1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở qua thực tiễn tại thành phố điện biên phủ

96 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 824,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các quyền năng của người sử dụng đất, thì quyền thừa kế quyền sử dụng đất nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở nói riêng là một trong những quyền năng đặc thù, được pháp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG TRUNG TẬP

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học, đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Sần Ngọc Toàn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ NHÀ Ở 6

1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 6

1.1.1 Khái niệm thừa kế 6

1.1.2 Quyền thừa kế 7

1.2 Pháp luật hiện hành về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở 9

1.2.1 Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo di chúc 9

1.2.2 Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo pháp luật 13

1.2.3 Một số điểm mới cơ bản về chế định thừa kế của Bộ luật Dân sự năm 2015 19

1.3 Khái niệm và đặc điểm thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở 20

1.3.1 Khái niệm quyền sử dụng đất ở và nhà ở 20

1.3.2 Một số đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở 24

1.4 Quan điểm về thừa kế theo tập quán của dân tộc Xạ Phang (Hoa) 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ NHÀ Ở TẠI THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ 33

2.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ 33

2.1.1 Một số vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo pháp luật 37

Trang 5

2.1.2 Một số vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

theo di chúc 49

2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng giải quyết tranh

chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ 62

2.2.1 Điều kiện Kinh tế - Xã hội của thành phố Điện Biên Phủ 62 2.2.2 Thị trường bất động sản và mật độ dân số tại thành phố Điện

Biên Phủ 63 2.2.3 Một số nhân tố ảnh hưởng khác 66

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở, NHÀ Ở TẠI THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ 69 3.1 Nhóm giải pháp, kiến nghị về hoàn thiện quy định pháp luật 69 3.2 Nhóm giải pháp, kiến nghị về tăng cường hòa giải các tranh

chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở 77 3.3 Nhóm giải pháp, kiến nghị về tăng cường phối hợp giữa cơ

quan quản lý đất đai thuộc UBND các cấp với TAND thành phố Điện Biên Phủ 80 3.4 Nhóm giải pháp, kiến nghị đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả

công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân 81 KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS Bộ luật dân sự BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất TAND Tòa án nhân dân

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thống kê số vụ án của TAND thành phố Điện Biên

Bảng 2.2 Bảng thống kê số vụ án tranh chấp thừa kế nhà và đất

TAND thành phố Điện Biên Phủ giải quyết (2014 – 2018) 36

Bảng 2.3 Bảng thống kê về Dân số, diện tích tại các xã/phường

thuộc Thành phố Điện Biên Phủ năm 2015 64

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thừa kế là một chế định quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự Về nguyên tắc, đất đai thuộc

sở hữu toàn dân, nhưng pháp luật cũng dành cho người sử dụng đất những quyền năng nhất định trong việc quản lý và sử dụng đất Trong các quyền năng của người sử dụng đất, thì quyền thừa kế quyền sử dụng đất nói chung

và thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở nói riêng là một trong những quyền năng đặc thù, được pháp luật thừa nhận bởi tính quan trọng trong việc bảo tồn, duy trì và truyền lại qua các thế hệ với loại tài sản đặc biệt này

Thừa kế đơn thuần là sự dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật, tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở diễn ra ngày càng nhiều với tính chất phức tạp, diễn biến kéo dài vì đó

là những tài sản có giá trị lớn, việc giải quyết tranh chấp tại các cấp Tòa án còn nhiều bất cập và khó khăn

Thành phố Điện Biên Phủ thuộc một tỉnh miền núi phía bắc, trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế mà tình hình tranh chấp thừa kế quyền về quyền sử dụng đất ở và nhà ở giữa những người

có quan hệ gần gũi, huyết thống với nhau ngày càng nhiều Như vậy, nếu không giải quyết dứt điểm, hợp tình, đúng lý sẽ gây mất đoàn kết nội bộ gia đình, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội

Nhận thấy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở là rất cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện về chế định pháp luật thừa kế, vừa nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại các cấp Tòa án địa phương

Trang 9

2

Với tâm thế là một con em địa phương theo học, nghiên cứu pháp luật

và nhận thấy tầm quan trọng trên nên em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thừa kế

quyền sử dụng đất ở và nhà ở qua thực tiễn tại thành phố Điện Biên Phủ”

để làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ luật học, với mong muốn làm rõ hơn quy định pháp luật vấn đề này, thấy được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết những tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà

ở Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, kiến nghị giúp các cơ quan lập pháp, tư pháp có căn cứ sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự cho phù hợp với đời sống thực tiễn hơn

2 Tình hình nghiên cứu

Thời gian qua, cùng với quá trình phát triển về chế định thừa kế trong pháp luật dân sự thì thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở được nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan quy định, điều chỉnh như: Bộ luật Dân sự, Luật nhà ở, Luật Đất đai và nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng luận án Tiến sĩ luật, luận văn Thạc sĩ, luận văn tốt nghiệp Cử nhân luật, Tạp chí, Giáo trình, học liệu chuyên sâu khác… Một số công trình nghiên cứu khoa

học tiêu biểu như: Luật thừa kế Việt Nam, PGS.TS Phùng Trung Tập, Nxb

Hà Nội, 2009; Thừa kế theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng,

TS Phạm Văn Tuyết, Nxb Chính trị quốc gia, 2007; Luật thừa kế Việt Nam

– Bản án và bình luận bản án của TS Đỗ Văn Đại, Nxb Chính trị quốc gia,

2009; Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam của TS Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 1999; Thừa kế theo pháp luật của công dân

Việt Nam từ năm 1945 đến nay của PGS.TS Phùng Trung Tập, Nxb Tư

pháp, 2004; Tìm hiểu các quy định của pháp luật về thừa kế, Dương Bạch

Long và Nguyễn Xuân Anh, Nxb.Chính trị Quốc gia, 2005…

Ngoài ra, thời gian qua một số công trình nghiên cứu ở bậc sau đại học là các Luận văn Thạc sĩ, Luận án tiến sĩ của các tác giả nghiên cứu về

Trang 10

3

thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở; Thừa kế quyền sử dụng đất như Luận văn thạc sĩ luật học: Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở gắn liền với đất của Lê Trung Phước, 2012; Thừa kế quyền sử dụng đất qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng của Ngô Thị Hương Giang, 2012…vv

Tuy nhiên những công trình trên chỉ nghiên cứu và đề cập ở phạm vi tổng thể, vĩ mô mà chủ yếu là nghiên cứu về những quy định chung về chế định thừa kế, chưa đề cập sâu đến lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở Đồng thời, các công trình nghiên cứu trên cũng chưa giải quyết về tính thực tiễn đối với vấn đề thừa kế tại các địa phương cụ thể

Đặc biệt vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở qua thực thực tiễn tại thành phố Điện Biên Phủ chưa từng được công bố dưới gốc độ Luận văn Thạc sĩ luật học Đây có thể coi là một khiếm khuyết, bởi lẽ thực tiễn nay bộc

lộ nhiều vướng mắc, những khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại TAND thành phố Điện Biên Phủ

Chính vì vậy, thực hiện một công trình nghiên cứu trên cơ sở lý luận và thực tiễn với đề tài nêu trên là hết sức cần thiết

3 Đối tƣợng, mục đích và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn bao gồm:

+, Các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, dân sự và nhà ở có liên qaun đến thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở;

+, Thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà

ở qua thực tiễn tại Thành phố Điện Biên Phủ

- Mục đích nghiên cứu

Pháp luật thừa kế là một chế định rất quan trọng của pháp luật dân sự, mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ vấn đề thừa kế của loại tài sản đặc biệt là quyền sử dụng đất ở và nhà ở Trên cơ sở lý luận về thừa kế và qua thực tiễn giải quyết tranh chấp tại TAND TP Điện Biên Phủ, để có cái nhìn

Trang 11

kế mà chủ yếu tập trung chủ yếu vào thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở qua thực tiễn tại TP Điện Biên Phủ

Trên cơ sở, phạm vi quy định của Bộ luật dân sự; Bộ luật tố tụng dân sự; Luật đất đai; Luật nhà ở và một số văn bản hướng dẫn liên quan và thông qua công tác xét xử của quan Tòa để có những hướng hoàn thiện, kiến nghị phù hợp nhằm đạt được mục đích đặt ra của luận văn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu nêu trên, luận văn đã đặt ra các nhiệm vụ như sau:

Làm sáng tỏ khái niệm thừa kế nói chung, khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở nói riêng;

Làm rõ những đặc điểm mang tính đặc thù của thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở qua các hình thức thừa kế;

Phân tích, đánh giá về điều kiện tự nhiên, Kinh tế - Xã hội của địa phương có ảnh hưởng đến tình hình tranh chấp thừa kế;

Dẫn chiếu, phân tích những vụ án tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở được thụ lý, giải quyết tại TAND thành phố Điện Biên Phủ;

Đánh giá những điểm bất cập, hạn chế của pháp luật hiện hành và thực tiễn giải quyết những phát sinh, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà

ở để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật

về thừa kế

Trang 12

5

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về việc bảo vệ quyền thừa kế cho công dân

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giải kết hợp nghiên cứu, tham khảo các văn bản pháp luật về chế định thừa kế; Các tài liệu, học liệu khác liên quan; Tiếp thu có chọn lọc kết quả của các công trình đã công bố, các báo cáo, tổng kết, đánh giá của cơ quan chuyên môn bằng những phương pháp như: Phân tích, so sánh, tổng hợp, xã hội học, thống kế…

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về thừa kế, nhận diện được những đặc trưng riêng đối với thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở;

- Phân tích được thực trạng giải quyết những tranh chấp phát sinh trên thực tế, từ đó có cách nhìn khách quan để đưa giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở;

- Luận văn ngoài ý nghĩa làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy còn là nguồn tài liệu tham khảo có tính thực tiễn cao cho công dân, Cán bộ đang công tác tại cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án…

7 Cơ cấu của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

ở, nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ

Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả giải quyết

tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ

Trang 13

6

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ NHÀ Ở

1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

1.1.1 Khái niệm thừa kế

Thừa kế có vai trò quan trọng và đã xuất hiện từ rất lâu trong xã hội loài người, ngay cả khi chưa có Nhà nước và luật pháp thành văn, thừa kế đã tồn tại trong các hình thái Kinh tế - Xã hội song song với sự xuất hiện của con người

Theo một số nghiên cứu nhân học và xã hội học đã được thực hiện về phong tục thừa kế phụ hệ, nơi mà chỉ có con trai mới được kế thừa Một số nền văn hoá sử dụng sự kế thừa mẫu hệ, nơi tài sản chỉ có thể trao cho con gái, thông thường dành cho các con trai của em gái của người quá cố; một số

xã hội, thừa kế từ mẹ sang con gái Thời cổ đại và Quốc gia hiện đại thì thừa

kế quân bình mà không phân biệt, đối xử theo giới tính hay thứ tự sinh ra

Nghiên cứu về thừa kế, Ph Ăngghen viết:

Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên người mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn nên loại này trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người

mẹ [14, tr.79]

Cùng sự phát triển của lịch sử, tập quán thừa kế của thị tộc được nhà nước chiếm hữu nô lệ thừa nhận, điều chỉnh quan hệ thừa kế trong xã hội Cho đến khi hình thái Kinh tế - Xã hội phát triển, làm thay đổi và ra đời nhiều ngành nghề mới từ nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt nên tất yếu người đàn ông trở thành trụ

Trang 14

7

cột chính nuôi sống gia đình Địa vị của người đàn ông trong gia đình, các thị tộc, bộ lạc được thừa nhận làm thay đổi địa vị của người phụ nữ và quan hệ thừa

kế theo chế độ mẫu quyền Ở nước ta, quan hệ thừa kế được hình thành trên cơ

sở tập quán, thói quen của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc và nó đi sâu vào trong nhận thức của người dân Qua thời kỳ lịch sử phát triển, chế định thừa kế được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản pháp luật nhưng tập quán thừa kế của nhiều tộc người đến nay vẫn được gìn giữ, lưu truyền đến ngày nay

Theo từ điểm luật học: “Thừa kế là sự truyền lại tài sản của người chết

cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định pháp luật” [1, tr.754]

Như vậy,có thể hiểu khái niệm: Thừa kế là việc chuyển giao tài sản

cùng các quyền,nghĩa vụ gắn liền tài sản từ một người chết sang cho người còn sống theo di chúc hoặc quy định pháp luật

1.1.2 Quyền thừa kế

Mỗi con người sinh ra đều đã mang cho mình được quyền thực hiện ý chí không trái với pháp luật hoặc đạo đức xã hội.Trong đó, quyền thừa kế là một quyền quan trọng và trở thành một nhu cầu không thể thiếu gắn liền với đời sống của mỗi cá nhân Mỗi nhà nước, mỗi giai cấp dù có những xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi vấn đề quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp

Trên thực tế đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền thừa kế: Theo quan điểm của TS Phạm Văn Tuyết và TS.LS Lê Kim Giang

thì: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài

sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” [44]

Theo cuốn từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

thì: “Quyền thừa kế là quyền để lại tài sản của mình cho người khác sau khi

chết, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” [1, tr.656]

Quan hệ thừa kế xuất hiện, nhất là khi có Nhà nước và luật pháp thành

Trang 15

8

văn ra đời làm cho quan hệ thừa kế trở thành chế định riêng, trong đó quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thừa kế được ghi nhận, đảm bảo thực hiện không chỉ bằng pháp luật mà được điều chỉnh bởi đạo đức xã hội

Từ đó, khái niệm quyền thừa kế được xuất hiện đồng thời với quyền sở hữu, quyền và nghĩa vụ khác của chủ thể tham gia quan hệ thừa kế

Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là quyền dân sự của mỗi cá nhân trong việc để lại di sản cho người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật, nhưng chung quy lại đều phải đảm bảo được quyền của người để lại di sản

Dưới gốc độ chủ quan, các chủ thể trong quan hệ thừa kế thì một người

có quyền để lại di sản thừa kế là tài sản, thành quả lao động, các quyền, lợi ích của mình cho người khác thừa hưởng mà không bị hạn chế Người thừa kế

có quyền nhận di sản thừa kế là các giá trị vật chất, giá trị tinh thần và các quyền, nghĩa vụ liên quan khác của người có di sản để lại Chế định về quyền thừa kế quy định về quyền tự định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể trong việc để lại di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, đồng thời người nhận di sản cũng có quyền nhận di sản theo di chúc hoặc pháp luật

Hơn nữa, quyền sở hữu là một quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, dành cho họ quyền định đoạt tối cao Như vậy, quyền sở hữu và quyền thừa kế tài sản có mối quan hệ khăng khít và ngang nhau Thực tế tài sản của mỗi con người có thể tồn tại lâu hơn một đời người, do đó cần có một

cơ chế pháp lý điều chỉnh sự dịch chuyển các quyền tài sản của người chết sang cho người còn sống, việc chuyển dịch đó không chỉ đơn thuần là kế thừa các quyền mà còn cả nghĩa vụ của người đã khuất

Quyền thừa kế bản chất đó là một quyền dân sự của công dân, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959; 1980; 1992 và tại Điều 32 Hiến

Trang 16

9

pháp năm 2013 quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp

luật bảo hộ” [22, Điều 32] Việc bảo hộ này cũng được cụ thể hóa trong Luật

Đất đai; Bộ luật Dân sự và một số văn bản pháp luật khác

Bộ luật dân sự năm 2015 đã đưa ra khái niệm về quyền thừa kế với nội dung hoàn toàn mới, theo hướng nhấn mạnh quyền tự định đoạt của người lập

di chúc có quyền chỉ định một tổ chức hưởng di sản của mình sau khi chết Cụ

thể, Điều 609 quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản

của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật Người thừa kế không là cá nhân

có quyền hưởng di sản theo di chúc” [26, Điều 609]

Trên cơ sở các quan điểm, lý luận nêu trên tác giả cũng đưa ra quan

điểm của mình về quyền thừa kế như sau: “Quyền thừa kế là quyền tự quyết

của người nhận di sản Quyền thừa kế chỉ phát sinh khi người có di sản chết, những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc của người để lại di sản

có thể nhận di sản hoặc từ chối nhận di sản thừa kế của người chết”

1.2 Pháp luật hiện hành về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

1.2.1 Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo di chúc

Di chúc là việc thể hiện ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc, do vậy pháp luật luôn tôn trọng và bảo hộ ý chí của người lập di chúc Đối với di sản là quyền sử dụng đất ở và nhà ở, người lập di chúc dựa vào tâm nguyện, tình cảm của mình với người khác mà định đoạt cho họ được hưởng quyền sử dụng đất ở và nhà ở

Theo Điều 624 BLDS năm 2015 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí

của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Di

chúc là cơ sở, căn cứ trong việc phân chia di sản của người chết để lại, việc chia thừa kế theo di chúc tùy thuộc vào việc người chết có để lại di chúc hay không Tại Chương XXII - BLDS năm 2015 quy định một số vấn đề pháp lý

về thừa kế theo di chúc, theo đó:

Trang 17

10

Thứ nhất, về chủ thể lập di chúc

Theo quy định tại Điều 625 BLDS năm 2015:

Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc [26, Điều 625]

Như vậy, người lập di chúc đối với di sản là quyền sử dụng đất ở và nhà ở, là người mà có quyền sử dụng, định đoạt khối tài sản quyền sử dụng đất ở, nhà ở của mình cho những người khác còn sống sau khi chết Người lập

di chúc ở đây chỉ có thể là cá nhân mà không thể là cơ quan, tổ chức, còn tài sản của cơ quan, tổ chức là tài sản chung về chủ thể có quyền và được xử lý theo quy định pháp luật về doanh nghiệp

Một là, người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a

khoản 1, Điều 630 BLDS năm 2015 có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, tức là người lập di chúc này là người đã thành niên và tại thời điểm lập di chúc họ là người minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, cưỡng ép hay

đe dọa Họ có khả năng thực hiện hành vi và nhận thức được hậu quả của hành vi, tự chịu trách nhiệm trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

Hai là, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập

di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc Quy định này khắc phục được sự băn khoăn về việc cha, mẹ hoặc người giám

hộ đồng ý về việc cho lập hay đồng ý về nội dung định đoạt tài sản trong di chúc mà BLDS năm 2005 trước đây chưa thể hiện rõ Nay căn cứ vào Điều 21

BLDS năm 2015:“Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự

mình xác lập, thực hiện giao dịch trừ giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”

Trang 18

11

Những người ở độ tuổi này thường chưa nhận thức đầy đủ của việc thực hiện hành vi cũng như hậu quả của việc lập di chúc, vì vậy pháp luật quy định cần phải có sự kiểm soát của cha, mẹ hoặc người giám hộ khác Quy

định này không đồng nghĩa là vi phạm nguyên tắc “ý chí” của cá nhân để lại

di sản thừa kế theo di chúc, mà việc đồng ý của người đại diện, giám hộ chỉ nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình tham gia giao dịch của người chưa thành niên

Thứ hai, quyền của người lập di chúc:

Căn cứ quy định tại Điều 626 BLDS năm 2015, thì người lập di chúc

có các quyền như: Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; Phân định phần di sản cho tường người thừa kế; Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; Giao nghĩa vụ cho người thừa kế; Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản… Đối với cá nhân người để lại tài sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của họ khi chết Quyền định đoạt của người có tài sản lập di chúc chỉ có hiệu lực khi việc định đoạt bằng di chúc thỏa mãn các điều kiện về di chúc hợp pháp được quy định tại Điều 630 BLDS năm 2015

Do tính đặc thù của đối tượng di sản là quyền sử dụng đất ở và nhà ở còn cần phải xác định rõ người có quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở

Một là, quyền sử dụng đất ở và nhà ở thuộc quyền sử dụng, sở hữu

chung hợp nhất Như vậy, nếu một bên muốn để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ở và nhà ở thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung, thì chỉ có quyền quyết định phần thuộc sở hữu của mình Giả sử di chúc hợp pháp, tức người được nhận di sản thừa kế có quyền được sử dụng, sở hữu phần di sản như nội dung di chúc nhưng cũng phải xem xét đến tính thực tế của phần di sản

Trường hợp, nếu phân chia diện tích đất ở do thừa kế không đủ diện tích

Trang 19

12

tối thiểu để cấp GCN QSDĐ và quyền sở hữu nhà ở hoặc căn nhà không thể đêm ra phân chia được nhằm đảo bảo an toàn, kết cấu xây dựng …,thì bên được quản lý, sử dụng, sở hữu khối di sản đó phải có nghĩa vụ thanh toán cho bên còn lại giá trị tương ứng với phần giá trị di sản của họ đáng ra được hưởng

Hai là, quyền sử dụng đất ở và nhà ở là tài sản chung của vợ chồng

Mặc dù BLDS năm 2015 đã bỏ quy định di chúc chung của vợ chồng, tuy nhiên pháp luật hiện hành không cấm Thực tế, trong trường hợp này nếu như

vợ chồng xét thấy cần thiết, tự nguyện, thống nhất và cùng ý chí để lại di sản cho người khác thì hoàn toàn vẫn có thể thực hiện hoặc vợ chồng không thống nhất, không cùng ý chí đối với nội dung di chúc thì mỗi bên vợ hay chồng có thể tự thực hiện việc để lại di sản thừa kế đối với phần quyền sử dụng đất ở và nhà ở của mình cho người khác

Thứ ba, hình thức của di chúc:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc

bằng văn bản thì có thể di chúc bằng miệng (Điều 627 BLDS năm 2015) Đối

với di chúc bằng văn bản gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh mà người lập di chúc lựa chọn một trong các hình thức theo quy định của pháp luật để thể hiện ý chí định đoạt tài sản của mình trong đó Hình thức của di chúc được coi là phương thức biểu đạt ý chí của người lập di chúc, là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng

cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc

Còn đối với di chúc miệng chỉ được công nhận khi đáp ứng điều kiện

về hình thức và thủ tục rất nghiêm ngặt, cụ thể: Là người thành niên, tại thời điểm lập di chúc hoàn toàn minh mẫn và sáng suốt, người từ 15 đến 18 tuổi không có quyền lập di chúc miệng; Người lập di chúc chỉ có thể lập di chúc

Trang 20

13

trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản; Người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Đồng thời, trong thời hạn năm ngày kể từ ngày di chúc miệng, thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực

Thứ tư, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:

Theo pháp luật dân sự, người để lại di sản có quyền truất quyền hưởng

di sản hoặc không cho người thuộc diện thừa kế được hưởng di sản.Tuy nhiên, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của một số cá nhân trong diện những người thừa kế theo pháp luật, phù hợp với tập quán, đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc Việt Nam Điều 644 BLDS năm 2015 quy định những người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc gồm: Con chưa thành niên, cha, mẹ,

vợ, chồng; Con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, những

người này phải được hưởng hai phần ba (2/3) của một suất thừa kế theo pháp luật nếu họ không được hưởng hoặc được hưởng ít hơn hai phần ba (2/3) của

một suất thừa kế theo pháp luật

Đối với di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ở và nhà ở cũng vậy, đó là trường hợp cha, mẹ, con, vợ, chồng không để lại di sản là quyền sử dụng đất ở

và nhà ở hoặc để lại di sản nhưng ít hơn hai phần ba (2/3) của một suất thừa

kế nếu chia theo pháp luật cho những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nêu trên Quyền sử dụng đất ở và nhà ở được xác định giá trị theo quy định pháp luật về giá đất, định giá tài sản để làm căn cứ khi phân chia di sản

1.2.2 Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là quá trình dịch chuyển di sản của người chết sang những người còn sống theo quy định của pháp luật về thừa kế Cá nhân

có quyền sử dụng đất ở và nhà ở, sau khi chết thì số di sản của người đó được

Trang 21

14

chia đều cho những người thừa kế theo pháp luật, tức những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng đối với người có di sản là quyền sử dụng đất ở và nhà ở Điều 649 BLDS năm 2015 đã định nghĩa

về thừa kế theo pháp luật như sau: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo

hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”

Thứ nhất, những trường hợp thừa kế theo pháp luật quy định tại Điều

650 BLDS năm 2015

Một là, trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường

hợp không có di chúc Đây là những trường hợp mà người để lại di sản không lập di chúc hoặc có lập di chúc nhưng đã bị hủy.Trong những trường hợp này, toàn bộ di sản của người chết để lại sẽ chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật

Hai là, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp có di

chúc nhưng di chúc không hợp pháp Di chúc được coi là không hợp pháp nếu

vi phạm các điều kiện của một giao dịch có hiệu lực theo quy định tại Điều

630 BLDS năm 2015 Di chúc bị coi là không hợp pháp sẽ không có hiệu lực pháp luật, do vậy di sản liên quan đến di chúc đó sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật Di chúc bất hợp pháp có thể bị coi là vô hiệu toàn bộ nhưng cũng có thể chỉ vô hiệu một phần, nên khi giải quyết một tranh chấp về thừa kế có liên quan đến di chúc phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, vào các điều kiện mà di chúc đã vi phạm để xác định

Ba là, thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với phần di sản không

được định đoạt trong di chúc Nếu người để lại di sản chỉ định đoạt một phần

di sản, thì phần còn lại sẽ được áp dụng chia cho những người nằm trong hàng thừa kế, trừ khi họ là người bị người lập di chúc chỉ rõ chỉ được hưởng phần

di sản theo di chúc hoặc bị truất quyền thừa kế theo di chúc

Trang 22

15

Bốn là, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp toàn bộ

những người thừa kế đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc Như vậy, một người có thể vừa được hưởng di sản thừa kế theo di chúc, vừa được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nếu họ là người tồn tại vào thời điểm mở thừa kế và đủ điều kiện hưởng di sản.Trong trường hợp chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, thì chỉ phần di sản liên quan đến họ mới được áp dụng thừa kế theo pháp luật để giải quyết

Năm là, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người

thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản Những người đáng lẽ được hưởng di sản thừa kế theo di chúc nhưng vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 621 Bộ luật này sẽ không được hưởng di sản trừ trường hợp người để lại

di sản biết nhưng vẫn cho họ hưởng theo di chúc; Trong trường hợp toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật để chia thừa kế; Trong trường hợp chỉ có một số người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản thì chỉ áp dụng thừa

kế theo pháp luật đối với phần di sản của người không được hưởng

Sáu là, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người

thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản Người thừa kế có quyền hưởng, từ chối hưởng di sản của người chết để lại Phần di sản liên quan đến người đã từ chối sẽ được áp dụng chia theo pháp luật cho những người thừa

kế khác Nếu một người từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản gồm cả phần theo

di chúc và cả phần theo pháp luật thì toàn bộ phần di sản này sẽ chia theo pháp luật cho những người thừa kế còn lại

Thứ hai, Diện và hàng thừa kế theo pháp luật

Diện những người thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết theo quy định pháp luật Diện thừa kế được đặt ra

Trang 23

hàng thừa kế ưu tiên là 1-2-3 được quy định tại Điều 651 BLDS năm 2015

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau; những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước đo đã chết và không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Chồng, vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ

nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết

+ Người thừa kế là vợ, chồng: Được xác định là vợ chồng để thừa kế di

sản của nhau phải có quan hệ vợ chồng theo quy định pháp luật Được xác lập thông qua thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014:

Thực tế, trường hợp vợ chồng xin ly hôn mà chưa được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một bên vợ

(chồng) chết thì người kia vẫn được hưởng di sản thừa kế Người đang là vợ

hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó có kết hôn với người khác thì vẫn được thừa kế di sản của người chết đó

Hoặc nếu vợ, chồng xảy ra mâu thuẫn với nhau, chưa ly hôn nhưng đã

ly thân nên đã tiến hành phân chia tài sản chung Sau đó người vợ (chồng)

chết, về mặt pháp lý họ vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân do đó khi một trong hai bên chết, thì bên kia vẫn được quyền hưởng thừa kế di sản.Như vậy, quan hệ hôn nhân, là quan hệ giữa vợ chồng được xác lập thông qua việc kết hôn hợp

pháp hoặc trong trường hợp hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận (tức

Trang 24

17

quan hệ hôn nhân được xác lập trước ngày 03/01/1987, ngày Luật hôn nhân

và gia đình năm 1986 có hiệu lực)

+ Hàng thừa kế là cha, mẹ, con: Cha, mẹ đẻ hoặc nuôi là người thuộc

hàng thừa kế thứ nhất của con đẻ hoặc con nuôi và ngược lại Con đẻ ở đây bao gồm cả con trong giá thú và ngoài giá thú

Đối với gia đình cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi chỉ có quan hệ thừa kế di sản với cha nuôi, mẹ nuôi mà không có quan hệ thừa kế với cha, mẹ và con

đẻ của người nuôi con nuôi Cha, mẹ đẻ của người con nuôi cũng không được thừa kế di sản của người con nuôi đó.Trường hợp cha nuôi, mẹ nuôi kết hôn với người khác thì người con nuôi không đương nhiên trở thành con nuôi của người đó, tức là họ không phải là người có quyền thừa kế di sản của nhau Còn một người đã là con nuôi của người khác vẫn có quan hệ thừa

kế đối với cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, em, cô, dì, chú, bác như người không làm con nuôi của người khác Đồng thời, nếu con riêng và bố dượng, mệ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha, mẹ, con thì được hưởng thừa kế tài sản của nhau và còn được thừa kế tài sản quy định tại Điều 652,

653 BLDS năm 2015

Quan hệ nuôi dưỡng, là quan hệ được xác lập thông qua việc nhận nuôi con nuôi Pháp luật quy định nuôi phải được đăng ký và làm thủ tục tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật hôn nhân gia đình, Luật nuôi con nuôi và Luật hộ tịch Trường hợp, quan hệ nuôi dưỡng được xác lập trước ngày Luật hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực thì dù chưa tuân thủ các quy định về đăng ký nhận nuôi con nuôi, mà thực tế giữa người nhận nuôi và người được nuôi yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như con đẻ thì pháp luật vẫn thừa nhận họ có quan hệ nuôi dưỡng

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh

Trang 25

18

ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết

là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

Quan hệ thừa kế giữa ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu nội, cháu ngoại Ngược lại, pháp luật dự liệu các trường hợp không còn người thừa kế hàng thứ nhất, thì cháu sẽ được nhận thừa kế di sản của ông, bà Anh, chị, em ruột là người hàng thừa kế thứ hai của nhau, giữa họ là anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng cả cha và mẹ với nhau Một người mẹ có bao nhiêu con đẻ thì bấy nhiêu người con đó đều là anh, chị, em ruột của nhau, không phục thuộc vào việc các người con có cùng cha hay khác cha, là con

trong giá thú hay ngoài giá thú

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột,

chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết

mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của

người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

Cụ nội của một người là người sinh ra ông nội hoặc bà nội của người đó.Còn cụ ngoại của một người là người sinh ra ông ngoại hoặc bà ngoại của người đó Trong trường hợp, cụ nội, cụ ngoại chết không có người thừa kế là con và cháu hoặc có nhưng họ không thuộc diện được thừa kế, từ chối nhận di sản thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì chắt sẽ được hưởng di sản thừa kế của cụ Còn bác ruột là anh hoặc chị ruột của cha đẻ hoặc mẹ đẻ của cháu Chú, cô ruột là em ruột của cha đẻ của cháu và cậu ruột, dì ruột là em ruột của

mẹ đẻ của cháu

Như vậy, về quan hệ huyết thống, là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ, phả hệ Theo quy định pháp luật, những người thừa kế di sản của nhau được xác định từ quan hệ huyết thống trực hệ và xếp theo hàng thừa kế từ quan hệ gần cho đến xa

Trang 26

19

1.2.3 Một số điểm mới cơ bản về chế định thừa kế của Bộ luật Dân

sự năm 2015

Thứ nhất, về thời hiệu thừa kế

“Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất

động sản… kể từ thời điểm mở thừa kế…” [26, Điều 623] So với quy định

BLDS trước đây, thì Bộ luật dân sự hiện hành quy định thời hạn để người

thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm (thời hiệu theo BLDS 2005 là 10 năm)

đối với bất động sản, nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của những người nhận di sản và phù hợp với xu hướng, phát triển của xã hội và đặc điểm của loại tài sản là bất động sản

Thứ hai, hình thức di chúc miệng

Căn cứ quy định tại Điều 629 và Khoản 5, Điều 630 BLDS 2015 có quy định về di chúc miệng Theo đó, được hiểu bên cạnh hình thức di chúc phải lập thành văn bản thì trong trường hợp đặc biệt khi người có tài sản không thể lập di chúc bằng văn bản do tính mạng bị đe doạ nghiêm trọng thì pháp luật cho phép được lập di chúc miệng Tuy nhiên, quy định của BLDS năm 2015 đã làm rõ hơn tính hợp pháp của di chúc miệng, đồng thời làm rõ

hơn về nội dung công chứng, chứng thực là: “Xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ

của người làm chứng”, nhằm làm cho người thực hiện việc công chứng,

chứng thực không bị lúng túng hay có cách hiểu khác nhau như quy định trước đây Tránh ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và trái với nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự

Thứ ba, về di chúc chung của vợ chồng: Chế định về di chúc chung của

vợ, chồng đã được hình thành và áp dụng từ sớm và được chính thức ghi nhận trong Bộ quốc triều hình luật, đến thời Pháp xâm lược Sau đó chúng ta vẫn duy trì và đưa chế định này ghi nhận trong hai Bộ dân luật Bắc, Bộ dân luật Trung kỳ Sau năm 1975, di chúc chung của vợ, chồng tiếp tục được nêu

Trang 27

20

trong Thông tư số 81 năm 1981 của TANDTC; Pháp lệnh Thừa kế năm 1990; BLDS năm 1995 và 2005

Cụ thể, rõ nhất được quy định BLDS 2005 có 3 điều luật liên quan đến

di chúc chung của vợ chồng: Di chúc chung của vợ, chồng (Điều 663); Sữa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng (Điều 664) và Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng (Điều 668)

Mặc dù, hiện nay BLDS 2015 không cấm việc lập di chúc chung của

vợ, chồng nhưng đã bỏ quy định liên quan đến di chúc chung của vợ, chồng

và tôi cho rằng đây là một trong những điểm mới của BLDS 2015 liên quan đến chế định thừa kế Thực tế, hiện nay phổ biến việc vợ, chồng lựa chọn thời điểm có hiệu lực của di chúc chung bằng việc ghi rõ trong di chúc: Nếu vợ hoặc chồng chết, thì di chúc phát sinh hiệu lực và người vợ hoặc chồng còn lại và những người thừa kế khác sẽ được hưởng phần di sản của người chết

Hoặc trong trường hợp, vợ và chồng vừa có tài sản chung,vừa có tài sản riêng đều muốn định đoạt cả hai loại tài sản này trong cùng một bản di chúc cũng diễn ra nhiều như hiện nay Chính vì Bộ luật dân sự hiện hành cũng

chưa thể dự liệu được tính khả thi nếu như tiếp tục quy định, thừa nhận “Di

chung chung của vợ chồng” hay nên cấm “Di chúc chung của vợ chồng”

trong chế định thừa kế là phù hợp với xu thế, xã hội nên nội dung này vẫn còn nhiều quan điểm, vận dụng vận khác nhau

1.3 Khái niệm và đặc điểm thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

1.3.1 Khái niệm quyền sử dụng đất ở và nhà ở

Thứ nhất, Khái niệm quyền sử dụng đất ở và nhà ở

Quyền sử dụng đất là một khái niệm đã được xuất hiện, ghi nhận trong các bản Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật liên quan Điều 53 Hiến pháp

năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn

lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác…là tài sản công thuộc

Trang 28

21

sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”

Đạo luật tối cao của nước ta quy định, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện cho nhân dân trong việc thực hiện quyền quản lý và sở hữu

Như vậy, dưới góc nhìn chủ quan thì quyền sử dụng đất là một quyền năng của các tổ chức, cá nhân được tự chủ trong việc khai thác các thuộc tính của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội của đất nước, cho chính lợi ích, nhu cầu của người có quyền sử dụng đất như chuyển nhượng, canh tác, xây dựng nhà ở…và quyền năng này của công dân đã được pháp luật ghi nhận và bảo hộ

Quyền sử dụng đất còn được cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật

chuyên ngành như: Luật Đất đai 2013 (Điều 4) quy định: “Đất đai thuộc sở

hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” hay Điều 197 BLDS 2015 quy định: “Đất đai…là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”

Có thể nói, quyền sử dụng đất còn được coi là một chế định quan trọng tồn tại trong quan hệ pháp luật đất đai, quan hệ dân sự bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật đất đai do Nhà nước ban hành trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất Các quyền và nghĩa vụ trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất,thực hiện các giao dịch dân sự

Quyền sử dụng đất ở và nhà ở cũng thuộc nhóm các quyền năng của người có quyền sử dụng đất, quyền năng này cũng chính là cơ sở và tiền đề trong việc người có quyền sử dụng đất tiến hành khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển

Trang 29

Tại khoản 12, Điều 3 Luật này có quy định:

Chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan [24, Điều 3]

Như vậy, nhà ở thuộc quyền sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình được xác lập khi nhà ở đó được xây dựng trên diện tích đất ở hợp pháp của mình, tức đất ở dùng để xây dựng nhà ở phải được cấp GCN QSDĐ đứng tên người

có nhu cầu xây dựng nhà ở hoặc nhận được nhà ở thông qua các hình thức mua bán, tặng cho thừa kế

Riêng quyền về chỗ ở và quyền sở hữu nhà ở, còn được cụ thể hóa theo tinh thần của Hiến pháp và Điều 4 Luật nhà ở năm 2014:

Hộ gia đình, cá nhân có quyền có chỗ ở thông qua việc đầu tư xây dựng, mua, thuê, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, Tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này có quyền sở hữu đối với nhà ở

đó theo quy định của Luật này

Ngoài ra, quyền sử dụng đất nói chung, quyền sử dụng đất ở và nhà ở nói riêng cũng đã được đề cập tại các văn bản pháp luật trước đó như: Luật

Trang 30

23

Đất đai 1993, 2003, 2013; Bộ luật dân sự 1995, 2005; Luật nhà ở năm 2005

và những văn bản pháp luật khác liên quan.Trong đó, đều ghi nhận và được pháp luật bảo hộ các quyền năng của người có quyền sử dụng trong việc thực hiện quyền sở hữu,quyền sử dụng đất ở và nhà ở

Từ những phân tích trên, có thể khái quát: Quyền sử dụng đất ở và nhà

ở là quyền của cá nhân, tổ chức được phép khai thác, sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế…đất ở và nhà ở do được Nhà nước giao, cho thuê hoặc nhận chuyển nhượng từ chủ thể khác

Thứ hai, Khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

Thừa kế quyền sử dụng đất nói chung, thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở là một trong những hình thức thừa kế tài sản, bản chất vẫn là một hình thức dịch chuyển quyền sử dụng đất ở và nhà ở của người đã chết sang cho những người còn sống theo pháp luật hoặc thừa kế theo di chúc Tuy nhiên, Đất đai là một loại tài sản đặc biệt và có ý nghĩa cả về kinh tế, chính trị, xã hội, mặc dù là tài sản gắn với các cá nhân, tổ chức nhưng ngoài nhà ở thì quyền sử dụng đất ở chỉ có một chủ thể được quyền sở hữu đó là Nhà nước, nhưng người sử dụng đất cũng có các quyền năng tương tự như chủ sở hữu của loại tài sản

Trong chế định thừa kế, thì thừa kế “Quyền sử dụng đất” luôn là một

nội dung hết sức quan trọng Quy định thừa kế quyền sử dụng đất là một hình thức chuyển quyền sử dụng đất và hình thức để thừa kế quyền sử dụng đất được áp dụng theo quy định chung về các hình thức thừa kế tài sản được quy định tại Luật đất đai và Bộ luật Dân sự

Tại khoản 1, Điều 167 Luật đất đai 2013 này cũng quy định: “Người sử

dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này” [23, Điều 167]

Trang 31

24

Tuy rằng, BLDS năm 2015 không trực tiếp quy định riêng về thừa kế

quyền sử dụng đất (như quy định tại Điều 733 BLDS năm 2005) nhưng thừa

kế quyền sử dụng đất vẫn được giám tiếp ghi nhận và bảo hộ cho người có di sản thừa kế, người được nhận di sản khi tham gia quan hệ thừa kế quy định tại phần thứ 4 của BLDS năm 2015

Riêng thừa kế quyền của chủ sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở còn được quy định chi tiết hơn tại khoản 1, Điều 10 Luật nhà ở năm 2014:

Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các quyền sau đây: Bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế…, ủy quyền quản lý nhà ở; trường hợp tặng cho, để thừa kế nhà ở cho các đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó

Theo quy định pháp luật hiện hành, quyền sử dụng đất nói chung và quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nói riêng có quyền khai thác nhà ở

và đất ở nhằm mục đích là thỏa mãn nhu cầu sinh sống, đồng thời chủ sở hữu nhà ở, chủ sử dụng đất ở được quyền xác lập các giao dịch dân sự với bên thứ

ba thông qua hình thức chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho, thừa kế…tương tự như các quyền năng của người có quyền sử dụng đất

Từ những cơ sở nêu trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm thừa kế quyền

sử dụng đất ở và nhà ở như sau: Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở là sự

chuyển dịch quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở của người chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật

1.3.2 Một số đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở Thứ nhất, Đối tượng của quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

là một đối tượng đặc biệt

Trang 32

có quyền sử dụng đất với nhau

Tương tự quyền sử dụng đất thì quyền sử dụng đất ở cũng được coi là một tài sản đặc biệt và thuộc đối tượng thừa kế của quan hệ thừa kế, còn đối với quyền sở hữu nhà ở thì về bản chất đó là quyền định đoạt của người có di sản thừa kế như các tài sản thông thường khác trong quan hệ thừa kế.Tuy nhiên, khi xem xét dưới gốc độ chủ quan thì quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở có mối quan hệ hữu cơ với nhau, và quyền sở hữu nhà ở cũng có thể được coi là một tài sản đặc biệt, một đối tượng đặc biệt của quan hệ thừa

kế Bởi lẽ bản thân nhà ở là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất ở mà đất ở

là một tài sản đặc biệt trong quan hệ thừa kế

Hơn nữa, đất đai nói chung và đất ở nói riêng đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, vì vậy việc để lại thừa kế quyền sử dụng đất không những phải chỉ tuân theo quy định về thừa kế trong Bộ Luật Dân sự mà còn phải thỏa mãn các điều kiện về thừa kế quyền sử dụng đất ở theo qui định của Luật Đất đai, Luật nhà ở và một số văn bản pháp luật khác liên quan

Thứ hai, Điểm khác biệt so với việc thừa kế các tài sản thông thường:

Đối tượng thừa kế là tài sản khác là một hình thức chuyển dịch quyền

sở hữu từ người chết sang cho người còn sống, thì với thừa kế quyền sử dụng đất ở thì người để lại di sản thừa kế không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có quyền sử dụng đất, nên người được nhận di sản thừa kế cũng chỉ được quyền

sử dụng di sản thừa kế là đất ở đó

Trang 33

26

Đối với nhà ở, pháp luật quy định: Trong trường hợp thừa kế nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp

luật về thừa kế (khoản 4, Điều 14 Luật nhà ở năm 2014) Tức nhà ở là tài sản

thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản thừa kế, đáng ra người được nhận

di sản thừa kế phải được toàn quyền định đoạt, sở hữu nhưng do nhà ở lại là tài sản gắn liền và phụ thuộc với quyền sử dụng đất hay nói cách khác nhà ở

là bám sở hữu Do đó, người được nhận di sản thừa kế không thể tự ý tách biệt quyền sở hữu, định đoạt nhà ở đó riêng đối với quyền sử dụng đất ở

Thứ ba, Về chủ thể của quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

Theo quy định Luật đất đai, Bộ luật Dân sự; Luật nhà ở và một số văn bản pháp luật khác liên quan, thì không phải bất cứ người nào cũng có quyền

để lại thừa kế quyền sử dụng đất ở hoặc nhận di sản thừa kế

- Một số chủ thể đủ điều kiện để lại thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở theo quy định tại Điều 7,8 và Khoản 1,Điều 119 Luật nhà ở năm 2014:

+ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước sử dụng đất không phải là đất thuê Trừ trường hợp cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01/07/2004 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm

+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam; đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có đủ điều kiện quy định tại Điều 160 của Luật này Ngoài ra, Trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật Đất đai năm 2013 thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật Đất đai năm 2013 thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó;

Trang 34

27

+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật nhà ở năm 2014

+ Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người được chủ sở hữu cho phép, ủy quyền

để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về dân sự; trường hợp chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải là người đã mua nhà ở của chủ đầu tư hoặc người đã nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở

+ Nếu là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự; nếu là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân, trừ trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương

- Một số chủ thể đủ điều kiện nhận di sản thừa kế quyền sở dụng đất ở và nhà ở, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 119 Luật nhà ở năm 2014:

+ Nếu là cá nhân trong nước thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện các giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự và không bắt buộc phải có đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch

+ Nếu là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật Việt Nam, phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật này và không bắt buộc phải có đăng ký tạm trú hoặc đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch

+ Bên mua, thuê nhà ở, bên nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, nhận đổi, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận thế chấp, nhận góp vốn, được ủy quyền quản lý nhà ở là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân và không phụ thuộc vào nơi đăng ký kinh doanh, nơi thành lập.Trường hợp là tổ chức nước ngoài thì phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt

Trang 35

28

Nam theo quy định của Luật này; nếu tổ chức được ủy quyền quản lý nhà ở thì phải có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản và đang hoạt động tại Việt Nam theo quy định của luật kinh doanh bất động sản

Thứ tư, người được thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở phải thực hiện

các quy định của pháp luật về kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất ở và nhà ở

Đối với hầu hết các tài sản khác, thì khi thực hiện việc thừa kế không phải tiến hành thủ tục đăng ký di sản thừa kế, nhưng đối với di sản là quyền

sử dụng đất ở, nhà ở thì thủ tục đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất ở và quyền

sở hữu nhà ở là bắt buộc Đồng thời, trong quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất, di sản là quyền sử dụng đất ở và nhà ở phải có sự công nhận của Nhà nước thông qua việc cấp GCNQSDĐ theo quy định của Luật đất đai

Tóm lại, có thể nói thừa kế là một chế định hết sức quan trọng trong Bộ

luật dân sự Trong đó quy định hiện hành đã sửa đổi, bổ sung nhiều điểm lớn,

cơ bản để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội Để giải quyết được nội dung cơ bản cũng như mục đích của Luận văn, tại phần cơ sở lý luận này tác giả đã lần lượt làm rõ về khái niệm thừa kế; Quyền thừa kế; Khái niệm và Đặc điểm thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở So với đối tượng thừa kế khác, thì di sản thừa kế là đất ở và nhà ở còn phải chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống các văn bản pháp luật liên quan, và bởi tính đặc thù riêng của

nó Hơn nữa, thực tiễn các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế này vẫn còn nhiều điểm bất cập, khó khăn khi giải quyết các vụ án tranh chấp hiện nay Do đó, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp kết hợp và đặt ra mục tiêu, phạm vi nghiên cứu rõ ràng để giải quyết yêu cầu đặt ra của đề tài

1.4 Quan điểm về thừa kế theo tập quán của dân tộc Xạ Phang (Hoa)

Nằm trong danh sách 21 dân tộc anh em của tỉnh Điện Biên, đồng bào

dân tộc “Xạ Phang” sinh sống rải rác ở các xã, huyện biên giới như: Nậm Pồ,

Mường Chà, Tủa Chùa, TP.Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Điện Biên Ðây cũng là

Trang 36

29

địa bàn cư trú của dân tộc Thái, H’Mông , do đó văn hóa, tập quán của người

Xạ Phang cũng bị giao thoa ít nhiều trong quá trình sinh sống Theo một số tài liệu, thì người Xạ Phang là một tộc người di cư cùng một số dân tộc khác như: Tày, Nùng, Dao… từ Trung Quốc sang Việt Nam, là một nhánh nhỏ của

cộng đồng dân tộc Hoa.Tên dân tộc “Xạ Phang” đến nay chưa có một tài liệu

chính thống hay nhà khoa học nào nghiên cứu, nhưng đồng bào Xạ Phang đã

du nhập và sinh sống tại Việt Nam được khoảng hơn 100 năm và trải qua 5,6 thế hệ được sinh ra, lớn lên ở Việt Nam và mang quốc tịch Việt Nam Đặc biệt, cho đến nay họ vẫn giữ được những đặc trưng văn hóa dân tộc, phong tục tập quán, trang phục và ngôn ngữ riêng

Theo như phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của các dân tộc khác sinh sống tại tỉnh Điện Biên thì dân tộc Xạ Phang cũng vậy, những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng luôn phải có nghĩa

vụ quan tâm, chăm sóc và yêu thương nhau lẫn nhau trong cuộc sống Xuất phát từ những tình cảm ruột thịt đó, đồng bào dân tộc Xạ Phang vô cùng chú trọng và quan tâm đến chế độ hôn sản, vấn đề để lại di sản cho thế hệ sau

Chế định thừa kế, theo Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật liên

quan khác có đưa ra một số quy định về: Quyền thừa kế; Quyền bình đẳng về

thừa kế; Thời điểm, địa điểm mở thừa kế; Hình thức của di chúc; Di chúc dùng vào việc thừa cúng; Nguyên tắc phân chia di sản…,thì trên cơ sở đó,

đồng bào Xạ Phang lại có quan điểm theo phong tục, tập quán riêng về quan

hệ thừa kế ở một gốc độ khác được thể hiện thông qua một số đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, Về thời điểm, địa điểm mở di sản thừa kế: Đồng bào Xạ

Phang không quy ước hay chú trọng về thời điểm, địa điểm mở di sản thừa kế

Từ xưa đến nay họ cũng không quá chú trọng về việc để lại di sản thừa kế cho từng con cháu bao nhiêu, hay vào thời điểm nào ? Người để lại di sản thừa kế

Trang 37

30

là thế hệ Cụ, ông bà, cha mẹ sẽ căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của người được hưởng di sản thừa kế để phân chia di sản Đặc biệt, việc phân chia

di sản cho mỗi người thừa kế có thể vào các thời điểm hoàn toàn khác nhau và

thông thường cha mẹ sẽ phân chia một khối/phần tài sản (tiền, vật nuôi, ruộng

đất, nương rẫy…) cho con trai vào thời điểm người con trai đó tách ra sinh

sống riêng và giữa người để lại di sản và người nhận di sản thừa kế đều tự mặc định coi đó chính là phần di sản thừa kế được hưởng và có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản

Người để lại di sản thừa kế dựa vào điều kiện, hoàn cảnh, công ăn việc làm, đạo đức, nhân cách và thận chí cả công sức đóng góp của người được nhận di sản để làm căn cứ phân chia di sản thừa kế Do đó, họ không

có quan điểm về thời điểm hay địa điểm mở di sản thừa kế một cách chặt chẽ, máy móc như quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam

Thứ hai, Hình thức để lại di sản thừa kế gần như là hình thức di chúc

bằng miệng: Người để lại di sản thừa kế có thể tập hợp tất cả những người có quyền được nhận di sản thừa kế để họp bàn và thống nhất việc phân chia di sản thừa kế hoặc ông bà, bố mẹ tự quyết định việc phân chia di sản thừa kế cho con, cháu Về hình thức di chúc ở đây là bằng miệng, dựa trên chữ tín, tình cảm và lòng tin đặc biệt của người để lại di sản thừa kế với người được hưởng di sản thừa kế

Thứ ba, quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân: Thực tế, họ có quan

điểm rằng người nhận di sản thừa kế thông thường là những người con trai hoặc cháu trai đích tôn Còn con gái, cháu gái thì sẽ không được hưởng di sản thừa kế của Cụ, ông bà, cha mẹ mà khi con gái, cháu gái cưới chồng thì ông

bà, cha mẹ sẽ trao tặng cho cô dâu những kỷ vật, tiền, vàng, bạc, châu báu hoặc tài sản có giá trị khác Họ tự nguyện và mặc định tự thừa nhận với nhau

những tài sản “của hồi môn” đó chính là di sản thừa kế mà ông bà, bố mẹ cho

Trang 38

31

con gái được hưởng thụ Tôi cho rằng, đó là một quan điểm, tập quán hoàn toàn phù hợp với đạo đức, không trái quy định pháp luật và về nguyên tắc vẫn đảm bảo bình đẳng quyền thừa kế của cá nhân theo quy định của Bộ luật dân

sự (Điều 610 BLDS năm 2015)

Thứ tư, về việc quản lý di sản và di sản dùng vào việc thờ cúng: Như

đã phân tích ở trên, việc phân chia di sản theo phong tục, tập quán mà họ không chú trọng về thời điểm, địa điểm mở di sản thừa kế mà thời điểm chuyển giao/bàn giao tài sản, di sản thừa kế sau khi phân chia cũng chính là thời điểm mở thừa kế và hoàn thành phân chia di sản thừa kế Tức là việc quản lý di sản sẽ không được đặt ra vì người được hưởng di sản đã nhận toàn

bộ số di sản được phân chia

Tuy nhiên, đối với số di sản dùng việc thờ cúng thì người để lại di sản thừa kế đã dự liệu, để dành một phần số di sản thừa kế giao cho người con trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cuối cùng được quản lý và hương khói, thờ cúng sau này mà phần di sản thờ cúng không được phân định rõ ràng Đồng

bào Xạ Phang có quan điểm và thông thường người con trai (nếu gia đình chỉ

có một con trai) hoặc là người con trai út (nếu gia đình có nhiều con trai) sẽ

là người trực tiếp chăm sóc, phục dưỡng Cụ, ông bà, cha mẹ về tuổi già và tất

cả con cháu đều phải thờ cúng riêng sau khi Cụ, ông bà, cha mẹ chết

Thứ năm, vấn đề lập di chúc chung vợ chồng: Mặc dù, Bộ luật dân sự

năm 2015 đã bỏ quy định “Lập di chúc chung vợ chồng” nhưng cũng không

có quy định cấm Thực tế, quan điểm của người Xạ Phang thì vẫn thực hiện theo quy định Bộ luật dân sự trước đây và gần như hoàn toàn là Cụ, ông bà hoặc Cha mẹ sẽ thỏa thuận, thống nhất bằng miệng việc để lại di chúc cho con, cháu Hình thức để lại di chúc này, theo quy định pháp luật thì có thể không đảm bảo về mặt hình thức, nhưng xét về bản chất thì việc đó không tráo đạo đức xã hội, phù hợp với phong tục tập quán và tôi cho rằng đó có thể

được coi là hình thức “Lập di chúc chung vợ chồng”

Trang 39

32

Như vậy, qua một số đặc điểm theo phong tục tập quán của đồng bào

Xạ Phang trong việc để lại “Di sản thừa kế” nêu trên Tôi cho rằng đó

không phải là những quan điểm lạc hậu, trái đạo đức xã hội hay không phù hợp với hàng lang pháp lý trong công cuộc cải cách tư pháp Họ tự nguyện thừa nhận, có thể duy trì và thực hiện được những phong tục tập quán đến hàng thế kỷ như vậy cái chính là xuất phát từ chính những tình cảm ruột thịt, tình mẫu tử chất phát

Điều đó được minh chứng rất khách quan thông qua số liệu thống kê,

hồ sơ các vụ án tranh chấp về thừa kế nói chung và tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở nói riêng, thì chưa thấy một vụ án tranh chấp nào có đương sự là người đồng bào dân tộc Xạ Phang

Tôi thiết nghĩ rằng, Luật pháp được ban hành mục đích trên hết cũng chính nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, giải quyết và tháo gỡ những mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra trên thực tế Như vậy, nếu công dân có nhận thức, có phong tục tập quán mà họ tự xử sự, giải quyết vừa hợp tình, có lý như đồng bào Xạ Phang thì còn là một điều chúng ta cần khuyến khích và đáng ghi nhận

Trang 40

33

Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ NHÀ Ở TẠI THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

2.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở

và nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ

Trong những năm gần đây, quan hệ tranh chấp về thừa kế có xu hướng gia tăng, là vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội.Trong khi cơ chế giải quyết tranh chấp còn nhiều bất cập, vô tình dẫn đến công tác xét xử kéo dài với nhiều hệ lụy Do vậy, nếu cải thiện được các biện pháp giải quyết tranh chấp theo hướng kịp thời và hiệu quả hơn sẽ tránh được những nguy cơ này

Việc hòa giải tranh chấp thừa kế tại cấp cơ sở nay không còn là thủ tục bắt buộc So với quy định Luật đất đai trước đây,tại Điều 203 Luật đất đai

2013, quy định rằng: Tranh chấp đất đai mà đương sự có GCNQSDĐ hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp

về tài sản gắn liền với đất hay không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai 2013 thì đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân

Qua đó, hiện nay Tòa án trở thành nơi đón đầu giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất nói chung, quan hệ tranh chấp thừa kế nói riêng Ngành Tòa án nói chung, TAND TP Điện Biên Phủ nói riêng các tranh chấp

về dân sự chiếm một tỷ trọng lớn, phần lớn các tranh chấp về thừa kế đó đều

có liên qua đến đất đai Đặc biệt, những vụ án tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở ngày càng diễn biến phức tạp, do đó việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp cả về thực tiễn lẫn lý luận Tuy nhiên, với chức năng, nhiệm vụ của

Ngày đăng: 27/05/2020, 15:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w