1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp cưỡng chế trong luật tố tụng hình sự việt nam

99 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn với đề tài “Biện pháp cưỡng chế trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” được thực hiện với mục đích làm rõ một cách toàn diện về những điểm mới về biện pháp ngăn chặn, biện pháp cư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ BÍCH HÀ

BIỆN PHÁP CƢỠNG CHẾ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ BÍCH HÀ

BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Phúc

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn!

Người cam đoan

Trần Thị Bích Hà

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra

TAND: Tòa án nhân dân TAQS: Tòa án quân sự TTHS: Tố tụng hình sự VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7

1.1 Nhận thức cơ bản về biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự 7

1.1.1 Khái niệm biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự 7

1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015 12

1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015 14

1.2 Lịch sử phát triển quy định về các biện pháp cưỡng chế trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 15

1.2.1 Thời kì phong kiến Việt Nam thuộc địa Pháp đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 15

1.2.2 Thời kì sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước 1975 18

1.2.3 Thời kì sau năm 1975 đến nay 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 25

2.1 Những điểm mới về các biện pháp cưỡng chế trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 25

2.1.1 Tách biệt biện pháp cưỡng chế với biện pháp ngăn chặn; tập trung các quy định về biện pháp cưỡng chế vào một Mục trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 26

2.1.2 Quy định mới về biện pháp phong tỏa tài khoản 28

Trang 6

2.1.3 Quy định đầy đủ, chi tiết về áp giải, dẫn giải 31

2.1.4 Quy định về hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản 33

2.1.5 Quy định về các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân 34

2.2 Các biện pháp cưỡng chế trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 37

2.2.1 Áp giải, dẫn giải 37

2.2.2 Kê biên tài sản 42

2.2.3 Phong tỏa tài khoản 49

2.2.4 Biện pháp cưỡng chế tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nh n liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65

CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ 66

3.1 Thuận lợi, khó khăn trong áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp cưỡng chế trong giải quyết vụ án hình sự 66

3.1.1 Thuận lợi 66

3.1.2 Khó khăn 68

3.2 Dự kiến một số vướng mắc có thể phát sinh trong quá trình áp dụng quy định của BLTTHS năm 2015 về các biện pháp cưỡng chế 69

3.2.1.Chưa có quy định về việc áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế 69

3.2.2 Bổ sung các biện pháp cưỡng chế khác 70

3.2.3 Về áp giải, dẫn giải 71

3.2.4 Về kê biên tài sản 73

3.2.5 Về biện pháp phong tỏa tài khoản 74

3.2.6 Về thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân 75 3.3 Những vấn đề đảm bảo hiệu quả áp dụng các quy định về biện pháp

Trang 7

cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015 76

3.3.1 Ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về biện pháp cưỡng chế; Kiến nghị sửa đổi bổ sung một số quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp cưỡng chế 76

3.3.2 Thống nhất nhận thức và đổi mới tư duy cho các chủ thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế 78

3.3.3 Tăng cường năng lực cho các chủ thể áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thực tế 79

3.3.4 Tăng cường công tác chỉ đạo và thanh tra, kiểm tra việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế 80

3.3.5 Đảm bảo quan hệ phối hợp trong hoạt động áp dụng biện pháp cưỡng chế 82

3.3.6 Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế 82 3.3.7 Đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phòng phòng, chống tội phạm 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

BLTTHS năm 2003 sau hơn 10 năm triển khai thi hành đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bảo vệ pháp luật XHCN, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm; bảo đảm trình tự và thủ tục TTHS công khai, dân chủ, thuận lợi cho người tham gia TTHS thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của công dân, tổ chức trong hoạt động TTHS Bên cạnh những mặt tích cực, tiến bộ, BLTTHS năm 2003 cũng đã thể hiện những hạn chế, vướng mắc, bất cập, trong đó có những bất cập trong các quy định về biện pháp cưỡng chế trong TTHS như áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản Những tồn tại bất cập đó của các quy định trong BLTTHS 2003 đã gây nhiều khó khăn trong việc giải quyết vụ án hình sự, ảnh hưởng đến việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân và lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật, tính răn đe, phòng, chống tội phạm

Hiến pháp năm 2013 ra đời với nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân Những nguyên tắc đó cần được thể chế hóa trong BLTTHS Bên cạnh đó, việc tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong BLTTHS năm 2003 ảnh hưởng đến thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, trong đó có các quy định về biện pháp cưỡng chế là một đòi hỏi cấp thiết và khách quan Những yêu cầu, đòi hỏi đó đặt ra vấn đề phải sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành, thể chế nó trong một BLTTHS mới cho phù hợp với hệ thống pháp luật và thực tiễn

Ngày 27/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN

Trang 9

Việt Nam khóa XIII đã thông qua BLTTHS số 101/2015/QH13 Đ y là một trong những đạo luật quan trọng, thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 49-NQ/TW về hoạt động tố tụng theo tinh thần Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 và chương trình cải cách tư pháp, x y dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN BLTTHS năm 2015 cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về tổ chức và hoạt động nhằm xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,

cá nhân; nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng Với các quan điểm đó, BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Trong đó, quy định về biện pháp cưỡng chế trong TTHS có những sửa đổi và bổ sung căn bản Những sửa đổi, bổ sung của chế định này thể hiện ở kỹ thuật lập pháp và cả ở số lượng, nội dung của các biện pháp cưỡng chế với rất nhiều điểm mới so với chế định này trong BLTTHS năm 2003

Xuất phát từ vai trò quan trọng của chế định biện pháp cưỡng chế TTHS, với tư cách là một cán bộ của lực lượng Công an nhân dân - lực lượng nòng cốt trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm đã đặt ra nhu cầu phải kịp thời nghiên cứu, từ đó có nhận thức đúng đắn và áp dụng một cách có hiệu quả các biện pháp này trong thực tiễn giải quyết vụ án Luận văn với đề tài “Biện pháp cưỡng chế trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” được thực hiện với mục đích làm rõ một cách toàn diện về những điểm mới

về biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế TTHS trong BLTTHS năm

2015, từ đó xác định những vấn đề đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả các quy định này trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong thời gian tới

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Về sách chuyên khảo: Cuốn sách “Về tự do cá nhân và biện pháp

cưỡng chế trong tố tụng hình sự” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2011) của

tác giả Trần Quang Tiệp và sách “Chế định các biện pháp ngăn chặn theo

luật tố tụng hình sự Việt Nam, Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính

trị quốc gia (2015), của tác giả Nguyễn Trọng Phúc

Trong các cuốn sách này, các tác giả đã nghiên cứu khái quát về các biện pháp cưỡng chế trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trong đó tập trung vào các quy định về biện pháp cưỡng chế trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng như sự tác động của các biện pháp cưỡng chế đến quyền tự do cá nhân Tuy nhiên, vào thời điểm đó, BLTTHS năm 2015 chưa ra đời nên các cuốn sách trên chưa làm rõ được các điểm mới trong BLTTHS năm 2015 về các biện pháp cưỡng chế

- Về bài viết trên tạp chí:

+ Bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2/2018: “Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nh n theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015 và những vấn đề đặt ra khi triển khai áp dụng” của tác giả Nguyễn Hải Ninh

+ Bài viết trên Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học,

số 3/2018: “Nghiên cứu một số quy định đặc thù về thủ tục tố tụng hình sự đối với pháp nhân trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” của tác giả Trịnh Quốc Toản

Các bài viết trên đã đề cập đến các quy định mới của BLTTHS năm

2015 về các biện pháp cưỡng chế Tuy nhiên, phạm vi bài viết cũng chỉ tập trung vào các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân mà chưa đi s u ph n tích một cách khải quát về các biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015 nói chung

Trang 11

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và pháp luật về biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự qua các thời kì;

- Nghiên cứu làm rõ những điểm mới về biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề có thể vướng mắc trong triển khai thi hành các quy định về biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015 từ đó

đề xuất những hướng hoàn thiện và giải pháp giúp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong thực tiễn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và pháp luật về biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự qua các thời kì;

- Phân tích làm sáng tỏ quy định mới về biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015;

- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong áp dụng quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp cưỡng chế trong công tác phòng, chống tội phạm

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề đảm bảo hiệu quả áp dụng các quy định về biện pháp cưỡng chế trong thực tiễn

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quy định về biện pháp cưỡng chế trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, trong đó tập trung là BLTTHS năm 2015 và những vấn đề đặt ra trong áp dụng các quy định này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 12

Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp cưỡng chế, trong đó tập trung là các quy định của BLTTHS năm

2015 được quy định tại Mục II Chương VII Biện pháp cưỡng chế, các điều từ

436 đến 439 và những vấn đề đặt ra trong việc áp dụng các quy định này trên thực tiễn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm; các luận điểm chung của khoa học pháp lý về biện pháp cưỡng chế trong TTHS

Ngoài ra, quá trình nghiên cứu sử dụng các phương pháp cụ thể gồm: Phương pháp ph n tích, tổng hợp: Trên cơ sở ph n tích các quy định của BLTTHS và tổng hợp các dữ kiện đã có để rút ra các quy định mới, nhận định các thuận lợi, khó khăn khi áp dụng các quy định mới về biện pháp cưỡng chế trong TTHS

Phương pháp so sánh: Trên cơ sở so sánh quy định của BLTTHS năm

2015 với quy định của BLTTHS năm 2003 về biện pháp cưỡng chế để đưa ra các điểm mới của chế định này trong BLTTHS năm 2015

Phương pháp chuyên gia: thu thập thông tin khoa học, bài viết nghiên cứu chuyên sâu của các học giả, nhà nghiên cứu về vấn đề này

Phương pháp tổng kết thực tiễn: Qua thực tiễn thấy rõ bất cập, hạn chế của các quy định của BLTTHS về biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế,

từ đó ph n tích cơ sở pháp lý và thực tiễn của các quy định mới trong BLTTHS năm 2015

6 Đóng góp về khoa học của luận văn

Luận văn làm rõ sự khác biệt trong quan điểm pháp lý truyền thống và

Trang 13

pháp luật thực định (BLTTHS năm 2015) đối với khái niệm “biện pháp cưỡng chế” cũng như sự phát triển của pháp luật Việt Nam về biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự qua các thời kì; ph n tích, đánh giá những điểm mới trong quy định của BLTTHS năm 2015 về các biện pháp cưỡng chế đồng thời nghiên cứu làm rõ những vấn đề đảm bảo hiệu quả áp dụng các quy định về biện pháp cưỡng chế trong thực tiễn

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học: Những vấn đề được trình bày, phân tích trong luận

văn là những vấn đề mới về các biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015; được nghiên cứu một cách có hệ thống Kết quả nghiên cứu của luận văn

có thể sử dụng làm tài liệu học tập và nghiên cứu đối với các vấn đề liên quan

- Ý nghĩa thực tiễn: Việc nghiên cứu, ph n tích, đánh giá được những

điểm mới trong quy định của BLTTHS năm 2015 về các biện pháp cưỡng chế đồng thời đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong áp dụng cũng như làm rõ những vấn đề đảm bảo hiệu quả áp dụng các quy định này có ý nghĩa thiết thực trong đấu tranh, phòng, chống tội phạm và thực tiễn giải quyết vụ án hình sự

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 3 chương 7 tiết:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và pháp luật về biện pháp cưỡng chế

trong tố tụng hình sự

Chương 2 Quy định về biện pháp cưỡng chế trong Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2015

Chương 3 Những vấn đề đặt ra trong việc áp dụng các quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp cưỡng chế

Trang 14

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BIỆN

PHÁP CƯỠNG CHẾ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Nhận thức cơ bản về biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự

Biện pháp cưỡng chế hay nói đầy đủ hơn là các biện pháp mang tính cưỡng chế là một khái niệm đã tồn tại từ lâu trong khoa học pháp lý Về mặt thuật ngữ pháp lý, theo cuốn Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách

khoa ấn hành năm 1999 thì cưỡng chế là “những biện pháp bắt buộc cá nhân

hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” [31, tr.323] Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ

điển bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006 thì cưỡng chế

là “buộc cá nhân hay tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một

nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền Chỉ tổ chức hay cá nhân được pháp luật quy định mới được ra quyết định cưỡng chế, quyết định lực lượng cưỡng chế Cưỡng chế phải được tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ Cá nhân hay tổ chức là đối tượng cưỡng chế có thể bị buộc phải làm hay không được làm một việc nhất định về quyền tài sản hay quyền nhân thân Biện pháp sử dụng trong cưỡng chế là bạo lực về mặt vật chất hoặc tinh thần, thường được áp dụng khi quyết định

đã có hiệu lực không được thực hiện một cách tự nguyện” [32, tr.204] Để

bảo đảm thực thi pháp luật, ngoài phương thức giáo dục, thuyết phục mọi chủ thể tự giác tuân thủ, bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng sức mạnh cưỡng chế bằng pháp luật Biện pháp cưỡng chế là khái niệm thuộc phạm trù Nhà nước

và pháp luật, là hiện tượng gắn liền với Nhà nước

Trong Nhà nước XHCN, thuyết phục là biện pháp chủ yếu được áp dụng nhằm thực hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Điều

Trang 15

này xuất phát từ tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đều lấy lợi ích của nhân dân làm nền tảng và vì vậy, luôn được sự ủng hộ và tuân thủ của nhân dân

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu cho rằng có thể bỏ qua biện pháp cưỡng chế, bởi lẽ do nhiều nguyên nhân khác nhau, vẫn còn một bộ phận công dân, cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, không có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, không chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Trong điều kiện như vậy, áp dụng biện pháp cưỡng chế là cần thiết, phù hợp với nguyên tắc dân chủ, nh n đạo của Nhà nước ta, bởi lẽ nó được thực hiện vì mục đích chung của toàn xã hội, trong đó có lợi ích cá nhân Không áp dụng biện pháp cưỡng chế, hay coi nhẹ nó, sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, vô kỷ luật trong xã hội và trong bộ máy nhà nước Ngược lại quá nhấn mạnh đến biện pháp cưỡng chế, sẽ dẫn đến độc đoán, chuyên quyền Vì vậy, sự kết hợp hài hòa giữa thuyết phục và cưỡng chế cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội sẽ góp phần to lớn đối với việc thực hiện nhiệm vụ trong quản lý nhà nước

Tố tụng hình sự là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng của Nhà nước So với các lĩnh vực hoạt động nhà nước khác thì tố tụng hình sự là lĩnh vực trong đó việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cần thiết khách quan và xâm phạm nhiều nhất đến tự do cá nhân, hạn chế một số quyền con người, nh n th n được hiến định Điều này xuất phát từ nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện tội phạm và kẻ phạm tội, ngăn chặn tiếp tục phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự của kẻ phạm tội Đ y là nguyên nh n dẫn đến sự cần thiết áp dụng các biện pháp cưỡng chế can thiệp vào tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể và các quyền hiến định khác của công dân

Trang 16

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên đấu tranh chống tội phạm đòi hỏi phải có những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc Do tác động của nguyên tắc tội phạm phải bị trừng trị bằng hình phạt nên thông thường người thực hiện hành vi phạm tội có xu hướng tìm mọi cách lẩn tránh trách nhiệm hình sự của mình Do vậy, nhu cầu áp dụng các biện pháp cưỡng chế từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng đối với người tham gia tố tụng là tất yếu khách quan, nhằm loại trừ những cản trở hoạt động tố tụng có thể xảy ra, bảo đảm của hoạt động tố tụng hình sự được diễn ra bình thường, bảo đảm có các

cơ quan tiến hành tố tụng hoàn thành nhiệm vụ của mình Trong trường hợp này, biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là cần thiết, giúp tạo điều kiện cho việc thực hiện những nhiệm vụ của tố tụng hình sự, buộc bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác phải thực hiện những nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận rằng những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự cũng có thể trở thành mối đe dọa thực tế đến quyền, tự

do hiến định của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ… nếu như việc áp dụng các biện pháp này không tuân thủ các quy định của luật về điều kiện, trình tự, thủ tục và căn cứ áp dụng Để giải quyết sự mâu thuẫn giữa việc bảo đảm, tôn trọng các quyền, tự do hiến định và sự cần thiết thực hiện nhiệm vụ phát hiện, khám phá tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội đòi hỏi phải tìm ra hình thức pháp lý hạn chế quyền, tự do hiến định một cách hài hòa, có cân nhắc giữa người bị hạn chế và lợi ích của Nhà nước, xã hội Không thể nhân danh lợi ích đấu tranh chống tội phạm mà xâm phạm đến quyền, lợi ích được Hiến pháp thừa nhận của cá nh n và ngược lại, không thể

hạ thấp yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trước những khả năng bất lợi khi hạn chế quyền, tự do cá nh n Do đó, hệ thống pháp luật của bất kì quốc gia nào cũng luôn ghi nhận các tình huống trong hoạt động tố tụng hình sự khi

Trang 17

các quyền, tự do hiến định của công dân bị hạn chế trước yêu cầu bảo vệ lợi ích chung của xã hội

Căn cứ trên mục đích áp dụng, biện pháp cưỡng chế trong TTHS có thể được chia thành 3 nhóm:

Nhóm 1 gồm các biện pháp nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, ngăn

chặn người có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc g y khó khăn cho hoạt động giải quyết vụ án như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh

Nhóm 2 gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ như

khám xét người, chỗ ở, địa điểm…; xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, nhận dạng…

Nhóm 3 gồm những biện pháp bảo đảm sự thuận lợi cho hoạt động điều

tra, truy tố, xét xử và thi hành án như áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản…[26, tr.195]

Mặc dù, biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự là một vấn đề truyền thống của khoa học pháp lý Tuy nhiên, “biện pháp cưỡng chế” với tư cách là một thuật ngữ pháp lý lại chưa hề được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự thực định Với sự ra đời của BLTTHS năm 2015, lần đầu tiên, thuật ngữ “biện pháp cưỡng chế” được đưa vào trong luật Cụ thể BLTTHS năm 2015 quy định:

“Điều 126 Các biện pháp cưỡng chế

Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.”[19, Điều 126]

Với việc lần đầu tiên quy định về pháp nhân và trách nhiệm hình sự của pháp nhân, BLTTHS năm 2015 cũng đưa vào quy định về biện pháp cưỡng

Trang 18

chế áp dụng với pháp nhân, theo đó: “Cơ quan điều tra, cơ quan được giao

nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử:

a) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;

b) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;

c) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;

d) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.” [19, Điều 436]

Như vậy, BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên nhắc đến thuật ngữ “biện pháp cưỡng chế”, mặc dù chưa đưa ra được khái niệm nhưng đã ghi nhận và liệt kê các biện pháp được coi là biện pháp cưỡng chế, gồm: áp giải, dẫn giải,

kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm định chỉ có thời hạn hoạt động và buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án; trong đó có 04 biện pháp áp dụng với cá nhân gồm: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản

và 04 biện pháp áp dụng với pháp nhân gồm: kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động và buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án

Căn cứ các quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp cưỡng chế,

có thể đưa ra khái niệm về các biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm

2015 như sau:

Biện pháp cưỡng chế là các biện pháp do các cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng với bị can, bị cáo, người chưa bị khởi tố về hình sự, một

số người tham gia tố tụng khác và pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử, trong những trường hợp do BLTTHS quy định nhằm bảo đảm sự thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, gồm: áp giải, dẫn giải,

Trang 19

kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân, buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án

Như vậy, về bản chất, biện pháp cưỡng chế theo quy định tại BLTTHS năm 2015 thực chất là các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, hoặc có thể gọi chung là các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác (ngoài biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế đảm bảo cho hoạt động thu thập chứng cứ), là nhóm 3 trong cách phân loại các biện pháp cưỡng chế trong TTHS đã nêu phía trên

Căn cứ trên tiêu chí là mục đích áp dụng, BLTTHS năm 2015 đã có sự phân tách các biện pháp cưỡng chế một cách rất rõ ràng; theo đó các biện pháp mang tính chất ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc g y khó khăn cho hoạt động giải quyết vụ án như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú được gọi là các biện pháp ngăn chặn; các biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ như khám xét người, chỗ

ở, địa điểm; xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, nhận dạng… được quy định trong Phần thứ hai của BLTTHS năm 2015 (khởi tố, điều tra

vụ án hình sự) với tư cách là hoạt động điều tra và những biện pháp bảo đảm thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản (hay trước đ y gọi là các biện pháp cưỡng chế khác)

được ghi nhận bằng thuật ngữ “biện pháp cưỡng chế”

1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015

Thứ nhất, là một dạng của các biện pháp cưỡng chế nhà nước nói

chung, biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015 mang đầy đủ dấu hiệu

về bản chất của các biện pháp cưỡng chế là tính quyền lực nhà nước - tính bắt buộc thi hành Chủ thể áp dụng chúng luôn là những cơ quan và cá nh n có quyền hạn, nắm giữ quyền lực nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự - cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự cụ thể

Trang 20

nhằm triển khai các hoạt động tố tụng trên thực tiến Đối tượng bị áp dụng của các biện pháp cưỡng chế là cá nhân tham gia trong hoạt động tố tụng hình

sự với những tư cách tố tụng khác nhau như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại; trong trường hợp BLHS quy định pháp nhân

là chủ thể tội phạm thì một số biện pháp cưỡng chế cũng có thể được áp dụng với pháp nhân Tuy nhiên, dù là cá nhân hay pháp nhân, với tư cách tham gia

tố tụng của mình, họ cũng đều phải thực hiện những nghĩa vụ tố tụng bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và khi họ không tự nguyện, tự giác thực hiện các nghĩa vụ đã được quy định thì phải đối mặt với nguy cơ có thể

bị áp dụng biện pháp cưỡng chế nhất định nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa

vụ, trách nhiệm theo luật định

Thứ hai, là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự, chúng được ghi

nhận trong luật TTHS thực định - BLTTHS năm 2015 với đầy đủ quy định cụ thể về căn cứ áp dụng, đối tượng bị áp dụng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng cũng như hủy bỏ việc áp dụng một cách cụ thể đối với từng biện pháp

Các biện pháp cưỡng chế chỉ áp dụng khi trên thực tế xuất hiện khả năng cản trở tiến trình bình thường của hoạt động tố tụng hình sự Áp dụng các biện pháp cưỡng chế vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng Các chủ thể này hoàn toàn chủ động quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khi có căn cứ do luật định, không phụ thuộc vào ý kiến của những người tham gia tố tụng khác Ngoài ra, luật còn quy định trình tự, thủ tục và những điều kiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế được xem là hợp pháp khi có căn cứ

và tuân thủ trình tự, thủ tục do luật định

Thứ ba, mục đích áp dụng các biện pháp cưỡng chế là để bảo đảm sự

thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

Thứ tư, về đối tượng bị áp dụng, biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng

Trang 21

đối với cả cá nhân và pháp nhân Cụ thể, BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ các biện pháp cưỡng chế được áp dụng với cá nhân gồm: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong khi các biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng với pháp nhân gồm: kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động và buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án Đ y

là một đặc điểm quan trọng để phân biệt biện pháp cưỡng chế với biện pháp ngăn chặn vì biện pháp ngăn chặn chỉ áp dụng đối với cá nhân

1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015

Các biện pháp cưỡng chế là một chế định quan trọng trong BLTTHS năm 2015, lần đầu tiên được quy định một cách có hệ thống, đánh dấu sự tiến

bộ về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta Việc nhận thức và áp dụng đúng đắn chế định này có ý nghĩa to lớn, góp phần tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng

Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, các biện pháp cưỡng chế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để ngăn chặn người tham gia tố tụng g y khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội và

để bảo đảm thi hành án Vì vậy, việc quy định các biện pháp cưỡng chế còn góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự vững mạnh của chế

độ xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Mặt khác, việc lạm dụng, áp dụng sai các biện pháp cưỡng chế bị coi là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước Vì những lý do

đó, việc quy định một cách có hệ thống, chặt chẽ, chính xác, cụ thể các biện pháp cưỡng chế trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không những thể hiên sự tôn trọng của Nhà nước ta đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,

Trang 22

tổ chức mà còn là cơ sở pháp lý bảo đảm sự giám sát của nhân dân, xã hội đối với toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự nói chung, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nói chung

Việc quy định trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp tố tụng hình sự còn có ý nghĩa n ng cao trình độ, nhận thức của nhân dân, cán bộ các cơ quan chức năng về sự cần thiết phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng hình sự trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế Pháp luật tố tụng hình sự càng quy định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế bao nhiêu, càng tạo điều kiện giúp các cơ quan chức năng nắm vững nội dung, nhận thức đúng đắn bản chất pháp lý của các biện pháp, từ đó áp dụng hiệu quả, thống nhất các quy định này, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời góp phần tích cực vào việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa

1.2 Lịch sử phát triển quy định về các biện pháp cƣỡng chế trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Như đã ph n tích ở trên, biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm

2015 thực chất là các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; thuật ngữ “biện pháp cưỡng chế” cũng lần đầu được ghi nhận trong pháp luật tố tụng hình sự thực định Tuy nhiên, các biện pháp cưỡng chế riêng lẻ như áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản với tư cách là một bộ phận của biện pháp mang tính cưỡng chế

đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.2.1 Thời kì phong kiến Việt Nam thuộc địa Pháp đến trước Cách mạng tháng Tám 1945

Năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà là vua nước Nam Việt đã x m

Trang 23

lược và chinh phục được Âu Lạc, mở đầu cho thời kì Bắc thuộc của nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc Tư liệu lịch sử pháp luật của thời kì này rất

ít ỏi nhưng có thể thấy hai nguồn pháp luật là luật pháp của phong kiến Trung hoa được đem sang áp dụng ở nước ta và luật lệ cổ truyền của người Việt Trong suốt quá trình thống trị nước ta, chính quyền đô hộ không thể trực tiếp cai trị tới cấp xã nên phải thừa nhận tồn tại hiệu lực thực tế của luật lệ người Việt Luật lệ này được coi là phương tiện hữu hiệu của nhân dân ta chống lại ách nô dịch và m mưu đồng hóa của chính quyền phương Bắc

Từ năm 939, Ngô Quyền xưng vương, chấm dứt hơn 1000 năm đô hộ của chế độ phong kiến Trung Hoa Triều đại nhà Ngô tồn tại 26 năm (939-965) Thời kì 12 lãnh chúa phong kiến nổi dậy cát cứ, tranh giành lãnh địa, quyền lực mà sử sách gọi là “loạn 12 sứ qu n” kéo dài hơn 20 năm (944 - 968) và thời kì nhà Đinh tồn tại 12 năm (968 - 980), sau đó là thời kì nhà Tiền

Lê (980 - 1009) Trong suốt thời kì này, vì chế độ chính trị không ổn định nên Nhà nước phong kiến Việt Nam chưa quan t m đến hoạt động lập pháp nên không có tư liệu để đánh giá thực trạng pháp luật trong giai đoạn này

Trong 215 năm (1009 - 1225) tồn tại của triều đại nhà Lý, vào năm

1024, vua Lý Thái Tông cho sửa lại luật lệ, biên tập điều khoản của Bộ hình thư với 03 tập Đ y là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta nhưng đáng tiếc

là không tìm được nó Sử sách chỉ ghi được một số chiếu do các vua nhà Lý ban hành trong đó có nội dung về tố tụng hình sự nhưng chưa phát hiện nội dung liên quan về các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự Tiếp đó, triều đại nhà Trần tồn tại 175 năm (1225 - 1400), vào năm 1230, vua Trần Thái Tông cho khảo định lại các luật lệ của các triều vua trước đó, sửa đổi hình luật, lễ nghi, soạn thành Quốc triều hình luật, gồm 20 quyển Đến năm

1342, vua Trần Dụ Tông lệnh cho Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn Bộ hình thư để ban hành Tuy nhiên, hiện nay cả hai bộ luật này đều không tìm thấy

Trang 24

Sau khi đánh tan qu n x m lược nhà Minh, giành lại độc lập, chủ quyền, triều đại nhà Lê tồn tại 355 năm (1428 - 1527 và 1533 - 1789), phát triển rực rỡ ở thời kì Lê sơ Thời kì Lê sơ đánh dấu sự phát triển và hoàn thiện nhất của cổ luật phong kiến với sự ra đời của bộ Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) vào năm 1483 Bộ luật được cấu trúc theo chương và điều luật Trong Bộ luật đã có nhiều quy định liên quan đến các biện pháp mang tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự như bắt, giam, giữ, giải, tịch thu tài sản sung công; tập trung tại các chương Đoán ngục (xử án) và chương Bộ vong (bắt tội phạm chạy trốn); ngoài ra các chương khác như Vệ cấm, Vi chế, Quân chính, Thông gian, Đạo tặc, Đấu tụng, Trá ngụy đều có các quy định bảo đảm thực hiện các biện pháp mang tính cưỡng chế như quy định trách nhiệm hình sự đối với người thiếu trách nhiệm trọng áp dụng biện pháp mang tính cưỡng chế: “Tướng súy phụng mệnh đi bắt những tội nhân bỏ trốn mà dùng dằng không đi ngay thì xử tội biếm hay tội đồ ” [33, Điều 645]; “Những tù bị giam, kẻ nào đáng giam mà không giam, đáng gông cùm mà không gông cùm, hay cho bỏ cùm thì người coi tù bị phạt 60 trượng” [33, Điều 658]

Sau khi đánh bại nhà T y Sơn, Nguyễn Phúc Ánh lên làm vua, lấy niên hiệu là Gia Long, thiết lập triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Vua Gia Long giao cho Nguyễn Văn Thành phụ trách soạn thảo bộ luật có tên Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) có hiệu lực thi hành

từ năm 1813 Bộ luật Gia Long là một bộ luật hoàn chỉnh được cấu tạo bởi 22 quyển, 398 điều luật Trong các quyển 18, 19 của Bộ luật có rất nhiều quy định về việc bắt và giam, giữ, giải; đáng chú ý có một số quy định thể hiện tư tưởng nh n đạo trong việc áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế như chế độ giam giữ với người không có gia thuộc (th n nh n, gia đình chăm nom), người đau yếu như: “Phàm tù bị giam trong ngục mà không có gia thuộc, thì phải xin cấp áo cơm, có bệnh thì phải xin cấp thuốc men cho họ,

Trang 25

nếu không xin cấp, gặp lúc họ bệnh nặng (trừ tử tội không được mở khóa trói) đều phải mở xiềng ”

Tuy nhiên, cũng như Quốc triều hình luật, Bộ luật Gia Long hay nói chung là pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn phong kiến mặc

dù có quy định về các biện pháp mang tính cưỡng chế như bắt, giam, giữ, giải, tịch thu tài sản, niêm phong tài sản nhưng vẫn chưa tách biệt các biện pháp mang tính cưỡng chế trong giai đoạn điều tra với hình phạt trong giai đoạn thi hành án, mà đều sử dụng chung các thuật ngữ là bắt, giam, giam cấm, giải, tịch thu tài sản sung công

1.2.2 Thời kì sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước 1975

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã lật đổ hoàn toàn bộ máy nhà nước phong kiến - thực dân và dẫn đến sự ra đời của Nhà nước kiểu mới đầu tiên ở Đông Nam Á - nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trong lúc chính quyền non trẻ phải đối mặt với nạn đói và thù trong giặc ngoài nhưng hoạt động lập pháp vẫn được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Ngày 09/11/1946, Hiến pháp năm 1946 được ban hành Với những quy định: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ, giam cầm người công dân Việt Nam” [14, Điều 11] và “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật ” [14, Điều 7] là cơ sở pháp lý cho việc ban hành quy định về bắt trong Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán

và Sắc lệnh 131/SL ngày 20/7/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức tư pháp công an Theo đó, đã có quy định

về bắt bớ, giam giữ, giải bị can, thu giữ tang vật, niêm phong tài sản, khám nhà với trình tự, thủ tục nhất định cần tuân theo; cụ thể:

“Ban tư pháp xã không có quyền tịch thu tài sản của ai Cũng không có

quyền bắt bớ, giam giữ ai trừ khi có trát nã của một thẩm phán, hay khi thấy người phạm tội quả tang.” [9, Điều 4]

Trang 26

“Khi bắt người trong hai trường hợp kể trên, ban Tư pháp phải lập

biên bản hỏi cung, và giải bị can lên ngay Toà án trên, trong hạn 24 giờ là cùng.” [9, Điều 5]

“Nếu cần, ban tư pháp có thể khám xét nhà các tư nhân, để thu giữ

tang vật, song phải lập biên bản minh bạch và không được xâm phạm đến các

đồ vật khác Các tang vật thu giữ phải bao gói cẩn thận và niêm phong rồi đệ ngay lên Toà án trên.” [9, Điều 6]

“Muốn khám nhà ngoài trường hợp phạm pháp quả tang thì phải khám

sau 6 giờ sáng và trước 6 giờ chiều Nếu đã bắt đầu khám trước 6 giờ chiều thì vẫn có quyền tiếp tục việc khám nhà đến khi xong

Trong các nhà mở cho công chúng tự do xuất nhập, thí dụ cao, hàng cà phê, nhà hay gá cờ bạc vân vân, thì giờ có thể khám nhà lùi đến lúc khách hàng hoặc người làm việc phạm pháp ra về hết.” [9, Điều 7]

“Sau khi khám nhà, nếu bắt được hay không bắt được tang vật, đều

phải có biên bản Biên bản này phải kê rõ đã tịch thu những tang vật gì, niêm phong như thế nào, giao cho ai

Chủ nhà bị khám sẽ ký vào biên bản; chủ nhà vắng mặt thì thân nhân

ký thay Nếu chủ nhà hoặc thân nhân không chịu ký, không biết ký hoặc không thể ký được thì nói rõ trong biên bản.” [9, Điều 9]

Đặc biệt, với Luật số 103/SL-L005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền

tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân đã có quy định cụ thể về các trường hợp bắt người phạm pháp; tạm giữ, tạm giam, tạm tha; khám người, khám đồ vật, khám nhà ở và thư tín

Tiếp đó, Hiến pháp năm 1959 tiếp tục ghi nhận: “Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công d n nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được bảo đảm Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nh n d n” [15, Điều 27] và “Pháp luật

Trang 27

bảo đảm nhà ở của công d n nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật” [15, Điều 9] Cụ thể hóa các quy định trên, Thông tư số 427/TT-LB ngày 28/6/1963 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

và Bộ Công an đã xác định thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước và trách nhiệm phê chuẩn của Viện kiểm sát, theo đó:

“Cơ quan Công an chỉ được tiến hành bắt, khám người, khám nhà, giữ

lại thư tín, tạm giữ hoặc kê biên tài sản, tạm giam, gia hạn giam, miễn tố, tạm tha bị can khi đã được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát Để có căn cứ cho việc phê chuẩn, cơ quan Công an cần gửi đến Viện kiểm sát hồ sơ gồm những tài liệu cần thiết đã thu thập được Nếu thấy chưa đủ căn cứ, thì Viện kiểm sát yêu cầu cung cấp thêm tài liệu Viện kiểm sát có trách nhiệm nghiên cứu phê chuẩn nhanh chóng để phục vụ kịp thời cuộc đấu tranh chống phạm tội” [29,

Điểm 2, Chương II]

Như vậy, pháp luật tố tụng giai đoạn này đã có những quy định về các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự với đúng bản chất của nó là đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; cùng những quy định về trình tự thủ tục cũng như hoạt động kiểm sát trong áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Viện kiểm sát đối với cơ quan áp dụng, thực thi; tuy nhiên giai đoạn này không có sự phân biệt giữa mục đích áp dụng các biện pháp cưỡng chế; chưa tách các quy định về biện pháp ngăn chặn với các biện pháp cưỡng chế khác

1.2.3 Thời kì sau năm 1975 đến nay

Pháp luật tố tụng hình sự nói chung và các quy định về biện pháp cưỡng chế nói chung trong giai đoạn này ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh chống tội phạm

Từ năm 1976 đến năm 1988, với những ảnh hưởng tiêu cực từ nền kinh

tế tập trung, quan liêu, bao cấp cũng như những hiện tượng tiêu cực mới nảy

Trang 28

sinh trong xã hội sau khi Đảng, Nhà nước ta thực hiện chính sách đổi mới; các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự nói chung, về biện pháp cưỡng chế nói riêng được ban hành rải rác, không thể hiện đầy đủ chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong pháp luật tố tụng hình sự Khắc phục bất cập đó, ngày 28/6/1988, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự Đ y thực sự là bước nhảy vọt trong lịch sử pháp luật TTHS của nước ta trong đó chế định biện pháp cưỡng chế đánh dấu mốc phát triển mới với hệ thống các biện pháp ngăn chặn được tập hợp thống nhất tại Chương 5 của Bộ luật Theo

đó, BLTTHS năm 1988 quy định 6 biện pháp ngăn chặn gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Các biện pháp cưỡng chế như khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, xem xét dấu vết thân thể cũng được quy định trong các chương quy định

về hoạt động điều tra; các biện pháp cưỡng chế khác như áp giải, tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm cũng được quy định rải rác trong các chương về hoạt động điều tra và thủ tục phiên tòa

So với BLTTHS năm 1988, xét về chế định biện pháp cưỡng chế, BLTTHS năm 2003 chưa thực sự tạo bước đột phá Tuy nhiên, BLTTHS năm

2003 cũng đã có những sửa đổi nhằm quy định rõ ràng hơn về căn cứ, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế một cách đầy đủ, chính xác hơn so với BLTTHS năm 1988

BLTTHS năm 2015 thực sự đã tạo nên bước tiến mới khi đã có sự phân tách rất rõ ràng các nhóm biện pháp cưỡng chế; theo đó các biện pháp mang tính chất ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc g y khó khăn cho hoạt động giải quyết vụ án như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú được gọi là các biện pháp ngăn chặn; các biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ như khám xét người, chỗ ở, địa điểm; xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, nhận dạng… thì

Trang 29

được quy định trong Phần thứ hai của BLTTHS năm 2015 (khởi tố, điều tra

vụ án hình sự) với tư cách là hoạt động điều tra và những biện pháp bảo đảm

sự thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản (hay trước đ y gọi là các biện pháp cưỡng chế khác)

được ghi nhận dưới thuật ngữ pháp lý “biện pháp cưỡng chế” Kể từ đ y, biện

pháp cưỡng chế đã có nội hàm được xác định rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng trên thực tế cũng như nghiên cứu học thuật về vấn đề này

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự, có thể nhận thấy biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự là một vấn đề truyền thống của khoa học pháp lý; là tất yếu khách quan, phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự khi người thực hiện hành vi phạm tội luôn có xu hướng tìm mọi cách lẩn tránh trách nhiệm hình sự của mình Mục đích của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế là nhằm loại trừ những cản trở hoạt động tố tụng có thể xảy ra, bảo đảm của hoạt động tố tụng hình sự được diễn ra bình thường, bảo đảm có các cơ quan tiến hành tố tụng hoàn thành nhiệm vụ của mình Nhưng bên cạnh đó, đ y cũng là các biện pháp tác động mạnh mẽ đến quyền con người, quyền công dân của các đối tượng bị áp dụng

Do đó, để giải quyết sự mâu thuẫn trên, hệ thống pháp luật của bất kì quốc gia nào cũng luôn ghi nhận các tình huống trong hoạt động tố tụng hình sự khi các quyền, tự do hiến định của công dân bị hạn chế trước yêu cầu bảo vệ lợi ích chung của xã hội

Quy định về các biện pháp cưỡng chế đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch

sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Tuy nhiên, thuật ngữ “biện pháp cưỡng chế” với tư cách là một thuật ngữ pháp lý lại chưa hề được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự thực định Với sự ra đời của BLTTHS 2015, lần đầu tiên, thuật ngữ “biện pháp cưỡng chế” được đưa vào trong luật; ghi nhận và liệt kê các biện pháp được coi là biện pháp cưỡng chế, gồm: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm định chỉ có thời hạn hoạt động và buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án; trong đó có 04 biện pháp áp dụng với cá nhân gồm: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản và 04 biện pháp áp dụng với pháp nhân gồm: kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động và buộc nộp một khoản tiền để

Trang 31

bảo đảm thi hành án Từ đ y, biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được xác định rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng cũng như nghiên cứu về vấn đề này

Trang 32

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRONG BỘ

định hướng quan trọng sau:

Một là, mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong

quá trình giải quyết vụ án phải được quy định trong BLTTHS (trên cơ sở đó,

bổ sung một số biện pháp cưỡng chế mới như phong tỏa tài khoản để đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới)

Hai là, thu hút toàn bộ các biện pháp cưỡng chế tố tụng để điều chỉnh

chung trong một chương nhằm bảo đảm tính chặt chẽ và nhất quán trong việc quy định các biện pháp này

Ba là, từng biện pháp cưỡng chế phải được điều chỉnh cụ thể bởi năm

yếu tố: căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chỉ đặt ra trong trường hợp thật cần thiết, khi đáp ứng đầy đủ căn cứ, điều kiện luật định và nếu không áp dụng thì sẽ khó khăn cho việc giải quyết vụ án, thậm chí đi vào bế tắc.[28, Điểm 7, Mục II, Phần thứ Ba]

Với quan điểm đó, quy định về biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm 2015 có những điểm mới cơ bản sau đ y:

Trang 33

2.1.1 Tách biệt biện pháp cưỡng chế với biện pháp ngăn chặn; tập trung các quy định về biện pháp cưỡng chế vào một Mục trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Từ những nhận thức cơ bản về biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong TTHS, biện pháp cưỡng chế trong TTHS không chỉ có biện pháp ngăn chặn mà còn có các biện pháp cưỡng chế khác Trong BLTTHS 2003, các biện pháp cưỡng chế khác được quy định ở các Chương khác nhau, g y khó khăn cho hoạt động tố tụng Cụ thể là “Áp giải bị can tại ngoại” được quy định tại Điều 130 Chương X, “Áp giải bị cáo” được quy định tại Điều 187 Chương XVIII, “Dẫn giải người làm chứng” được quy định tại Điều 134 Chương XI, Điều 192 Chương XVIII, “Kê biên tài sản” được quy định tại Điều 146 Chương XII…Cách thức lập pháp như trên vừa g y khó khăn cho việc nghiên cứu áp dụng pháp luật, vừa không thể hiện rõ bản chất của các biện pháp cưỡng chế mà đều quy về các hoạt động trong giai đoạn khởi tố, điều tra [20, Phần thứ hai]

Nhận thức được vấn đề này, BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, BLTTHS năm 2015 sửa theo hướng thu hút toàn bộ các biện pháp có tính cưỡng chế quy định trong các chương, các phần của BLTTHS để điều chỉnh chung trong chương VII nhằm bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ khi quy định

về các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công d n Theo đó, bố cục thành hai mục (Mục I Biện pháp ngăn chặn và Mục II Biện pháp cưỡng chế) Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã tách biệt hai nhóm biện pháp mang tính cưỡng chế trong TTHS là “biện pháp ngăn chặn” và “biện pháp cưỡng chế” Các biện pháp mang tính cưỡng chế nhằm thu thập chứng cứ thì được quy định trong Phần thứ hai của BLTTHS năm 2015 (khởi tố, điều tra

vụ án hình sự) với tư cách là hoạt động điều tra (cũng là các biện pháp thu thập chứng cứ) Và như vậy, biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS 2015 cần

Trang 34

được hiểu là các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, hoặc có thể gọi chung là các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác (ngoài biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế đảm bảo cho hoạt động thu thập chứng cứ); được quy định tại Mục

II, Chương VII từ điều 126 đến điều 130 Cụ thể:

Mục II Biện pháp cưỡng chế

Điều 126 Các biện pháp cưỡng chế

Điều 127 Áp giải, dẫn giải

Điều 128 Kê biên tài sản

Điều 129 Phong tỏa tài khoản

Điều 130 Hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản

Đối với pháp nhân, các biện pháp cưỡng chế tuy không được quy định thành một mục riêng biệt nhưng cũng được quy định tập trung tại Chương XXIX, từ điều 436 đến điều 439 BLTTHS năm 2015; theo đó tại điều 436 liệt

kê 04 biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với pháp nhân gồm: Kê biên tài sản, phòng tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động và buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án Cụ thể:

Điều 436 Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân

Điều 437 Kê biên tài sản

Điều 438 Phong tỏa tài khoản

Điều 439 Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án

Sự thay đổi về cách thức và kỹ thuật lập pháp như trên đã cho thấy các nhà làm luật đã nhận thức sâu sắc hơn về bản chất của biện pháp cưỡng chế trong TTHS, từ đó có những quy định cụ thể phù hợp với Hiến pháp, phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm

Trang 35

2.1.2 Quy định mới về biện pháp phong tỏa tài khoản

Trong tình hình hiện nay, với sự phát triển của hệ thống ngân hàng cùng với các hình thức tín dụng hiện đại và tiện lợi, việc giữ tài sản không chỉ còn dưới dạng tài sản như bất động sản, nhà cửa, xe cộ, tiền vàng…mà còn dưới dạng tài khoản trong tổ chức tín dụng hoặc kho bạc Việc phong tỏa tài khoản của cá nhân, tổ chức cụ thể nhằm đảm bảo cho việc thi hành án về tịch thu tài sản, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại là hết sức cần thiết

Việc ghi nhận phong tỏa tài khoản là một trong những biện pháp giúp hạn chế việc tẩu tán tài sản cũng phù hợp với quy định trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Thụy Sĩ, Mỹ… Tuy nhiên, ở Việt Nam, quy định này được ghi nhận có phần muộn hơn so với một

số quốc gia trên thế giới

Điển hình, ở Trung Quốc, quy định về phong tỏa tài sản ( trong đó có việc phong tỏa tiền tiết kiệm của bị can tại ngân hàng) đã được ghi nhận từ rất sớm trong BLTTHS năm 1996 và 16 năm sau đó lại tiếp tục được quy định

trong BLTTHS năm 2012: “Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan công an, tùy

theo yêu cầu điều tra, có thể kiểm tra hoặc phong toả các tài sản như tiền

tiết kiệm, hối phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, cổ phần của bị can theo luật Cơ

quan và cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp Nếu các tài sản như

tiền tiết kiệm, hối phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, cổ phần của bị can đã bị

phong toả thì không thể phong toả lần thứ hai” [Điều 114, BLTTHS Nước

Cộng hòa Nh n d n Trung Hoa năm 2012]

Hay như ở Thụy Sĩ, “một tài khoản ng n hàng cũng có thể sẽ bị đóng băng (frozen) theo lệnh đóng băng chính thức được ký bởi Công tố viên Liên bang Và các hoạt động giao dịch liên quan đến tài khoản sẽ bị chặn sau đó

Lý do dẫn đến hậu quả tài khoản ngân hàng bị chặn có thể xuất phát từ việc phát hiện ra các hoạt động gian lận, mua chuộc, rửa tiền, tham nhũng, trốn

Trang 36

thuế, gian lận thuế, gian lận VAT, thao túng thị trường…Với yêu cầu khóa tài khoản của một cơ quan có thẩm quyền, ngân hàng sẽ không bao giờ đứng về phía khách hàng, họ chỉ làm theo lệnh nhận được từ công tố viên Thụy Sĩ Thông thường các công tố viên sẽ yêu cầu ngân hàng Thụy Sĩ trong mọi trường hợp không thông báo cho khách hàng của mình về tình hình xung quanh tài khoản bị đóng băng Đồng thời, công tố viên cũng sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu về tài khoản, bao gồm cả lịch sử của tất cả các giao dịch Các tài liệu phải được nộp trong vòng 30 ngày” [34]

Như vậy, quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng có những nét tương đồng với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới khi thừa nhận biện pháp phong tỏa tài khoản là một trong những biện pháp cưỡng chế

Mặc dù mới được ghi nhận trong BLTTHS năm 2015 nhưng trong khoa học pháp lý, từ lâu phong tỏa tài khoản đã được biết đến là một trong số các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự Biện pháp này được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành

án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và họ có tiền gửi trong tài khoản ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc kho bạc nhà nước Nói một cách cụ thể hơn, trong tố tụng dân sự “phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín

dụng khác, Kho bạc nhà nước là việc cô lập không cho chuyển dịch tài sản ở

tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc kho bạc nhà nước” [27, tr.118] Sau khi những tài sản có trong tài khoản bị phong tỏa thì mọi giao dịch thực hiện đối với tài sản đó đều là vô hiệu Khi tòa án đã ra quyết định

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa thì ngân hàng, tổ chức tín

dụng khác hoặc tại Kho bạc nhà nước có trách nhiệm ngừng mọi giao dịch

liên quan đến tài sản bị phong tỏa cho đến khi có quyết định khác của tòa án

Và việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản có mục đích bảo đảm thi hành án dân sự thông qua việc cô lập, đặt tài khoản của người phải thi hành

Trang 37

án trong tình trạng không thể sử dụng được để ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản

BLTTHS năm 2015 không đưa ra khái niệm về biện pháp phong tỏa tài khoản Dựa trên những thông tin về biện pháp phong tỏa tài khoản trong

tố tụng dân sự đã được áp dụng từ lâu kết hợp với quy định tại Điều 129, Điều 438 BLTTHS năm 2015 ta có thể hiểu: Đ y là biện pháp cưỡng chế được thực hiện nhằm kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán tiền dưới mọi hình thức trong tài khoản của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo (có thể áp dụng với bị can, bị cáo là cá nh n và pháp nh n thương mại để phù hợp với quy định về chủ thể tội phạm của Bộ luật hình sự năm 2015) Khi tài khoản

bị phong tỏa, chủ tài khoản sẽ không được thực hiện bất kì một giao dịch nào đối với phần tài khoản bị phong tỏa đó Như vậy, “phong tỏa tài khoản

là biện pháp cưỡng chế không cho người có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc kho bạc Nhà nước được sử dụng tiền trong tài khoản của họ nhằm bảo đảm thi hành án”[26, tr.270]

Khi ghi nhận phong tỏa tài khoản là một trong số các biện pháp cưỡng chế, các nhà làm luật cũng cho rằng đ y sẽ là một công cụ hữu hiệu giúp hạn chế việc các đối tượng phạm tội tẩu tán tài sản để từ đó có thể thu hồi tài sản được đầy đủ, kịp thời hơn (điển hình là việc thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng) Tuy nhiên, để biện pháp này đạt được hiệu quả một cách tối đa thì cũng cần có những bảo đảm pháp lý nhất định Nhất là khi việc ra lệnh phong tỏa tài khoản cũng có liên quan đến việc thực thi quyền, trách nhiệm của phía ngân hàng - nơi nắm giữ những thông tin cần thiết về tài khoản của đối tượng bị phong tỏa Chính vì vậy, BLTTHS năm 2015 đã có những quy định cụ thể về đối tượng áp dụng, điều kiện áp dụng cũng như nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục và những trường hợp hủy bỏ việc áp dụng

Trang 38

2.1.3 Quy định đầy đủ, chi tiết về áp giải, dẫn giải

Có thể nói, so với quy định của BLTTHS năm 2003, chế định về áp giải, dẫn giải đã có nhiều điểm mới, tiến bộ Áp giải và dẫn giải được định nghĩa chính thức trong BLTTHS năm 2015 là các biện pháp cưỡng chế Theo quy định tại Điều 4 BLTTHS năm 2015 về giải thích thuật ngữ, hai biện pháp cưỡng chế này đã được nhà làm luật đưa ra định nghĩa với nội hàm khá rõ ràng Theo đó, áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, còn dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định Định nghĩa đã xác định được bản chất của hai biện pháp, đồng thời, giúp cho người đọc hình dung khái quát về đối tượng, trường hợp của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này Tiếp đó, hai biện pháp áp giải và dẫn giải được quy định cụ thể trong Điều 127 của BLTTHS năm 2015 Đ y là điểm tiến bộ rõ nét trong kĩ thuật lập pháp về hai biện pháp cưỡng chế này nhìn từ góc độ so sánh giữa BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015

Thật vậy, so với quy định trong BLTTHS năm 2003, nhóm các biện pháp cưỡng chế nói chung chưa được quy định thành một phần riêng mà nằm rải rác trong BLTTHS, cụ thể, các quy định về biện pháp áp giải, dẫn giải chủ yếu được thể hiện dưới dạng nghĩa vụ trong các điều luật cụ thể quy định về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng (Điều 49, 50, 55 thuộc chương IV (Người tham gia tố tụng), trong Điều 130 thuộc Chương X (Khởi tố bị can và hỏi cung bị can) và Điều 134 thuộc Chương XI (Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn d n sự, bị đơn d n sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng) Về hai biện pháp này, BLTTHS năm 2003 chỉ quy định áp giải đối với bị can, dẫn giải đối với người

Trang 39

làm chứng mà không quy định cho các đối tượng khác BLTTHS năm 2003 cũng không quy định về thẩm quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải trong Điều luật quy định về áp giải, dẫn giải; quy định chưa đầy đủ về trình tự, thủ tục tiến hành hai biện pháp này

Khắc phục những hạn chế đó, BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi bổ sung các quy định về áp giải, dẫn giải như sau:

Một là, quy định rõ và đầy đủ về đối tượng có thể bị áp giải, dẫn giải

Theo khoản 2 Điều 127 BLTTHS năm 2015, áp giải có thể áp dụng đối

với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội Còn dẫn giải

có thể áp dụng đối với:a) Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;c) Người bị

tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung đầy đủ các

loại người có thể bị áp giải, dẫn giải Đ y là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng biện pháp này trong TTHS

Hai là, quy định đầy đủ về thẩm quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải

và thẩm quyền thi hành quyết định này:

BLTTHS năm 2003 cũng đã đề cập đến thẩm quyền ra loại quyết định này, tuy nhiên, lại quy định một cách gián tiếp trong phần nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên Theo đó, Điều tra viên có quyền quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng [20, Điều 35] Còn thẩm quyền ra quyết định của các chủ thể khác BLTTHS năm 2003 chưa đề cập đến cũng như chưa quy định về thẩm quyền thi hành quyết định áp giải, dẫn giải

Trang 40

BLTTHS năm 2015 đã khắc phục hạn chế bằng quy định cụ thể về thẩm quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải như sau: “Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải”[ 19, Điều 127] Và “Cơ quan Công an nh n d n, Qu n đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải” [19, Điều 127]

Ba là, bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục áp giải, dẫn giải:

2.1.4 Quy định về hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản

Đ y là quy định mới trong BLTTHS năm 2015 Theo Điều 130 BLTTHS năm 2015, vấn đề về hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản được quy định như sau:

Về trường hợp hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản: Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:

- Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

Ngày đăng: 27/05/2020, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w