1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hành động giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia cho nước thải ở các lò giết mổ gia súc tập trung

84 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình làm luận văn “Nghiên cứu, đánh giá vai trò của dán nhãn Các-bon trong giảm phát thải khí nhà kính: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” tôi đã nhận đượ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGUYỄN ĐỨC THÀNH

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA DÁN NHÃN CÁC-BON TRONG GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGUYỄN ĐỨC THÀNH

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA DÁN NHÃN CÁC-BON TRONG GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH: KINH NGHIỆM

QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: 8900201.01QTD

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trung Thắng

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Trung Thắng, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Nguyễn Đức Thành

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm luận văn “Nghiên cứu, đánh giá vai trò của dán nhãn Các-bon trong giảm phát thải khí nhà kính: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy, cô giáo

Khoa Các khoa học liên ngành - Đại học quốc gia Hà Nội để hoàn thành bản luận

văn tốt nghiệp này

Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy, cô giáo

đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực

hiện bản luận văn

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến TS Nguyễn Trung Thắng – giáo viên hướng dẫn đã giúp đỡ trong quá trình xây dựng đề cương, thu thập và phân tích

tài liệu và viết bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các học viên cùng khóa đã đồng hành trong suốt thời gian theo học Chương trình thạc sỹ về Biến đổi khí hậu tại Khoa Các khoa học liên ngành- Đại học quốc gia Hà Nội

Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình và bạn bè, nếu không có

sự động viên, khuyến khích và hỗ trợ của họ, tôi sẽ không thể hoàn thành bản luận

án này

Trân trọng./

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Vấn đề và giả thuyết nghiên cứu 4

5 Nội dung nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHÃN CÁC-BON Ở VIỆT NAM 9

1.1 Hiện trạng và nhận thức về biến đổi khí hậu 9

1.1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 9

1.1.2 Tác động của biến đổi khí hậu tới Việt Nam 13

1.1.3 Nhận thức và những giải pháp giảm mức độ BĐKH 14

1.1.4 Mục tiêu và định hướng ứng phó với BĐKH của Việt Nam 16

1.2 Khái niệm về nhãn các-bon 20

1.3 Các nghiên cứu của Việt Nam về dán nhãn các-bon 22

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA DÁN NHÃN CÁC-BON TRONG GIẢM NHẸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 29

2.1 Vai trò của nhãn các-bon trong giảm phát thải khí nhà kính 29

2.2 Hiện trạng áp dụng nhãn các-bon trên thế giới 34

2.2.1 Nhãn các-bon và vai trò của nói tại các quốc gia phát triển 37

2.2.1.1 Nhãn các-bon tại Anh 37

2.2.1.2 Nhãn các-bon của Đức 38

Trang 6

ii

2.2.1.3 Nhãn các-bon và nhãn năng lượng của Úc 39

2.2.1.4 Nhãn các-bon của Hoa Kỳ 40

2.2.1.5 Nhãn các-bon của Nhật Bản 41

2.2.1.6 Nhãn các-bon và nhãn năng lượng của Hàn Quốc 44

2.2.2 Nhãn các-bon ở các quốc gia đang phát triển 46

2.2.2.1 Nhãn cacbon tại Thái Lan 46

2.2.2.2 Nhãn các-bon của Đài Loan 48

2.3 Xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá và quản lý nhãn các-bon 49

2.3.1 Nguyên tắc lựa chọn sản phẩm dán nhãn 49

2.3.2 Tiêu chuẩn và phương pháp tính toán 50

2.3.3 Phạm vi và giới hạn đánh giá dấu chân các-bon 52

CHƯƠNG 3 BÀI HỌC TỪ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỀ NHÃN CÁC-BON CHO VIỆT NAM 59

3.1 Kinh nghiệm xây dựng chính sách quản lý đối với Việt Nam 59

3.2 Kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện dán nhãn 59

3.2.1 Bài học lựa chọn các sản phẩm ưu tiên dán nhãn 59

3.2.2 Bài học về lựa chọn phương pháp và phạm vi đánh giá 61

3.2.3 Bài học về thiết kế nhãn và thông tin ghi trên nhãn 61

3.2.4 Bài học về truyền thông thay đổi hành vi người tiêu dùng 62

3.2.5 Bài học về tổ chức thực hiện chương trình dán nhãn các-bon 63

3.3 Đề xuất về giải pháp định hướng dán nhãn các-bon ở Việt nam 64

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

Kết luận 70

Kiến nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

(I)NDC Đóng góp (dự kiến) do quốc gia tự quyết định

BAT Công nghệ có sẵn nhất tốt nhất

BSI Viện Tiêu chuẩn Anh (British Standard Institute)

COP Hội nghị các bên tham gia công ước khung của Liên hợp quốc

CSR Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Cooperate Social

Responsibility)

ISO Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế

KNK Khí nhà kính

MRV Đo đạc, Báo cáo và Thẩm tra

NDC Đóng góp do quốc gia tự quyết định

NTP-RCC Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức

PA Thỏa thuận Paris về BĐKH (Paris Agreement)

SP-RCC Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu

TN&MT Tài nguyên và Môi trường

UNFCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

WBCSD Hội đồng Kinh doanh thế giới vì sự phát triển bền vững (World

Business Council for Sustainable Development)

WRI Viện Tài nguyên thế giới (World Resource Institute)

Trang 8

iv

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Mục tiêu giảm phát thải KNK của một số quốc gia/khu vực có lượng phát thải KNK lớn trên thế giới 15 Bảng 1.2: Kết quả kiểm kê khí nhà kính quốc gia của Việt Nam 17 Bảng 1.3: Tổng hợp mục tiêu giảm phát thải của các lĩnh vực phát thải KNK chính trong điều kiện tự lực và có hỗ trợ từ quốc tế 18 Bảng 2 1: Tổng hợp các chương trình nhãn các-bon trên thế giới 34 Bảng 2.2: So sánh 3 tiêu chuẩn về nhãn các-bon thông dụng trên thế giới 57

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Biểu đồ gia tăng mật độ CO 2 trong khí quyển giai đoạn 1960 - 2020 9 Hình 1.2 Diễn biến mật độ CO 2 trong khí quyển trong vòng 800 ngàn năm 10 Hình 1 3 Sự suy giảm độ dày sông băng trên thế giới giai đoạn 1960 – 2000 11 Hình 1.4 Mối quan hệ giữa nhãn sinh thái và nhãn các-bon 21 Hình 1.6 Các quốc gia đã triển khai việc dán nhãn các-bon trên thế giới trong giai đoạn 2007 - 2010 22

Hình 2.1 Nhãn các-bon ở Anh quốc (a) Nhãn giảm phát thải các-bon và (b) Nhãn thông tin về phát thải các-bon 38 Hình 2.2 Nhãn dấu chân các-bon ở Đức 39 Hình 2.3 Hình ảnh nhãn các-bon của Úc đối với sản phẩm nước ép hoa quả đóng hộp 39 Hình 2.4 Các loại nhãn các-bon ở Hoa Kỳ: (a) Nhãn chứng nhận không phát thải các-bon; (b) Nhãn các-bon lương tri; (c) Nhãn chỉ số xanh Timberland

và (d) Nhãn chỉ số bền vững của Walmart 41 Hình 2.5 Nhãn các-bon của Nhật Bản 42 Hình 2.6 Giả thiết về mức phát thải các-bon trong suất vòng đời sản phẩm bia đóng lon 42 Hình 2.7 Ví dụ về một số sản phẩm gia dụng, văn phòng phẩm dán nhãn các- bon thấp ở Nhật Bản 43 Hình 2.8 Nhãn bồi hoàn các-bon của Nhật Bản 43 Hình 2.9: Hình ảnh nhãn chứng nhận dấu chân các-bon của Hàn Quốc 45 Hình 2.10: Hình ảnh nhãn chứng nhận các-bon thấp của Hàn Quốc 45 Hình 2.11 Một số hàng hóa, dịch vụ dán nhãn các-bon ở Hàn Quốc 45 Hình 2.12 Một số hình ảnh về nhãn năng lượng của Hàn Quốc 46 Hình 2.13 Nhãn các-bon của Thái Lan (a) Nhãn giảm phát thải các-bon; (b) Nhãn dấu chân các-bon 47

Trang 10

vi

Hình 2.14 Đánh giá dấu chân các-bon cho sản phẩm chuối xuất khẩu 55 Hình 2.15 (a) Quá trình B2B trong PAS 2050 (Từ doanh nghiệp đến doanh nghiệp) và (b) Quá trình B2C trong PAS 2050 (Từ doanh nghiệp đến người dùng) 56 Hình 3.1 Một số mẫu nhãn các-bon đề xuất có thể áp dụng ở Việt Nam [32] 62

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề toàn cầu đang có những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái tự nhiên và nhiều lĩnh vực sản xuất như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, từ đó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến con người Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng BĐKH là phát thải lớn lượng khí nhà kính (KNK) từ các hoạt động của con người, trong khi đó các bể hấp thụ các-bon như rừng tự nhiên ngày càng giảm Vì vậy, để ngăn chặn tình trạng gia tăng BĐKH đòi hỏi tất cả các quốc gia phải có những hành động thiết thực nhằm giảm phát thải KNK Đã có rất nhiều các giải pháp từ chính sách đến

kỹ thuật được đưa ra tại Hội nghị các bên (COP) hàng năm và các diễn đàn quốc

tế phát triển khác Nhiều cơ chế về giảm phát thải KNK đã được đề xuất và triển khai như cơ chế phát triển sạch (CDM), hệ thống buôn bán tín chỉ các-bon (ETS), hay các hành động giảm nhẹ phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA), Bên cạnh

đó, các công cụ gắn với thị trường như giải pháp nhãn sinh thái, nhãn xanh và nhãn các-bon cũng được thử nghiệm tại nhiều quốc gia Nhãn các-bon đối với các sản phẩm tiêu dùng lần đầu được triển khai tại Anh vào năm 2001, sau đó phát triển tới nhiều quốc gia khác Nhiều nhiên cứu đã chỉ ra rằng việc dán nhãn các-bon lên các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đã góp phần giảm phát thải KNK Tuy nhiên để nhãn các-bon trở thành công cụ hiệu quả trong việc giảm nhẹ phát thải KNK cần sự tham gia của các bên liên quan như nhà sản xuất, người tiêu dùng cũng như cơ quan quản lý Một số kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của việc thông tin ghi trên nhãn các-bon có tác động đến hành vi người tiêu dùng [27] Vì vậy, nhãn các-bon cần đề cập rõ ràng thông tin về lượng phát thải các-bon của sản phẩm thì người tiêu dùng mới có thể lựa chọn được sản phẩm ít phát thải hơn

Tại Việt Nam, vấn đề giảm phát thải KNK đã được đề cập trong Chiến lược

quốc gia về BĐKH vào năm 2011 với mục tiêu “Phát triển nền kinh tế các-bon thấp, Tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển bền vững;

Trang 12

2

Giảm nhẹ phát thải KNK và tăng khả năng hấp thụ KNK trở thành chỉ tiêu bắt buộc trong phát triển kinh tế - xã hội” Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (2012) đưa ra mục tiêu “Tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế các- bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải khí nhà kính và tăng khả năng hấp thụ KNK dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội”, đặc biệt trong lĩnh vực

năng lượng, giao thông và nông nghiệp Các hành động giảm phát thải KNK chính

thức được Chính phủ cụ thể hóa từ năm 2012 trong Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới (Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng

Chính phủ) Mục tiêu tổng thể của Đề án là quản lý phát thải KNK nhằm thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đồng thời tận dụng các cơ hội để phát triển nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh và cùng cộng đồng quốc tế nỗ lực giảm nhẹ phát thải KNK, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước

Trên phạm vi toàn cầu, tính đến ngày 28/02/2018, đã có 195 quốc gia ký Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (PA) và 175 quốc gia phê chuẩn PA Theo Quyết định số 01/CP.21 của Hội nghị các Bên tham gia Công ước khí hậu lần thứ

21 (COP21), các Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (INDC) do các quốc gia đã phê chuẩn PA đệ trình trước đó sẽ trở thành Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) NDC là cam kết mang tính pháp lý về giảm nhẹ phát thải KNK đối với tất cả quốc gia đã phê chuẩn PA

Chính phủ Việt Nam phê chuẩn PA tại Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 31 tháng 10 năm 2016 và NDC chính thức đầu tiên của Việt Nam được Công ước khí hậu công nhận từ ngày 03 tháng 11 năm 2016 (IPCC, 2017)1 Theo đó, mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính mà NDC của Việt Nam đã đề ra gồm: Giảm tối

1 Ngày 30 tháng 9 năm 2015, Việt Nam đã gửi INDC của Việt Nam cho Ban thư ký Công ước khí hậu

Trang 13

thiểu 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường (BAU), nếu có thêm nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế, mục tiêu giảm phát thải KNK trong NDC là 25% so với BAU vào năm 2030

Hiện nay ở phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, đã có nhiều chương trình hành động từ vĩ mô đến vi mô nhằm giảm phát thải KNK, góp phần giảm mức độ gia tăng của nhiệt độ trái đất Trong đó có nhiều hành động, mục tiêu mang tính bắt buộc, tuy nhiên có nhiều giải pháp mang tính thị trường, tự nguyện cũng đang được các quốc gia xem xét và thúc đẩy phát triển trong đó có nhãn các-bon Đến nay có nhiều nghiên cứu chỉ ra lợi ích của việc dán nhãn các-bon và sự hình thành các chương trình dán nhãn các-bon ở một số quốc gia trên thế giới [19, 20, 28, 33] Tuy nhiên, người tiêu dùng cũng còn gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu những thông tin ghi trên nhãn Việc dán nhãn các-bon lên một sản phẩm có thể giúp người tiêu dùng nhận biết lượng phát thải của sản phẩm đó (trong suốt vòng đời) nhưng họ không biết sản phẩm đó có thân thiện với môi trường hay không Bên cạnh đó, việc áp dụng nhãn các-bon có phù hợp với tất cả các nền kinh tế hay chỉ phù hợp với các quốc gia phát triển, nơi có mức sống cao và nhu cầu về sản phẩm thân thiện với môi trường lớn? Để áp dụng nhãn các-bon cần lựa chọn nhóm sản phẩm cụ thể hay có thể áp dụng cho toàn bộ các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ? Nguyên tắc nào để lựa chọn sản phẩm dán nhãn và hình thức nhãn các-bon như thế nào thì phù hợp với điều kiện của Việt Nam? Xuất phát từ thực tế trên tôi

đã chọn đề tài “Nghiên cứu, đánh giá vai trò của dán nhãn các-bon trong giảm phát thải khí nhà kính: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về nhãn các-bon, tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về chương trình dán nhãn các-

bon Từ đó đề xuất định hướng áp dụng dán nhãn các-bon ở Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài có mục tiêu chung: Nghiên cứu, đánh giá được vai trò của dán nhãn các-bon trong giảm phát thải KNK từ kinh nghiệm quốc tế và đề xuất bài học,

Trang 14

4

định hướng dán nhãn các-bon cho các sản phẩm hàng hóa ở Việt Nam

Mục tiêu cụ thể:

- Cung cấp được tổng quan về cơ cở lý luận và thực tiễn về nhãn các-bon

- Tổng hợp được kinh nghiệm quốc tế về nhãn các-bon

- Rút ra được các học kinh nghiệm cho Việt Nam và đề xuất một số định hướng cho Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: nhãn mác của các sản phẩm tiêu dùng

được sản xuất và tiêu dùng tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Phạm vi là thị trường hàng hóa được sản

xuất và trao đổi thương mại trên lãnh thổ Việt Nam

4 Vấn đề và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Vấn đề nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và thực

hiện dán nhãn nhãn các-bon;

- Tiềm năng áp dụng nhãn các-bon cho sản phẩm hàng hóa của Việt Nam

4.2 Giả thiết nghiên cứu

- Giả thiết 1: Dán nhãn các-bon sẽ góp phần thúc đẩy giảm phát thải KNK thông qua sản xuất và tiêu dùng bền vững

- Giả thiết 2: Kinh nghiệm quốc tế về nhãn các-bon sẽ hữu ích cho Việt Nam trong việc ban hành các chính sách về dán nhãn các-bon

- Giải thiết 3: Nhãn các-bon sẽ là công cụ thị trường phù hợp nhằm góp phần thúc đẩy các nỗ lực giảm phát thải KNK ở Việt Nam

5 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, đề tài luận văn đã thực hiện các nội dung

Trang 15

nghiên cứu chính sau:

(1) Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về nhãn các-bon

(2) Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam trong việc dãn nhãn bon

các-(3) Khái quát các bài học kinh nghiệm và đề xuất một số định hướng áp dụng nhãn các-bon tại Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp Ma trận

Phương pháp ma trận là sự đối chiếu từng hoạt động của sản xuất với từng thông số hoặc thành phần môi trường để đánh giá mối quan hệ nguyên nhân và hậu quả Trong nghiên cứu này, phương pháp ma trận được sử dụng để xác định những lợi ích mà nhãn các-bon mang lại, so sánh khác biệt giữa nhãn sinh thái và nhãn các-bon,

Ưu điểm của phương pháp ma trận:

 Đánh giá tổng hợp được một tác động của hoạt động lên các yếu tố môi trường;

 Cho phép tổng hợp các hoạt động tác động lên một yếu tố môi trường;

 Cho phép đánh giá tác động của toàn bộ sản xuất;

 Cho phép lựa chọn các phương án;

 Xác định được vấn đề ưu tiên;

 Xác định được vấn đề cấp bách

Tiêu chí chọn vấn đề ưu tiên:

 Tiêu chí 1: Tính cấp bách;

 Tiêu chí 2: Khả năng huy động vốn;

 Tiêu chí 3: Khả năng thu hồi vốn;

Trang 16

6

 Tiêu chí 4: Phạm vi hoạt động sản xuất;

 Tiêu chí 5: Giải quyết công ăn việc làm

Lợi ích của phương pháp ma trận:

 Phương pháp ma trận rất có giá trị cho việc xác định tác động của sản xuất

và đưa ra được hình thức thông tin tóm tắt đánh giá tác động

 Là phương pháp đơn giản, dễ sử dụng, không đòi hỏi nhiều số liệu môi trường nhưng lại có thể phân tích tường minh được nhiều hạnh động khác nhau lên cùng một nhân tố

 Mối quan hệ giữa phát triển và môi trường được thể hiện rõ ràng

6.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Phương pháp dựa trên cách thức thu thập và tổng hợp các tài liệu nghiên cứu đã công bố trên các tạp chí chuyên ngành uy có uy tín, các văn bản chính sách

có liên quan đến dán nhãn Các-bon trong và ngoài nước Đặc biệt phương pháp tập trung vào các kết quả và hình ảnh về các dán nhãn Các-bon đã được thiết kế

và lưu hành dựa trên cơ sở khoa học cũng như thực tiễn triển khai việc tiến hành

Trang 17

dán nhãn các-bon, cũng như công tác quản lý nhà nước liên quan đến chứng nhận, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến dấu vết định tính và định lượng Các-bon phát thải ra từ quá trình chế tạo, vận chuyển và tiêu dùng các loại sản phẩm đó Bên cạnh đó, phương pháp cũng được áp dụng để tiến hành thu thập các tài liệu liên quan đến chủ đề nghiên cứu như báo cáo của Hội nghị các bên (COP) tham gia công ước khung của Liên hợp quốc (UNFCCC), Nghị định thư Kyoto, Thỏa thuận Paris, NAMA, các bài báo khoa học về giảm phát thải KNK, các công cụ và phương pháp tính toán phát thải KNK, cũng như các chương trình dán

nhãn các-bon trên thế giới,

6.3 Phương pháp nghiên cứu tổng luận

Tiến hành tổng hợp, phân tích thông tin từ các tài liệu thứ cấp thu thập được, biện giải bằng các lập luận khoa học

6.4 Phương pháp kế thừa

Trên cơ sở các tài liệu có được từ phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp cũng như từ kết quả nghiên cứu tương đồng, kế thừa cách tiếp cận và phương pháp tính toán dấu vết các-bon của sản phẩm, đặc biệt kết quả nghiên cứu về nhãn xanh, nhãn các-bon và sản xuất sạch hơn đã và đang áp dụng tại Việt Nam

6.5 Phương pháp đánh giá

Thiết lập các dữ liệu, cơ sở khoa học cho các nhận định, kết luận, đề xuất các tiêu chí lựa chọn sản phẩm để dán nhãn các-bon phù hợp với điều kiện của Việt Nam

Đánh giá thực trạng việc dán nhãn các-bon ở Việt Nam và những điều kiện cần thiết để triển khai chương trình dán nhãn các-bon cho các sản phẩm của Việt Nam Bên cạnh đó việc đánh giá còn áp dụng đối với kinh nghiệm của các nước

về mức độ phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đặc biệt là yêu cầu về cơ sở dữ liệu dấu chân các-bon

6.6 Phương pháp tham vấn chuyên gia

Trên cơ sở kết quả rà soát, phân tích kinh nghiệm quốc tế nhãn các-bon, đề xuất định hướng phát triển nhãn các-bon ở Việt Nam, các chuyên gia thuộc lĩnh

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH

NGHIÊN CỨU VỀ NHÃN CÁC-BON Ở VIỆT NAM 1.1 Hiện trạng và nhận thức về biến đổi khí hậu

1.1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên phạm vi toàn cầu

Hình 1.1 Biểu đồ gia tăng mật độ CO 2 trong khí quyển giai đoạn 1960 - 2020

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu là do sự gia tăng các hoạt động

Trang 20

10

tạo ra các khí nhà kính (KNK), các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ

và bể chứa KNK như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác từ đó dẫn tới những ảnh hưởng không nhỏ tới con người và toàn xã hội

Theo số liệu công bố của Tổ chức Khí tượng thế giới (IMO), mật độ bon dioxide (CO2) trung bình toàn cầu thời gian gần đây luôn vượt ngưỡng giới hạn an toàn2, được xem là nguyên nhân chính dẫn đến BĐKH hiện nay(Hình 1.2)

các-Hình 1.2 Diễn biến mật độ CO 2 trong khí quyển trong vòng 800 ngàn năm

Nguồn: Rebecca Lindsey, (2018) [30]

Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5) vào năm 2013 của Ủy ban liên chính phủ

về BĐKH (IPCC) chỉ ra rằng để mức gia tăng nhiệt độ vào cuối thế kỷ (năm 2100)

ở mức dưới 2oC, tổng lượng phát thải KNK toàn cầu phải được giới hạn ở mức dưới 1000 GtC [24] Đứng trước thực trạng đó, sau hơn 20 năm đàm phán kể từ khi Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH được thông qua vào năm 1992, ngày 12 tháng 12 năm 2015, tại Paris thủ đô nước Pháp, gần 200 quốc gia trên thế giới đã đồng thuận thông qua Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu [36] Đây là Thỏa thuận mang tính lịch sử, ràng buộc về pháp lý cho tất cả các nước về biến đổi khí hậu Vì vậy, việc giảm phát thải KNK là trách nhiệm chung của toàn cầu không chỉ là trách nhiệm riêng của các nước công nghiệp phát triển như trước đây (ví dụ, Nghị định thư Kyoto không bắt buộc các quốc gia đang phát triển phải

2 Mật độ CO 2 các năm 2015, 2016, 2017 lần lượt là 400, 403.3 và 405 ppm, giới hạn an toàn của chỉ số này là 350.00 ppm

Trang 21

giảm phát thải KNK)

Sự gia tăng hàm lượng hay mật độ KNK, trong đó điển hình là mật độ khí

CO2 đã làm trái đất ấm dần lên, băng tại 2 đầu địa cực tan chảy (Hình 1.3), gia tăng mực nước biển, kéo theo hiện tượng ngập lụt dẫn đến nguy cơ mất dần nhiều vùng đất, đặc biệt là các đồng bằng khu vực ven biển- nơi sản xuất lương thực chính của cả thế giới

Hình 1 3 Sự suy giảm độ dày sông băng trên thế giới giai đoạn 1960 – 2000

Nguồn: IPCC- Fifth Assessment Report (AR5), (2014) [24]

Ngoài ra, những biến động thời tiết không theo quy luật thường xuyên xảy

ra, như nắng nóng kéo dài, cháy rừng, xâm ngập mặn, mất đa dạng sinh học và ảnh hướng hệ sinh thái Bên cạnh đó, vật truyền nhiễm như chuột, muỗi có thể sinh sôi với tốc độ nhanh, sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe của con người, đặc biết là người dân sinh sống tại các quốc gia đang phát triển.Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã có cảnh báo một số loại dịch bệnh nguy hiểm đã lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới Nhiều khu vực trước kia có khí hậu lạnh (vùng ôn đới) giờ đây cũng đã xuất hiện một số bệnh nhiệt đới

Tại Việt Nam, với hơn 3.000 km chiều dài bờ biển, đa dạng địa hình, nên chịu nhiều tác động từ BĐKH Theo đánh giá hàng năm các quốc gia chịu ảnh

Trang 22

12

hưởng nặng nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoạn giai đoạn 1997-2016, Việt Nam đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018 và thứ 8 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn (CRI)3

Diễn biến của BĐKH tại Việt Nam bao gồm các hiện tượng thời tiết cực đoan đang ngày càng gia tăng về tần suất và thường khó dự đoán Lượng mưa tháng cao nhất tăng từ 270 mm trong giai đoạn 1901-1930 lên 281 mm trong giai đoạn 1991-2015, trong khi nhiệt độ tháng cao nhất tăng từ 27,1oC (trong giai đoạn 1901-1930) lên 27,5 °C (trong giai đoạn 1991-2015) Những đợt mưa lớn và nắng nóng kỷ lục, cũng như các trận lũ lớn xuất hiện ngày càng nhiều, không theo quy luật thời tiết thông thường nhiều năm Năm 2017 được coi là năm kỷ lục về thảm họa thiên tai tại Việt Nam, với hơn 16 cơn bão, lũ lịch sử trái quy luật Theo Trung tâm dự báo khí tượng Quốc gia, năm 2018, nhiệt độ trung bình tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ cao hơn từ 0,5 -1,0 °C so với nhiệt độ trung bình của các năm trước, đây là kết quả tính toán và so sánh dựa trên dữ liệu cập nhật trong vòng 30 năm trở lại đây Sự thay đổi trong tần suất xuất hiện các cơn bão và áp thấp nhiệt đới ngày càng rõ rệt Ví dụ, có năm xảy ra tới 18 – 19 cơn lốc và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, nhưng cũng có năm chỉ xảy ra từ 4-6 cơn lốc và áp thấp nhiệt đới

Số cơn bão với sức gió đạt từ cấp 12 trở lên đã tăng nhẹ kể từ năm 1990 đến 2015 [6]

Những biến đổi trong nguồn nước (lượng mưa, mực nước sông) trong năm

2018 cũng tăng đáng kể so với mức trung bình của năm 2017 Năm 2018 đồng thời ghi nhận những con số kỉ lục về nhiệt độ trong vòng 46 năm qua tại Hà Nội, với nhiệt độ cao nhất có lúc đạt tới 42°C Như vậy, thời tiết cực đoan ngày càng diễn biến phức tạp và tạo ra nhiều hệ lụy đối với sản xuất và sinh hoạt của người dân, đây cũng là tác động của BĐKH khó dự báo và lường trước được mức độ thiệt hại do chúng xảy ra không theo quy luật

Nước biển dâng cũng là một trong những hiện tượng điển hình của BĐKH

3 Theo David Eckstein và công sự, 2017

Trang 23

ở Việt Nam Số liệu của trạm quốc gia Hòn Dấu ghi nhận được trong vòng 50 năm mực nước biển dâng khoảng 20 cm [6] Theo Kịch bản biến đổi khía hậu và nước biển dâng cao cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố

2016 cho thấy mực nước biển quan trắc tại các trạm hải văn đạt 2,45 mm/năm và 3,34 mm/năm tương ứng trong các giai đoạn 1960-2014 và 1993-2014 Dữ liệu

vệ tinh cho thấy mực nước biển đã tăng lên 3,5 mm/year (± 0,7 mm) vào năm

2014 so với năm 1993 Gia tăng mức nước biển tác động đến sản xuất nông nghiệp, hệ thống đê biển và dân cư vùng ven biển Đặc biệt gia tăng mực nước biển cũng gây ảnh hưởng đến hạ tầng cơ sở vùng ven biển

1.1.2 Tác động của biến đổi khí hậu tới Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài 3.260 km, nước biển dâng sẽ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng Theo Kịch bản BĐKH và nước biển dâng do Bộ Tài nguyên và môi trường công bố năm 2016 [6], khi mực nước biển dâng lên 100

cm, diện tích đất bị mất đi của Việt Nam sẽ lên tới 40.000 km2, chiếm 12,1 % tổng diện tích đất hiện có, kéo theo hệ quả 17,1 triệu người sẽ mất đi nơi sinh sống, chiếm 23,1 % dân số tại thời điểm báo cáo Nước biển dâng cũng sẽ khiến cho Đồng bằng sông Cửu Long– một trong những vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước – ngập lụt phần lớn diện tích Điều này đe dọa an ninh lương thực không chỉ với Việt Nam mà cả phạm vi toàn cầu, vì Việt Nam là một trong năm quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới

Theo Kịch bản BĐKH và Nước biển dâng nếu mực nước biển dâng 100

cm, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và tỉnh Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập [6] Với khu vực đồng bằng sông Cửu Long, sẽ có khoảng 39% diện tích bị ngập, ảnh hưởng tiêu cực tới gần 35% dân số, nguy cơ mất đi 40,5% tổng sản lượng lúa của cả vùng BĐKH tác động tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, đời sống và y tế và sức khỏe cộng đồng Ví dụ trong lĩnh vực nông nghiệp, BĐKH ảnh hưởng tới sản lượng và gây ra những thay đổi về thời tiết, trực tiếp tác động tới vụ mùa BĐKH cũng được cho là nguyên nhân phát

Trang 24

1.1.3 Nhận thức và những giải pháp giảm mức độ BĐKH

Trước những nguy cơ không nhỏ của BĐKH, đã có rất nhiều Hội nghị quốc

tế được tổ chức nhằm đưa ra các thống nhất chung trong giảm thiểu các nguyên nhân và tác động của BĐKH Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED), thường được gọi là Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất diễn ra tại Rio de Janeiro từ ngày 3 đến 14 tháng 6 năm 1992 với mục tiêu "ổn định các nồng

độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu” đã ban hành hiệp ước quốc tế về môi trường Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) Bản thân UNFCCC không ràng buộc giới hạn phát thải khí nhà kính cho các quốc gia đơn lẻ và không bao gồm cơ chế thực thi Do đó công ước này là không bắt buộc về mặt pháp lý Thay vào đó công ước cung cấp một bộ khung cho việc đàm phán các hiệp ước quốc tế cụ thể (gọi là "Nghị định thư") có khả năng đặt ra những giới hạn ràng buộc về khí nhà kính Các bên tham gia Công ước gặp mặt hằng năm từ năm 1995 tại Hội nghị các bên (COP) để đánh giá tiến trình đối phó với biến đổi khí hậu Năm 1997, Nghị định thư Kyoto được ký kết đã tạo ra những nghĩa vụ ràng buộc pháp lý cho các quốc gia phát triển nhằm cắt giảm khí thải nhà kính của họ Các thỏa thuận Cancun năm 2010 tuyên bố rằng sự ấm lên toàn cầu trong tương lai cần được giới hạn dưới 2,0°C (3,6 °F) tương đương với mức tiền công nghiệp

Tại COP21 diễn ra tại Paris từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 12 tháng 12/2015,

Trang 25

lần đầu tiên trong lịch sử các quốc gia đã đồng thuận về một thỏa thuận toàn cầu

về BĐKH Thỏa thuận Paris về BĐKH sẽ có hiệu lực từ năm 2021 và tất các các quốc gia sẽ phải thực hiện cam kết giảm phát thải của mình [36] Theo đó, mục tiêu chính của Thỏa thuận hạn chế sự nóng lên toàn cầu với mức gia tăng nhiệt độ vào năm 2100, so với thời tiền công nghiệp không quá 2 oC Tuy nhiên để hạn chế những tác động tiêu cực của việc gia tăng nhiệt độ ở mức 2 oC, trong phiên bản

đã thông qua Thỏa thuận chung đã bổ sung thêm thông điệp “các bên theo đuổi

để hạn chế sự gia tăng nhiệt độ đến 1,5 o C” Trước hội nghị, 146 quốc gia công

khai trình bày cam kết dự kiến do quốc gia tự quyết định (INDCs) và cam kết hành động trong giảm phát thải KNK và thích ứng với BĐKH của từng quốc gia Các quốc gia có mức phát thải lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Liên minh châu Âu đã đưa ra các mục tiêu trong INDCs của mình (Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Mục tiêu giảm phát thải KNK của một số quốc gia/khu vực có

lượng phát thải KNK lớn trên thế giới

Quốc gia gia Mức giảm

phát thải KNK

Năm

cơ sở mục tiêu Năm

Ghi chú

Ấn Độ 33-35% 2005 2030 Giảm cường độ phát thải/GDP

40% lượng điện sản xuất từ nguồn nhiên liệu phi hóa thạch

Trung Quốc 60-65% 2005 2030 Giảm cường độ phát thải/GDP

20% tiêu dùng năng lượng sơ cấp

sẽ từ nguồn nhiên liệu phi hóa thạch

Hoa Kỳ 4 26-28% 2005 2025 Giảm mức phát thải tuyệt đối

Liên minh

châu Âu (gồm

28 quốc gia)

40% 1990 2030 Giảm mức phát thải tuyệt đối

Nguồn: Tổng hợp từ NDC của các quốc gia gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên

minh châu ÂU –EU)[35]

4 Dù Hoa Kỳ hiện không còn tham gia Thỏa thuận Paris nhưng mục tiêu giảm phát nhẹ vẫn đang được thực hiện, đặc biệt chính quyền các Bang ở Hoa Kỳ tiếp tục có những hành động giảm nhẹ phát thải KNK

Trang 26

16

Theo đó, Ấn Độ và Trung Quốc đưa ra mục tiêu giảm phát thải tương đối với mức giảm 33-35% và 60-65% cường độ phát thải/GDP tương ứng; Hoa Kỳ đưa ra mức giảm 26-28% so với mức phát thải năm 2005 vào năm 2025, trong khi

đó Liên minh châu Âu đề ra mục tiêu giảm 40% với mức phát thải năm 1990 vào năm 2030 [35]

1.1.4 Mục tiêu và định hướng ứng phó với BĐKH của Việt Nam

Việt Nam đã ký Công ước khung về BĐKH năm 1992, phê chuẩn năm 1994; đã ký Nghị định thư Kyoto năm 1998 và phê chuẩn năm 2002; đã thành lập Ban chỉ đạo quốc gia thực hiện Công ước Khí hậu và Nghị định thư Kyoto; đã gửi Ban thư ký Công ước Khí hậu Thông báo quốc gia lần thứ nhất (2003), Thông báo quốc gia lần thứ hai (2010), Báo cáo Cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất (2014), phản ánh những nỗ lực mới nhất về ứng phó với BĐKH và kiểm kê KNK

Kể từ năm 2008 Việt Nam đã đưa ra một số chính sách và triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH như Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (2008), Chiến lược quốc gia về BĐKH (2011), Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh (2012), Nghị quyết của Trung ương Đảng về chủ động ứng phó với BĐKH và tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (2013), Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris (2016),… Những chính sách này tập trung nhằm giảm thiểu phát thải KNK và thích ứng với BĐKH

Chính phủ Việt Nam đang triển khai thực hiện các hoạt động giảm nhẹ như Hành động giảm nhẹ phù hợp với điều kiện của quốc gia (NAMA -Nationally Appropriate Mitigation Actions), các hoạt động không bắt buộc nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH tại các nước đang phát triển, hướng đến giảm phát thải KNK trong tất cả các lĩnh vực; đồng thời khuyến khích các Bộ, ngành cũng như chính quyền địa phương xây dựng NAMA Mặc dù Việt Nam đã xác định được một số hành động giảm nhẹ trong các lĩnh vực khác nhau, nhưng các biện pháp thực hiện cho đến thời điểm này vẫn chưa sẵn sàng NAMA được coi là các hành động cụ thể để đạt được các mục tiêu trong NDC [5, 9]

Trang 27

Cục Biến đổi khí hậu là cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE), có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về BĐKH

và bảo vệ tầng ô-dôn Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn trung ương được thành lập năm 2018 trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, có chức năng theo dõi, tổng hợp và báo cáo về tình hình khí tượng thủy văn, thiên tai khí tượng thủy văn, xu thế BĐKH trên phạm vi cả nước và trong khu vực, trên thế giới theo quy định

Để có chiến lược giảm phát thải phù hợp với thực tế, Việt Nam đã thực hiện kiểm kê KNK vào các năm 1994, năm 2000, năm 2010 và năm 2014 Kết quả kiểm kê KNK của Việt Nam trong 3 thời kỳ được trình bày trong Bảng 1.2 Đây

là thông tin quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách biết được mức độ gia tăng lượng KNK phát thải của các lĩnh vực trong quá khứ để đề xuất phương án giảm nhẹ

Bảng 1.2: Kết quả kiểm kê khí nhà kính quốc gia của Việt Nam

Lĩnh vực phát

thải

Tổng phát thải

100

Nguồn: (1) Thông báo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho UNFCCC, Bộ TNMT 2010 và (2) Báo cáo kiểm kê khí nhà kính năm 2013 của Dự án “Tăng cường năng lực kiểm kê quốc gia khí nhà kính tại Việt Nam”, 2014 [8]

Trang 28

18

Năm 2017, Việt Nam đã báo cáo lên Liên hợp quốc mức phát thải tham chiếu rừng của cả nước tại mức 60.0 triệu tấn CO2 tương đương hàng năm (tCO2tđ/năm) và mức tham chiếu rừng –39.6 triệu tCO2tđ/năm [7] Điều này có nghĩa khả năng hấp thụ của rừng Việt Nam ngày càng tăng

Đến năm 2018, bằng nguồn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, trong khuôn khổ thực hiện các Dự án đã hỗ trợ Việt Nam thực hiện một số lần kiểm kê quốc gia KNK theo đúng Hướng dẫn kiểm kê KNK và Hướng dẫn thực hành tốt của IPCC cho 5 lĩnh vực phát thải và hấp thụ KNK chủ yếu bao gồm: năng lượng; các quá trình công nghiệp; nông nghiệp; sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nhiệp (LULUCF) và chất thải [11-12] Lần kiểm kê đầu tiên thực hiện năm 2014 cho số liệu các năm cơ sở là 1994, 2000 và 2010 Lần kiểm kê thứ hai thực hiện năm

2016 cho số liệu năm cơ sở 2010 và 2013 Lần kiểm kê thực hiện năm 2018 cho

số liệu năm cơ sở 2014 Kết quả kiểm kê KNK quốc gia năm 2014 được tổng hợp trong Bảng 4 [10]

Bảng 1.3: Tổng hợp mục tiêu giảm phát thải của các lĩnh vực phát thải KNK

chính trong điều kiện tự lực và có hỗ trợ từ quốc tế

Nguồn: Tổng hợp từ INDC của Việt Nam (2015) [9]

Như vậy, hoạt động kiểm kê KNK của Việt Nam đang từng bước được thực hiện nhằm cung cấp số liệu cho việc đánh giá mức độ phát thải cũng như biết được lĩnh vực, ngành có nhiều phát thải KNK để từ đó đưa ra những chiến lược, hành động ưu tiên phù hợp với điều kiện của quốc gia

Theo số liệu Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ 2 (BUR2) Việt Nam

đệ trình lên UNFCCC, tính đến cuối năm 2017, cả nước có 02 hoạt động liên

5 Tăng mức hấp thụ KNK

Trang 29

ngành, 7 hành động phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA), 2 hành động thuộc lĩnh vực năng lượng, 2 hành động thuộc lĩnh vực các quá trình công nghiệp, 1 hành động thuộc lĩnh vực giao thông vận tải, 2 hành động thuộc lĩnh vực chất thải,

3 hành động thuộc lĩnh vực nông nghiệp và 3 hành động thuộc lĩnh vực LULUCF [7, 8]

Theo Đóng góp dự kiến do Quốc gia tự quyết định của Việt Nam (INDCs) bằng nguồn lực trong nước, đến năm 2030 Việt Nam sẽ giảm 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với Kịch bản phát triển thông thường (BAU) Mức đóng góp 8% ở trên có thể được tăng lên thành 25% khi nhận được hỗ trợ quốc tế thông qua hợp tác song phương, đa phương và thực hiện các cơ chế trong Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới [9]

Về chính sách và pháp luật, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, vấn đề BĐKH trong chính sách và pháp luật Việt Nam được tiếp cận theo cả hai hướng: chính sách pháp luật chuyên về BĐKH (bao gồm 3 trụ cột: thích ứng với BĐKH, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, liên ngành) và bước đầu được lồng ghép trong chính sách pháp luật của một số ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp các tác động của BĐKH

Kể từ năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (NTP-RCC) Năm 2011, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu Năm 2012, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh được phê duyệt, nhằm giảm phát thải khí nhà kính và đề ra các giải pháp triển khai bao gồm ban hành các quy định liên quan tới thị trường các-bon quốc tế Năm 2013, Luật Phòng, chống thiên tai được ban hành nhằm ứng phó với những thảm họa thiên nhiên tác động tới đất nước, chủ yếu là những hiện tượng do BĐKH Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 đưa ra một chương thảo luận về BĐKH Những hành động mới nhất bao gồm phê duyệt Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 - 2020; phê duyệt Chương trình quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ

Trang 30

Quỹ Khí hậu xanh và các tổ chức tương tự vẫn chưa dành tỷ lệ đáng kể viện trợ cho Việt Nam, tuy nhiên theo Cơ quan phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), thực trạng này sẽ được cải thiện trong bối cảnh các tổ chức song phương và đa phương đang điều chỉnh trọng tâm trong chiến lược của họ

1.2 Khái niệm về nhãn các-bon

Trên thế giới, Vương quốc Anh có thể được xem là quốc gia đi đầu trong việc nghiên cứu và xây dựng nhãn sinh thái nói chung, nhãn các-bon nói riêng Nếu như nhãn sinh thái là nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên đánh giá vòng đời sản phẩm thì nhãn các-bon, hay dấu chân các-bon (cacbon footprint) là một dạng của nhãn sinh thái [33, 34] Thuật ngữ dấu chân các-bon phát triển từ đề xuất

“Food Miles” bởi Giáo sư Tim Lang của đại học London, sau đó chính thức sử dụng lần đầu tiên và những năm 2000

Nhãn các-bon hay dấu chân các-bon là khái niệm nhằm xác định tổng lượng khí nhà kính phát thải từ khâu sản xuất đến khi sử dụng và thải bỏ sản phẩm, được đánh giá thông qua vòng đời sản phẩm (LCA), được quy đổi sang CO2 Thông qua nhãn các-bon những nhà quản lý mong muốn người tiêu dùng xác định được những sản phẩm thân thiện với môi trường để lựa chọn sử dụng, qua đó thay đổi thói quen tiêu dùng, định hướng thị trường, và quay trở lại định hướng sản xuất cho doanh nghiệp, nhằm hướng tới giảm phát thải các-bon, giảm BĐKH và hướng

Trang 31

tới phát triển bền vững

Hình 1.4 Mối quan hệ giữa nhãn sinh thái và nhãn các-bon

Nguồn: Tổng hợp từ bài viết của Tiantian Liu và cộng sự (2016) [21]

Tóm lại có thể hiểu “Nhãn các-bon là một loại nhãn môi trường trong đó ghi thông tin về mức độ giảm phát thải KNK của sản phẩm với mục đích khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm các-bon thấp nhằm hướng tới đạt được các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính”

Năm 2001 Chính phủ Anh đã hỗ trợ thành lập Quỹ Tín thác Các-bon gọi là Carbon Trust (CT) Mục đích hoạt động của CT là thúc đẩy sự chuyển dịch sang nền kinh tế các-bon thấp CT đã triển khai các hoạt động khác nhau, trực tiếp làm việc với các doanh nghiệp để giảm thiểu phát thải các-bon, cung cấp các luận giải

và lợi ích lâu dài khi đầu tư vào phát triển, chuyển giao công nghệ cũng như hoạt động kinh doanh ứng phó với biến đổi khí hậu Kể từ năm 2006, CT đã cùng với các doanh nghiệp tham gia đo lường, giảm thiểu và truyền thông về phát thải các-bon xuyên suốt chuỗi cung ứng Ngay khi bắt đầu, CT gặp phải tình trạng không thống nhất trong việc đo lường dấu chân các-bon của các sản phẩm - do công nghệ

và quy trình sản xuất khác nhau Vượt qua những khó khăn ban đầu, CT đã hỗ trợ các đối tác là Chính phủ và các công ty ở Úc, Đài Loan và Thái Lan xây dựng các chương trình cấp, dán nhãn các-bon tại các quốc gia này [20]

Theo Tan và cộng sự (2014), dù việc dán nhãn các-bon là tự nguyện, nhưng

đã được áp dụng tại một số quốc gia như Anh, Hà Lan và Nhật Bản Đặc biệt là

sự tham gia của các công ty không muốn mình bị đẩy lùi lại phía sau các đối thủ

Trang 32

22

cạnh tranh trên thị trường sản phẩm xanh, sản phẩm thân thiện với môi trường [25] Nhãn các-bon được kỳ vọng cung cấp cho người tiêu dùng cơ hội để đưa ra lựa chọn mua sắm phù hợp và có trách nhiệm, đặc biệt là khi yêu cầu về giảm phát thải KNK đã trở thành mối quan tâm toàn cầu Trên thế giới đã có nhiều quốc gia triển khai dán nhãn các-bon (Hình 1.6)

Hình 1.6 Các quốc gia đã triển khai việc dán nhãn các-bon trên thế giới

trong giai đoạn 2007 - 2010

Nguồn: Tổng hợp từ bài viết của Tiantian Liu và cộng sự (2016) [34]

1.3 Các nghiên cứu của Việt Nam về dán nhãn các-bon

Để đạt được mục tiêu phát triển nền kinh tế các-bon thấp, các sản phẩm của nền sản xuất hàng hóa phải đạt tiêu chuẩn các-bon thấp Việc xác định một hàng hóa có thuộc loại các-bon thấp hay không cần phải dựa trên tổng khối lượng KNK thải ra trong suốt chu trình của một sản phẩm từ sản xuất, lưu thông, sử dụng và thải bỏ trên một đơn vị sản phẩm được gọi là “dấu chân các-bon (carbon footprint)” Tuy nhiên, việc tính toán định lượng tổng phát thải KNK hay “dấu chân các-bon” cho hàng hóa đòi hỏi nhiều thời gian và kinh phí Ở Việt Nam, đã

có một số nghiên cứu về đánh giá lượng phát thải KNK trong một chu trình sản xuất hàng hóa phục vụ việc kiểm kê KNK Trong đó, đề cập đến nhiều phương pháp đánh giá khác nhau như: phương pháp tính toán định lượng trực tiếp, phương pháp sử dụng một số tiêu chí gián tiếp tương tự như tiêu chí nhãn sinh thái, nhãn xanh, nhãn tiết kiệm năng lượng, ISO, tiêu chí công nghệ tốt nhất có sẵn –BAT

Trang 33

[14]

Năm 2009, chương trình nhãn sinh thái tại Việt Nam được triển khai thực hiện với mục tiêu tiếp tục cải thiện và duy trì chất lượng môi trường sống thông qua giảm thiểu sử dụng và tiêu dùng năng lượng, nguyên vật liệu cũng như các loại chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ phục vụ đời sống [2] Chương trình Nhãn sinh thái Việt Nam được xây dựng nhằm khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp thiết kế sản phẩm

và tiến hành hoạt động theo hướng giảm các tác động có hại đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong suốt quá trình khai thác nguyên liệu, sản xuất, đóng gói, vận chuyển, sử dụng và thải bỏ sản phẩm; Tạo lập thị trường bền vững cho sản phẩm thân thiện với môi trường thông qua các cơ chế ưu đãi cho tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và tiêu dùng; Khuyến khích ngành công nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm ra thị trường thế giới với cam kết thực hiện các quy định về môi trường, đáp ứng các tiêu chuẩn sản phẩm theo ISO 14024; Tăng cường hợp tác với mạng lưới nhãn sinh thái trong khu vực và trên thế giới, thoả thuận công nhận lẫn nhau với các hệ thống cấp nhãn sinh thái của các nước

và các tổ chức trên thế giới Ở Việt Nam, hiện nay nhãn sinh thái được gọi chung

là nhãn xanh [3]

Giống như nhãn sinh thái của các nước, Nhãn xanh Việt Nam là loại nhãn được dùng để chỉ ra những sản phẩm có mức độ ưu tiên chung về môi trường cao hơn so với những loại sản phẩm khác trong cùng một nhóm sản phẩm trên cơ sở đánh giá những tác động và ảnh hưởng đến môi trường của toàn bộ chu trình luân chuyển (vòng đời) của sản phẩm Nhãn xanh Việt Nam được gắn trên những sản phẩm không chỉ tốt về chất lượng mà còn tuân thủ các yêu cầu môi trường trong quá trình sản xuất, sử dụng và tái chế, là sản phẩm tốt hơn sản phẩm cùng loại về tiết kiệm năng lượng và ít gây ra những tổn hại đối với môi trường hơn Việc xác nhận sản phẩm đủ điều kiện được gắn Nhãn xanh Việt Nam là hoạt động chứng nhận sự phù hợp của loại sản phẩm với các yêu cầu của Tiêu chí Nhãn xanh do

Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố lần đầu vào năm 2010 [3, 4] Tuy nhiên,

Trang 34

24

nhãn xanh Việt Nam được áp dụng chung cho các sản phẩm, không phân biệt dùng cho sản xuất tiêu thụ trong nước hay cho thị trường xuất khẩu như nhãn các-bon của Thái Lan

Năm 2009, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Ủy ban Kinh tế

Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP) đã thực hiện nghiên cứu về “Các chỉ số hiệu quả sinh thái (EEI) cho Việt Nam” Nghiên cứu

đã phân tích mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế, sử dụng tài nguyên và các tác động của ô nhiễm môi trường [17] Trên cơ sở đó, đánh giá các chính sách kinh

tế hiện tại cũng như có các kiến nghị chính sách phù hợp để phát triển kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh Các chỉ số hiệu quả sinh thái được xây dựng cho Việt Nam trong giai đoạn từ 1990 đến 2007 bao gồm các chỉ số hiệu quả sinh thái về mức độ sử dụng tài nguyên (các chỉ số về mức độ sử dụng năng lượng, mức độ sử dụng nước, và mức độ sử dụng đất, chỉ tiêu về mức độ sử dụng của một số vật liệu gây ô nhiễm môi trường cao như dầu thô, than, điện, xi măng, thép, phân bón,…) Các chỉ số hiệu quả sinh thái về tác động môi trường gồm các chỉ tiêu về

sự phát thải các chất gây ô nhiễm không khí và các khí gây hiệu ứng nhà kính Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ đánh giá hiệu quả của nền kinh tế ở quy mô quốc gia mà chưa đi vào xây dựng bộ chỉ số cụ thể cho các hoạt động sản xuất cụ thể

Năm 2012, CIEM thực hiện nghiên cứu “Chỉ số GDP xanh: nghiên cứu phát triển khung phương pháp” [18] Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được phương pháp luận xây dựng các tài khoản xanh cho Việt Nam, bao gồm: tài khoản tài nguyên (thông tin về tài nguyên), tài khoản ô nhiễm (thông tin về KNK, các chất

ô nhiễm không khí, nước thải và chất thải) và tài khoản chi tiêu cho môi trường (thông tin về chi tiêu cho hoạt động môi trường, thiệt hại do ô nhiễm) [18]

Năm 2012, được sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Tây Ban Nha (AECID), Tổng cục du lịch đã xây dựng Bộ tiêu chí Nhãn du lịch bền vững Bông sen xanh làm công cụ đánh giá, quản lý công tác bảo vệ môi trường đối với

Trang 35

hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam [15] Bộ tiêu chí Nhãn Du lịch xanh cho 4 loại hình cơ sở dịch vụ du lịch bao gồm: nhà hàng phục vụ khách du lịch, cửa hàng mua sắm phục vụ khách du lịch, điểm dừng chân phục vụ khách du lịch, điểm tham quan du lịch Đây là các hướng dẫn căn bản để các nhà đầu tư, các nhà quản lý và nhân viên cơ sở dịch vụ áp dụng nhằm xây dựng điểm du lịch xanh, góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, đưa du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế phát triển bền vững

Năm 2014, trên cơ sở phát triển kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu thuộc đại học Yale và Đại học Columbia ở Hoa Kỳ về Chỉ số đánh giá hoạt động môi trường (EPI), Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường đã triển khai dự án: “Điều tra, đánh giá, thử nghiệm phân hạng môi trường đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” Mục tiêu của dự án là xây dựng được bộ chỉ số khung đánh giá hoạt động môi trường với 04 nhóm chỉ số: Bảo vệ con người; Bảo vệ sức sống hệ sinh thái; Bảo vệ hệ thống khí hậu của Trái đất và Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường của địa phương Các tiêu chí lựa chọn các chỉ thị trong mỗi nhóm chỉ số đảm bảo tính đại diện cho nhóm chính sách, tính sẵn có về số liệu và không được gây ra sự không thống nhất, bất bình đẳng giữa các địa phương khi đánh giá [16]

Trong 2 năm (2014-2015), tác giả Nguyễn Trung Thắng và cộng sự của Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường đã thực hiện Đề tài

“Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, đề xuất các tiêu chí và bộ chỉ số khung

về đánh giá mức độ thân thiện môi trường của các ngành kinh tế nước ta” [13]

Nghiên cứu đã đưa ra bộ chỉ số khung dựa trên 4 tiêu chí chính bao gồm: (i) Sử dụng hiệu quả tài nguyên; (ii) Ít tác động xấu đến môi trường tự nhiên; (iii) Ít tác động xấu đến hệ thống khí hậu và; (iv) Ứng xử thân thiện với môi trường Bộ khung chỉ số được phát triển với 38 chỉ thị, trong đó có 35 chỉ thị đánh giá và 3 chỉ thị thông tin chung tham khảo, được phân bổ theo 4 nhóm tiêu chí và 19 tiêu chí cụ thể Nghiên cứu đã thử nghiệm áp dụng bộ chỉ số để đánh giá mức độ thân thiện đối với 03 ngành công nghiệp cấp 3 gồm: (i) Công nghiệp sản xuất bia; (ii)

Trang 36

Tổng cục Năng lượng, Bộ Công thương đã nghiên cứu và triển khai áp dụng nhãn tiết kiệm năng lượng đối với các thiết bị tiêu thụ năng lượng Nhãn năng lượng được dán trên thiết bị, cung cấp thông tin mức tiêu thụ năng lượng của thiết

bị đó Hiện tại, có hai loại nhãn năng lượng được áp dụng là Nhãn xác nhận và Nhãn so sánh Nhãn năng lượng xác nhận là nhãn thể hiện hình biểu tượng tiết kiệm năng lượng (còn gọi là biểu tượng ngôi sao năng lượng Việt), được dán cho các phương tiện, thiết bị lưu thông trên thị trường có mức hiệu quất năng lượng đạt hoặc vượt mức hiệu suất năng lượng cao do Bộ Công thương quy định trong từng thời kỳ Nhãn năng lượng so sánh là nhãn được dán cho các phương tiện, thiết bị nhằm cung cấp cho người tiêu dùng các thông tin về hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị đó so với các thiết bị cùng loại khác, từ đó giúp người tiêu dùng lựa chọn được phương tiện, thiết bị có mức tiêu thụ năng lượng tiết kiệm hơn Trên biểu tượng nhãn này, mức hiệu suất năng lượng thể hiện qua 5 cấp độ tương ứng [1]

Trang 37

Hình 1.7: Nhãn năng lượng so sánh mẫu do Bộ Công thương ban hành

Trong bối cảnh tự do hóa thương mại toàn cầu ngày càng sâu, rộng và thị trường xuất khẩu ngày càng cạnh tranh hơn do suy thoái kinh tế, bảo hộ các nhà sản xuất trong nước và trách nhiệm môi trường của người tiêu dùng, việc dán nhãn các-bon sẽ góp phần nâng cao tính cạnh tranh, tiếp cận được thị trường đòi hỏi cao về trách nhiệm môi trường như Nhật Bản, Anh, các quốc gia châu Âu, Hoa

Kỳ và Canada Việt Nam có tiềm năng sản xuất các sản phẩm công nghiệp cho các thị trường tiêu dùng trên thế giới nhưng đang có những hạn chế về chất lượng, nguồn gốc và tiêu chuẩn về môi trường đối với các sản phẩm của mình Vì vậy việc dán nhãn các-bon, các-bon thấp sẽ giúp các sản phẩm của Việt Nam tiếp cận tối hơn đối với các thị trường tiêu dùng trên thế giới Đồng thời, việc dán nhãn các-bon cũng thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính Để thúc đẩy việc dán nhãn, các-bon đối với các sản phẩm công nghiệp của Việt Nam cần có nghiên cứu, đánh giá thực trạng và tiềm năng dán nhãn cũng như quy trình dán nhãn thử nghiệm cho một số sản phẩm trước khi

mở rộng áp dụng cho các loại sản phẩm khác nhau Bên cạnh đó, để hoạt động dán nhãn mang lại hiệu quả thiết thực cần có những cơ chế, chính sách khuyến khích phù hợp nhằm đảm bảo việc dán nhãn không là gánh nặng đối với người sản xuất cả về mặt thủ tục hành chính và chi phí tài chính

Từ những kinh nghiệm áp dụng nhãn các-bon trên thế giới, và những tiền

Trang 38

28

đề trong quy trình thực hiện nhãn Xanh tại Việt Nam, Nhãn tiết kiệm năng lượng,

có thể cho phép áp dụng việc dán nhãn các-bon cho các sản phẩm hàng hóa tại Việt Nam với những nguyên tắc lựa chọn, áp dụng từ quy trình Nhãn sinh thái, đặc biệt là Nhãn xanh

Trang 39

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA DÁN NHÃN CÁC-BON TRONG GIẢM

NHẸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 2.1 Vai trò của nhãn các-bon trong giảm phát thải khí nhà kính

Nhãn các-bon được xếp vào nhóm nhãn đơn tiêu chí, điều này có nghĩa nhãn tập trung vào tiêu chí phát thải các-bon của sản phẩm hàng hóa hoặc dịch

vụ Hay nói cách khác, tiêu chí đánh giá của nhãn chính là lượng phát thải bon của một sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ trong suốt vòng đời (từ nguồn liệu đầu vào, sản xuất, lưu thông, sử dụng và thải bỏ)

các-Theo Trung tâm thương mại quốc tế [23], việc tính toán được lượng phát thải của sản phẩm trong suốt vòng đời (dấu chân các-bon) sẽ giúp doanh nghiệp:

- Xác định các điểm nóng (hay công đoạn) phát thải KNK nhiều (thường gắn liền với việc tiêu thụ năng lượng) và các cơ hội để đạt được mức giảm phát thải qua vòng đời sản phẩm, ví dụ: bằng cách tăng hiệu quả sản xuất;

- Xác định các cơ hội tiết kiệm chi phí (thông qua việc giảm định mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu đầu vào và tái sử dụng);

- Hiểu biết hơn về phát thải KNK từ chuỗi cung ứng của doanh nghiệp để chuẩn bị cho tác động có thể có trong tương lai và tham gia các sáng kiến chính sách quốc gia hoặc quốc tế (khi có các yêu cầu bắt buộc về giảm phát thải KNK);

- Tạo điểm chuẩn để giám sát và đo lường mức giảm phát thải và khả năng thực hiện các biện pháp cải thiện tác động khí hậu của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất hay cung cấp;

- Tích hợp vấn đề giảm phát thải KNK vào việc ra quyết định, ví dụ: lựa chọn vật liệu, thiết kế sản phẩm, quy trình sản xuất, v.v hay tham gia vào nền kinh

tế tuần hoàn;

- Tham gia với các nhà cung cấp trong toàn chuỗi cung ứng nhằm giảm dấu chân các-bon hay lượng phát thải KNK;

Trang 40

Theo Cơ quan quản lý KNK của Thái Lan (TGO) thì những lợi ích của sản phẩm các-bon [32] (bao gồm cả nhãn các-bon thấp và nhãn dấu chân các-bon), có thể tóm tắt như sau:

(a) Đối với khách hàng/người tiêu dùng:

Các sản phẩm dánh nhãn các-bon thấp cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về lượng phát thải KNK mà sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ gây ra, hỗ trợ họ trong việc đưa ra quyết định mua sắm và tạo cơ hội để người tiêu dùng tham gia vào việc quản lý phát thải KNK, đặc biệt là góp phần giảm phát thải KNK thông qua lựa chọn tiêu dùng của mình

(b) Đối với nhà sản xuất:

Nhãn các-bon có thể được sử dụng để thúc đẩy các sản phẩm phát thải thấp trên thị trường và giúp tạo dựng hình ảnh tích cực của doanh nghiệp/tổ chức cam kết hướng đến giảm phát thải KNK

Thông qua việc triển khai hoạt động dán nhãn các-bon, nhà sản xuất sẽ chuẩn bị tốt hơn đối với việc áp dụng các tiêu chuẩn bắt buộc như ISO14067 (tiêu chuẩn về phát thải KNK của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế) và các tiêu chuẩn môi trường khác mà các quốc gia phát triển đặt ra (ví dụ, ưu tiên tiêu dùng các sản phẩm dán nhãn các-bon cho các sản phẩm nhập khẩu nhà sản xuất có lợi thế cạnh trạnh hơn khi sản phẩm của mình dán nhãn các-bon)

Ngày đăng: 27/05/2020, 15:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm