1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở việt nam

123 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 778,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc cho ra đời Báo điện tử Công lý của Tòa án Nhân dân tối cao hay việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” do Bộ tư pháp chủ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HIỀN

TRî GIóP PH¸P Lý CHO PHô N÷ N¤NG TH¤N

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HIỀN

TRî GIóP PH¸P Lý CHO PHô N÷ N¤NG TH¤N

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 8380101.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN MINH TUẤN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9

1.1 Khái niệm, mục đích, nội dung và hình thức Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam 9

1.1.1 Khái niệm TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam 9

1.1.2 Mục đích của việc TGPL đối với phụ nữ nông thôn ở Việt Nam 14

1.1.3 Nội dung và hình thức của TGPL cho phụ nữ nông thôn 19

1.2 Đặc điểm cơ bản của phụ nữ nông thôn và TGPL đối với phụ nữ nông thôn ở VN 22

1.2.1 Đặc điểm của Phụ nữ nông thôn 22

1.2.2 Đặc điểm của TGPL đối với Phụ nữ nói chung và PN nông thôn nói riêng 27

1.3 Các yếu tố tác động đến việc cần phải TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam 29

1.3.1 Yếu tố về văn hóa, phong tục, tập quán 29

1.3.2 Yếu tố về kinh tế, lao động, xã hội 30

1.3.3 Yếu tố về nhận thức pháp luật của phụ nữ nông thôn 33

1.3.4 Yếu tố về năng lực của chủ thể TGPL cho phụ nữ nông thôn 35

1.4 Các điều kiện để đảm bảo cho hoạt động TGPL 37

1.4.1 Điều kiện về nguyên tắc hoạt động TGPL 37

1.4.2 Điều kiện về tài chính 38

1.4.3 Điều kiện về con người, năng lực, kỹ năng của chủ thể TGPL 39

1.4.4 Điều kiện về cơ sở trang thiết bị vật chất 41

1.4.5 Các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ đối với đối tượng được TGPL và chủ thể TGPL 43

Trang 5

1.5 Một số mô hình TGPL trên Thế giới hiện nay liên quan đến đối

tượng là phụ nữ và phụ nữ nông thôn 46

1.5.1 Chủ thể thực hiện TGPL 52

1.5.2 Đối tượng được TGPL 52

1.5.3 Phạm vi TGPL 55

1.5.4 Lĩnh vực thực hiện TGPL 56

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 60

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN HIỆN NAY 61

2.1 Thực trạng pháp luật về TGPL cho Phụ nữ nông thôn 61

2.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống PL về TGPL 61

2.1.2 Thực trạng các quy định TGPL và thực hiện TGPL cho phụ nữ nông thôn hiện nay 65

2.2 Thực tiễn thực hiện TGPL cho Phụ nữ nông thôn 70

2.2.1 Kết quả TGPL cho Phụ nữ nông thôn trong những năm gần đây 70

2.2.2 Những cản trở, khó khăn trong hoạt động TGPL cho phụ nữ nông thôn 72

2.2.3 Những bất cập và thách thức trong hoạt động TGPL còn tồn tại 77

2.3 Đánh giá chung về việc thực hiện TGPL cho phụ nữ nông thôn 81

2.3.1 Kết quả triển khai hoạt động TGPL 81

2.3.2 Công tác hoạt động TGPL cho phụ nữ nông thôn 86

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 92

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ Ở NÔNG THÔN 93

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn 93

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn 98

3.2.1 Giải pháp chung 98

3.2.2 Một số giải pháp cụ thể 101

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 111

KẾT LUẬN 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt chiều dài lịch sử, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước ngàn năm văn hiến, tạo dựng nên truyền thống bản sắc của người Việt nói chung và truyền thống riêng của phụ nữ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” Để khẳng định vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thích ứng

và hội nhập trong xu thế phát triển chung của nhân loại, đòi hỏi phụ nữ phải nỗ lực phấn đấu nhiều mặt: có tri thức, có văn hóa, có kỹ năng sống tự lập, biết đối mặt với

áp lực và vươn lên trong khó khăn thử thách Phụ nữ Việt Nam ngày nay tham gia nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, góp phần nâng cao vị trí và vai trò của mình Bên cạnh sự thành công đó là cả một hệ thống pháp luật đồng bộ bảo vệ tối đa quyền

và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ Việt Nam Các quy định của pháp luật hiện nay

đã và đang cố gắng tạo điều kiện thuận lợi để người phụ nữ có thể phát huy hết mình góp phần xây dựng xã hội văn minh, đất nước hiện đại và giàu đẹp

Những năm qua, thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Chiến lược cải cách tư pháp, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong hoàn thiện

và tổ chức thi hành pháp luật nhằm tăng cường tiếp cận công lý, tiếp cận pháp luật cho nhân dân Việc cho ra đời Báo điện tử Công lý của Tòa án Nhân dân tối cao hay việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” do Bộ tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan luật và tư pháp khác của Việt Nam thực hiện là các sự kiện minh chứng cho việc cơ quan Nhà nước đặc biệt quan tâm tiếp cận công lý của người dân nói chung và phụ nữ nói riêng trong xã hội hiện nay

Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu về thực trạng và thực ti n áp dụng pháp luật của phụ nữ qua nhiều kênh thông tin phương tiện truyền thông đại chúng, tác giả luận văn nhận thấy: Phụ nữ nông thôn còn nhiều thiếu xót trong việc quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp liên quan trực tiếp về các quy định pháp luật và các chính

Trang 8

sách của Nhà nước Làm thế nào để phụ nữ nông thôn Việt Nam hiện nay cần am hiểu, nâng cao kiến thức và làm đúng các quy định của pháp luật, khi quyền lợi của người phụ nữ nông thôn bị xâm phạm thì hoạt động trợ giúp pháp lý thực hiện một cách kịp thời, nhanh chóng Phụ nữ nông thôn cần làm gì để tự bảo vệ mình và gia đình khi quyền lợi đó bị xâm phạm Đây là vấn đề lớn đòi hỏi sự quan tâm của tất

cả các cấp, các ngành t trung ương đến địa phương Qua hai năm học tập, nghiên cứu tại Khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, được sự hướng d n khoa học

của PGS.TS Nguy n Minh Tuấn, tôi chọn đề tài Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ

nông thôn ở Việt Nam hiện nay làm đề tài bảo vệ luận văn Thạc sĩ Tôi mong

muốn qua luận văn này đưa ra được thực trạng c ng như những kiến nghị, đề xuất phương hướng trong công tác hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam hiện nay

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa với mục đích làm sáng tỏ những cơ sở, lý luận

và đánh giá đúng thực trạng TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam hiện nay, t

đó góp phần chỉ ra những bất cập, hạn chế của công tác này và đưa ra những biện pháp cần khắc phục, thay đổi nhận thức pháp luật và thực hiện trợ giúp pháp lý cho phụ nữ ở vùng nông thôn“ sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” để đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn cần giải quyết những vấn

Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực ti n thực hiện pháp luật TGPL, đánh

Trang 9

giá chung về việc thực hiện TGPL cho phụ nữ nông thôn, những kết quả đã đạt được và những bất cập còn tồn tại, nguyên nhân của tồn tại đó

Đề xuất các quan điểm và giải pháp cho hoạt động TGPL và phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL cho phụ nữ ở nông thôn

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Luận văn góp phần chứng minh sự phát triển đúng đắn của hoạt động TGPL Đánh giá sâu sát, toàn diện tình hình thực hiện các quy định pháp luật về TGPL, phân tích các yêu cầu đặt ra về mặt pháp lý để phục vụ cho việc phát triển bền vững hoạt động TGPL; đề xuất giải pháp có “tính mới và có sự thay đổi” để hoàn thiện pháp luật

TGPL tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL cho phụ nữ nông thôn ở nước ta hiện nay Đề xuất các phương án, đường lối và các giải pháp cơ bản về giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn Đồng thời, luận văn có thể phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về pháp luật TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam sau này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là cơ sở lý luận và thực ti n thực hiện pháp luật TGPL phụ nữ nông thôn ở Việt Nam Trên cơ sở đó có các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động của phụ nữ

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề về pháp luật, về TGPL cho phụ nữ nông thôn bao gồm: khái niệm TGPL, khung pháp luật về TGPL ở Việt Nam và pháp luật về TGPL ở một số nước trên thế giới; thực trạng các quy định về chủ thể, đối tượng, hình thức, phạm vi, lĩnh vực; thực ti n thực hiện pháp luật TGPL trong thời gian qua và đề xuất các giải pháp, phương hướng hoàn thiện pháp luật TGPL cho phụ nữ nông thôn

Cách hiểu của tác giả luận văn về phụ nữ nông thôn bao gồm những chủ thể:

có hộ khẩu thường trú tại huyện, xã, làng, các thôn bản vùng sâu vùng xa, làm việc

và sinh sống thuộc quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã Những chủ thể không phải là phụ nữ nông thôn theo tác giả luận văn bao gồm: Những phụ nữ

Trang 10

thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã lớn và có hộ khẩu thường trú tại nơi họ sinh sống và làm việc

Vì điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn và trong khuôn khổ cho phép của luận văn thạc sĩ cho nên tác giả luận văn đã tổng hợp lấy số liệu hoạt động TGPL t các kết quả báo cáo những năm gần đây theo chương trình phối hợp của Bộ Tư Pháp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và thu thập thêm số liệu thực tế về hoạt động TGPL của một vài tỉnh thành trong cả nước qua các bài báo điện tử chính thống: Báo Đại biểu Nhân dân, báo điện tử của Cục TGPL Việt Nam, Báo Phụ nữ Việt Nam, làm cơ sở và căn cứ khoa học để phân tích, đánh giá số liệu

5 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

TGPL là một vấn đề mang tính cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học pháp lý quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố, như:

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Đề tài Mô hình tổ chức và hoạt động

TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay do Viện Khoa học pháp lý

- Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: Tạ Thị Minh Lý Đề tài tập đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, mục đích, ý nghĩa của hoạt động TGPL, t đó đề xuất các phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động này trong thời gian tới

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Đề tài “Luận cứ khoa học và thực tiễn

xây dựng Pháp lệnh TGPL” do Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư Pháp chủ trì thực

hiện, tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực ti n để xây dựng Pháp lệnh TGPL thông qua việc phân tích, đánh giá, so sánh các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện về pháp luật TGPL trong thời gian qua

Luận án Tiến sĩ “Điều chỉnh pháp luật về TGPL ở Việt Nam hiện nay” của

tác giả Tạ Thị Minh Lý, năm 2008, trường Đại học Luật Hà Nội, tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về TGPL, thực trạng điều chỉnh pháp luật về TGPL và phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về TGPL trong điều kiện đổi mới

Luận văn Thạc sĩ “ Hoàn thiện chế định về người thực hiện trợ giúp pháp lý

Trang 11

ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Trần Văn Tùy, năm 2016, Khoa Luật- Trường Đại

học Quốc Gia Hà Nội Luận văn tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực

ti n về chế định người thực hiện TGPL ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện chế định về người thực hiện TGPL trong thời gian tới

Luận văn Thạc sĩ “Hoạt động TGPL của Luật sư ở Việt Nam hiện nay” của

tác giả Trần Thị Việt Hà, năm 2015, Khoa Luật- Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý và thực ti n về vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động TGPL, dựa vào cơ sở đó để đánh giá một cách khách quan, chính xác nhất về giá trị của luật sư trong hoạt động TGPL để t đó chỉ

ra định hướng nhằm nâng cao hiệu quả của luật sư trong hoạt động TGPL

Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng

chính sách xã hội khác” của tác giả Hoàng Thị Liên, năm 2015, Khoa Luật- Trường

Đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác, thực ti n tại Việt Nam, dựa vào cơ sở đó tác giả sẽ đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật TGPL

Luận văn Thạc sĩ “Chất lượng TGPL ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đào

Dư Long, năm 2013, Khoa Luật- Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống những vấn đề lý luận và thực ti n về chất lượng TGPL, bao gồm khái niệm, mục tiêu, những đặc điểm và các tiêu chí đánh giá chất lượng TGPL, chỉ ra thực trạng công tác TGPL trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy tăng cường hiệu quả công tác đánh giá chất lượng, nâng cao hoạt động TGPL góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng yếu thế trong xã hội

Luận văn Thạc sĩ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL” của

tác giả Nguy n Bích Ngọc, năm 2012, Khoa Luật- Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý, thực ti n hoạt động TGPL, hiệu quả hoạt động TGPL ở Việt Nam và đề xuất các định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL

Trang 12

Luận văn Thạc sĩ “Phát triển TGPL ở cơ sở” của tác giả Đặng Thị Loan,

năm 2009, Khoa Luật- Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực ti n về TGPL tại cơ sở và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, tăng cường hiệu quả phát huy tích cực của các phương thức này

Ngoài ra, còn một số bài nghiên cứu, bài viết về TGPL được đăng trên Tạp

chí Luật học, Tạp chí khoa học như: “Bàn về thời điểm kết thúc vụ việc trợ giúp

pháp lý ” của tác giả Trịnh Thị Thanh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật 2019 - Số

chuyên đề 2/2019, tr 13-15; Bài viết “ Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc ít

người nhìn từ thực tiễn ở Yên Bái” của tác giả Ths Hoàng Thị Hương Thu, đăng

trên Tạp chí Người Làm Báo số 389 - Tháng 7/2016; Bài viết “Đánh giá chất lượng

vụ việc trợ giúp pháp lý là hình thức giám sát hiệu quả nhất về thi hành pháp luật TGPL” của tác giả TS Tạ Thị Minh Lý, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp –

Văn phòng Quốc hội; Tạp chí bài viết “Chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý và các

yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý” của tác giả Đỗ Xuân

Lân, đăng trên Tạp chí Dân chủ Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 1/2008, tr 22 – 29; Bài

viết “Cần tìm hướng đi mới, tích cực hơn cho trợ giúp pháp lý lưu động hiện nay”

của tác giả Lê Hằng Vân, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số chuyên đề 11/2010, tr 17 - 19

Trong những năm gần đây, TGPL trở thành mối quan tâm của rất nhiều Nhà nghiên cứu khoa học, học giả và độc giả Nhìn chung, các công trình trên đều mang tính khoa học về hoạt động TGPL, thông qua cách nhìn nhận, phân tích một cách toàn diện của quy định pháp luật Các tác giả, các Nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu hoạt động của quản lý Nhà nước về TGPL, hay tập trung nghiên cứu các đối tượng chính sách theo Luật TGPL quy định về thực ti n hoạt động TGPL và đề xuất các giải pháp và định hướng trong những năm tới

Luật TGPL 2006 đầu tiên ra đời đã thể hiện nhất quán chính sách của Đảng

và Nhà nước trong việc giúp đỡ pháp luật, hỗ trợ về mặt pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Đánh dấu bước chuyển về chất, đưa công tác TGPL

Trang 13

lên một tầm cao mới phù hợp với yêu cầu phát triển của thực ti n đất nước và xu thế thời đại Chính vì vậy, hoạt động TGPL đã không còn xa lạ với độc giả và các Nhà khoa học và dần đi sâu vào tiềm thức của người dân cả nước Theo tác giả, việc nghiên cứu về hoạt động TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam hiện nay v n là một đề tài cần phải quan tâm, mang tính chất cấp bách và trọng đại Thể hiện sự dự đoán được tương lai với định hướng chương trình mục tiêu Quốc Gia xây dựng phát triển Nông thôn Việt Nam hiện đại, kiểu mới Hầu như, các công trình nghiên cứu

về Phụ nữ nông thôn Việt Nam chỉ d ng lại ở việc đảm bảo quyền của phụ nữ nông thôn ở Việt Nam hiện nay, hay đặc trưng cơ bản của phụ nữ nông thôn và giáo dục pháp luật đến với phụ nữ Việt Nam hiện nay Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về việc hỗ trợ TGPL đến với phụ nữ nông thôn Việt Nam Vì vậy, đây

có thể được coi là đóng góp mới, nghiên cứu về lý luận và thực ti n hoạt động TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu đươc sử dụng trong Triết học nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng về TGPL Các văn kiện của Đảng, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2001, năm 2013 và các văn bản pháp luật về TGPL, các báo cáo kết quả hoạt động, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước c ng được tham khảo

và kế th a có chọn lọc Cụ thể t ng chương sử dụng các phương pháp như sau:

Chương 1: tác giả sử dụng phương pháp luận, dựa trên cơ sở phương pháp khái quát hóa, tr u tượng khoa học ở mục 1.1; 1.2; 1.3 và 1.4, tác giả có đưa ra khái niệm: phụ nữ nông thôn và TGPL cho phụ nữ nông thôn, đặc điểm và các nội dung, yếu tố tác động đến phụ nữ nông thôn Phương pháp so sánh vận dụng các mô hình TGPL ở các nước trên Thế giới và thực ti n TGPL ở Việt Nam được sử dụng ở mục 1.5 trong bài Bên cạnh đó, tác giả luận văn có sử dụng phương pháp phân tích tài liệu nghiên cứu, sử dụng sách chuyên khảo, các bài viết được đăng trên tạp chí khoa học trong và ngoài nước để triển khai luận văn

Trang 14

Chương 2: tác giả sử dụng phương pháp logic-lịch sử, phương pháp phân tích và phương pháp luận để triển khai bài ở mục 2.1; Mục 2.2 và 2.3 tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phân tích tổng hợp, phương pháp sưu tầm và lấy các sự kiện thu thập thông tin ở các bài viết được đăng trên các bài báo, Cổng thông tin điện tử chính thống như: Báo Đại biểu Nhân dân, Cục TGPL Việt Nam, Báo Phụ nữ Việt Nam, Bộ Tư Pháp làm cơ sở và căn cứ khoa học để phân tích, đánh giá số liệu

Chương 3: tác giả sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để hoàn thành luận văn

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 03 chương sau đây:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về TGPL cho phụ nữ nông thôn ở

Việt Nam hiện nay

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực ti n thực hiện pháp luật TGPL cho

phụ nữ nông thôn ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL

cho phụ nữ ở nông thôn

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Khái niệm, mục đích, nội dung và hình thức Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm TGPL

Thuật ngữ “Trợ giúp pháp lý” là một cụm t được sử dụng phổ biến trong các tài liệu ở nước ta t năm 1995 Đó là khi bắt đầu nghiên cứu xây dựng Đề án về hoạt động TGPL tại Việt Nam Theo t điển tiếng Việt “trợ giúp là sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến” [29]; “trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ

mà không lấy tiền công” [11]; “trợ giúp là giúp đỡ, và giúp đỡ lại được giải thích là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai cái

gì đó mà người ấy đang cần” [17] Thuật ngữ “pháp lý” được hiểu là “lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát, pháp lý là lý luận, luận điểm cơ bản đối với pháp luật của một chế độ” [27] Trong điều kiện hiện nay thì pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nước ban hành để quản lý xã hội Mọi người dân phải lấy pháp luật làm chuẩn mực để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Nếu theo hướng tiếp cận này thì “TGPL chính là thực hiện một dịch vụ pháp lý mi n phí hoặc giảm phí so với giá trị thực tế cho loại đối tượng đang cần sự giúp đỡ pháp lý mà họ không tự thực hiện được” [12]

TGPL xuất phát t lý luận về nhân quyền và bảo đảm nhân quyền, như một biện pháp bảo đảm tư pháp dành cho người không có điều kiện (về kinh tế, sức khỏe, kiến thức hiểu biết ) để tiếp cận và sử dụng các quy định pháp luật, nhằm bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, để mỗi người đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, nhất là trong điều kiện tiếp cận công lý và tổng quát chung TGPL mà chính sách Nhà nước mang đến là: kinh tế, pháp lý; xã hội và nhân đạo

Trang 16

Tính kinh tế, pháp lý trong TGPL được thể hiện: TGPL dành cho những đối tượng không có khả năng về mặt tài chính hoặc có điều kiện hoàn cảnh khó khăn,

họ gần như không thể thậm chỉ là bất lực trong việc chi trả cho các chi phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp lý Nhà nước đảm bảo hoạt động này mang tính quy định trong hệ thống pháp luật, là “trách nhiệm của nhà nước”

Tính xã hội và nhân đạo đó là tạo cơ hội cho những người có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn cần phải nhận thức pháp luật, bình đẳng với người khác trong việc

sử dụng, tiếp cận pháp luật nhằm xoá đói, giảm nghèo nâng cao trình độ dân trí Đồng thời c ng huy động được sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội có hiểu biết về pháp luật, có trình độ pháp luật cơ bản hoặc chuyên sâu vào hoạt động TGPL để bảo đảm cho những hoạt động TGPL đạt được hiệu quả trên thực tế

Ngày 20/12/2012, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua bản Các Nguyên tắc và hướng d n tiếp cận TGPL trong tư pháp hình sự, với 14 nguyên tắc

và 18 hướng d n Theo đó, nguyên tắc 1 thì TGPL được th a nhận là thành tố cơ bản trong hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hưởng các quyền khác, bao gồm quyền có phiên toà xét xử công bằng và là một sự bảo đảm quan trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và niềm tin của công chúng đối với tiến bộ của hệ thống tư pháp hình sự Nhà nước cần bảo đảm quyền được TGPL trong hệ thống pháp luật quốc gia ở mức độ cao nhất có thể

Hoạt động TGPL rất cần thiết trong đời sống của con người hiện nay, bên cạnh mục đích là đảm bảo cho việc xây dựng Nhà nước Pháp quyền mà TGPL mang tầm quan trọng như một bộ phận không thể tách rời của việc thực thi công lý

Xu hướng phát triển chung của các nước trên thế giới đều mong muốn cung cấp cho người được TGPL dịch vụ có chất lượng một cách kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, góp phần bảo đảm quyền con người trong tiếp cận công lý

Khái niệm TGPL tại Việt Nam lần đầu tiên được quy định tại Điều 3, Luật TGPL năm 2006, như sau:

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý mi n phí cho người được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích

Trang 17

hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ng a, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [20]

Điều 2, Luật TGPL năm 2017, quy định: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý mi n phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp

lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật” [21], thêm vào đó khoản 1 Điều

4 Luật này quy định “Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước” [21] Như vậy,

so với khái niệm về trợ giúp pháp lý của Luật Trợ giúp pháp lý 2006, thì Luật Trợ giúp pháp lý 2017 đã quy định theo hướng phản ánh đúng nội hàm bản chất của trợ giúp pháp lý là một dịch vụ pháp lý mi n phí, giúp đỡ về mặt pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách, mang bản chất Nhà nước và phản ánh tính nhân đạo xã hội sâu sắc

Ở một số nước trên Thế giới tùy thuộc vào quy định và điều kiện tình hình mỗi nước sẽ đưa ra các khái niệm về TGPL khác nhau, nhưng đều mang nội hàm chung về việc hỗ trợ mi n phí TGPL cho công dân nước mình khi họ gặp hoàn cảnh khó khăn về tài chính và không thể chi trả cho hoạt động TGPL cá nhân Điển hình như:

Ở Anh, theo t điển Pháp luật Anh: “TGPL là một dạng phúc lợi xã hội do Nhà nước bảo đảm để những những người không có khả năng trả tiền cho luật sư (thường là các bị cáo hình sự) đều có thể tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ pháp lý

mi n phí” [36, tr.170] (được dịch bởi t điển pháp luật Anh bởi nhà xuất bản Wiley

2006 tr.170)

Ở Úc, quy định của mỗi Bang có sự đặc thù, Điều 5 Luật TGPL năm 1997 của bang Queensland (Úc) nêu ra ý nghĩa của việc TGPL như sau:

1) TGPL (legal assistance) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm tư vấn

pháp luật miễn phí hoặc thanh toán số tiền ít hơn chi phí cung cấp dịch vụ; 2) Dịch

vụ có thể được cung cấp bởi luật sư Trợ giúp pháp lý hoặc nhà cung cấp dịch vụ Trợ giúp pháp lý [39] Tại Bang Victoria (Úc), TGPL nghĩa là: (a) Giáo dục, tư vấn, thông tin pháp luật; (b) Bất cứ dịch vụ pháp luật nào do luật sư cung cấp; (c) Các

Trang 18

dịch vụ khác trong phạm vi thẩm quyền của TGPL, bao gồm dịch vụ của luật sư theo nghĩa vụ, tư vấn pháp luật và hỗ trợ pháp luật (Điều 2 Mục I Luật TGPL bang

Victoria năm 1978 của Australia) [38]

Ở Moldova, điều 2 Luật TGPL Moldova năm 2007 quy định:

“TGPL của Nhà nước là việc cung cấp dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật TGPL từ nguồn kinh phí TGPL cho người không có đủ tiền để trả và người đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này” [37]

Như vậy, t một số khái niệm TGPL ở một số Quốc gia trên thế giới, tác giả luận văn chỉ ra bản chất của TGPL của Nhà nước ta hiện nay như sau:

Thứ nhất: TGPL hướng tới giúp đỡ về mặt pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý: mục đích giúp đỡ về mặt pháp lý cho những đối tượng yếu thế trong xã hội,

bị thiệt thòi về kinh tế, tinh thần và thể chất trong xã hội Luôn cần Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, nhất là giúp đỡ trong việc tiếp cận và sử dụng pháp luật Vì pháp luật là một công cụ hữu hiệu để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trên thực tế, những người được TGPL theo quy định thường là những người

bị hạn chế thực hiện các quyền và nghĩa vụ vì họ không có điều kiện tiếp cận với các tiện ích xã hội c ng như kiến thức pháp luật Do đó, cơ hội để họ biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình bị hạn chế

Thứ hai, TGPL mang bản chất nhân đạo sâu sắc, không trái với đạo đức xã hội: TGPL là một trong những chính sách mang tính nhân đạo, nhân văn của Đảng

và Nhà nước nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân Giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng

ng a, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật Nội dung của TGPL không được trái với đạo đức xã hội, bởi lẽ, đạo đức xã hội là chuẩn mực chung được công nhận

và tự giác tuân thủ TGPL có phù hợp với đạo đức xã hội, thì nội dung TGPL mới được cộng đồng nói chung và người được TGPL nói riêng chấp thuận

Trang 19

Thứ ba, TGPL cung cấp dịch vụ pháp lý mi n phí: Theo đó, đối tượng được hưởng dịch vụ TGPL theo quy định của Luật TGPL sẽ không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí, thù lao nào, kể cả những lệ phí liên quan đến giấy tờ, đi lại khi họ yêu cầu được TGPL Điều này xuất phát t bản chất của người được TGPL đó là

“những người có khó khăn về tài chính” Khi họ không đủ điều kiện tài chính để học tập, ăn uống, chăm sóc sức khỏe thì những chi phí cho dịch vụ pháp lý lại càng trở nên xa vời Do vậy, không thu phí, lệ phí, thù lao t người được TGPL chính là một trong những bản chất chính của hoạt động TGPL và mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc t chính sách của Nhà nước khích lệ tinh thần của người dân khắc phục, vươn lên trong mọi hoàn cảnh và thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc tiếp cận TGPL đến với người dân

1.1.1.2 Khái niệm TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

Khái niệm Nông thôn: Ở Việt Nam, chưa có định nghĩa chính thức về nông thôn, song t các nghiên cứu về nông thôn, theo quan điểm của tác giả luận văn khái niệm về nông thôn như sau: Nông thôn là vùng/khu vực lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý trực tiếp bởi chính quyền xã; là địa bàn sinh sống của nhiều cộng đồng dân cư, những tộc người khác nhau, chủ yếu lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa cổ truyền, tập quán tốt đẹp và các ngành nghề nông nghiệp lâu đời và truyền thống

Khái niệm Phụ nữ Nông thôn, tác giả luận văn chỉ ra: Phụ nữ nông thôn là một cộng đồng người phong phú, đa dạng sinh sống ở các vùng miền nông thôn gồm những dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình độ học vấn khác nhau Họ hoạt động ở mọi ngành nghề - t ngành nghề nông nghiệp truyền thống duy trì lâu đời: cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi, thu hoạch muối biển, kéo lưới đánh bắt cá, trồng cây công nghiệp lâu năm cho đến những công việc ngành nghề nặng nhọc và độc hại

để tăng thu nhập kinh tế nuôi sống bản thân và gia đình Phụ nữ nông thôn Việt Nam giữ vai trò chính trong việc chăm sóc gia đình t việc quyết định các công việc lao động nông nghiệp, chăm lo sức khỏe cho con cái và người thân, là người sản

Trang 20

xuất chính các sản phẩm lương thực, thực phẩm để nuôi sống gia đình Họ gần như không có thời gian nghỉ ngơi cho bản thân và luôn chịu sự bất công về bất bình đẳng giới còn tồn đọng t phong kiến cổ hủ trong văn hóa gia đình cổ xưa

Về mặt Pháp luật Việt Nam theo Luật TGPL năm 2017 chưa quy định rõ về việc Phụ nữ nông thôn sẽ là chủ thể được Nhà nước TGPL mi n phí (chỉ có quy định chung chung không phân biệt nam-nữ: người thuộc hộ nghèo, người nhi m bệnh hiv, người bị bạo lực gia đình và là nạn nhân của hành vi buôn bán người nhưng phải đáp ứng điều kiện cần là khó khăn về mặt tài chính) Việc TGPL đến với phụ nữ nông thôn Việt Nam là hành động thiết thực và cần thiết, người phụ nữ nông thôn sẽ có cơ hội được tiếp xúc với các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp chính đáng nhiều hơn Nâng cao trình độ văn hóa về sự hiểu biết pháp luật, đáp ứng nhu cầu mà Đảng và Nhà nước đang phấn đấu xây dựng xã hội hóa vùng nông thôn kiểu mới phát triển, văn minh Co thể chỉ ra khái niệm về TGPL cho Phụ nữ nông thôn Việt Nam hiện nay như sau: Pháp luật TGPL cho Phụ

nữ nông thôn là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc tổ chức và hoạt động TGPL, đó là việc cung cấp các dịch vụ pháp lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp đến với Phụ nữ nông thôn Việt Nam hiện nay

1.1.2 Mục đích của việc TGPL đối với phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

Hoạt động TGPL nhằm giúp người được TGPL bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật,

có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ng a, hạn chế các tranh chấp và vi phạm pháp luật xảy ra Góp phần đảm bảo cho mọi công dân đều được quyền bình đẳng trước pháp luật và đảm bảo công bằng xã hội trong việc tiếp cận pháp luật

Phụ nữ nông thôn lao động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, các ngành nghề thủ công truyền thống Là lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động của xã hội nông thôn Việt Nam; Đa số phụ nữ

ở nông thôn lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; Điều kiện kinh tế, lao

Trang 21

động của phụ nữ ở nông thôn gặp nhiều khó khăn; Trình độ học vấn của phụ nữ ở nông thôn còn thấp và chịu nhiều ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến, là nạn nhân của những hủ tục, tập quán truyền thống lạc hậu Tư tưởng định kiến giới còn hiện hữu trong chính gia đình và trong các tổ chức xã hội nơi mà họ tham gia lao động

và làm việc, nghiêm trọng hơn, phụ nữ các vùng nông thôn còn là nạn nhân việc buôn bán người xuyên Quốc Gia

Xuất phát t nông thôn, nên đa phần hầu hết Phụ nữ đều không nắm rõ kiến thức pháp luật, sự thiếu hiểu biết về kiến thức pháp luật của một bộ phận người dân, đặc biệt phụ nữ nông thôn vùng sâu vùng xa, trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, là một trong nguyên nhân d n đến việc vi phạm pháp luật Đây c ng là điều kiện thuận lợi để các đối tượng xấu lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội Trang bị kiến thức pháp luật cho người dân, nhất là đối với người phụ nữ, là vấn đề luôn được các cấp, các ngành quan tâm

Phụ nữ nông thôn luôn phải đối đầu với những bất công ngay trong chính gia đình hay cộng đồng nơi họ sinh sống như: sự phân biệt lớn về giới tính, bạo lực gia đình, hay xâm phạm tình dục ngày một gia tăng Người phụ nữ phải làm nhiều công việc hơn, ngoài việc chăm sóc người thân trong gia đình, họ phải gánh vác công việc lao động làm thêm bên ngoài để trang trải cuộc sống Họ phải chịu áp lực về kinh tế, đối diện với cuộc sống nghèo khó, không đủ chi tiêu trong gia đình Phụ nữ nông thôn chịu nhiều sự vất vả, thiệt thòi về điều kiện sống, sức khỏe không được đảm bảo nên thường xuyên đối mặt với bệnh tật, ốm đau, chất lượng sống không ổn định gây ảnh hưởng lớn đến tinh thần tâm lý của người phụ nữ nông thôn

Các vụ việc về bạo lực gia đình đối với Phụ nữ chưa được giải quyết triệt để,

họ phải cam chịu, nh n nhịn chịu đựng những cơn đau về thể xác l n tinh thần Phần lớn vì không am hiểu pháp luật để tự bảo vệ chính bản thân mình

Theo kết quả điều tra ở 08 tỉnh của Hội liên hiệp Phụ nữ năm 2008, có 23%

số gia đình được hỏi có hành vi bạo hành về thể chất; 30% số gia đình có hành vi bạo lực về tình dục; 25% số gia đình được hỏi có hành vi bạo lực về tinh thần trong

đó phụ nữ là nạn nhân chiếm 97% Theo số liệu điều tra của Trung tâm Nghiên cứu

Trang 22

Giới và Phát triển, bạo lực gia đình d n đến tình trạng ly hôn chiếm 497% Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao trung bình trong 5 năm t 2000 đến 2005

cả nước có 352.000 vụ ly hôn thì có tới 39.730 vụ ly hôn do bạo lực gia đình (chiếm 53,1%) [15, tr.24 - 27]

Không chỉ là nạn nhân của Bạo lực gia đình, phụ nữ còn là nạn nhân chính của tội mua bán người “Tính đến ngày 22/10/2009 theo một báo cáo của Chính phủ, hơn 4.000 phụ nữ và trẻ em gái là nạn nhân của những tổ chức buôn người đã được phát hiện trong 05 năm quá (2004 - 2009) ngoài ra cả nước có khoảng 22.000 phụ nữ, trẻ em đã rời khỏi địa phương, đến nay không rõ tung tích” [15, tr 24 - 27] Tình trạng buôn bán người ngày càng di n biến phức tạp; nhiều người bị l a gạt về các cơ hội lao động và sau đó bị bán cho các nhà thổ ở vùng biên giới Trung Quốc, Campuchia, Lào và các nước châu Á khác, trong đó có Malaysia, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Thái Lan, Nam Triều Tiền Đặc điểm chung của các nạn nhân bị l a gạt buôn bán trái phép đều xuất phát t những phụ nữ nông thôn, đa số

họ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chỉ làm ruộng hoặc không có việc làm, trình độ học vấn thấp, vì sự nhẹ dạ cả tin, vi n cảnh về tương lai tốt đẹp và hứa hẹn vùng kinh tế mới mà bọn buôn người đưa ra Chính vì sự thiếu hiểu biết trầm trọng về kiến thức pháp luật, không cập nhật thông tin truyền thông nhanh chóng, nên phụ

nữ nông thôn thường bị người xấu lợi dụng lòng tin Khi được cơ quan chức năng Việt Nam giải cứu, hỗ trợ đưa về nước thì họ lại mặc cảm với cộng đồng nơi họ sinh sống hay làng xóm v n chưa có cái nhìn bao dung đối với các nạn nhân; điều tiếng xã hội, dư luận xóm giềng đã làm cho các nạn nhân nhiều lúc rất tự ti, mặc cảm Điều này khiến nhiều nạn nhân sau bao năm được đoàn tụ với gia đình c ng rất khó hòa nhập cộng đồng

Phụ nữ nông thôn phải làm rất nhiều công việc, vì đa phần trình độ văn hóa của phụ nữ nông thôn rất thấp, bỏ học giữa ch ng nên họ không có cơ hội làm việc tại các cơ quan Nhà nước hoặc các tổ chức chuyên nghiệp, họ phải gánh vác kinh tế

để đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình Khi quyền lợi của người phụ nữ nông thôn

bị xâm phạm, họ c ng không muốn dùng tài chính của mình để chi trả (nếu phụ nữ

Trang 23

nông thôn không thuộc diện TGPL mi n phí theo điều 7 của Luật TGPL 2017 thì họ

sẽ phải bỏ chi phí cho hoạt động TGPL) vì phụ nữ nông thôn thường phải đối mặt với nhiều khoản chi: phí sinh hoạt bản thân, phí sinh hoạt cho gia đình và chăm sóc con cái, người thân… rất nhiều chi phí khác nữa mà người phụ nữ nông thôn phải gánh lên đôi vai, nên tâm lý đến Tổ chức và Trung tâm để đăng ký TGPL họ gần như không tham gia Chính vì vậy, phụ nữ nông thôn thường bỏ lỡ nhiều cơ hội về quyền lợi của mình khi được TGPL

Xuất phát t những thực trạng trên, mục đích cho hoạt động TGPL phụ nữ nông thôn Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc xác định đúng định hướng, mục tiêu TGPL cho phụ nữ nông thôn, việc chỉ ra các phương pháp, nội dung và hình thức TGPL cần phải xác định đúng mục đích của hoạt động TGPL cho phụ nữ nông thôn Tùy thuộc vào mỗi giai đoạn, thời kỳ phát triển kinh tế xã hội để chỉ ra mục đích TGPL cho phụ nữ nông thôn Theo quan điểm của tác giả luận văn, TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam bao gồm các mục đích cơ bản sau:

Mục đích thứ nhất: là mục đích về nhận thức pháp luật, phụ nữ nông thôn cần phải hiểu về pháp luật, nhận thức đúng đắn về Pháp luật Việt Nam trong hoạt động TGPL Hiện nay, các vùng nông thôn ở Việt Nam, đại đa số phụ nữ nông thôn chưa được trang bị kiến thức pháp luật, khi quyền và lợi ích bị xâm phạm, người phụ nữ nông thôn không biết cần phải làm gì để bảo vệ chính mình Thực trạng này

di n ra suốt nhiều năm, vì điều kiện kinh tế khó khăn, hiểu biết pháp luật không có,

họ thường là nạn nhân trong các vụ buôn bán người, nạn bạo lực gia đình, bị xâm hại tình dục hay gặp thiệt thòi trong phân chia tài sản ly hôn…

Mục đích thứ hai: xây dựng niềm tin tuyệt đối về pháp luật cho phụ nữ nông thôn Sự đầu tư của Nhà nước đối với phụ nữ nông thôn góp phần bảo vệ và phát triển đời sống cho phụ nữ vùng nông thôn như: Thành lập Quỹ vay vốn, Hợp tác xã nông nghiệp, Quỹ bảo hiểm y tế và nhân thọ, xây dựng Nhà tạm lánh mang tên Ngôi nhà bình yên Bên cạnh những thành tựu đã thực hiện được, Nhà nước cần lên

kế hoạch xây dựng các chương trình hỗ trợ pháp lý đến với phụ nữ nông thôn, đó

c ng là mục tiêu cho việc giám sát, quản lý có hiệu quả nhằm thúc đẩy nếp sống

Trang 24

văn hóa, điều kiện kinh tế ở vùng nông thôn Thẳng thắn lên án, phê bình các cán bộ địa phương làm việc tắc trách, làm sai quy định pháp luật về việc hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn Nhà nước quan tâm đến phụ nữ nông thôn thì họ sẽ tin yêu vào chính sách của Đảng, luôn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, cùng đoàn kết góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương đi lên đáp ứng nhu cầu của thời đại trong việc xây dựng và phát triển Nông thôn kiểu mới

Mục đích thứ ba: hình thành động cơ, hành vi xử sự cho phụ nữ nông thôn theo chuẩn các quy định pháp luật Dựa vào hai mục đích ở trên, khi được trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật, phụ nữ nông thôn sẽ tự tin hơn, nắm bắt được quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia TGPL đồng thời có kiến thức pháp luật và xây dựng được kỹ năng tham gia TGPL để bảo vệ mình, có thể phản biện lại những hành động, hành vi t việc làm sai trái t chủ thể khác, ý thức luôn tuân thủ các quy phạm hướng d n của pháp luật

T những mục đích TGPL cho phụ nữ nông thôn, hiện nay hoạt động TGPL cho phụ nữ nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, pháp luật Việt Nam mới chỉ d ng lại

ở việc ban hành những văn bản quy định, nghị định pháp luật bao gồm tất cả các chủ thể đối tượng và trong đó có phụ nữ như: Luật Bình Đẳng giới năm 2006; Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Luật phòng, chống mua bán người năm 2011; Luật Đất Đai 2013; Bộ Luật Lao Động 2012; Nghị định 08/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng d n thi hành một số điều của Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định 09/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống mua bán người… Nhưng văn bản về TGPL cho phụ nữ nông thôn hiện nay chưa có, đất nước ngày một phát triển và nhiều nhu cầu xã hội phát sinh, Đảng và Nhà nước ta cần có những biện pháp khắc phục và hỗ trợ đến với phụ nữ nông thôn như một chính sách khích lệ ủng hộ tinh thần và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

Thực hiện TGPL cho phụ nữ nông thôn là một chính sách góp phần bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người phụ nữ nông thôn, giúp họ có điều kiện sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp Bởi vì họ là nhóm đối tượng yếu thế,

Trang 25

không có đủ năng lực, điều kiện nắm bắt, sử dụng pháp luật để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, phụ nữ nông thôn cần phải được quan tâm, giúp đỡ Có như vậy, mới phản ánh đúng đắn và đầy đủ bản chất Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân

và vì Nhân dân, mới bảo đảm để tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, tạo lập công bằng, bình đẳng trên thực tế giữa các chủ thể Việc xác định đúng đắn các mục đích, định hướng của TGPL đối với phụ nữ nông thôn là một trong những yếu

tố tạo nên cấu trúc bên trong của thực hiện TGPL

1.1.3 Nội dung và hình thức của TGPL cho phụ nữ nông thôn

Hoạt động TGPL cho Phụ nữ nông thôn cần phải tập trung vào các nội dung chính quy định về quyền, nghĩa vụ của người được hưởng trợ giúp pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân, phổ biến kịp thời các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không ng ng đưa các quy định của pháp luật đến với người dân nói chung và phụ nữ vùng nông thôn nói riêng Góp phần trang bị cho phụ nữ nông thôn được tham gia hay tiếp cận pháp luật để t đó nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật đồng thời góp phần bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và giảm thiểu những vấn đề bức xúc di n ra trong đời sống hằng ngày, mang lợi ích giúp cho các cơ quan nhà nước giải quyết các vụ việc một cách chính xác, khách quan, công bằng và đúng pháp luật; góp phần giải toả những vướng mắc pháp luật của nhân dân, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; góp phần ổn định chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tạo lập cơ chế thực hiện nguyên tắc Hiến định: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội; góp phần giữ vững và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

Hình thức TGPL được hiểu hình thức tổ chức hoạt động TGPL giữa chủ thể thực hiện TGPL và người được TGPL nhằm mục đích hỗ trợ người được TGPL được đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp Theo khoản 2 Điều 27 Luật TGPL

2017 Các hình thức TGPL hiện nay bao gồm: a, Tham gia tố tụng; b, Tư vấn pháp

luật; c, Đại diện ngoài tố tụng

Trang 26

Hình thức tham gia tố tụng [21, Điều 31]: là việc tổ chức TGPL cử người thực hiện đại diện, bào chữa cho phụ nữ nông thôn cần TGPL trước cơ quan tiến hành tố tụng Đây là hình thức TGPL cơ bản nhất, được quy định rất cụ thể trong các công ước quốc tế và tất cả các quy định, chế định TGPL các nước Hình thức này thực hiện t người được đào tạo bài bản và am hiểu nắm bắt các quy định, thủ tục về pháp luật, có kỹ năng hành nghề luật sư

Hình thức tư vấn pháp luật theo Điều 31 Luật TGPL 2017 [21, Điều 32]: được áp dụng phổ biến trong các hoạt động TGPL ở tất cả các nước Tư vấn pháp luật được hiểu là một loại dịch vụ pháp lý nhằm giải thích pháp luật và hướng d n việc thiện pháp luật cho các đối tượng TGPL Tư vấn viên sẽ lắng nghe những tâm

tư tình cảm, những khó khăn trong đời sống mà khách hàng hay gặp phải và đưa ra lời khuyên hay những hướng đi mang tính chất đúng đắn, hợp tình hợp lý Tư vấn pháp luật được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc có thể tư vấn gián tiếp thông qua hình thức: gửi thư tín, thư điện tử, điện thoại…)

Hình thức đại diện ngoài tố tụng theo Điều 32 Luật TGPL 2017 [21, Điều 33]: Đại diện ngoài tố tụng là việc trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện đại diện ngoài

tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý khi họ không thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình Việc đại diện ngoài tố tụng được thực hiện trong phạm vi yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý

Để áp dụng các hình thức TGPL theo quy định luật TGPL 2017 với phụ nữ vùng nông thôn Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội có nghĩa vụ thành lập, phối hợp cùng chỉ đạo các tổ chức TGPL thực hiện theo đúng quy định pháp luật về việc hỗ trợ TGPL cho phụ nữ nông thôn mang lại sự yên tâm của phụ

nữ nông thôn đối với chính quyền địa phương nơi họ sinh sống, cụ thể việc phối hợp như sau:

Đảng và Nhà nước nên thực hiện ban hành chính sách, pháp luật TGPL hỗ trợ phụ nữ nông thôn được quyền tiếp cận dịch vụ pháp lý mi n phí, luôn quan tâm đến các hoạt động pháp luật đối với phụ nữ vùng nông thôn

Bộ tư pháp cần phải có trách nhiệm trước chính phủ trong việc thực hiện

Trang 27

TGPL cho các đối tượng theo luật TGPL 2017 nói chung và TGPL cho phụ nữ vùng nông thôn nói riêng Chủ động phối hợp với các bộ, các ban ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thường xuyên tiến hành kiểm tra, rà soát các văn bản pháp luật về TGPL đã lạc hậu, cập nhật xây dựng văn bản pháp luật mới sao cho phù hợp để đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật

về TGPL tạo điều kiện thuận lợi cho Luật sư và trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL

Bộ lao động thương binh và xã hội phối hợp với Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức các Hội thảo hỗ trợ phụ nữ vùng nông thôn như: triển khai công tác bình đẳng giới; Xây dựng mô hình phát triển kinh tế ở địa phương mục đích tạo công ăn việc làm cho phụ nữ nông thôn; Tuyên truyền về chế độ bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe đến với phụ nữ nông thôn; Phòng chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ

em tại vùng nông thôn; Bảo vệ hỗ trợ nạn nhân bị l a buôn bán xuyên biên giới tái hòa nhập với cộng đồng ổn định cuộc sống, giúp đỡ nạn nhân bị mua bán trở về cần được triển khai phù hợp với nguyện vọng và được cấp ủy, chính quyền ủng hộ, giúp nạn nhân ổn định cuộc sống Hội liên hiệp phụ nữ các cấp là nòng cốt trong việc tìm kiếm, vận động các nguồn lực để hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về, trong đó hội phụ nữ cơ sở chính là những người gần g i, chia sẻ, nắm bắt tình hình đời sống và

là sợi dây kết nối với các cơ sở hỗ trợ khi nạn nhân tiếp tục cần sự trợ giúp, t đó góp phần hỗ trợ chị em tháo gỡ khó khăn trong cuộc sống

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc TW có trách nhiệm cần phải chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tại các địa phương trong địa bàn rà soát, kiểm tra, kiện toàn tổ chức, cán bộ đảm bảo biên chế kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, tăng cường năng lực hoạt động cho trung tâm và các chi nhánh của trung tâm TGPL, căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của phụ nữ nông thôn tại địa phương

mà thành lập các chi nhánh TGPL nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu TGPL cho phụ nữ nông thôn, cần tiến hành và rà soát tổ chức tham gia TGPL ở địa phương để tổ chức này hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật về TGPL, làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra và công tác thi đua khen thưởng trong hoạt động TGPL

Trang 28

1.2 Đặc điểm cơ bản của phụ nữ nông thôn và TGPL đối với phụ nữ nông thôn ở VN

1.2.1 Đặc điểm của Phụ nữ nông thôn

1.2.1.1 Phụ nữ nông thôn thường ít quan tâm đến Pháp luật

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có những quan điểm, chủ trương nhất quán, xuyên suốt để đảm bảo các quyền cho người dân, trong đó có phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ vùng nông thôn nói riêng Các hệ thống văn bản pháp luật hiện ban hành đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp đến với phụ nữ hiện nay như: Luật bình đẳng giới 2006; Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007; Luật phòng, chống mua bán người 2011; Luật hôn nhân và gia đình 2014, Luật Đất Đai 2013;

Bộ Luật Lao Động 2012… Tuy nhiên, với trình độ nhận thức không đồng đều thì cách tiếp cận, thực thi các quy định của pháp luật của phụ nữ Việt Nam hiện nay còn rất nhiều hạn chế đặc biệt đối với phụ nữ vùng nông thôn

Điều phụ nữ nông thôn quan tâm nhiều nhất chủ yếu là cuộc sống thường ngày trong gia đình, phần nhiều vì các hủ tục phong kiến để lại, phụ nữ nông thôn thường ít quan tâm đến các hoạt động pháp luật ở chính quyền địa phương,

họ chỉ cần khi quyền và lợi ích của họ hay người thân trong gia đình bị xâm phạm, nhưng ngay chính bản thân người phụ nữ không biết tham khảo luật hiện hành nào để bảo vệ quyền lợi cho mình Trình độ dân trí ở vùng nông thôn còn nhiều hạn chế nên chị em chưa quan tâm nhiều đến việc tiếp cận, tìm hiểu thông tin

về chính sách, luật pháp

Các vấn đề về quyền cơ bản của phụ nữ và thực trạng chung về Hôn nhân gia đình, bạo lực gia đình phụ nữ nông thôn không nắm bắt hết: Hôn nhân ở tuổi vị thành niên, nhất là ở vùng núi cao, vùng dân tộc thiểu số, không phải là hiếm Việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, v n còn hạn chế và chưa được coi trọng Định kiến giới và tư tưởng thích con trai cùng với việc tiếp cận d dàng các dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán sớm giới tính thai nhi và dịch vụ phá thai là những nguyên nhân cơ bản góp phần làm gia tăng tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Trang 29

Ở các khu vực nông thôn, phụ nữ v a làm việc đồng áng, nội trợ và chăm sóc người thân, những ngành nghề chủ yếu hiện nay dành cho phụ nữ nông thôn như dệt may, nông - lâm nghiệp… đều là những ngành lao động phổ thông, nặng nhọc, năng suất thấp, d bị tổn thương với mức thu nhập thấp; điều kiện làm việc thì khắc nghiệt mà tính rủi ro do mất việc rất cao Khi kinh tế biến động cần sa thải nhân công thì lao động nữ c ng là “ưu tiên hàng đầu” Lý do là vì ít đào tạo trình độ thấp nên cơ hội việc làm có lương cao rất hạn chế Và khi bị xâm phạm đến lợi ích thì người phụ nữ c ng không thể đứng lên bảo vệ chính bản thân mình

1.2.1.2 Phụ nữ nông thôn chỉ hiểu biết một số điều luật cơ bản mang tính chất chung chung

Nhận thức của phụ nữ nông thôn chưa đồng đều, một số người chỉ nắm rõ quy định pháp luật một cách chung chung, chưa thật sự nâng cao vốn hiểu biết về kiến thức pháp luật, ảnh hưởng đến công tác phối hợp, triển khai thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động TGPL Sống trong môi trường ít thông tin, học vấn thấp, lại chịu sức ép theo những khuôn m u cổ hủ, phong kiến, cột chặt người phụ

nữ nông thôn vào những khuôn phép, tục lệ “hầu chồng, chăm con”, nên kiến thức pháp luật, ý thức về hành vi pháp luật của người phụ nữ nông thôn chưa cao Mặc

dù được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của tỉnh ủy, sự phối hợp chặt chẽ với các Ban, ngành, đoàn thể, sự đoàn kết, nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc của tập thể cán bộ, hội trưởng Hội Phụ nữ các vùng nông thôn thực hiện nhiệm

vụ phổ biến, giáo dục pháp luật trong khu vực địa phương phù hợp với văn hóa, phong tục, tập quán Tuy nhiên, việc phổ cập giáo dục về quyền và nghĩa vụ đến với phụ nữ vùng nông thôn còn hạn chế, phần lớn do trình độ dân trí không đồng đều, nhận thức của nhân dân còn thấp

Khó khăn hơn nữa là việc khó áp dụng theo luật bởi vì yêu cầu về bằng chứng, phần lớn phụ nữ nông thôn do không hiểu biết về pháp luật, họ không biết cách giữ lại bằng chứng Khi bạo lực xảy ra, phụ nữ nông thôn chỉ có tìm cách chạy trốn, né tránh vụ việc, không dám báo cáo sự việc lên các cấp chính quyền địa phương phần vì lối suy nghĩ hủ tục t nhiều đời Sự che giấu này đã dung túng, làm

Trang 30

tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi Bên cạnh đó, phần đông nạn nhân của BLGĐ không nắm được các quy định về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình… Một số người quan niệm chỉ khi d n đến hậu quả nặng nề về sức khỏe, thể chất mới xem đó là bạo lực BLGĐ Khi quyền và lợi ích bị xâm phạm, phụ nữ nông thôn chỉ biết hành vi của đối tượng là vi phạm sai quy định của pháp luật nhưng không nắm rõ được các thủ tục cần phải thực hiện là gì Khi tìm đến các văn phòng TGPL thường không có giấy tờ, biên bản xác nhận của cơ quan chức năng như: Bệnh viện, Ủy ban nhân dân, Công an gây khó khăn cho văn phòng TGPL gặp khó khăn trong việc làm thủ tục cử người thực hiện TGPL Hơn nữa, nhiều chị em phụ

nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của tội buôn bán phụ nữ… nhưng không muốn để ai biết mình là nạn nhân, tâm lý mặc cảm, sợ bị chê trách nên không đến tổ chức trợ giúp pháp lý để được trợ giúp pháp lý

1.2.1.3 Phụ nữ nông thôn là nhóm đối tượng có quyền và lợi ích hợp pháp

dễ bị xâm phạm

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau” [13, tr.260] Thực hiện đấu tranh giải phóng dân tộc là để có phần giành quyền lợi về phía phụ nữ, bởi vì theo Người, dân tộc chưa độc lập thì quyền lợi của phụ nữ chưa được giải phóng, quyền phụ nữ gắn liền với quyền dân tộc, quyền của giai cấp và quyền của con người Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm tới quyền của phụ nữ ở nông thôn, nơi lao động nữ là lực lượng chủ yếu Người thấu hiểu nỗi vất vả của người phụ nữ nông thôn trong điều kiện lao động chân tay “một nắng, hai sương”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền của phụ nữ được thể hiện trong Chánh cương vắn tắt năm 1930 của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo, trong

đó nêu rõ: “Về phương diện xã hội thì: a) Dân chúng được tự do tổ chức b) Nam

nữ bình quyền v.v…” [14, tr.1]

Tuy nhiên, trong t ng giai đoạn, ở nhiều thời điểm, việc thực hiện quyền của phụ nữ nông thôn còn những hạn chế, bất cập Phụ nữ nông thôn luôn là nhóm đối tượng d bị xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp nhất Nhiều quyền phụ nữ

Trang 31

không những không được thực thi như đã cam kết mà còn bị khước t dưới các hình thức, luật lệ, hương ước, l giáo phong kiến và tâm lý bảo thủ trì trệ, gia trưởng của nhiều thành phần trong xã hội Xuất phát t những quan điểm cổ hủ, lạc hậu và những định kiến giới đã ăn sâu bám r trong tiềm thức của con người là phụ nữ nông thôn bị coi là phái yếu, học thức kém nên không được tham gia vào việc quyết định những vấn đề quan trọng trong gia đình Đặc biệt là trong vấn đề tiếp cận sở hữu liên quan đến đất đai, nhà ở, quyền đưa ra những quan điểm đóng góp ý kiến trong gia đình, vì vậy họ không có cơ hội tiếp cận các nguồn lực c ng như phát huy khả năng lao động của mình Phụ nữ nông thôn luôn phải đối mặt với sự phân biệt đối xử, có khi bị bóc lột sức lao động một cách trắng trợn trong thị trường lao động

và trong việc thụ hưởng quyền lợi kinh tế Những hình thức bạo lực trực tiếp hướng đến phụ nữ, đã tước đoạt những quyền lợi và đôi khi là cuộc đời của họ Những công việc nội trợ và công việc có thu nhập thấp hoặc không có thu nhập trong xã hội, ngày ngày kìm hãm, hầu như không cho phụ nữ được thụ hưởng những quyền lợi của mình

Việc thực hiện TGPL đến với phụ nữ nông thôn là hoạt động hết sức cần thiết, chính quyền địa phương không thể thực hiện việc tuyên truyền TGPL cho phụ

nữ ở địa phương bằng hình thức, bằng vụ việc đã xảy ra, thực hiện cho có để đạt chỉ tiêu mà thay vào đó, chính quyền các cấp cần phải có hành động cụ thể, cần phải quan tâm tích cực tăng cường hoạt động TGPL đến với phụ nữ nông thôn trong khu vực địa phương, thực hiện tuyên truyền sâu những lĩnh vực mang tính chất nhạy cảm, bức xúc mà phụ nữ nông thôn hiện nay đang rất quan tâm như: sự phân biệt đối xử trong gia đình, xã hội; bạo lực gia đình xâm phạm mạnh đến thân thể; nạn buôn bán người trái phép; tranh chấp đất đai Việc thực hiện TGPL cho phụ nữ nông thôn cần phải có báo cáo kế hoạch chi tiết, kết quả theo t ng năm để chứng minh di n biến hoạt động TGPL đã mang lại những kết quả như thế nào Những mặt tích cực, thuận lợi và những khó khăn để t đó đưa ra những phương hương, giải pháp khắc phục để nâng cao TGPL cho phụ nữ nông thôn được hiệu quả hơn

Bản thân người phụ nữ nông thôn cần phải nắm được quyền và lợi ích hợp

Trang 32

pháp của chính mình để t đó có thể bảo vệ bản thân trước những cám dỗ, những nguy hiểm trong xã hội mà họ rất d gặp phải

1.2.1.4 Luật TGPL chưa tiếp cận hết đến quyền lợi ích cho người phụ nữ

Hoạt động TGPL với phụ nữ nông thôn hiện nay còn gặp nhiều khó khăn và bất cập:

Thứ nhất, không phải tất cả phụ nữ đều được trợ giúp pháp lý, theo quy định

của Điều 7, Luật TGPL 2017 thì không phải tất cả phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng được TGPL mi n phí, mà luật chỉ hỗ trợ một số chủ thể đặc biệt (đã phân tích ở mục 1.1.1.2 “Khái niệm TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam” Đây c ng là khó khăn cho người phụ nữ nông thôn khi họ đăng ký hỗ trợ TGPL, bởi lẽ do điều kiện sống của phụ nữ nông thôn thường gặp nhiều khó khăn hơn phụ

nữ thành thị, ngoài công việc nhà hằng ngày, họ phải tham gia sản xuất nông nghiệp

để tăng thu nhập cho gia đình

Thứ hai, luật TGPL chưa tiếp cận đến quyền lợi của người phụ nữ nông thôn,

ví dụ như: quyền của phụ nữ nông thôn trong việc sử dụng đất đai nhà ở hay các vấn đề hôn nhân gia đình: ly hôn, phân chia tài sản không được Luật TGPL 2017 bảo hộ mà sẽ có quy định tại các văn bản Luật riêng biệt Khi bị xâm phạm về quyền và lợi ích, người phụ nữ nông thôn c ng không thể tự mình nắm rõ được quy định cụ thể của pháp luật để tự bảo vệ quyền lợi của mình, nhiều phụ nữ nông thôn

v n chưa biết được về quyền trợ giúp pháp lý hoặc chưa chủ động khi tiếp cận với trợ giúp pháp lý Nhiều phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của tội buôn bán phụ nữ, khi đến Trung tâm thường không có giấy tờ chứng minh là nạn nhân của những hành vi này như: Biên bản, giấy xác nhận của các cơ quan Công an, bệnh viện, Uỷ ban nhân dân xã hay Trưởng các thôn, bản vì thế thủ tục cử người thực hiện TGPL cho họ là rất khó khăn Hay khi người phụ nữ nông thôn bị xâm phạm về quyền và lợi ích, họ c ng không biết tìm đến các văn phòng TGPL để được yêu cầu TGPL

Để quản lý, kiểm soát tốt hoạt động TGPL, các cấp chính quyền địa phương cần phối hợp, thực hiện đúng quy định của pháp luật, đúng chính sách của Nhà

Trang 33

nước đưa ra phương án nâng cao trách nhiệm các bộ, ngành, địa phương trong việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng d n thi hành phù hợp với điều kiện thực tế của t ng vùng, miền, địa phương; nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan đến trợ giúp pháp lý để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ; đồng thời phải đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho công tác trợ giúp pháp lý được duy trì và phát triển

1.2.2 Đặc điểm của TGPL đối với Phụ nữ nói chung và PN nông thôn nói riêng

Trợ giúp pháp lý đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý cho người dân và xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng TGPL chỉ phát huy tác dụng khi hai yếu tố khác được thoả mãn Thứ nhất, quyền và lợi ích chính đáng của người phụ nữ nông thôn phải được luật pháp bảo vệ, hay nói cách khác đó là quyền

và lợi chính đáng trở thành quyền và lợi ích hợp pháp Thứ hai, người phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng phải biết quyền và lợi ích của mình được luật pháp th a nhận và muốn tìm sự bảo vệ của hệ thống công lý khi họ cảm thấy quyền

và lợi ích đó bị xâm hại

Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý là các tổ chức trợ giúp pháp lý Nhà nước

và các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị

xã hội, chính trị xã hội nghề nghiệp Như vậy, hoạt động trợ giúp pháp lý là một loại hoạt động v a có tính chất nhà nước, v a mang tính chất xã hội

Người thực hiện trợ giúp pháp lý theo khoản 1 Điều 17 Luật TGPL quy định như sau:

a) Trợ giúp viên pháp lý; b) Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; c) Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc

tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; d) Cộng tác viên trợ giúp pháp lý

Tổ chức thực hiện TGPL theo khoản 1 Điều 10 Luật TGPL Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý

Trang 34

Theo Luật TGPL 2017, phụ nữ vùng nông thôn không phải là đối tượng được TGPL mi n phí Đây c ng là khó khăn và hạn chế trong việc hỗ trợ TGPL đến với phụ nữ nông thôn Trong những năm tới, khi Quốc Hội sửa đổi, bổ sung Luật TGPL nên cần có thêm phụ nữ vùng nông thôn là đối tượng được TGPL mi n phí góp phần xây dựng phát triển xã hội, nâng cao tinh thần ý thức pháp luật đến với phụ nữ nông thôn Đây c ng là sự khích lệ động viên của Đảng và Nhà nước trong hoạt động TGPL đối với phụ nữ nông thôn và c ng là bước chuyển biến tích cực phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội nông thôn kiểu mới

Lĩnh vực trợ giúp pháp lý: Hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện đối với tất cả các vụ việc có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong hầu hết các lĩnh vực pháp luật, tr các vụ việc có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại

Mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý đối vụ phụ nữ nông thôn theo quan điểm của tác giả luận văn: nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ng a, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật góp phần bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội

Có thể hiểu rõ, TGPL còn là một loại dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, là một trong những chức năng xã hội của Nhà nước và các chi phí cho hoạt động TGPL do ngân sách Nhà nước bảo đảm Bên cạnh đó, TGPL là một dịch vụ mang đậm tính nhân văn sâu sắc, bởi mục tiêu của TGPL hướng đến những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân nói chung và phụ nữ vùng nông thôn nói riêng Ngoài ra, TGPL còn thể hiện tính ổn định chính trị- xã hội t Trung ương đến địa phương, t thị xã đến các vùng nông thôn, vùng núi sâu xa Góp phần thiết lập sự ổn định, niềm tin của người dân vào chế độ, qua đó là phương thức hiệu quả để Nhà nước d dàng quản lý, đảm bảo ổn định trật tự và an toàn xã hội

Trang 35

1.3 Các yếu tố tác động đến việc cần phải TGPL cho phụ nữ nông thôn

ở Việt Nam

1.3.1 Yếu tố về văn hóa, phong tục, tập quán

T xưa đến này, hình ảnh người Phụ nữ Việt Nam mang trong mình truyền thống đấu tranh anh d ng và lao động cần cù, thông minh, sáng tạo Bên cạnh truyền thống tốt đẹp đó, người phụ nữ Việt Nam còn có truyền thống đảm đang gánh vác trách nhiệm công việc trong gia đình Ngày nay, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vai trò nội trợ chăm lo gia đình của người phụ nữ tuy khác đi,

họ có thể không trực tiếp phải làm tất cả các công việc trong gia đình nhưng họ v n

là người phải lo toan, quán xuyến, theo dõi mọi hoạt động của các thành viên để hỗ trợ, chăm sóc, làm tròn bổn phận của người con, người mẹ và người vợ Định kiến giới “trọng nam, khinh nữ” đến nay v n còn tồn tại và ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề bình đẳng giới

Ở Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy, nam giới chiếm ưu thế trong kiểm soát đất đai và các tài sản có giá trị khác Nam giới có cơ hội tiếp cận và kiểm soát đất sản xuất là 24,8% so với 4,8% của nữ giới Có khoảng gần 80% chủ hộ là nam giới so với 20% chủ hộ là nữ giới, do đó trên thực tế phần lớn nam giới là người đứng tên trên giấy tờ nhà và đất Đặc biệt ở nông thôn, đa số trường hợp nhà ở và đất ở là tài sản th a kế do bố mẹ chia cho con trai khi họ lập gia đình và tách ra ở riêng, do vậy tỷ trọng nam giới đứng tên chủ sở hữu nhà ở rất cao Theo số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam (1998-2000) “79,7% hộ gia đình ở đồng bằng và 82,1% hộ gia đình ở trung du - miền núi có nam giới là người đứng tên sở hữu nhà

ở và đất ở, còn ở thành phố, tỷ lệ chiếm 49,8%” [26, tr.430]

Khi thế chấp tài sản hay đất đai để vay vốn, c ng phải do chủ hộ quyết định

Và khi có các lớp tập huấn khoa học kỹ thuật nông nghiệp thì tất nhiên người tham gia phải là chủ hộ, người đại diện cho hộ gia đình, và trong đa số trường hợp là nam giới Trong trường hợp như vậy, người phụ nữ nông thôn ít được tiếp cận thông tin mới t chính sách, các quy định pháp luật của Nhà nước

Phụ nữ v n chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới trên lĩnh vực văn hoá giáo

Trang 36

dục Trong gia đình, nếu phải lựa chọn việc cho con trai hay con gái tiếp tục theo học các bậc hệ cao hơn thì con trai bao giờ c ng được ưu tiên hơn Đó là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao ở nông thôn, đa số phụ nữ chỉ học hết cấp I và cấp

II Tỷ lệ phụ nữ mù chữ, trẻ em gái bỏ học giữa ch ng luôn nhiều hơn nam giới Theo báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình năm học 2007 – 2008, “tỷ lệ học sinh nữ trong các cấp học là: bậc Mầm non: 49,6%; bậc Tiểu học: 48,2%; bậc Trung học cơ sở: 48,7%” [1, tr.181]

Đặc biệt, quyền được đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật cho lao động nữ nông thôn hiện đang gặp nhiều thách thức Tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” d n đến số phụ nữ có trình độ học vấn cao rất ít, lại không được tạo điều kiện để tiếp cận các khoá tập huấn đào tạo kỹ thuật canh tác, sản xuất mới nên tay nghề và kỹ thuật cho lực lượng lao động nữ v n còn ở mức thấp Sự chênh lệch giữa nam giới và phụ nữ trong lĩnh vực này là điều đáng quan tâm Phong tục, tập quán thể hiện bản sắc văn hoá riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, cần phải phát huy những nét đẹp của văn hoá truyền thống, bên cạnh đó cần phải kiên quyết loại bỏ dần những phong tục, tập quán lạc hậu, là rào cản cho sự tiếp cận và hưởng thụ quyền bình đẳng của phụ nữ trên các lĩnh vực dân

sự, chính trị; kinh tế, xã hội và văn hoá để góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

Việc TGPL cho phụ nữ nông thôn là điều kiện cần thiết và quan trọng, chính quyền địa phương nên phối hợp chặt chẽ với Hội phụ nữ trong khu vực thực hiện chiến lược động viên, tuyên truyền đến phụ nữ xây dựng văn hóa thôn làng văn minh, xóa đi những rào cản t những hủ tục phong kiến, hòa mình với những hội nhập xã hội và hơn hết phụ nữ nông thôn cần phải biết đến những hoạt động liên quan đến TGPL mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình

1.3.2 Yếu tố về kinh tế, lao động, xã hội

Do đặc điểm lịch sử phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, phụ nữ xưa kia

c ng như hiện nay v n giữ một vai trò trụ cột trong sản xuất nông nghiệp Phần lớn các khâu trong sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi đều do người phụ nữ thuộc vùng nông thôn đảm nhiệm

Trang 37

Có thể nói, phụ nữ là lực lượng lao động quan trọng và chủ chốt trong sản xuất nông nghiệp Do tác động mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước hiện nay, phụ nữ nông thôn ngày càng tham gia tích cực hơn vào thị trường lao động chung của cả nước, nhất là các ngành kinh tế như: thương mại - dịch vụ, công nghiệp và du lịch ở ngay nông thôn hay ở các trung tâm kinh tế lớn

Tuy nhiên, chất lượng việc làm của lao động nữ nông thôn còn thấp, tính ổn định, bền vững trong việc làm và tiếp cận tới các dịch vụ an sinh xã hội không cao, phụ nữ nông thôn thường phải tham gia các công việc không chính thức và d bị tổn thương Nhiều phụ nữ nông thôn phải tự tạo việc làm hoặc làm việc trong gia đình mà không được trả công Phụ nữ nông thôn làm việc trong các khu vực không chính thức

có tiền công thấp hơn, tay nghề thấp hơn và ít cơ hội nâng cao tay nghề và đào tạo

Việc đào tạo nghề cho lao động nữ nông thôn tuy đã được chú trọng nhưng các loại hình đào tạo thường ngắn hạn, đầu ra sau học nghề gặp nhiều khó khăn Lao động nữ lớn tuổi càng khó khăn trong chuyển đổi việc làm Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất như đất đai, công nghệ và dịch vụ tài chính của phụ nữ nông thôn còn rất hạn chế Phụ nữ nông thôn c ng chịu ảnh hưởng nặng

nề t biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến năng suất, kinh tế nông nghiệp ở nông thôn vì phụ nữ nông thôn là lực lượng phải đảm đương vấn đề an ninh lương thực cho gia đình, có trách nhiệm chăm sóc gia đình

Khi phụ nữ nông thôn am hiểu pháp luật, nắm rõ các quy định trong Bộ luật Lao động 2012, thì sẽ không có tình trạng việc lao động nữ ở nông thôn rơi vào cảnh thất nghiệp, bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không rõ lý do, hay việc phụ nữ nông thôn là nạn nhân của bạo lực gia đình và bất bình đẳng giới ở địa phương cả nước sẽ giảm thiểu đáng kể khi họ chủ động đến các tổ chức, trung tâm TGPL đăng ký hỗ trợ tư vấn và TGPL

Một số chính sách, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đã được ban hành nhưng trên thực tế không phát huy hiệu quả, chẳng hạn như: Luật bình đẳng quy định mang tính ưu tiên trong một số lĩnh vực của đời sống gia đình, xã hội, tuy nhiên trên thực tế đang tạo ra rào cản đối với sự tham gia bình đẳng của phụ nữ vào

Trang 38

các hoạt động xã hội Ví dụ, quy định "Các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động

nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật" (điểm a khoản 2

Điều 12) là một biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế nhưng trong thực ti n hầu hết các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ không được hưởng lợi Nguyên nhân là do các quy trình, thủ tục để được hưởng các chính sách

ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp khá phức tạp, số tiền được giảm thuế chưa bù đắp được các chi phí khi áp dụng các ưu đãi dành cho lao động nữ, vì vậy, các doanh nghiệp thường ngại hoặc không muốn tiếp cận với chính sách ưu đãi này Trong khi chính sách hỗ trợ và bảo vệ người sử dụng lao động nữ còn thiếu và chưa

cụ thể thì các chính sách hiện hành bảo vệ lao động nữ lại tương đối đầy đủ, do đó chưa khuyến khích được doanh nghiệp sử dụng lao động nữ

Vì phụ nữ nông thôn không phải là đối tượng được TGPL mi n phí theo quy định của Luật TGPL 2017 (tr trường hợp quy định tại Điều 7 của luật), khi quyền lợi của phụ nữ nông thôn bị xâm phạm, họ sẽ bỏ ra chi phí để được tư vấn và TGPL, kinh tế khó khăn, số tiền người phụ nữ nông thôn kiếm ra dùng để san sẻ và gánh vác cùng với người chồng trong việc chi tiêu hỗ trợ con cái, người thân nên việc chi trả cho hoạt động TGPL sẽ rơi vào bế tắc, thiếu thốn Thậm chí phụ nữ nông thôn với tâm lý mặc cảm về kinh tế sẽ không tự tin đến các trung tâm, tổ chức TGPL Vì vậy,

để khắc phục hạn chế này thì chính quyền địa phương nên xin ngân sách cho việc TGPL mi n phí đến với phụ nữ nông thôn sinh sống trong khu vực, chỉ thị phương hướng t cấp trên các kế hoạch phát triển ổn định kinh tế đến với phụ nữ nông thôn

để giảm thiểu số hộ nghèo trên địa bàn Xây dựng ngôi nhà tình thương đối với phụ

nữ nông thôn có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để họ có động lực tham gia sản xuất cùng phát triển nông thôn mới, có niềm tin yêu vào chính quyền và Nhà nước

Tác động của sự chuyển đổi kinh tế và công nghiệp hóa đối với phụ nữ và nam giới rất khác nhau Trong các gia đình ở nông thôn có một sự phân công lao động phổ biến theo khuynh hướng vợ ở lại nhà, chồng rời gia đình đi nơi khác trong môi trường lao động tiên tiến hơn, thu nhập bằng tiền mặt Do vậy phụ nữ nông thôn d bị tụt hậu so với nam giới trong quá trình cải kinh tế và công nghiệp hóa

Trang 39

Trong khi nam giới được chuẩn bị để đi vào nền kinh tế mới, thì phụ nữ có nguy cơ đứng bên lề của nền kinh tế đó Những hoạt động kinh tế của phụ nữ trong nông nghiệp tuy vất vả nhưng thu nhập thấp, và bằng hiện vật chứ không phải tiền mặt Trong khi đó, ở nền kinh tế thị trường, khi tiền mặt là thước đo thu nhập, đóng góp của phụ nữ vào kinh tế gia đình không được đánh giá cao, và địa vị của họ không tương xứng với cống hiến của họ [9, tr.40]

1.3.3 Yếu tố về nhận thức pháp luật của phụ nữ nông thôn

Đời sống văn hóa của phụ nữ nông thôn c ng còn rất nhiều hạn chế Học hành phần nhiều dở dang Số nữ sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng là người nông thôn, miền núi ít hơn hẳn nữ sinh viên ở thành thị Họ thường không có thời gian cho việc học tập và nghiên cứu, cho đến nay, trình độ học vấn của phụ nữ nông thôn đang còn thấp hơn so với nam giới Đó là một thiệt thòi to lớn, là một lực cản đối với sự cải thiện và nâng cao địa vị người phụ nữ ở nông thôn Bản thân người phụ nữ không nhận thức được đầy đủ các quyền của mình, bởi vậy khi bị đối xử bất công trong gia đình và có vi phạm xảy ra họ đành cam chịu hoặc là không biết phải khiếu nại, tố cáo ở đâu và không biết phải tự bảo vệ mình như thế nào

Xuất phát t yếu tố truyền thống với phần lớn thời gian dành cho công việc nội trợ, chức năng làm mẹ, chăm sóc con cái và gia đình, v n luôn được cho là trách nhiệm chủ yếu của phụ nữ, c ng ảnh hưởng không nhỏ đến sự chất lượng công việc của phụ nữ nông thôn, người phụ nữ không có thời gian để tự tìm hiểu hay tham gia các khóa tập huấn để nâng cao kiến thức của mình về các quy định của pháp luật Bên cạnh yếu tố truyền thống t những rào cản t quan niệm phong kiến cổ hủ đánh giá thấp khả năng và tiềm năng của phụ nữ thì nhiều phụ nữ với bản chất rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin, tâm lý mặc cảm không có ý thức học hỏi nâng cao trình độ, hiểu biết của bản thân

Tư tưởng định kiến giới còn tồn tại trong xã hội đã ảnh hưởng lớn đến sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, xã hội Các kết quả nghiên cứu xã hội học về phân công lao động trong gia đình trong những năm gần đây ở các địa phương, các nhóm xã hội thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, trình độ học

Trang 40

vấn khác nhau đều cho thấy phụ nữ v n là những người đảm nhiệm phần lớn các công việc gia đình Ngay cả những phụ nữ đi làm có thu nhập cao v n là người phải chịu trách nhiệm chính về việc nhà

Ở các khu vực vùng nông thôn Việt Nam, tình hình trật tự đời sống của người dân thường ít phức tạp hơn đối với cuộc sống ở khu vực thành phố nhưng tình hình tội phạm xảy ra hết sức phức tạp Bản thân người phụ nữ vùng nông thôn luôn hình thành tư duy “sợ” liên quan đến pháp luật, vì cho rằng thủ tục pháp luật rườm rà, lâu thực hiện Khi có tranh chấp về quyền và lợi ích, tội phạm xảy ra như: Bạo lực gia đình, định kiến về giới, tội phạm l a đảo tài sản, con người, vấn nạn xâm phạm tình dục đối với phụ nữ và trẻ em vùng nông thôn luôn là những chủ đề

di n ra thường xuyên nhưng phụ nữ nông thôn “không” tố cáo lên chính quyền địa phương và các tổ chức, trung tâm TGPL không can thiệp kịp thời để bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ, phần lớn lý do vì định kiến hủ tục phong kiến làng quê, tâm

lý lo sợ về danh tiếng, nhân phẩm của mình bị ảnh hưởng, điều tiếng t xóm làng Nhận thức của xã hội, truyền thống văn hóa ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận pháp lý cho phụ nữ, do vậy nhiều phụ nữ bị bạo hành thuộc đối tượng trợ giúp pháp

lý c ng chưa chủ động tìm đến sử dịch vụ trợ giúp pháp lý để được hỗ trợ Mặc dù Nhà nước ban hành pháp luật rất cụ thể, có quy định rõ về khung hình phạt các hành

vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của chủ thể bị hại, nhưng phụ nữ nông thôn mang tâm lý mặc cảm, tự ti, không nắm bắt được quyền lợi của mình sẽ được pháp luật bảo vệ như nào, họ thường tự thỏa thuận hoặc giải quyết vì lý do tình cảm tế nhị nên hầu hết nạn nhân đều chấp nhận, tự dàn xếp hay ấm ức chịu đựng mà không tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết

Khi không được trang bị về kiến thức pháp luật, thì người phụ nữ sẽ không nắm được quyền và trách nhiệm của mình, họ rất d trở thành nạn nhân hoặc là đối tượng vi phạm pháp luật Khi quyền lợi bị xâm phạm, phụ nữ nông thôn chưa nhận thức được vai trò của công tác TGPL trong việc đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Phụ nữ và trẻ em gái ở khu vực này đang còn chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới c ng như so với phụ nữ ở khu vực thành thị về cơ hội học

Ngày đăng: 27/05/2020, 15:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w