1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến sau cai sữa tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên

52 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Vận hành được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại có hiệu quả cao; - Đánh giá được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn sơ sinh đến sau ca

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Lớp: CNTY - K47 - N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS ĐOÀN QUỐC KHÁNH

Thái Nguyên – 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau quá trình học tập tại trường và thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, đến nay

em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới :

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, cùng các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình dìu dắt, giúp

đỡ em trong suốt quá trình học tập Trang trại sinh thái Thanh Xuân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập, giúp em hoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập tại cơ sở

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS Đoàn Quốc Khánh đã luôn động viên, giúp đỡ chỉ bảo tận tình và trực tiếp hướng

dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Đặng Thị Diễn

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Lịch phun sát trùng toàn trại 27

Bảng 3.2 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ 29

Bảng 4.1.Tình hình chăn nuôi lợn tại trại 35

Bảng 4.2 Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng 36

Bảng 4.3 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh

đến sau cai sữa nuôi tại trại 36

Bảng 4.4 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến sau cai sữa nuôi tại trại 37

Bảng 4.5 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn con sơ sinh đến

sau cai sữa tại trại theo các tháng 38

Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến sau cai sữa 39

Bảng 4.7 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến sau cau cai sữa toàn trại 40

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

cs : Cộng sự

Hb : Hemoglobin Nxb : Nhà xuất bản PED : Dịch tiêu chảy cấp ở lợn

TS : Tiến sĩ

TT : Thể trọng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện của trang trại 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 3

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 4

2.2 Tổng quan tài liệu 5

2.2.1 Cơ sở khoa học 5

2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 15

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 22

3.1 Đối tượng 22

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 22

3.3 Nội dung thực hiện 22

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 22

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 22

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại giai đoạn 2016-2018 35

4.2 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn sơ sinh đến sau cai sữa 36

4.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến sau cai sữa 37

4.3.1 Công tác chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến sau cai sữa 37

Trang 6

4.3.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến sau cai sữa 39

4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến sau cai sữa sau khi thực hiện

các biện pháp phòng, trị bệnh tại trại 40

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42

5.1 Kết luận 42

5.2 Đề nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP 49

Trang 7

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đang phát triển mạnh

mẽ theo hướng trang trại và hộ gia đình Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp Việt Nam Nó đã góp phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế nông thôn nước ta Không chỉ để phục vụ cho tiêu dùng, nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày mà còn phải tiến tới xuất khẩu với số lượng lớn Đây là nguồn cung cấp thực phẩm với tỉ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như: Da, mỡ, nội tạng cho ngành công nghiệp chế biến

Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp một lượng thực phẩm lớn cho tiêu dùng của người dân, nên chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc phát triển Nhờ vậy, công tác lai tạo giống cũng được triển khai và thu được nhiều kết quả to lớn như: Tạo ra các giống lợn có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỉ lệ nạc cao Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy

mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng

Đặc biệt lợn con giai đoạn sơ sinh đến sau cai sữa rất dễ mắc nhiều bệnh nên quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn từ sơ sinh đến sau cai sữa ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh trưởng của lợn sau này Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc

sử dụng vaccine phòng bệnh và sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao

Trang 8

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của BCN khoa, thầy

giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến sau cai sữa tại trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên’’

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

- Vận hành được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc trên đàn lợn nái sinh sản

và lợn con theo mẹ tại trại có hiệu quả cao;

- Đánh giá được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn sơ sinh đến sau cai sữa tại

trại, thực hiện được các quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh tại trại

Trang 9

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của trang trại

2.1.1.1 Vị trí địa lý

- Trại chăn nuôi tại trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Vị trí địa lý của huyện được xác định như sau:

+ Phía Nam giáp huyện Khoái Châu

+ Phía Đông Nam giáp huyện Yên Mỹ

+ Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Thường Tín và huyện Thanh Trì, đều của Hà Nội

+ Phía Đông Bắc giáp huyện Gia Lâm, Hà Nội và huyện Văn Lâm, Hưng Yên

- Huyện có 11 đơn vị hành chính Dân số huyện Văn Giang hơn 12 vạn người, tổng diện tích tự nhiên là 71,79 km²

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại

- Trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2009 trại đi vào sản xuất được 10 năm, song hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công

Trang 10

nhân viên được cải thiện, trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những người đam mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi đã tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn và yêu nghề Trại có 41 cán bộ nhân viên trong đó:

- Lao động gián tiếp có 8 người:

+ Tổng giám đốc công ty: 1

+ Kế toán: 2

+ Làm vườn, nấu ăn: 2

+ Bảo dưỡng : 2

+ Bảo vệ: 1

- Lao động trực tiếp có 33 người:

+ 5 kỹ sư chăn nuôi

Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát

về mùa hè, ấm áp về mùa đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước, có 4 chuồng đẻ, trong đó: 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có

66 ô chuồng và 1 chuồng đẻ có 120 ô chuồng, 2 chuồng bầu có 1020 ô chuồng,

6 chuồng lợn thịt với 700 con/chuồng, 1 chuồng tân đáo với

100 con/chuồng, 1 chuồng cai sữa với 750 con/chuồng và 1 chuồng đực với 70

ô chuồng, mỗi chuồng đều có lối đi ở giữa

Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động, mùa

hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và hệ thống dàn mát Mùa đông có hệ

Trang 11

thống bóng đèn hồng ngoại

Tổng diện tích của trang trại là 4 ha, trong đó 2,5 ha dùng để chăn nuôi, 1

ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại gồm

nhà điều hành và các công trình phụ trợ khác

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Cơ sở khoa học

2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con

- Cơ năng điều tiết thân nhiệt

+ Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ thường bị giảm xuống, quá trình giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khối lượng sơ sinh, chất dinh dưỡng thu được sau khi sinh, nhiệt độ của môi trường

+ Theo Trương Lăng (2000) [6], sau khi đẻ 1 giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau thân nhiệt sẽ ổn định, nếu sau 4 giờ mới được bú sữa đầu thì sau 18 - 24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thường Như vậy quy định không quá 2 giờ nếu lợn mẹ chưa đẻ xong phải cho những lợn con đã sinh bú sữa đầu Lợn con rất mẫn cảm với nhiệt độ vì khi ra khỏi cơ thể mẹ lợn con chưa thể thích ứng được với môi trường bên ngoài, cơ quan điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh Khả năng tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ khi mới sinh cho đến 2 tuần tuổi, do vậy trong 2 tuần tuổi chúng rất dễ mẫn cảm với thay đổi lớn của nhiệt độ bên ngoài Mỗi loài gia súc, đều có một giới hạn sinh thái về nhiệt độ và ẩm độ nhất định, độ ẩm không khí trong chuồng nuôi cao là điều bất lợi cho lợn con, bởi vì độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển, ngoài ra độ ẩm càng cao thì nhiệt độ trong chuồng càng giảm Cho nên việc quản lý độ ẩm và nhiệt độ trong chuồng nuôi phù hợp với mọi lứa tuổi của lợn và nhiệt độ trong chuồng nuôi được ổn định là rất quan trọng

+ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [8], trên nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 - 35°C trong tuần đầu, sau đó giữ 21 - 27°C cho đến lúc cai sữa 3 - 6 tuần tuổi Để bảo đảm nhiệt

Trang 12

độ cho lợn con theo chỉ tiêu trên cần có ô úm cho lợn con, ô úm có kích thước ít nhất là một mét vuông, trong ô úm có thể đặt tấm sưởi điện tự động hoặc treo bóng đèn hồng ngoại 250w hoặc 100w Độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc

- Đặc điểm tiêu hóa

+ Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn

nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

+ Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp

6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh Sự tăng

về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất

+ Mặc dù vậy, ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa

+ Một đặc điểm cần lưu ý ở giai đoạn này trong dạ dày lợn con không

có axit HCl, được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột

và thẩm thấu vào máu

+ Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế

Trang 13

sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức

ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)

+ Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn(2005) [10], lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein

- Khả năng miễn dịch của lợn con

+ Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất

lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai đoạn này mầm bệnh dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh

+ Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

+ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [8], trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 – 19 %, trong đó lượng γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng γ - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử γ - globulin giảm

đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn

Trang 14

con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng γ - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu γ -globulin kém hơn, hàm lượng γ - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24 mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

+ Sự hấp thu các phân tử γ - globulin và các tiểu phần khác của sữa mẹ bằng con đường chủ động chọn lọc hoặc bằng ẩm bào qua các lỗ hẹp này, vì vậy quá trình tiêu hóa ở màng gần như vô khuẩn

+ Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu không gây nguy hiểm với lợn con vì trong thời gian này lợn con không hình thành kháng thể bản thân và protein với chúng không phải là kháng nguyên

- Hệ vi sinh vật đường ruột

+ Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [9], hệ vi sinh vật đường ruột

gồm hai nhóm: nhóm vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn bắt buộc gồm: E coli,

Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người ta

quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng E coli

trở lên cường độc gây bệnh Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành

của thức ăn, nước uống vào hệ tiêu hoá gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus

spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn con có các trực

Trang 15

khuẩn yếm khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes,

Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus

-Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng do vậy chuồng trại

có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng, ẩm, về mùa đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa

hè, ấm áp về mùa đông Do vậy trong xây dựng chuồng trại ngoài việc đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần chú ý đến địa điểm xây dựng chuồng, hướng chuồng, vật liệu xây dựng để dễ dàng khống chế các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn, chuồng khô, thoáng, đủ ánh sáng thì

tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy thấp hơn so với chuồng ẩm, tối

- Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 32 – 34 °C đối với lợn sơ sinh và 28 – 30 °C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt, không thay đổi thức ăn đột ngột

Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín ấm áp vào mùa đông và đầu xuân là điều kiện cần thiết phải thực hiện Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

- Phòng bệnh bằng bổ sung sắt: ở lợn con, việc thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, làm giảm sức đề kháng cũng là nguyên nhân gây nên hội chứng tiêu chảy khá cao Lợn con một ngày tuổi sẽ được bấm nanh, bấm tai và tiêm sắt

- Phòng bệnh bằng vaccine: phòng bệnh bằng vaccine là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là các bệnh mà nguyên nhân là vi sinh

Trang 16

vật Vaccine phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vaccine này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khả quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh Một số tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh

+ Theo Bertschinger H U (1999) [15], đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H Ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường trên, còn có thêm kháng nguyên bám dính F, yếu tố gây bệnh

không phải là độc tố của E Coli

- Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng

+ Nhu cầu protein: lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, trong thời gian

bú sữa nguồn năng lượng được cung cấp chủ yếu từ phân giải đường và 1 phần nhỏ protein Nhưng protein chủ yếu là nguyên liệu cho sinh trưởng và phát triển,

do vậy nhu cầu về protein rất lớn Như vậy, trong thức ăn tập ăn của lợn con cần

+ Nhu cầu về khoáng: khoáng chiếm 4 - 5% khối lượng cơ thể, có 3 nhóm khoáng

Đa lượng: Ca, P, Na, Mn, Cl, Fe, S

Vi lượng: Cu, Mo, Mg, Zn, Al, F

Siêu vi lượng: Acemic, bismus, thủy ngân

+ Nhu cầu vitamin: vitamin là chất xúc tác sinh học tổng hợp, tham gia vào một số men tiêu hóa phân giải các chất dinh dưỡng, tham gia cấu tạo màng

Trang 17

tế bào Lượng vitamin vô cùng nhỏ, nhưng lại có tác dụng rất lớn cho sinh trưởng, phát dục và sinh sản

+ Nhu cầu về nước: nước chiếm 50 - 60% khối lượng cơ thể, trong máu nước chiếm 80 - 95% Cơ thể mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao đổi chất, nếu mất 20% lượng nước lợn con sẽ chết

2.2.1.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con

Theo Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [13]

- Tiêu chảy do E.coli

+ Lứa tuổi bị bệnh: chủ yếu xảy ra trên lợn con theo mẹ, lợn con sau cai sữa + Nguyên nhân: do lợn con bú vào bầu vú lợn mẹ có dính phân, uống nước

có chứa mầm bệnh, vệ sinh sàn chuồng không được sạch sẽ, ẩm ướt Lợn bị stress

do trộn chung lợn cai sữa trong quá trình vận chuyển, thay đổi thức ăn

+ Triệu chứng, bệnh tích: trên lợn con theo mẹ bị bệnh, lợn thường nằm tụm lại, run rẩy hoặc nằm một góc, da xung quanh đuôi và hậu môn có dính phân, phân lỏng đến sệt, có màu kem và có thể thấy lợn nôn mửa Lợn mất nước

do tiêu chảy, mắt lõm vào, da trở nên khô Trước khi chết có thấy lợn bơi chèo

và sùi bọt mép Trên lợn cai sữa, biểu hiện đầu tiên thấy sụt cân, đi phân nước và mất nước Một vài trường hợp phân có máu hoặc sệt với nhiều màu như xám, trắng, vàng và xanh lá cây Do đó màu sắc phân không có ý nghĩa nhiều trong chẩn đoán lâm sàng Có thể lợn chết với mắt lõm vào, thỉnh thoảng thấy lợn nôn mửa và cũng

có thể thấy chết mà không có triệu chứng

+ Chẩn đoán: dựa vào triệu chứng lâm sàng và tiền sử của bệnh trong

trại Trong trường hợp nhiễm độc tố đường ruột của vi khuẩn, xác lợn chết bị mất nước Mổ khám thấy ruột sung huyết, xuất huyết Tiến hành phân lập vi khuẩn để xác định nguyên nhân gây bệnh Lấy mẫu phân nuôi cấy phân lập vi khuẩn Ngoài ra có thể lấy mẫu ruột có bệnh tích kiểm tra mô bệnh học

+ Phòng và cách điều trị

 Kháng sinh pha uống :

Trang 18

 Amoxycillin + colistin 10%, liều lượng: 1g/lít, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

 Apralan, liều lượng: 25mg/kg TT, số ngày sử dụng: 7 ngày

 Kháng sinh trộn cám :

 Roxolin 60%, liều lượng: 0,3-0,4kg/tấn, số ngày sử dụng: 5-7 ngày

 Kháng sinh tiêm:

 Florject, liều lượng: 0,33 ml/kg TT, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

 Ampisur, liều lượng: 1 ml/kg TT, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

 Gentamycin, liều lượng: 1 ml/kg TT, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

- Cầu trùng

+ Lứa tuổi bị bệnh: thường xảy ra ở lợn con theo mẹ từ 7 - 10 ngày tuổi, thỉnh thoảng cũng gặp trên lợn choai, lợn thịt, lợn đực giống

+ Nguyên nhân: do 1 loại ký sinh trùng nhỏ có tên Isospora suis, ký sinh

trùng này sống nhân lên nhờ tế bào vật chủ, chủ yếu là tế bào đường ruột

+ Triệu chứng, bệnh tích: Trong giai đoạn đầu triệu chứng chính là tiêu chảy Ở giai đoạn sau phân trở nên đặc hơn và màu chuyển từ vàng tới xám xanh, hoặc trong phân có lẫn máu khi bệnh trở nên nghiêm trọng hơn Cầu trùng tác động gây tổn thương trên thành ruột non làm lợn con tiểu chảy dẫn đến mất nước Tỷ lệ chết do cầu trùng rất thấp nhưng nếu có sự lây nhiễm kế phát của vi khuẩn thì tỷ lệ chết sẽ tăng cao Khi lợn con bị nhiễm cầu trùng thì lợn con còi cọc và phát triển không đồng đều

+ Chẩn đoán: dựa trên triệu chứng lâm sàng và điều trị kháng sinh ít hiệu quả Trong 1 số trường hợp, ruột có bệnh tích hình dải ruy băng ở phần không tràng và hồi tràng Lấy mẫu phân lợn tiêu chảy xét nghiệm tìm noãn nang bằng phương pháp phù nổi Ngoài ra có thể lấy phần ruột có bệnh tích đi kiểm tra mô học

+ Phòng và điều trị

 Kháng sinh uống:

Trang 19

 Toltrazoril, liều lượng: 1 ml/con, số ngày sử dụng: 1 ngày

 Amprolium hydrochloride, liều lượng: 25-65 mg/kg TT, số ngày sử dụng: 3 ngày

- Viêm rốn

+ Lứa tuổi mắc bệnh: lợn con khoảng 3 ngày tuổi

+ Nguyên nhân: lợn con sau khi sinh không được cắt rốn, không đảm bảo

vệ sinh khi cắt rốn cho lợn con, lợn mẹ dẫm lên làm tổn thương vùng rốn của lợn con, do vệ sinh sát trùng khi cắt rốn cho lợn con không tốt hoặc do môi trường vệ sinh kém

+ Triệu chứng: lợn con thiếu máu, da nhợt nhạt, lông dày và cứng lợn ốm

và dễ bị bệnh ghẻ do hệ miễn dịch yếu Nước tiểu từ bàng quan có thể theo mạch máu rốn chảy ra rốn Khi ấn tay vào rốn thấy có khối cộm cứng,

+ Phòng và cách xử lý: khi cắt rốn cho lợn con sử dụng dao và kéo sắc, ngâm dụng cụ trong 1 lít nước sát trùng 30 phút trước khi sử dụng Sau khi cắt xong nhúng rốn vào cồn iot để sát trùng Ngày sau kiểm tra rốn khô hay không, nếu rốn không khô (nhìn như lúc mới cắt tức là rốn đang bị viêm) thì nhúng lại cồn iot thêm 1 lần nữa

- Bệnh do Streptococcus

+ Lứa tuổi bị bệnh: lợn con theo mẹ, lợn con cai sữa

+ Nguyên nhân: do 1 loại vi khuẩn có tên là Streptococcus suis gây ra

+ Triệu chứng, bệnh tích: lợn con có biểu hiện nằm úp bụng, run rẩy, rụng lông Khi lợn con bị nhiễm trùng huyết gây viêm màng não sẽ có những triệu chứng làm mắt sưng, run rẩy, bơi chèo, co giật, khớp chân bị viêm Ngoài ra, lợn chết đột ngột

+ Chẩn đoán: dựa trên tiền sử bệnh trong trại, các triệu chứng lâm sàng

và phân lập vi khuẩn từ phổi, dịch trong khớp Lấy mẫu lách, phổi và hạch có bệnh tích kiểm tra mô bệnh học

+ Phòng và cách điều trị

 Kháng sinh trộn cám:

Trang 20

 Aquacil 60%, liều lượng: 0,6 kg/tấn, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

 Kháng sinh tiêm:

 Vetrimoxin LA, liều lượng: 1 ml/10kg TT, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

 Pendistrep LA, liều lượng: 1 ml/10kg TT, số ngày sử sụng: 3-5 ngày

 Ceftiofur, liều lượng: 0,6 ml/10kg TT, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

 Florject 400 LA, liều lượng: 0,33 ml/10kg TT, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

 Doxycyclin, liều lượng: 1 ml/10kg TT, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

- Bệnh viêm phổi địa phương do Mycoplasma hyopneumoniae

+ Lứa tuổi bị bệnh: bệnh thường xảy ra ở lợn con giai đoạn sau cai sữa và lợn choai, đặc biệt là lợn lúc 7 tuần tuổi trở lên

+ Nguyên nhân: do Mycoplasma hyponeumoniae gây ra

+ Triệu chứng, bệnh tích:

Cấp tính: thường gặp trong đàn lần đầu bị nhiễm bệnh, viêm phổi nặng,

ho râm ran, thở khó, sốt và tỉ lệ chết cao Tuy nhiên những triệu chứng này biến động và biến mất đi khi bệnh nhẹ đi

Mãn tính: thường gặp trong đàn có mầm bệnh xuất hiện nhiều lần, ho kéo dài và nhiều lần (ho theo kiểu chó ngồi) Một số con bị hô hấp nặng và biểu hiện triệu chứng viêm phổi, sẽ có khoảng 30 - 70% số lợn có bệnh tích tổn thương phổi khi mổ khám

+ Chẩn đoán: dựa trên tiền sử bệnh trong trại, dấu hiệu lâm sàng và phương pháp phòng thí nghiệm Mổ khám thấy có bệnh tích gan hóa phổi trên thùy phổi trước

+ Phòng và cách điều trị:

 Kháng sinh trộn cám :

 CTC 15%, liều lượng: 2-3 kg/tấn, số ngày sử dụng: 7-14 ngày

 Dinamutilin 10%, liều lượng: 2 kg/tấn, số ngày sử dụng: 10-14 ngày

 Tylan 40 sulfa, liều lượng: 1,25 kg/tấn, số ngày sử dụng: 10-14 ngày

 Pulmutil G-200, liều lượng: 1-2 kg/tấn , số ngày sử dụng: 21 ngày

Trang 21

 Kháng sinh tiêm:

 Tylan 50, liều lượng: 1,7 ml/10kg TT, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

 Tylan 200, liều lượng: 0,5 ml/10kg TT, số ngày sử dụng: 3-5 ngày

 Dinamutilin 20%, liều lượng: 0,5 ml/10kg TT, số ngày sử dụng:

3-5 ngày

2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.2.1 Nghiên cứu trong nước

- Bộ máy tiêu hóa ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật ở đường ruột và dạ dày còn yếu Do đó, cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh đường tiêu hóa cao hơn

- Khi lợn nái nuôi con bằng chuồng sàn thì lợn con ít và không ỉa chảy phân trắng, còn lợn con theo mẹ nuôi chuồng nền thì tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy từ 40 - 45%

Theo Trần Thị Dân (2008) [1], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 - 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy, cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo

vệ cơ thể chống lại mầm bệnh

- Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [2], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu

- Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh,

ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể giảm đi

Trang 22

là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh

- Nhu cầu Fe trong máu rất cần thiết cho duy trì Hemoglobin (Hb) và dự trữ cho cơ thể phát triển Ở lợn sơ sinh, trong 100ml máu có 10,9 mg Hb, sau 10 ngày tuổi chỉ còn 4 - 5mg Nếu lợn con chỉ nhận Fe qua sữa sẽ thiếu Fe dẫn đến thiếu máu gây suy dinh dưỡng, ỉa phân trắng

- Các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm

Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75- 85% Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng là

vô cùng quan trọng

- Chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ

đó gây rối loạn tiêu hóa Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy thay đổi theo sự biến đổi hàng tháng của nhiệt độ, độ ẩm trung bình, cụ thể là có sự tương quan thuận với độ ẩm và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó, để hạn chế tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy lợn con, thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, thú y, cần đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp

- Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [2], khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1 gam phân tăng lên so với ở lợn không

bị tiêu chảy Khi phân lập tác giả thấy rằng các vi khuẩn đóng vai trò quan trọng

trong hội chứng tiêu chảy như: E.coli, Salmonella và Streptococcus tăng lên trong khi Staphylococcus và Bacillus subtilis giảm đi

- Theo Nguyễn Bá Hiên (2001) [4], nghiên cứu biến động của vi khuẩn đường ruột thường gặp ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy đã chỉ ra rằng, khi

lợn bị tiêu chảy, số lượng vi khuẩn E coli trung bình tăng 1,9 lần

- Theo Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hoa (2012) [5], hội chứng rối loạn

hô hấp và sinh sản(PRRS) gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi lợn, đặc biệt là lợn con sau cai sữa có tỷ lệ mắc bệnh cao vì đây là lứa tuổi lợn dễ mẫn cảm, sức

đề kháng yếu Nghiên cứu này được tiến hành trên đàn lợn sau cai sữa từ 3 - 6 tuần tuổi Lợn sau cai sữa bị mắc PRRS có biểu hiện bỏ ăn, chán ăn, sốt cao, da mẩn đỏ, khó thở Phổi lợn bệnh có hiện tượng sung huyết, xuất huyết, viêm phổi

Trang 23

Hạch lâm ba sưng to, tụ máu Thận có xuất huyết lấm tấm Xoang bao tim tích nước Các tổn thương vi thể bao gồm thâm nhiễm tế bào viêm, phế quản phế viêm hoặc phế phổi thùy, xuất huyết cầu thận , bể thận

- Theo Nguyễn Trung Tiến và cs (2015) [11], dịch tiêu chảy cấp tính trên lợn (Porcine Epldemic Diarrhea - PED) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy

hiểm do một loại vi rút thuộc họ Coronaviridae gây ra Dịch PED xảy ra quanh

năm nhưng thường phổ biến hơn vào mùa đông và trên 90% ca bệnh xảy ra ở lợn con dưới 7 ngày tuổi Trong nghiên cứu này 148 mẫu bệnh phẩm là các mẫu phân và ruột của lợn nghi mắc bệnh PED thu thập được từ 3 tỉnh là Quảng Trị, Thái Nguyên và Thái Bình từ năm 2013 - 2014 đã được chẩn đoán bằng phương pháp RT - PRC Kết quả chẩn đoán cho thấy 57/148 (38,51%) mẫu bệnh phẩm dương tính với vi rút PED Kết quả phân tích trình tự nucleotide và amino acid trên cơ sở giải trình tự một phân gen S (spike gene) cho thấy các chủng vi rút PED thu thập được trong nghiên cứu này có tỉ lệ tương đồng về nuleotide và amino acid rất cao khi so sánh với các chủng vi rút PED tham chiếu khác trước đây của Việt Nam, tỷ lệ tương đồng nucleotide từ 94,8 - 98,6% và amino acid từ 93,5 - 98,8% Kết quả phân tích cây phả hệ cho thấy các chủng vi rút PED trong nghiên cứu này thuộc nhóm G1-1

- Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa,

là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù Nếu xét về nguyên nhân chính

gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi khuẩn E.coli gây ra, bệnh phó thương hàn lợn do vi khuẩn Samonella cholerae suis gây ra, bệnh viêm

dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do Coronavirus gây ra …

- Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75%

Trang 24

trở lên gọi là hiện tượng tiêu chảy Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra đồng thời nên gọi là hội chứng tiêu chảy Cho dù do bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả nghiêm trọng là mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức, những gia súc khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn Đặc biệt khi gia súc

bị tiêu chảy nặng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa dẫn đến gia súc có thể chết với tỷ lệ cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế

- Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả

đã kết luận rằng trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng có vai trò tác động của vi khuẩn Trong đường ruột của gia súc nói chung và của lợn nói riêng, có rất nhiều loài vi sinh vật sinh sống Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng hệ sinh thái Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng động theo hướng có lợi cho cơ thể vật chủ Hoạt động sinh lý của gia súc chỉ diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu hóa của con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong hệ vi sinh vật đường ruột Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái cân bằng này bị phá vỡ dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng khi gặp những điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh

- Các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy chủ yếu là:

+ Escherichia coli (thường được viết tắt là E coli) hay còn được gọi là vi

khuẩn đại tràng là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú) Vi khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần của khuẩn lạc ruột Sự có mặt

của E coli trong nước ngầm là một chỉ thị thường gặp cho ô nhiễm phân E.coli thuộc họ vi khuẩn Enterobacteriaceae và thường được sử

dụng làm sinh vật mô hình cho các nghiên cứu về vi khuẩn

Trang 25

Hình thái: E.coli là một trực khuẩn Gram âm, hình gậy ngắn, kích thước

2-3x 0,6 µ Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông xung quanh thân nên có thể di động được, không hình thành nha bào, có thể có giáp mô

Độc tố: vi khuẩn E.coli tạo ra 2 loại độc tố là nội độc tố và ngoại độc tố

Ngoại độc tố: là một chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá hủy ở 56°C trong vòng 10 - 30 phút Dưới tác dụng của formon và nhiệt ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính thần kinh và gây hoại tử

Nội độc tố: là yếu tố gây độc nằm trong tế bào vi khuẩn và gắn với tế bào

vi khuẩn rất chặt Nội độc tố có tính kháng nguyên hoàn toàn, chịu nhiệt và có khả năng sinh choáng mạch máu

+ Salmonella: đây là những trực khuẩn Gram âm, hiếu khí tùy ý, hầu hết

các Salmonella đều có lông xung quanh thân (trừ Salmonella gallinarum và

Salmonella pullorum) vì vậy có khả năng di động, không sinh nha bào kích

thước khoảng 0,4-0,6 x 2-3 μm

+ Salmonella lên men glucose có sinh hơi (trừ Salmonella typhi lên men

glucose không sinh hơi) không lên men lactose, indol âm tính, đỏ methyl dương tính, VP âm tính, citrat thay đổi, urease âm tính H2S dương tính (trừ Salmonella

Dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường

- Nhiệt độ phát triển từ 5 – 45 oC, thích hợp ở 37 oC, pH thích hợp = 7,6 nhưng nó có thể phát triển được ở pH từ 6 - 9 Với pH > 9 hoặc < 4,5 vi khuẩn

có thể bị tiêu diệt, khả năng chịu nhiệt của vi khuẩn kém: ở 50 oC trong 1 giờ, ở

70 oC trong 15 phút và 100 oC trong 5 phút

- Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [9], ở nồng độ muối 6 - 8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ muối là 8 - 19% sự phát triển của vi khuẩn

bị ngừng lại

- Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh,

ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức

Trang 26

năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể giảm đi

là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh

- Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ đem lại sức khỏe và tăng trưởng cho lợn Khi thức ăn chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật chăm sóc không phù hợp, là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh

- Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Trong các loại độc tố nấm mốc thì aflatoxin là loại độc tố được quan tâm nhất hiện nay

- Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protit và axitamin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng γ - globulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh

- Nếu khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là nguyên nhân làm cho lợn con dễ mắc bệnh Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều hòa thức ăn đạm và chất béo Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương, cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuẩn đường ruột tăng độc lực và gây bệnh

- Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường Thiếu một vitamin

sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

-Theo Smith H W và Halls S (1976) [17], có hai loại độc tố là thành

phần chính của enterotoxin được tìm thấy ở các vi khuẩn E coli gây bệnh Sự

khác biệt của hai loại độc tố này là khả năng chịu nhiệt Độc tố chịu nhiệt (heat

Ngày đăng: 27/05/2020, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w