSNN là nội dung có tính chuyên môn đặc thù, với các bước cụ thể về kiểm tra, đối chiếu số liệu để p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý hoạt động Quyết toán Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Việt Nam” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Thị Dậu
Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tôi thu thập từ các nguồn khác nhau có liệt kê lại cụ thể và chi tiết tại mục tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào trong công trình này, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2019
Học viên
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Qua hai năm học tập tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, với sự nỗ lực không ngừng của bản thân và sự hướng dẫn tận tình của các giảng viên nhà trường Đến nay tôi đã hoàn thành xong luận văn Thạc sỹ với đề tài
“Quản lý hoạt động Quyết toán Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Việt Nam ”
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Thị Dậu Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về mọi mặt đồng thời đã động viên tôi thực hiện hoàn thành Luận văn thạc sĩ này
Tôi xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên
và khuyến khích, giúp đỡ tôi suốt quá trình học tập nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và tiến hành thực hiện luận văn, với trình
độ, khả năng và điều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót và những nhận định chủ quan Kính mong các thầy cô, đồng nghiệp góp ý, bổ sung để luận văn có tính thực tiễn cao hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TĂT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý Quyết toán NSNN và những vấn đề liên quan 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngân sách Nhà nước và quyết toán NSNN 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quản lý hoạt động quyết toán ngân sách nhà nước 9
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý quyết toán Ngân sách nhà nước 11
1.2.1 Các khái niệm 11
1.2.2 Nguyên tắc và yêu cầu 14
1.2.3 Nội dung quản lý 23
1.2.4 Nhân tố hưởng đến công tác quản lý quyết toán NSNN 32
1.2.5 Tiêu chí đánh giá 39
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về quyết toán NSNN và bài học rút ra cho Kho bạc Nhà nước Việt Nam 42
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về quyết toán NSNN 42
1.3.2 Bài học rút ra cho Kho bạc Nhà nước Việt Nam 46
CHƯƠNG 2: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 48
2.1 Nguồn tài liệu và thu thập tài liệu 48
2.1.1 Nguồn tài liệu 48
Trang 62.1.2 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu 49
2.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài 49
2.2.1 Phương pháp logic - lịch sử 49
2.2.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp 51
2.2.3 Phương pháp thống kê mô tả 53
2.2.4 Phương pháp chuyên gia 53
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN L QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚCTẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 55
3.1 Khái quát về Kho bạc Nhà nước Việt Nam và bộ máy quản lý quyết toán ngân sách nhà nước 55
3.1.1 Khái quát về Kho bạc Nhà nước Việt Nam 55
3.1.2 Bộ máy quản lý quyết toán ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước 58 3.2 Thực trạng quản lý quyết toán ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước Việt Nam 61
3.2.1 Công tác lập kế hoạch quyết toán Ngân sách nhà nước 61
3.2.2 Tổ chức thực hiện quyết toán ngân sách nhà nước 63
3.2.3 Kiểm tra, giám sát và đánh giá 78
3.3 Đánh giá chung về công tác quyết toán NSNN tại Kho bạc nhà nước Việt Nam 79
3.3.1 Những kết quả đạt được 79
3.3.2 Những hạn chế 81
3.3.3 Nguyên nhân 87
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUYẾT TOÁN NSNN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 90
4.1 Định hướng hoàn thiện công tác quản lý quyết toán ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước Việt Nam 90
Trang 74.1.1 ối cảnh mới và quan điểm về công tác quyết toán NSNN tại KBNN 90
4.1.2 Định hướng hoàn thiện công tác quyết toán NSNN tại KBNN 91
4.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý quyết toán ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước Việt Nam 92
4.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 92
4.2.2 Nhóm giải pháp trong tổ chức thực hiện quản lý quyết toán ngân sách nhà nước 94
4.3 Lộ trình triển khai, thực hiện các giải pháp 101
4.3.1 Lộ trình về thực hiện triển khai các giải pháp liên quan đến cơ chế chính sách 101
4.3.2 Lộ trình về thực hiện triển khai các giải pháp về quản lý đối với công tác quyết toán NSNN tại KBNN 102
4.3.3 Kiến nghị đối với các cấp có thẩm quyền 103
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TĂT
18 UBTC-NS : Ủy ban Tài chính - Ngân sách
19 UBTVQH : Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Quyết toán thu cân đối NSNN theo nguồn vốngiai đoạn 2014-2017 67 Bảng 3.2: Cơ cấu thu cân đối NSNN theo khu vực giai đoạn 2014-2017 68 Bảng 3.3: Cơ cấu quyết toán chi thường xuyên ngân sách trung ương theo
lĩnh vực 72 Bảng 3.4:Cơ cấu quyết toán chi đầu tư ngân sách trung ương theo lĩnh vực 74 Bảng 3.5:Cơ cấu quyết toán chi NSNN theo lĩnh vực 75 Bảng 3.6: Bội chi NS và nguồn bù đắp 76
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Kho bạc Nhà nước 57 Hình 3.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý quyết toán NSNN 60
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quản lý Ngân sách Nhà nước (NSNN), công tác quyết toán là một trong những khâu đóng vai trò quan trọng Quyết toán NSNN là một trong 03 (ba) khâu và là khâu cuối cùng của chu trình ngân sách (NS), nhằm đánh giá lại toàn bộ NSNN sau một năm thực hiện Đây cũng là công việc đánh giá lại cả khâu lập dự toán, khâu chấp hành NSNN và một số nội dung liên quan đến NSNN Số liệu quyết toán NSNN là cơ sở để các cơ quan quản
lý phân tích tình hình tài chính, NS của quốc gia, từ đó đề ra chính sách phù hợp nhằm quản lý tối ưu nguồn lực tài chính quốc gia trong các giai đoạn tiếp theo Quyết toán NSNN nhằm hoàn thiện quản lý NSNN, góp phần quản lý nguồn lực tài chính nhà nước một cách hợp lý, tiết kiệm, tăng cường tính minh bạch NSNN
Ở Việt Nam từ năm 2015 trở về trước, công tác quyết toán NSNN do
Vụ Ngân sách Nhà nước - Bộ Tài chính là đơn vị thực hiện tổng hợp, lập quyết toán NSNN Ngày 8 tháng 7 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước (KBNN) trực thuộc Bộ Tài chính, trong
đó tại tiết c) điểm 8 Điều 2 quy định: KBNN có chức năng “Tổng hợp, lập quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm trình ộ Tài chính để trình Chính phủ theo quy định của pháp luật” Từ đó cho đến nay, công tác quyết toán NSNN được chuyển về Kho bạc Nhà nước thực hiện và quản lý
Trong những năm qua, cùng với những tiến bộ trong quản lý tài chính -
NS, công tác quyết toán NSNN ở Việt Nam cũng dần được hoàn thiện Số liệu quyết toán NSNN về cơ bản đã phản ánh tình hình tài chính NS và có cơ
sở tin cậy Nội dung, quy trình quyết toán đã được quy định chặt chẽ hơn,
Trang 12nhất là trách nhiệm của các Đơn vị sử dụng ngân sách (ĐVSDNS), đơn vị dự toán (ĐVDT) cấp trên và cơ quan nhà nước các cấp đã được quy định cụ thể theo hướng nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị cơ sở và cấp dưới trực thuộc
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, Quyết toán NS còn bộc lộ nhiều bất cập về: Nội dung, biểu mẫu báo cáo quyết toán; trình tự, thẩm quyền lập, gửi, xét duyệt, thẩm định và phê chuẩn quyết toán thu, chi NSNN hàng năm, trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị về kết quả, hiệu quả
sử dụng NSNN được giao; thời hạn nộp báo cáo quyết toán ( CQT) năm Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ công tác quản lý
Trên ý nghĩa đó, học viên chọn đề tài: “Quản lý hoạt động Quyết toán Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Việt Nam” làm luận
thạc sĩ của mình
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Những thành công, những hạn chế
và nguyên nhân của tình hình quản lý công tác quyết toán NSNN tại KBNN Việt Nam là gì? KBNN Việt Nam cần có giải pháp gì để hoàn thiện công tác quản lý hoạt động quyết toán NSNN trong thời gian tới?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Đánh giá công tác quản lý Quyết toán NSNN tại KBNN Việt Nam; phát hiện những thành công, hạn chế và nguyên nhân tình hình quản lý quyết toán NSNN Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý quyết toán NSNN phù hợp với yêu cầu mới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và khái quát hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý quyết toán NSNN quốc gia
Trang 13- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quản lý quyết toán NSNN quốc gia và rút ra bài học cho KBNN Việt Nam
- Phân tích, đánh giá công tác quản lý quyết toán NSNN tại KBNN Việt Nam
- Đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý quyết toán NSNN tại KBNN Việt Nam giai đoạn 2019 – 2025 và tầm nhìn đến 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý quyết toán NSNN cấp quốc gia theo cách tiếp cận khoa học Quản lý kinh tế Đề tài chỉ thực hiện đối với các khoản thu, chi thuộc phạm vi NSNN ở các đơn vị sử dụng NSNN, các cơ quan có trách nhiệm quản lý quỹ NSNN, quản lý NS và cơ quan kiểm toán BCQT NS Các vấn đề ngoài quỹ NS không thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nghiên cứu của đề tài gắn với quan điểm, cơ chế, chính sách quản lý ngân sách và kế toán ngân sách của nhà nước, của Bộ Tài chính và của KBNN Việt Nam
4 Đóng góp mới của đề tài
-Rút ra các bài học cho KBNN Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế về
quản lý quyết toán NSNN quốc gia
Trang 14- Đánh giá những thành công, những hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý quyết toán NSNN tại KBNN Việt Nam
- Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý quyết toán NSNN tại KBNN Việt Nam giai đoạn 2019- 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
5 Kết cấu của luận văn đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
đề tài gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn
về quản lý quyết toán NSNN quốc gia
Chương 2: Tài liệu và phương pháp nghiên cứu đề tài
Chương 3: Thực trạng quản lý quyết toán NSNN tại KBNN Việt Nam Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý quyết
toán NSNN tại KBNN Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý Quyết toán NSNN và những vấn đề liên quan
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngân sách Nhà nước và quyết toán NSNN
Do công tác quyết toán NSNN là nội dung có tính chuyên môn đặc thù, với các bước cụ thể về kiểm tra, đối chiếu số liệu để phát hiện những sai sót trong quản lý NSNN, từ đó tổng hợp, lập Báo cáo quyết toán NSNN hàng năm trình Quốc hội phê chuẩn; vì vậy, không có nhiều các chuyên đề, đề tài liên quan đến công tác quyết toán NSNN
Luận án Tiến sĩ “Quyết toán NSNN hàng năm ở Việt Nam - thực
trạng và giải pháp hoàn thiện”, năm 2005 của Lê Đình Thăng, Kiểm toán
Nhà nước
Luận án đã đạt được những kết quả sau:
Luận án đã làm rõ lý luận quyết toán NSNN; phạm vi của quyết toán NSNN, kiểm toán quyết toán NSNN Luận án đã đi sâu luận giải những nội dung cơ bản mà một quyết toán NSNN cần phải đạt được Qua cách lý giải khác nhau của các nhà khoa học trong và ngoài nước, tác giả luận án đã đưa
ra quan điểm riêng về quyết toán NSNN Luận án cũng đã đi sâu nghiên cứu những nguyên tắc quyết toán NSNN, nhân tố ảnh hưởng đến quyết toán NSNN, quy trình và các cơ quan nhà nước tham gia quyết toán NSNN Đây là
cơ sở lý luận quan trọng phục vụ cho việc phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện
Luận án đã đi sâu nghiên cứu thực trạng của công tác quyết toán NSNN hiện hành từ đó tìm ra những hạn chế trong quyết toán NSNN Với
Trang 16việc điểm lại hoạt động quyết toán NSNN trong suốt thời kỳ chiến tranh giữ nước và thời kỳ xây dựng đất nước, tác giả luận án đã đi sâu phân tích những thành tựu đạt được qua công tác quyết toán NSNN, những yếu kém bất cập nhất là những yếu kém kéo dài từ nhiều năm không còn phù hợp với thời kỳ phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, và làm rõ những nguyên nhân khách quan, chủ quan của những yếu kém, bất cập đó
Trên cơ sở lý luận và những yếu kém, bất cập của công tác quyết toán NSNN, Luận án đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quyết toán NSNN: quan điểm, định hướng hoàn thiện quyết toán ngân sách Lập và phê chuẩn quyết toán NSNN; kiểm toán quyết toán NSNN; phạm vi quyết toán NSNN; điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện quyết toán NSNN
Tuy nhiên đề tài vẫn chưa đi sâu vào nội dung về thẩm định số liệu quyết toán, tổng hợp số liệu quyết toán cũng như chưa đề cập đến các vướng mắc trong công tác thẩm định, tổng hợp số liệu quyết toán thu, chi, cân đối NSNN
Đề tài:“Hoàn thiện công tác kế toán, quyết toán NSNN trong bối
cảnh sửa Luật Ngân sách nhà nước ở Việt Nam”, năm 2012 của Ủy ban Tài
chính – Ngân sách của Quốc hội
Đề tài nghiên cứu đã trình bày các giai đoạn phát triển của công tác quyết toán kể từ khi chưa có Luật NSNN cho đến nay Qua nội dung của đề tài cho thấy, mặc dù đã có nhiều thay đổi trong công tác quyết toán NSNN nhưng có một số nội dung có tính nguyên tắc không thay đổi đó là quy trình lập quyết toán NSNN từ dưới lên (từ ĐVSDNS), cùng với đó là việc CQTC luôn là cơ quan lập, tổng hợp BCQT NS trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê chuẩn HĐND luôn là
cơ quan phê chuẩn NS ở địa phương và QH luôn là cơ quan phê chuẩn quyết toán
NSNN, NSNN luôn được quản lý theo cơ chế lồng ghép
Chuyên đề đã phân tích được những thay đổi đáng kể trong công tác quyết toán NSNN, để phù hợp với tình hình thực tế và trình độ quản lý TC-
Trang 17NS từng thời kỳ Nêu được một số vấn đề liên quan đến quyết toán NSNN thu hút nhiều sự chú ý của các cơ quan, tổ chức quốc tế là cơ chế quản lý lồng ghép NSNN, dẫn đến mất nhiều thời gian trong khâu lập, tổng hợp quyết toán NSĐP, NSNN, làm giảm ý nghĩa về việc phê chuẩn quyết toán của HĐND cấp dưới và các vấn đề về phạm vi số liệu quyết toán, như nguồn ngoài cân đối NSNN, các khoản GTGC phí, lệ phí, cách phản ánh số liệu vay, trả nợ trong CQT, cách trình bày bội chi NSNN, số chuyển nguồn, số thu theo Khoản 3, Điều 8, Luật NSNN, còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế
Trước nhiều vấn đề bất cập được nêu trong đề tài, tác giả cũng đã trình bày nhiều đề xuất, giải pháp để khắc phục Có những giải pháp có thể áp dụng ngay trong ngắn hạn như các giải pháp liên quan đến cách hạch toán, báo cáo số chuyển nguồn, các khoản GTGC vào NSNN, trách nhiệm của các ĐVSDNS, ĐVDT cấp trên, về các báo cáo gửi kèm báo cáo quyết toán NSNN
Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều giải pháp mang tính dài hạn và liên quan đến việc sửa đổi nhiều văn bản khác như Hiến Pháp, Luật NSNN, Luật
Kế toán, Luật tổ chức QH, Luật tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức HĐND và
U ND, đó là các vấn đề về thời hạn phê chuẩn quyết toán, về cơ chế quản lý ngân sách lồng ghép, về nâng cao năng lực của các đại biểu dân cử
Tất cả các giải pháp đưa ra nêu trên đều có tính hai mặt, có mặt ưu và mặt hạn chế và cũng chưa thể giải quyết được triệt để các hạn chế phát sinh
Luận văn thạc sĩ:“Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quyết toán
vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước”, năm 2011
của Nguyễn Phương Anh, Vụ Ngân sách Nhà nước, Bộ Tài chính
Đề tài đã đạt được một số kết quả sau:
Về cơ sở lý luận, đề tài đã hệ thống hoá, khái quát và làm rõ những lý luận cơ bản về công tác quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản như: Những khái niệm thường dùng trong đầu tư xây dựng cơ bản; khái niệm, ý nghĩa của
Trang 18quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo niên độ ngân sách hàng năm cũng như quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành; nội dung, quy trình thực hiện từng loại công tác quyết toán này theo chế độ quy định
Về thực tiễn, đề tài đã khái quát hoá một số nét chính về thực trạng đầu tư phát triển của Việt Nam qua các năm Đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản (bao gồm cả công tác quyết toán vốn đầu tư theo niên độ và quyết toán giá trị dự án, công trình hoàn thành) theo hai giai đoạn: trước khi Luật NSNN sửa đổi năm
2002 có hiệu lực, và sau khi Luật NSNN sửa đổi năm 2002 có hiệu lực Qua đó, luận văn đã chỉ ra những điểm còn tồn tại như: về cơ chế chính sách liên quan đến công tác quyết toán vốn đầu tư, bất cập trong việc áp dụng các cơ chế chính sách, bất cập trong hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện quản lý vốn đầu tư, …Từ đó làm cơ sở để đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác này
Trên cơ sở những tồn tại rút ra khi phân tích, đánh giá công tác quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN, tác giả đã đưa ra hệ thống các giải pháp về cơ chế chính sách và giải pháp về quản lý, điều hành Đồng thời, luận văn cũng đưa ra các điều kiện cần thiết để các giải pháp trên
có thể được thực thi, đạt hiệu quả cao
Tuy nhiên luận văn mới chỉ phân tích một lĩnh vực của quyết toán NSNN, chưa nghiên cứu được các vấn đề tổng thể về quyết toán đối với tất cả các nội dung của quyết toán NSNN, vì vậy các giải pháp mới chỉ giải quyết được một phần nhỏ trong số những vấn đề chung của công tác quyết toán NSNN hàng năm
Như vậy đã có một số những công trình nghiên cứu về QTNSNN, các chuyên đề, đề tài đã thành công trong việc xây dựng cái nhìn tổng quan về công tác kế toán, quyết toán NSNN, đã đề xuất được những giải pháp để hoàn thiện
Trang 19công tác kế toán, quyết toán NSNN trong điều kiện sửa Luật NSNN năm 2002 Một số kiến nghị đã được tiếp thu tại Luật NSNN năm 2015
Tuy nhiên, các chuyên đề, đề tài về quyết toán NSNN phần lớn tập trung về lý thuyết, chưa phân tích cụ thể về các nội dung, công việc của công tác quyết toán NSNN, chưa làm rõ những vướng mắc thường xảy ra cũng như chưa kiến nghị được các giải pháp khắc phục về chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác quyết toán Bên cạnh đó việc KBNN tiếp nhận công tác quyết toán NSNN từ năm
2015 cũng đặt ra những yêu cầu mới về công tác quản lý cũng như tổ chức thực hiện đối với quyết toán NSNN Vì vậy các đề tài, chuyên đề chưa giải quyết được những vướng mắc trong thực tiễn quyết toán NSNN tại K NN hàng năm, chưa có tính ứng dụng cao đối với công tác quản lý quyết toán NSNN tại KBNN và các cán bộ trực tiếp làm công tác quyết toán NSNN Do đó các vấn đề về Quản lý QT NSNN bao gồm một chuỗi các khâu từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát còn là những khoảng trống cần tiếp tục được nghiên cứu
1.1.2 Tình hình nghiên cứu inh nghiệm quốc tế về quản l hoạt động quyết toán ngân sách nhà nước
Học viên Nguyễn Ngọc Ánh đã chọn đề tài:“ u ết toán ngân sách nhà
nước tại Ngân hàng nhân dân Trung uốc , làm luận văn thạc sĩ , Học viện
Ngân hàng, năm 2015 Đề tài đã giải quyết được các vấn đề sau:
Thứ nhất, luận văn đã khái quát được cơ sở lý luận và thực tiễn về quyết toán ngân sách nhà nước Trong đó, luận văn đã nghiên cứu những kinh nghiệm QL hoạt động QT NSNN của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc và rút ra những bài học về QT NSNN, trong đó có bài học về QL QT NSNN cho Ngân hàng nhân dân Trung Quốc
Thứ hai, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng QT NSNN tại Ngân hàng nhân dân Trung Quốc; Phát hiện ra những nguyên nhân của tình hình
Thứ ba, Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QT NSNN, trong đó có giải pháp về công tác QL QT NSNN tại Ngân hàng nhân dân Trung Quốc
Trang 20Học viên Lê Hữu Cảnh đã chọn đề tài: “ uản qu ết toán ngân sách
nhà nước tại Ngân hàng Trung ương Nhật ản , làm luận văn thạc sĩ, Học
viện Ngân hàng, năm 2014 Luận văn đã nghiên cứu các nội dung sau:
- Luận văn đã khái quát được cơ sở lý luận và thực tiễn về QL QT NSNN tại Ngân hàng Trung ương; Nghiên cứu những kinh nghiệm QL hoạt động QT NSNN của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc và Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Qua đó, rút ra những bài học về QL QT NSNN cho Ngân hàng nhân dân Nhật ản
Thứ hai, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng QT NSNN tại Ngân hàng nhân dân Trung Quốc; Phát hiện ra những nguyên nhân của tình hình
Thứ ba, Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
QL QT NSNN tại Ngân hàng nhân dân Nhật ản
Đề tài: “Kinh nghiệm quốc tế về c ng tác qu ết toán ngân sách nhà
nước tại Ngân hàng Trung ương của tác giả: Nguyễn n Hải Hội thảo khoa
học của Kho bạc Nhà nước Việt Nam, năm 2012 Tác giả đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm QT NSNN tại một số Ngân hàng Trung ương các nước nước như: Mỹ, Pháp Đức…, trong đó, công tác QL QT NSNN đã được tác giả phân tích sâu sắc Các vấn đề như chuyển nguồn ngân sách và quy trình quyết toán NSNN đã được coi là những kinh nghiệm QL cần được Ngân hàng Trung ương các nước đặc biệt quan tâm
Hội thảo chuyên đề của Hiệp hội Kho bạc Quốc tế (Kho bạc Nhà nước Việt Nam là thành viên của hiệp hội) tổ chức tại Haiti, năm 2016, diễn giả đến
từ Tổng cục Tài chính công thuộc Bộ Tài chính Pháp đã chia sẻ về kinh nghiệm Quyết toán NSNN tại Bộ Tài chính Pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN Trong đó đã nhấn mạnh vai trò của công tác quản lý NSNN theo kết quả đầu ra, phân bổ dự toán và quyết toán NSNN theo nhiệm vụ, kết quả đầu ra Bài tham luận của diễn giả đến từ Tổng cục Tài chính công Pháp
Trang 21đã nhận được sự quan tâm của các đại biểu đến từ nhiều quốc gia và là bài học kinh nghiệm thiết thực để các nước có thể nghiên cứu học hỏi
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý quyết toán Ngân sách nhà nước
1.2.1 Các hái niệm
1.2.1.1 Khái niệm
a) Ngân sách Nhà nước
Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 đã đưa ra khái niệm
NSNN tại Điều 4 như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu,
chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Khái niệm NSNN theo Luật NSNN số 83/2015/QH13 được hiểu là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước, được xem xét đầy đủ, toàn diện, không thừa, không thiếu, không bỏ sót Các khoản thu, chi NSNN phải nằm trong dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, đó
là QH, HĐND, được quy định theo Hiến pháp, Luật Tổ chức QH, Luật tổ chức HĐND và U ND
Các khoản thu NSNN chủ yếu là thu từ thuế, phí, lệ phí, nhằm tạo nguồn lực, nguồn vật chất để nhà nước thực thi chức năng của mình Đồng thời, nhà nước điều tiết thị trường, điều tiết nguồn vốn đầu tư, khuyến khích sản xuất kinh doanh hoặc hạn chế tiêu dùng một số mặt hàng thông qua thuế suất và chính sách ưu đãi miễn, giảm, giãn thuế Bên cạnh đó, Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua các khoản chi cho các lĩnh vực như chi đảm bảo an ninh, quốc phòng, chi cho bộ máy quản lý nhà nước, chi cho văn hoá, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, hoặc chi đầu tư cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội mà không trực tiếp thu hồi vốn
Trang 22Như vậy có thể hiểu, NSNN là các khoản thu, chi của nhà nước đã được lập dự toán và có thời gian thực hiện trong vòng 1 năm để đạt được các mục tiêu, kế hoạch về tài chính NS của Nhà nước
b) Quyết toán Ngân sách Nhà nước
Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng của chu trình quản lý NS nhằm đánh giá lại toàn bộ NSNN sau một năm ngân sách Đây cũng là công việc đánh giá lại toàn diện từ khâu lập, quyết định dự toán, khâu chấp hành dự toán và khâu kế toán; xác định chính thức số thu, chi, bội chi NSNN; số dư ngân sách chuyển năm sau Như vậy, quyết toán NSNN là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm hoàn thiện quản lý NSNN, góp phần quản lý nguồn lực tài chính nhà nước một cách hợp lý, tiết kiệm, tăng cường tính minh bạch NSNN, lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia
Quyết toán NSNN thể hiện đầy đủ các yêu cầu nhằm tổng kết, đánh giá lại việc thực hiện ngân sách cũng như chính sách tài chính – ngân sách của quốc gia trong năm ngân sách Công tác này phải thể hiện được một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, quyết toán NSNN phải phản ánh đầy đủ số liệu thu, chi NS
Các khoản thu phải được hạch toán và phản ánh đầy đủ khi báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thứ hai, quyết toán NSNN phải thể hiện được tính tuân thủ trong việc
thu NS theo quy định của pháp luật, chi NS theo dự toán được cấp có thẩm quyền quyết định Chính phủ giải trình về quyết toán không chỉ là các vấn đề
về số liệu mà còn phải giải trình được việc quản lý thu, chi NS trong niên độ
có tuân thủ các quy định của pháp luật cũng như đạt được các yêu cầu mà QH
đã đề ra khi quyết định NS
Thứ ba, quyết toán NSNN phải báo cáo được tính hiệu quả của các khoản
thu, chi NS Đây là vấn đề quan trọng bởi nguồn lực tài chính của mỗi quốc gia
Trang 23là có hạn do vậy cơ quan quản lý, điều hành NS quốc gia phải báo cáo và giải trình với QH là cơ quan đại diện cho dân chúng - những người nộp thuế - rằng các nguồn thu có được sử dụng đúng mục đích, đạt hiệu quả, các chính sách của Chính phủ trong năm NS có phát huy được hiệu quả hay không
Thứ tư, quyết toán NSNN được xác định trong một khoảng thời gian
nhất định, thường là một năm (12 tháng) Đây là cơ sở để xuất hiện khái niệm năm NS (một số quốc gia còn gọi là năm tài khóa hay năm tài chính)
Thứ năm, quyết toán NSNN phải trình cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê chuẩn Về khía cạnh pháp lý, để trách nhiệm quản lý được giải toả, quyết toán NSNN phải được cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (QH hoặc
Hạ viện) là cơ quan đại diện cho quyền lợi của dân chúng xem xét phê chuẩn Chỉ khi quyết toán được phê chuẩn thì trách nhiệm của cơ quan quản lý (Chính phủ) mới được giải toả
Để QH xem xét phê chuẩn đòi hỏi quyết toán NSNN phải được cơ quan chấp hành lập và báo cáo, kiểm toán thực hiện kiểm toán và các cơ quan tham mưu của QH thẩm tra Trên cơ sở các thông tin được cung cấp, các đại biểu sẽ xem xét và biểu quyết phê chuẩn
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm quyết toán NSNN như
sau: Quyết toán ngân sách là tổng hợp các khoản thu, chi của Nhà nước để
đánh giá tình hình thực thu, thực chi của Nhà nước theo nội dung, chỉ tiêu dự toán NS được cấp có thẩm quyền quyết định
c) Quản lý hoạt động quyết toán Ngân sách Nhà nước
Quản lý hoạt động quyết toán NSNN là một chuỗi các hoạt động từ khâu tổ chức và lập kế hoạch quyết toán, tổ chức thực hiện đến khâu kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động QT NSNN nhằm thực hiện các mục tiêu của nhà nước đề ra trên cơ sở các chế độ chính sách của nhà nước đã được ban hành đối với lĩnh vực quyết toán NSNN Quản lý hoạt động Quyết toán NSNN phải
Trang 24thể hiện được đầy đủ các yêu cầu về quản lý nhà nước đối với hoạt động Quyết toán NSNN
Quyết toán NSNN là một quá trình nên có rất nhiều các cơ quan, đơn vị tham gia vào quá trình đó từ khâu quyết toán NSNN tại từng ĐVSDNS đến khâu xét duyệt QT của các đơn vị dự toán cấp trên, các đơn vị dự toán cấp 1 xét duyệt QT của các đơn vị dự toán cấp trên của ĐVSDNS, tiếp đó cac Vụ, Cục Bộ Tài chính thực hiện thẩm định Quyết toán NSNN của các đơn vị dự toán cấp 1 trung ương, sau cùng là K NN tổng hợp và lập báo cáo QT NSNN của các đơn vị cấp 1 trung ương và quyết toán của NSNN địa phương tổng hợp lại thành QT NSNN Mỗi cơ quan, đơn vị đều có vai trò, trách nhiệm riêng, thực hiện chức năng riêng trong mối liên hệ chung là thực hiện quyết toán NSNN, vì vậy mỗi cơ quan, đơn vị đều có trách nhiệm pháp lý riêng Đối với khâu tổng hợp và lập báo cáo QT NSNN thì do KBNN thực hiện, vì vậy trong vai trò này KBNN sẽ là chủ thể quản lý của hoạt động quyết toán NSNN để trình Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt
1.2.2 Nguyên tắc và yêu cầu
1.2.2.1 Ngu ên tắc
a) Thời hạn lập báo cáo và phê chuẩn QT NSNN
Về thời hạn lập và gửi báo cáo quyết toán NSNN, các đơn vị dự toán cấp 1 thuộc ngân sách trung ương lập BCQT thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý gửi về Bộ Tài chính, trước ngày 01 tháng 10 năm sau U ND cấp tỉnh gửi Bộ Tài chính BCQT ngân sách địa phương trước ngày 01 tháng 10 năm sau Chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn QT ngân sách địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi QT ngân sách địa phương đến Bộ Tài chính Kho bạc Nhà nước tổng hợp, lập BCQT NSNN trình Bộ Tài chính trình Chính phủ chậm nhất là 14 tháng sau khi kết thúc năm ngân sách Chính phủ báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội QT NSNN chậm nhất là 16 tháng sau khi kết thúc năm ngân sách để cho ý kiến
Trang 25trước khi trình Quốc hội Quốc hội xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN chậm nhất là 18 tháng sau khi kết thúc năm ngân sách
b) Nguyên tắc niên độ
Các khoản thu, chi NS phải hạch toán và quyết toán đúng niên độ
NS Niên độ NS nào quyết toán vào niên độ đó không đưa các khoản thu chi của niên độ NS này quyết toán vào niên độ NS khác Các BCQT NSNN luôn được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định và được xác định bởi thời gian thực hiện dự toán và thường là 1 năm (12 tháng) Kết thúc niên độ đòi hỏi Chính phủ phải chỉ đạo cơ quan quản lý NS lập quyết toán, phục vụ cho việc kiểm toán, thẩm tra và phê chuẩn quyết toán Mỗi niên độ NS lập quyết toán riêng và không được lẫn lộn giữa các niên
độ Cơ quan quản lý NS chịu trách nhiệm hướng dẫn lập quyết toán và xử
lý các vấn đề phát sinh khi kết thúc niên độ NS phục vụ cho việc lập quyết toán NSNN
Trường hợp những quốc gia thực hiện quản lý NS theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn hoặc thực hiện cam kết chi thì việc quyết toán cũng sẽ thực hiện theo niên độ NS Việc áp dụng khuôn khổ chi tiêu trung hạn hay các khoản chi cam kết chỉ thực hiện đối với việc lập kế hoặch NS để đảm bảo tầm nhìn dài hạn đối với một NS hiệu quả mà thôi Với các khoản chi cam kết là những khoản chi sẽ được thực hiện trong năm kế hoạch hoặc một số năm tiếp theo với những nhiệm vụ chi nhất định (chuyển nguồn) Tuy nhiên khi quyết toán các khoản chi cam kết sẽ phát sinh theo từng niên độ NS do vậy việc quyết toán sẽ được thực hiện theo từng niên độ Kết thúc niên độ, Chính phủ phải chỉ đạo việc lập quyết toán NSNN để đánh giá lại việc thực hiện NS và chính sách NS đã thực hiện trong năm NS Qua quyết toán NSNN sẽ là điều kiện nhìn nhận lại các sự kiện NS đã qua kể cả các khoản chi cam kết và khuôn khổ chi tiêu trung hạn
Trang 26c) Nguyên tắc duy nhất
Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi khoản thu, chi của NSNNchỉ tương ứng với mộtmục NS cụ thể và đều phải phản ánh đầy đủ, rõ ràng, không được phép vượt quá dự toán NSNN (bao gồm cả các khoản được bổ sung) được giao (theo thẩm quyền)và không được phép bù trừ giữa các khoản thu, chi hay dành riêng một khoản thu nào đó để trang trải cho một khoản chi nhất định Các ĐVDT không được tự động tạo ra nguồn thu cho mình, mọi khoản chi chỉ được thực hiện trong khuôn khổ nguồn kinh phí đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định
Nguyên tắc này có lí do chính trị đó là để bảo đảm quyền của cơ quan lập pháp trong quyết định NS một cách toàn diện trên cơ sở đó phân bổ nguồn lực một cách công bằng, hiệu quả Ngoài ra việc tôn trọng nguyên tắc này cho phép biết được rõ ràng tình trạng thâm hụt NS để có biện pháp phòng tránh phù hợp Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc không bù trừ trong hoạt động NSNN trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có phần cứng nhắc, nếu không có những quy định ngoại lệ có thể dẫn đến làm tăng thêm sự trì trệ của cơ quan nhà nước và đáp ứng không kịp thời nhu cầu phát triển KT-XH Song, cũng chính những trường hợp ngoại lệ thường làm cho việc giám sát của cơ quan lập pháp đối với hoạt động NS trở nên khó khăn hơn (như các quỹ ngoài NS hay nguồn thu phí được để lại cho
các đơn vị sự nghiệp bổ sung kinh phí hoạt động)
d) Nguyên tắc cân đối
Cân đối NSNN hiểu theo cách thông thường, xét trong trạng thái tĩnh là việc tính toán, so sánh giữa tổng thu và chi NSNN trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm) Nếu chi lớn hơn thu thì gọi là thâm hụt hay bội chi
NS, nếu thu lớn hơn chi gọi là bội thu hay thặng dư NSNN Như vậy, việc xác định cân đối NSNN trên cơ sở so sánh giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi để xác định kết dư hay thiếu hụt và cách xử lý Tuy nhiên, vấn đề cần làm rõ là
Trang 27xem xét những khoản thu, chi nào được tính vào cân đối, những khoản thu, chi nào không được tính vào cân đối Tùy thuộc vào trình độ phát triển KT-
XH và điều kiện cụ thể của quốc gia, mà các nhà hoạch định chính sách xác định NS thăng bằng, thặng dư hay là thâm hụt (ví dụ: Thâm hụt có thể do mất cân đối giữa khả năng thu và nhu cầu chi hay là thực hiện NS thâm hụt có chủ ý) Một việc quan trọng trong cân đối NS là xem xét, xử lý mức độ bội chi (thâm hụt) NS trong từng thời kỳ sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của quốc gia và cam kết với quốc tế
Như vậy, công việc quyết toán NSNN phải xác định được cân đối
NS, trên cơ sở đó so sánh với dự toán mà QH đề ra Hàng năm khi quyết toán tổng kết đánh giá lại việc thực hiện NS không chỉ là xác định tổng số thu, chi, các khoản thu từ đâu, chi dùng vào việc gì mà còn phải tính toán,
so sánh để xác định thặng dư hay thâm hụt, chính sách NS tác động đến nền kinh tế như thế nào, cần có sự điều chỉnh gì Cân đối NSNN chính là một phần quan trọng của quyết toán NSNN nhằm so sánh số thực thu, thực chi cũng như việc thực hiện mục tiêu của chính sách NS và các chính sách KT-XH khác
Qua quyết toán NSNN có thể đánh giá tình trạng lạm thu hoặc tình trạng mất cân đối với các khoản chi Quán triệt nguyên tắc cân đối khi quyết toán NSNN còn phải chú ý đến chính sách thu, tức là mức huy động GDP vào NSNN Trường hợp tỷ lệ huy động quá cao sẽ dẫn đến hạn chế hay lấn át đầu
tư, giảm mức tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và khu vực tư nhân và điều này lại ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Ngoài ra sự cân đối quyết toán còn thể hiện được sự cân đối trong cơ cấu thu, chi, phản ánh mức huy động của từng khoản thu và mức chi của từng lĩnh vực Trường hợp có sự mất cân đối giữa thu, chi, giữa các lĩnh vực đòi hỏi phải xác định được nguyên nhân
Trang 28Theo thông lệ quốc tế, khi xác định bội chi đa số các nước đều tính thu, chi theo số thực thu, thực chi Những khoản đã có trong dự toán nhưng chưa xuất quỹ NS, chưa thực chi trả cho đối tượng thụ hưởng thì sẽ không được hạch toán chi NSNN và không được tính để xác định bội chi Thu NS là các khoản thực thu theo luật định trong năm NS Đây là các khoản thu vào quỹ
NS nhưng không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng
có nghĩa vụ phải nộp NSNN Chi NS là toàn bộ các khoản thực chi theo luật định trong năm NS; là các khoản chi ra từ NSNN nhưng không làm phát sinh nghĩa vụ phải bồi hoàn trực tiếp của các đối tượng sử dụng cho NSNN
Ở Việt Nam, cân đối NS được thực hiện theo nguyên tắc thận trọng Khi cân đối NS phải quán triệt nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên; nếu có bội chi thì bội chi phải nhỏ hơn chi ĐTPT Như vậy theo nguyên tắc này các khoản thu được sử dụng để trang trải chi thường xuyên và một phần được sử dụng để chi ĐTPT
đ) Ngu ên tắc toàn diện
Theo nguyên tắc này, tất cả các nghiệp vụ thu, chi NS đều phải hạch toán và quyết toán vào NSNN Ngoài các khoản thu chi cân đối NS còn phải báo cáo kèm theo các khoản có liên quan chặt chẽ với NSNN như các quỹ bên cạnh quỹ NSNN (quỹ ngoài NSNN), quỹ được tiếp vốn từ quỹ NSNN Chẳng hạn như quỹ dự trữ tài chính, quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hỗ trợ phát triển, Ngoài ra, khi quyết toán NSNN còn phải báo cáo kèm theo các khoản thuế được miễn giảm, các khoản thu được để lại chi
Có thể thấy rằng, toàn diện là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý NSNN Quyết toán NSNN là một khâu của chu trình NS do vậy cần phải tuân thủ nguyên tắc chung Mặt khác, khi và chỉ khi quyết toán
NS thể hiện được toàn diện các khía cạnh của năm NS đã qua mới đảm bảo sức thuyết phục về trách nhiệm giải trình của Chính phủ, cơ quan quản lý NS trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của Quốc gia
Trang 29Tính toàn diện của quyết toán NSNN thể hiện trên hai giác độ:
Thứ nhất, về phạm vi của NS, quyết toán NSNN phải bao quát được
toàn bộ các khoản thu, chi NSNN, các quỹ có liên quan chặt chẽ với quỹ NSNN Việc bao quát đầy đủ phạm vi này một mặt cung cấp đầy đủ thông tin cho cơ quan lập pháp biết được những diễn biến của NS diễn ra trong năm Mặt khác, qua việc phản ánh đầy đủ, đảm bảo hệ thống thông tin quản lý được minh bạch, tránh được các rủi ro tài khoá xảy ra Xu hướng chung của các Chính phủ là ưa thích sử dụng các quỹ ngoài NS bởi các quỹ này tránh được những trình tự hết sức chặt chẽ của quy trình NS; và có tác dụng can thiệp một cách nhanh chóng vào nền kinh tế khi có những biến cố xảy ra Tuy nhiên, điều này lại làm cho phạm vi của NSNN có xu hướng bị thu hẹp dần, NSNN bị biến tướng và phản ánh không toàn diện chức năng can thiệp vào nền kinh tế của Chính phủ
Thứ hai, quyết toán không chỉ giải quyết được vấn đề số liệu mà còn
phải giải trình về tính tuân thủ, kinh tế, hiệu quả của NSNN CQT cũng phải đánh giá, giải trình về thực hiện chính sách NS trong năm tài khoá, những tác động của chính sách tài khoá trong năm đến nền kinh tế quốc dân Một số nước khi xem xét phê chuẩn quyết toán còn chú ý xem xét, đánh giá đến các rủi ro tài khoá để có biện pháp đảm bảo an ninh tài chính quốc gia trong trung và dài hạn
Để thực hiện được nguyên tắc toàn diện, yêu cầu trước hết với quyết toán NSNN là phải có quy định một cách rõ ràng đầy đủ phạm vi NS trong văn bản quy phạm pháp luật về NS của mỗi quốc gia Tuỳ từng quốc gia với trình độ quản lý NS khác nhau mà các quy định về tính đầy đủ của NS cũng khác nhau Đa số các nước phát triển, đều quy định rõ ràng các nguồn lực của nhà nước phải được báo cáo khi kết thúc năm tài khoá, ngoài các khoản thu, chi của NS còn phải báo cáo các quỹ ngoài NS, các tác động trực tiếp tới NS kèm theo Trong khi các nước đang phát triển thường không quy định rõ phạm vi, mức độ của NS, dẫn đến tính đầy đủ của NS bị hạn chế
Trang 30e) Nguyên tắc không phân bổ nguồn thu
Theo nguyên tắc này tất cả các khoản thu là nguồn để trang trải chung cho các khoản chi, mà không phân biệt đó là khoản chi nào Nguyên tắc này
có tính chất bổ trợ cho nguyên tắc duy nhất một quỹ NS qua việc bảo đảm chắc chắn rằng bất kỳ một khoản chi nào đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định không phụ thuộc vào một nguồn thu cụ thể nào đó Toàn bộ các khoản thu phát sinh, các khoản chi tại các đơn vị được NSNN cấp, các cơ quan, đơn vị không được quyền giữ lại các khoản thu phát sinh để phục vụ nhu cầu chi tiêu của mình hoặc nguồn thu này, chỉ để chi cho nhiệm vụ chi
đã xác định Khi xác định số chi cho các cơ quan, đơn vị không được phép khấu trừ các khoản thu có thể thu được Thực hiện theo nguyên tắc này cho phép phản ánh toàn bộ các khoản thu, chi phát sinh trong quyết toán NSNN Không một khoản thu nào phát sinh không được phản ánh trong NS đồng thời các khoản chi cũng được phản ánh đầy đủ hơn Nguyên tắc không phân bổ nguồn thu cũng quy định một số yêu cầu trong thực hiện
NS, các cơ quan hành chính không thể tự động tạo ra nguồn thu cho mình ngoài kinh phí NSNN cấp Mọi hoạt động chi đều phải được thực hiện trong khuôn khổ dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao Mọi hoạt động thu đều phải chuyển vào NS chung và cơ quan đó không được sử dụng nguồn thu cho riêng hoạt động của mình
Thực hiện nguyên tắc không phân bổ nguồn thu đảm bảo tính hiệu quả của phê chuẩn NS, bởi nguyên tắc này đòi hỏi trình bày NS phải chi tiết, do vậy khi xem xét phê chuẩn NS phải chi tiết; mặt khác, phê chuẩn quyết toán chỉ có ý nghĩa khi xem xét chi tiết, cụ thể các nội dung chi NS Thực hiện nguyên tắc này cũng tránh được tình trạng các đơn vị cung cấp dịch vụ công chạy theo số thu đơn thuần Nếu các khoản thu được để lại đơn vị sử dụng thì các đơn vị sẽ có xu hướng không ưu tiên thực hiện nhiệm vụ công mà ưu tiên
Trang 31thực hiện nhiệm vụ có thu để tăng nguồn trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của mình; trong khi hiệu quả và năng suất của các dịch vụ công không thể tính toán bằng các tiêu chí kinh tế thị trường thuần túy
g) Nguyên tắc công khai, minh bạch
Do bản chất của NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các tổ chức, cá nhân Nguồn thu của NSNN được hình thành chủ yếu từ việc thực hiện nghĩa vụ thu nộp của các tổ chức, cá nhân theo luật định Chi của NSNN lại chủ yếu phục vụ cho việc cung cấp hàng hoá công cộng và thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước NSNN có tác động và chi phối mạnh
mẽ đến các mặt hoạt động xã hội thậm chí đến từng gia đình thông qua việc nhận lương của công chức nhà nước, phúc lợi công cộng và các khoản an sinh
xã hội Vì vậy khi quyết toán phải đảm bảo tính minh bạch để có sự tham gia kiểm soát đối với hoạt động NS Để quyết toán NSNN của một quốc gia đảm bảo tính minh bạch, cần thỏa mãn một số điều kiện sau:
Thứ nhất, tính rõ ràng về vai trò và trách niệm của Chính phủ: Nghĩa là
trách nhiệm của Chính phủ cần được phân định rõ ràng và Chính phủ phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình đối với các hoạt động NS đã diễn ra Không có bất cứ lý do gì để Chính phủ chối bỏ trách nhiệm của mình về các quyết định về thu, chi NS trái với quy định Kể cả trường hợp đã được kiểm toán, Chính phủ cũng không thể chối bỏ trách nhiệm của mình đối với các hoạt động TC-NS đã qua Ngoài ra cũng cần có cơ chế rõ ràng đối với các hoạt động
NS và các hoạt động ngoài NS Các quỹ ngoài NS cần được thực hiện quản lý theo những cơ chế nhất định và phải được báo cáo kèm với hoạt động NS
Thứ hai, tính công khai, minh bạch: Ngân sách là tiền của dân, doanh
nghiệp đóng góp, vì vậy, phải công khai cho dân và xã hội biết Công chúng phải được tiếp cận với các thông tin NSNN không chỉ với năm NS quyết toán
mà cả với các năm NS đã qua và chính sách NS trong tương lai ên cạnh các
Trang 32thông tin về các hoạt động NS của các cấp chính quyền, báo cáo NS hàng năm phải được công bố kèm theo các báo cáo về các khoản có quan hệ mật thiết với NS như các khoản nợ, các khoản giảm, trừ, miễn thuế
Thứ ba, tính trung thực và toàn diện: Điều đó có nghĩa là quyết toán NS
phải rõ ràng về phương pháp tính toán, xác định các khoản thu, chi; rõ ràng về phương pháp tính toán, xây dựng dự toán và quyết toán NSNN Các số liệu thu, chi NSNN phải phản ánh theo đúng thực trạng về KT-XH; theo đúng mức tiền đã thu nộp hoặc đầu tư và có đầy đủ các cơ sở chứng minh cho mỗi nghiệp vụ thu, chi thực tế phát sinh đó Ngoài ra, để quyết toán NSNN đảm bảo tính trung thực và toàn diện đòi hỏi phải có một cơ quan kiểm toán độc lập với Chính phủ để kiểm tra và báo cáo kịp thời cho cơ quan lập pháp và công chúng về tính trung thực của các thông tin tài chính và các tài khoản của Chính phủ, nhằm xác nhận độ tin cậy của thông tin, tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế, và hiệu quả trong quản lý và sử dụng NSNN
1.2.2.2 Yêu cầu quản qu ết toán Ngân sách nhà nước
- Về công tác lập kế hoạch về tổng hợp BCQT NS phải đảm bảo đầy
đủ, kịp thời, đúng quy định, có thời gian cụ thể cho từng giai đoạn tổng hợp BCQT NS
- Về tổ chức bộ máy phải đảm bảo các phòng ban chức năng đảm bảo
đủ nguồn lực về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu công việc
- Về thời hạn lập, gửi báo cáo quyết toán phải được thực hiện hiện theo đúng quy định
- Nội dung xét duyệt, thẩm định quyết toán NSNN phải được thực hiện theo các nội dung đã quy định tại Điều 66 và Điều 67 Luật NSNN 2015
- Về số liệu quyết toán NSNN:
+ Số quyết toán thu NSNN là số thu đã thực nộp hoặc đã hạch toán thu NSNN qua KBNN;
Trang 33+ Số quyết toán chi NSNN là số chi đã thực thanh toán hoặc đã hạch toán chi theo quy định
+ Số liệu quyết toán NS phải chính xác, trung thực, đầy đủ và được đối chiếu với KBNN Nội dung của quyết toán NS phải theo đúng các nội dung trong dự toán được giao và theo Mục lục NSNN; Thủ trưởng ĐVSDNS phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của quyết toán của đơn vị, chịu trách nhiệm về những khoản thu, chi hạch toán, quyết toán sai chế độ
- Quyết toán của các ĐVDT và NS các cấp chính quyền địa phương không được quyết toán chi lớn hơn thu
- NS cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí ủy quyền của
NS cấp trên vào BCQT NS cấp mình Cuối năm, CQTC được ủy quyền lập BCQT kinh phí ủy quyền theo quy định gửi CQTC ủy quyền và cơ quan quản
lý ngành, lĩnh vực cấp ủy quyền
- Quyết toán NSNN năm gửi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định phải gửi kèm báo cáo thuyết minh nguyên nhân tăng, giảm các chỉ tiêu thu, chi NS so với dự toán
- KBNN các cấp có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi CQTC cùng cấp để CQTC lập BCQT KBNN xác nhận số liệu thu, chi NS trên BCQT của NS các cấp, ĐVSDNS
1.2.3 Nội dung quản l
1.2.3.1 Lập kế hoạch qu ết toán tại Kho bạc Nhà nước
Hàng năm, căn cứ thời điểm, trình tự quyết toán NSNN theo quy định của Luật NSNN, căn cứ theo đề xuất của Cục Kế toán nhà nước, Văn phòng KBNN thực hiện lập kế hoạch triển khai công tác quyết toán NSNN cùng với các nhiệm vụ khác của hệ thống K NN, Văn phòng K NN ban hành Quyết định của Tổng Giám đốc KBNN về việc kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ, đề
Trang 34án chính sách của hệ thống KBNN của năm trong đó có kế hoạch triển khai công tác quyết toán NSNN theo từng mốc thời gian cụ thể Mục tiêu khi xây dựng kế hoạch quyết toán NSNN nhằm đảm bảo công tác quyết toán NSNN được thực hiện đúng quy định, đúng chính sách, chế độ, thẩm quyền thu, chi NSNN, đảm bảo chất lượng số liệu quyết toán NSNN được tổng hợp đầy đủ, chính xác, trình các cấp có thẩm quyền đúng trình tự, thời hạn quy định, đảm bảo thời hạn Quốc hội phê chuẩn quyết toán NSNN đúng thời hạn sau 18 tháng kể từ thời điểm kết thúc năm ngân sách
Kế hoạch quyết toán NSNN hàng năm xuất phát từ các các quy định của nhà nước về thời hạn lập Báo cáo quyết toán ngân sách đối với từng cấp quản lý Các quy định này được quy định tại Luật NSNN 2015 của Quốc Hội, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính Phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NSNN, Thông tư số 342/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định
số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính Phủ Những quy định này đưa ra những thời hạn cụ thể về lập Báo cáo quyết toán NSNN đối với các ĐVSDNS, các đơn vị dự toán, thời hạn tổng hợp quyết toán NSNN đối với cơ quan tài chính các cấp, phê chuẩn báo cáo quyết toán NSNN NS địa phương, thời gian tổng hợp báo cáo QTNS của Kho bạc Nhà nước, thời gian Bộ Tài chính gửi báo cáo QTNS cho Kiểm toán Nhà nước, thời gian Chính phủ gửi báo cáo cho cơ quan của QH để thẩm tra và thời gian Chính phủ trình báo cáo QTNSNN ra QH để phê chuẩn Trên cơ sở đó, Chính phủ, Bộ Tài chính, KBNN ban hành kế hoạch, chương trình công tác đối với công tác quyết toán NSNN phù hợp với quy định
Đối với Bộ Tài chính, KBNN, kế hoạch về tổng hợp báo cáo quyết toán NSNN hàng năm được lập và ban hành tại các quyết định về chương trình công tác của cả năm ban hành ngay vào thời điểm đầu năm (đầu tháng 01
Trang 35hàng năm) Chương trình kế hoạch của Bộ Tài chính về Lập Báo cáo quyết toán NSNN sẽ dựa trên cơ sở chương trình kế hoạch công tác của Chính phủ, chương trình kế hoạch của Kho bạc Nhà nước sẽ căn cứ vào chương trình kế hoạch công tác của Bộ Tài chính Việc ban hành kế hoạch quyết toán NSNN tại KBNN phải bám sát chương trình kế hoạch của Bộ Tài chính để đảm bảo các mốc thời gian được thực hiện đúng quy định
Đối với các ĐVSDNS, chủ đầu tư, đơn vị dự toán, căn cứ theo kế hoạch tại đơn vị mình trên cơ sở các quy định về thời hạn quyết toán NSNN, kết thúc năm NS, phải thực hiện khoá sổ kế toán NS, xử lý NS cuối năm để lập quyết toán NSNN, tức là lập BCQT NSNN (gồm: các biểu số liệu quyết toán được trình bày theo các nội dung chỉ tiêu dự toán đã được các cấp có thẩm quyền quyết định và báo cáo thuyết minh, giải trình) Việc lập quyết toán NSNN cũng tuân theo quy trình, chuẩn mực, hệ thống bảng biểu riêng và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định để đảm bảo tính thống nhất
Việc lập quyết toán NSNN được giao cho CQTC các cấp Theo trình
tự, các ĐVSDNS lập quyết toán kinh phí đã trực tiếp sử dụng báo cáo các đơn
vị dự toán cấp trên Đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt, tổng hợp, lập BCQT kinh phí thuộc phạm vi được giao quản lý gửi CQTC cùng cấp Sau khi thẩm định, CQTC tổng hợp, lập BCQT NSNN của cấp mình quản lý trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn theo trình tự: Ở địa phương, CQTC địa phương báo cáo U ND để trình HĐND xem xét, phê chuẩn
Ở cấp Nhà nước, căn cứ trên các báo cáo quyết toán của đơn vị dự toán cấp 1 đối với NS trung ương và báo cáo quyết toán đã được HĐND phê chuẩn đối với ngân sách địa phương, K NN sẽ lập báo cáo quyết toán NSNN trình
Bộ Tài chính trình Chính phủ, Chính phủ trình QH xem xét, phê chuẩn và phải đảm bảo đúng thời hạn quy định của Luật NSNN là 18 tháng sau khi kết thúc năm ngân sách
Trang 361.2.3.2 Tổ chức thực hiện
a) Tổ chức bộ máy quản lý QT NSNN
Tổ chức bộ máy là việc sắp xếp cơ cấu, tổ chức, nguồn lực cho công tác quyết toán NSNN, điều này có ý nghĩa quan trọng và là yếu tố đầu tiên để đảm bảo công tác quyết toán được thực hiện một cách hiệu quả Công tác này bao gồm việc sắp xếp bộ máy quyết toán NSNN trong KBNN Bộ máy QT NSNN có nhiệm vụ:
- Tham mưu, giúp Tổng giám đốc KBNN có ý kiến tham gia với các
Vụ, Cục, Tổng cục thuộc Bộ trong việc thẩm định quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm của các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương đảm bảo chất lượng, số liệu quyết toán đúng phạm vi ngân sách nhà nước
- Chủ trì tổng hợp, lập, thuyết minh báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách trung ương hàng năm theo chế độ quy định
- Chủ trì và phối hợp với các đơn vị liên quan tổng hợp, thuyết minh, giải trình quyết toán ngân sách nhà nước với Kiểm toán Nhà nước theo chế độ quy định; tổng hợp, báo cáo, thuyết minh giải trình kết quả thực hiện các kiến nghị của cơ quan Kiểm toán Nhà nước
- Chủ trì và phối hợp với các đơn vị liên quan chuẩn bị ý kiến giải trình, trả lời các chất vấn của đại biểu Quốc hội và ý kiến cử tri về quyết toán ngân sách trung ương và quyết toán ngân sách nhà nước theo phân công của Bộ Tài chính
Tổ chức thực hiện của các cấp Lãnh đạo đối với công tác quyết toán NSNN là việc thực hiện quyết toán NSNN theo đúng chế độ kế toán nhà nước, chế độ về quản lý NSNN và các quy định cụ thể về quyết toán NSNN được quy định tại Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Luật NSNN Bao gồm các khâu:
b) Tham gia thẩm định quyết toán NSNN
Cơ quan thẩm định quyết toán: Cơ quan tài chính các cấp thẩm định quyết toán năm của các đơn vị dự toán cấp I thuộc ngân sách cấp mình, trừ
Trang 37trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 66 của Luật NSNN 2015; Cơ quan tài chính cấp tỉnh, cấp huyện thẩm định quyết toán năm của ngân sách cấp dưới; Bộ Tài chính thẩm định quyết toán ngân sách năm của các bộ, cơ quan trung ương; Cục Kế toán nhà nước - KBNN tham gia với Bộ Tài chính thẩm định quyết toán ngân sách năm của các bộ, cơ quan trung ương và rà soát quyết toán NS địa phương
Cơ quan tài chính các cấp thẩm định quyết toán năm theo các nội dung:Kiểm tra tính đầy đủ và khớp đúng giữa các số liệu quyết toán theo quy định Đối với số liệu quyết toán của đơn vị dự toán cấp I cần bảo đảm khớp đúng với các thông báo duyệt quyết toán của cơ quan, đơn vị trực thuộc và xác nhận số liệu của Kho bạc Nhà nước; Xem xét, xác định tính chính xác và hợp pháp của số liệu quyết toán của các khoản tăng, giảm so với dự toán được giao; Nhận xét về quyết toán năm
Kết thúc quá trình thẩm định quyết toán năm, cơ quan tài chính ra thông báo thẩm định quyết toán kèm theo nhận xét, kiến nghị gửi đơn vị dự toán cấp I hoặc UBND cấp dưới để thực hiện.Trường hợp phát hiện có sai sót, cơ quan tài chính yêu cầu đơn vị dự toán cấp I điều chỉnh lại số liệu quyết toán; đối với quyết toán ngân sách cấp dưới, cơ quan tài chính cấp trên yêu cầu UBND cấp dưới trình Hội đồng nhân dân cùng cấp điều chỉnh lại số liệu quyết toán; Trường hợp phát hiện sai phạm, cơ quan tài chính xử
lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
Đối với QTNS của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong quá trình tổng hợp quyết toán ngân sách nhà nước, trường hợp phát hiện có sai sót, Bộ Tài chính yêu cầu UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp điều chỉnh lại số liệu Trường hợp phát hiện sai phạm, Bộ Tài chính xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
Trang 38Ngay từ khâu thẩm định quyết toán NNSN, theo chức năng nhiệm vụ được giao, KBNN tham gia vào quá trình thẩm định quyết toán NSNN như sau: tham gia với các Vụ, Cục chuyên quản thuộc Bộ Tài chính về thẩm định quyết toán NSNN của các bộ, cơ quan trung ương đối với ngân sách trung ương; tham gia với Vụ Ngân sách nhà nước Bộ Tài chính về rà soát quyết toán NSNN của 63 địa phương đối với NS địa phương
c) Tổng hợp số liệu quyết toán NSNN
Đối với NSĐP, báo cáo quyết toán NSNN sau khi đã được HĐND cấp tỉnh phê chuẩn, CQTC địa phương gửi báo cáo quyết toán về Bộ Tài chính và
K NN để KBNN cụ thể là Cục kế toán nhà nước sẽ thực hiện tổng hợp Đối với NSTW, Bộ Tài chính sau khi thẩm định báo cáo quyết toán NSNN của các bộ, cơ quan trung ương, căn cứ số liệu quyết toán đã được Bộ Tài chính thẩm định Kho bạc nhà nước thực hiện tổng hợp quyết toán đối với ngân sách Trung ương áo cáo quyết toán ngân sách trung ương của các bộ, cơ quan trung ương và báo cáo quyết toán ngân sách của các địa phương tổng hợp lại thành Báo cáo quyết toán Ngân sách Nhà nước, Báo cáo quyết toán NSNN sau khi được Cục Kế toán nhà nước - KBNN tổng hợp sẽ trình Bộ Tài chính
để trình các cấp có thẩm quyền phê chuẩn quyết toán NSNN Các nội dung tổng hợp quyết toán ngân sách nhà nước bao gồm: Tổng hợp số liệu quyết toán thu cân đối NSNN, tổng hợp số liệu quyết toán chi cân đối NSNN so với
dự toán đã được các cấp có thẩm quyền giao và tính toán số bội chi NSNN so với GDP dự toán và GDP thực hiện
* Tổng hợp quyết toán thu cân đối NSNN
Số liệu quyết toán thu NSNN được tổng hợp đầy đủ toàn bộ các nguồn thu của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương bao gồm: Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu
Trang 39khác theo quy định của pháp luật Số quyết toán thu NSNN là số đã thực thu theo đúng quy định tại tiết a, Điều 68 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật NSNN: “Số quyết toán thu NSNN là
số thu đã thực hiện nộp hoặc đã hạch toán thu NSNN qua K NN”
* Tổng hợp quyết toán chi cân đối NSNN
Số liệu quyết toán chi cân đối NSNN được tổng hợp đầy đủ các khoản chi NSNN bao gồm các khoản chi thường xuyên thuộc các lĩnh vực, các khoản chi đảm bảo hoạt động bộ máy của nhà nước; các khoản chi đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; chi quốc phòng; an ninh; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật Các khoản chi này được Bộ Tài chính thẩm định quyết toán (trong đó K NN tham gia thẩm định) và ra Thông báo số liệu quyết toán cho các đơn vị trung ương và các địa phương
Đối với quyết toán chi thường xuyên được tổng hợp từ các lĩnh vực chi của ngân sách trung ương (thuộc các bộ, cơ quan trung ương thực hiện và quản lý) và ngân sách địa phương (được các tỉnh, thành phố thực hiện và quản lý) là số đã thực chi theo đúng chính sách chế độ và hạch toán vào NSNN, được các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt Quyết toán chi thường xuyên được chi tiết theo các lĩnh vực: Quản lý hành chính, y tế, giáo dục, khoa học công nghệ, an ninh, quốc phòng, đảm bảo xã hội, bảo vệ môi trường, chi sự nghiệp kinh tế, chi văn hóa thông tin
Đối với quyết toán chi đầu tư phát triển được tổng hợp từ lĩnh vực chi đầu tư phát triển của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Vốn đầu
tư từ nguồn vốn NSNN được quyết toán theo niên độ ngân sách hàng năm là
số đã thực thanh toán hoặc đã hạch toán chi the quy định của Luật NSNN và các khoản chi chuyển nguồn sang năm sau để chi tiếp theo quy định
* Cân đối NSNN
Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày
Trang 40càng cao vào hơn chi đầu tư phát triển Ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt quá tổng số thu, nghĩa là ngân sách địa phương không được phép bội chi Cân đối NSNN trong quyết toán NSNN được tính bằng tổng thu NSNN trừ đi tổng chi NSNN không bao gồm kết dư ngân sách địa phương Như vậy, khi quyết toán cân đối ngân sách nếu có bội chi NSNN sẽ là bội chi của NSTW
- Bố trí nguồn lực cho công tác quyết toán NSNN là việc sắp xếp, bố trí nguồn nhân lực để đảm bảo thực hiện được đầy đủ các nhiệm vụ của công tác quyết toán NSNN
- Lãnh đạo công tác quyết toán là tác động điều hành của Lãnh đạo các cấp đến việc để định hướng công tác quyết toán theo đúng quy định của Nhà nước về quyết toán NSNN, kịp thời có các biện pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình quyết toán NSNN đảm bảo đúng quy định
d) Phối hợp với các bên có liên quan
Việc tổng hợp, lập báo cáo quyết toán NSNN tại Cục Kế toán nhà nước
- K NN được thực hiện trên cơ sở các số liệu quyết toán đã được tổng hợp từ các cấp NS, phân chia chức năng nhiệm vụ trong QLNN đối với từng đối tượng ngân sách sẽ giúp cho việc quản lý được hiệu quả (Vụ Ngân sách Nhà nước quản lý ngân sách các địa phương, Vụ Tài chính hành chính sự nghiệp quản lý ngân sách trung ương của các bộ, cơ quan trung ương, Cục Quản lý
Nợ và tài chính đối ngoại quản lý nguồn vốn vay và viện trợ), báo cáo quyết toán NSNN trước khi trình Quốc hội phải được kiểm toán bởi cơ quan Kiểm toán Nhà nước Vì vậy công tác tổng hợp, lập báo cáo quyết toán NSNN có liên quan đến rất nhiều các cơ quan, đơn vị chức năng trong và ngoài Bộ Tài chính, điều này đòi hỏi KBNN phải có sự phối hợp liên tục, kịp thời, hiệu quả đối với các đơn vị có liên quan để đảm bảo quy trình quyết toán NSNN được thực hiện kịp thời, đúng thời hạn, đúng quy định Việc phối hợp kịp thời với