ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LƯƠNG MINH HUYỀN MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÒNG TỰ TRẮC ẨN VÀ MỨC ĐỘ TRẦM CẢM CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG MINH HUYỀN
MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÒNG TỰ TRẮC ẨN VÀ MỨC ĐỘ TRẦM CẢM CỦA
SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Tâm lý học Nghiên cứu
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG MINH HUYỀN
MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÒNG TỰ TRẮC ẨN VÀ MỨC ĐỘ TRẦM CẢM CỦA
SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS TRẦN THU HƯƠNG
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của.TS Trần Thu Hương Kết quả nghiên cứu thực tiễn là trung thực, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng được tiến hành trên khách thể sinh viên tại các trường Đại học, Cao Đẳng trên địa bàn tp.Hà Nội
Học viên
Lương Minh Huyền
Trang 4Học viên
Lương Minh Huyền
Trang 5DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Khách thể nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5.1 Nghiên cứu lý luận 4
5.2 Nghiên cứu thực tiễn 4
6 Câu hỏi nghiên cứu: 5
7 Giải thuyết nghiên cứu 5
8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HÊ GIỮA LÒNG TỰ TRẮC ẨN VÀ MỨC ĐỘ TRẦM CẢM CỦA SINH VIÊN 6
1 Tổng quan các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn trong và ngoài nước 6
1.1 Các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn 6
1.2 Các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn và sức khỏe tâm thần 10
1.3 Các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn và các yếu tố ảnh hưởng 13
1.4 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và trầm cảm 16
2 Các nghiên cứu về trầm cảm 20
3 Khái niệm cơ bản của đề tài 25
3.1 Khái niệm lòng tự trắc ẩn 25
3.1.1 Định nghĩa lòng trắc ẩn 25
3.1.2 Định nghĩa lòng tự trắc ẩn 26
Trang 73.1.3 Các thành tố của lòng tự trắc ẩn 27
3.2 Khái niệm trầm cảm 30
3.2.1 Định nghĩa trầm cảm 30
3.2.2 Các triệu chứng đặc trưng dùng chẩn đoán trầm cảm theo DSM-V 32
3.2.3 Các mức độ trầm cảm theo DSM-V 37
3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm của sinh viên 39
3.3 Khái niệm sinh viên 41
3.3.1 Định nghĩa sinh viên 41
3.3.2 Đặc điểm tâm lý của sinh viên 41
3.4 Khái niệm mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên 42
3.4.1 Khái niệm lòng tự trắc ẩn của sinh viên 42
3.4.2 Các thành tố lòng tự trắc ẩn của sinh viên 42
3.4.3 Khái niệm trầm cảm của sinh viên 43
3.4.4 Các mức độ trầm cảm của sinh viên 46
3.4.5 Khái niệm mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên các trường ĐH, CĐ Hà Nội 47
Tiểu kết chương 1 48
CHƯƠNG II: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA LÒNG TỰ TRẮC ẨN VÀ MỨC ĐỘ TRẦM CẢM CỦA SINH VIÊN 50
1 Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu 50
1.1 Mẫu nghiên cứu 50
1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 51
1.3 Độ tin cậy của thang đo lòng tự trắc ẩn 52
1.4 Độ tin cậy của thang đo trầm cảm 53
2 Tổ chức nghiên cứu: 53
2.1 Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài 54
Trang 82.3 Giai đoạn 3: Xử lý số liệu và viết báo cáo 54
3 Phương pháp nghiên cứu 54
3.1 Phương pháp phân tích tài liệu 54
3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 55
3.3 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học 58
3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 59
3.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 59
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÒNG TỰ TRẮC ẨN VÀ MỨC ĐỘ TRẦM CẢM CỦA SINH VIÊN 61 1.1 Thực trạng lòng tự trắc ẩn của sinh viên 61
1.2 Mức độ lòng tự trắc ẩn của sinh viên 62
1.3 So sánh lòng tự trắc ẩn ở các nhóm sinh viên theo đặc điểm nhân khẩu 66
2.1 Mức độ trầm cảm của sinh viên 69
2.2 So sánh mức độ trầm cảm ở các nhóm sinh viên theo đặc điểm nhân khẩu 71
3.1 Mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên ĐH, CĐ trên địa bàn Hà Nội 72
3.1.1 Phân tích tương quan giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên ĐH,CĐ trên địa bàn Hà Nội 72
3.1.2 Phân tích chân dung điển hình 75
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
1.1 Về mặt lý thuyết 88
1.2 Về mặt nghiên cứu thực tiễn 88
2 Kiến nghị 89
2.1 Đối với sinh viên 89
2.2 Đối với gia đình, bạn bè 90
2.3 Đối với nhà trường, giáo viên 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 9PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN 96
PHỤ LỤC 105
Biên bản phỏng vấn sâu 2 110
Biên bản phỏng vấn sâu 3 118
Biên bản phỏng vấn sâu 4 123
Biên bản phỏng vấn sâu 5 126
PHỤ LỤC 2: CÁC KẾT QUẢ THU ĐƢỢC QUA XỬ LÝ SPSS 130
Trang 10DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Phân bổ khách thể nghiên cứu theo đặc điểm nhân khẩu……….52
Bảng 2.2: Hệ số Alpha (α) của thang đo tự trắc ẩn 53
Bảng 2.3: Hệ số Alpha (α) của thang đo trầm cảm 53
Sơ đồ 3.1: Tương quan giữa các thành tố của lòng tự trắc ẩn 62
Bảng 3.2: Tiêu chí phân loại điểm trung bình thang đo lòng tự trắc ẩn 63
Bảng 3.3: Phân bố điểm trung bình lòng tự trắc ẩn của sinh viên 63
Bảng 3.4: So sánh lòng tự trắc ẩn ở các nhóm sinh viên 67
Bảng 3.5: Phân bố mức độ trầm cảm của sinh viên 70
Bảng 3.6: So sánh mức độ trầm cảm ở các nhóm sinh viên 72
Mô hình 3.7: Mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên ĐH, CĐ Hà Nội 73
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, Việt Nam cũng đang n lực đổi mới và phát triển không ngừng, từ một đất nước có nền tảng nông nghiệp trở thành nước có nền công nghiệp phát triển, hòa nhập với nền v n minh Thế giới Để có được sự phát triển đó, chúng ta phải học tập nhiều hơn, lao động n ng suất hơn và không ngừng cố gắng hết sức để hoàn thiện bản thân Điều này vô tình kéo theo rất nhiều sự thay đổi trong đời sống của người Việt nói chung, đặc biệt là thế hệ sinh viên Việt Nam nói riêng Đáng lo ngại hơn cả là những nguy cơ về rối nhiễu tâm lý như lo âu, trầm cảm, ám ảnh hay các chứng hoang tưởng, tâm thần phân liệt, động kinh Trong đó, trầm cảm là một hiện tượng bệnh lý xuất hiện ngày càng nhiều trong cuộc sống hiện nay
Trầm cảm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội Hàng n m nhà nước phải trích một phần không nhỏ ngân quỹ để nghiên cứu, điều trị, và tuyên truyền về phòng ngừa về trầm cảm, trầm cảm với các triệu chứng của
nó ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các mặt sinh hoạt, tác động lên cá nhân của chủ thể có bệnh như giảm khí sắc, mất hứng thú lao động, học tập, dòng tư duy hoạt động chậm chạp hay kém hiệu quả, hành vi, thái độ không phù hợp với cả bản thân bệnh nhân và các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra Trầm cảm không chỉ ảnh hưởng lên bản thân người bệnh mà còn ảnh hưởng đến những người xung quanh bởi
vì những cảm giác, tâm trạng buồn chán đơn thuần nó không đủ mạnh để bộc lộ hết lên trên bề mặt của nhân cách, hành vi của người bị bệnh Thế nhưng, hiện nay trầm cảm vẫn là một khái niệm vẫn còn khá mơ hồ chưa được nhìn nhận một cách khoa học, chúng ta có thói quen nghĩ rằng những cảm giác buồn của người khác sẽ nhanh chóng qua mau, tệ hơn chúng ta có xu hướng tin rằng đấy là một tâm trạng, cảm giác khá bình thường, ai chả thế Nhiều lúc ta không thể tin rằng vì sao một cá nhân
bề ngoài khỏe mạnh, hoạt bát, công việc ổn định, có gia đình như vậy lại có thể mắc bệnh trầm cảm Ở xã hội hiện đại con người ít có thời gian dành riêng cho những
Trang 12nhu cầu riêng tư của mình, cho gia đình mình điều này đúng đặc biệt với những người ở độ tuổi trưởng thành
Theo báo cáo trong hội thảo Vì ngày sức khỏe (04/2017), Viện sức khỏe Tâm
thần Quốc gia đã công bố số liệu thống kê: Trong n m 2016, Viện sức khỏe tâm thần khám và điều trị ngoại trú 18.402 lượt bệnh nhân trầm cảm (chiếm 30%), điều trị nội trú 446 lượt bệnh nhân (chiếm 13,0%); Trung bình m i ngày có 50 bệnh nhân đến khám và điều trị về trầm cảm; ở những bệnh nhân từ 45 tuổi bị trầm cảm
có 36,5% bệnh nhân có ý tưởng hoặc hành vi tự sát Bệnh nhân trầm cảm đang có
xu hướng gia t ng, tập trung nhiều ở lứa tuổi: người trẻ (16 - 27 tuổi) và người già (60 - 65 tuổi)
Tác giả Trần Kim Trang (2012) trong nghiên cứu Stress u và tr c
ở sinh vi n y kh , phân tích trên 483 sinh viên n m thứ 2 khoa y và r ng hàm mặt
Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng thang đánh giá DASS-21, cũng
đã cho thấy kết quả đáng lo ngại rằng: tỉ lệ sinh viên bị stress, trầm cảm và lo âu lần lượt là 71,4%; 28,8%; 22,4%, đa số ở mức độ nh và vừa; 52,8% sinh viên có cùng
3 dạng rối loạn trên
Chúng tôi nhận thấy nguyên nhân chung được các tác giả nói đến là do đặc điểm tâm lý của sinh viên khi vừa phải trang bị một vốn kiến thức khổng lồ để hình thành nên những kỹ n ng nghề nghiệp, lại vừa phải tu dưỡng đạo đức, lo lắng về kinh tế, tìm kiếm công việc tương lai và đặc biệt là các mối quan hệ ngày càng phức tạp và đa dạng hơn Những yếu tố đó vô hình chung đã tạo nên một áp lực không nhỏ tác động mạnh đến sức khỏe tinh thần và tâm sinh lý của sinh viên
Trên thực tế, nhiều người thường chọn cách đối xử khắc nghiệt với bản thân, thường xuyên tự chỉ trích và tự cô lập để né tránh cảm giác thất bại, khiến cuộc sống của họ trở nên kém hạnh phúc Để đối phó với những cảm xúc tiêu cực đó, chúng ta cần phải được giải phóng, vượt qua sự đau khổ, điều chỉnh nhận thức - hành vi - cảm xúc để có thể tự yêu thương bản thân và thích ứng tốt với môi trường
tự nhiên - xã hội luôn biến đổi
Trang 13Trong đó, chủ đề về Lòng tự trắc ẩn – Self-c p ssi n” công bố bởi
Kristin D Neff từ n m 2003, đã được các nhà Tâm lý học Tích cực trên toàn Thế Giới đặc biệt quan tâm và hàng tr m nghiên cứu khoa học về chủ đề này được công
bố trên toàn Thế giới Tuy nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu khoa học về lòng tự trắc ẩn còn rất thiếu vắng Chủ đề này mới được quan tâm nghiên cứu vào n m
2017 trên tạp chí Tâm lý học bởi tác giả Trần Thu Hương và Trần Minh Điệp với
nghiên cứu Đánh giá òng tự trắc ẩn: Một nghi n cứu định ượng ở sinh vi n Việt
Nam” Tiếp theo đó là 2 khóa luận tốt nghiệp n m 2017: Mối i n hệ giữ òng tự trắc ẩn và ức độ hạnh phúc củ sinh vi n Việt N ” của tác giả Trần Minh Điệp
và Mối i n hệ giữ òng tự trắc ẩn và ức độ stress củ sinh vi n Việt N ” của
tác giả Lê Trần Vân Anh cũng đã đóng góp vào bức tranh nghiên cứu về Lòng trắc
ẩn tại Việt Nam
Theo nghiên cứu về mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và trầm cảm
Rumination and worry as mediators of the relationship between self-compassion and depression and anxiety , công bố bởi tác giả Filip Raes: Các tác động trung
gian của tin đồn và lo lắng đã được kiểm tra trong mối quan hệ giữa tự trắc ẩn và trầm cảm, lo lắng 271 sinh viên đại học đã hoàn thành các phương pháp tự trắc ẩn, trầm cảm và lo lắng Kết quả cho thấy, đối với mối quan hệ giữa tự trắc ẩn và trầm cảm, chỉ có tin đồn nổi lên như một trung gian hòa giải đáng kể Các kết quả hiện tại cho thấy lòng trắc ẩn có tác dụng đối với trầm cảm và lo lắng là thông qua các tác động tích cực của nó đối với suy nghĩ lặp đi lặp lại không hiệu quả
Mặc dù có nhiều bằng chứng khoa học đã chứng minh lòng tự trắc ẩn có vai trò tích cực trong việc giúp con người gia t ng hạnh phúc cá nhân, đối mặt và vượt qua các nguy cơ mắc các bệnh về sức khỏe tâm thần Tuy nhiên ở Việt Nam khái niêm về lòng tự trắc ẩn chưa thực sự được quan tâm và nghiên cứu và đặc biệt khi đặt trong mối quan hệ với sức khỏe tâm thần trong đó có trầm cảm là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng người có lòng tự trắc ẩn
có xu hướng ít phán xét bản thân, ít bị lo âu, trầm cảm…hơn Như vậy đây là một
Trang 14cho sinh viên có thêm thông tin và nhận thức về lòng tự trắc ẩn và những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của lòng tự trắc ẩn đến sức khỏe tâm thần, đặc biệt là trầm cảm,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ
trầm cảm của sinh viên các trường Đại Học, Cao Đẳng tại tp Hà Nội” và trên cơ
sở đó góp phần đưa ra những gợi ý, kiến nghị giúp phòng ngừa và điều trị trầm cảm
ở sinh viên
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tiếp nhận những cơ sở lý luận về lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm từ những nghiên cứu trong và ngoài nước Thông qua việc tìm hiểu về thực trạng lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên một số trường Đại Học, Cao Đẳng tại tp Hà Nội từ đó phân tích mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm, những yếu tố ảnh hưởng đến lòng tự trắc ẩn và trầm cảm Đồng thời, đưa
ra một số kiến nghị nhằm nâng cao lòng tự trắc ẩn và làm giảm mức độ trầm cảm ở
sinh viên 3 Đối tượng nghiên cứu
Lòng tự trắc ẩn và Mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn với mức độ trầm cảm của sinh viên các trường Đại Học, Cao Đẳng tại tp Hà Nội
4 Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 501 khách thể là sinh viên một số trường
Đại Học, Cao Đẳng tại tp Hà Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận
• Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài để làm rõ:
• Khái niệm lòng tự trắc ẩn (định nghĩa, các thành tố)
• Khái niệm trầm cảm (định nghĩa, đặc điểm)
• Sự tương quan giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên các trường Đại Học, Cao Đẳng tại tp Hà Nội
5.2 Nghiên cứu thực tiễn
• Khảo sát thực trạng mức độ tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên các
trường Đại Học, Cao Đẳng tại tp Hà Nội;
Trang 15• Phân tích mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên các trường Đại Học, Cao Đẳng tại tp Hà Nội;
• Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp để nâng cao mức độ tự trắc ẩn và giảm mức độ trầm cảm của sinh viên
6 Câu hỏi nghiên cứu:
• Sinh viên ở một số trường Cao Đẳng – Đại Học tại thành phố Hà Nội có lòng
7 Giải thuyết nghiên cứu
• Hầu hết các khách thể nghiên cứu đều có lòng tự trắc ẩn ở mức độ cao và
mức độ trầm cảm thấp
• Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên ở các trường Cao Đẳng – Đại Học thuộc khối ngành/quê
quán/giới tính/tình trạng kinh tế khác nhau
• Có mối tương quan nghịch giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh
viên một số trường Đại Học, Cao Đẳng tại tp Hà Nội
8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
• Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ 03/2019 đến tháng 09/2019
• Địa điểm nghiên cứu: Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân V n – Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Khoa học Tự nhiên V n – Đại học Quốc Gia Hà Nội, Cao Đẳng Nghệ Thuật Hà Nội, Đại học Ngân Hàng, Đại học Sư phạm, Đại học Kinh tế Quốc Dân, Học viện Quân Y
• Giới hạn khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu trên sinh viên chính quy các trường Đại học và Cao đẳng trên địa bàn tp Hà Nội
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HÊ GIỮA LÒNG
TỰ TRẮC ẨN VÀ MỨC ĐỘ TRẦM CẢM CỦA SINH VIÊN
1 Tổng quan các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn trong và ngoài nước
1.1 Các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn
Lòng tự trắc ẩn (self-compassion) đã được Kristin D Neff định nghĩa và
công bố thang đo dựa trên hệ thống nghiên cứu về triết lý Phật giáo trong bài viết khoa học của bà vào n m 2003
Kristin D Neff (2003b) cho rằng: Lòng tự trắc ẩn là những thái độ, cảm xúc tích cực về bản thân, bảo vệ chúng ta khỏi hậu quả tiêu cực của sự tự đánh giá, sự
cô lập và sự suy ngẫm Lòng tự trắc ẩn đơn gi n à òng trắc ẩn hướng và nội
t b n th n t i n hệ với chính t như à đối tượng củ sự qu n t và chă sóc khi đối ặt với các tr i nghiệ đ u khổ (Neff, 2003b, tr.224) Giống như cách
chúng ta ch m sóc, đối xử tử tế và thể hiện lòng trắc ẩn với những người xung quanh khi họ đang đau khổ, lòng tự trắc ẩn là áp dụng những điều đó đối với chính mình
Mặc dù mọi người thường coi trọng việc tử tế và trắc ẩn với người khác, nhưng họ thường khắc nghiệt và không quan tâm đến chính bản thân Sự tự tập trung cao độ xảy ra khi mọi người đối mặt với những hạn chế của bản thân đôi khi
có thể dẫn đến một loại suy nghĩ quá mức và mang theo những cảm giác tiêu cực về bản thân Cảm giác bị cô lập cũng có thể xảy ra khi mọi người quên mất rằng thất bại và không hoàn hảo là một phần trải nghiệm của tất cả con người, vì vậy mà nó khuếch đại và làm trầm trọng thêm sự đau khổ Mặt khác, lòng tự trắc ẩn liên quan đến việc đối xử tốt với bản thân khi cá nhân tự xem xét những điểm yếu của mình Lòng tự trắc ẩn được Neff xác định và đo lường khi gia t ng tính tích cực với
xu hướng giảm phản ứng tiêu cực trong thời gian c ng thẳng của cá nhân Lòng tự trắc ẩn đòi hỏi cá nhân phải tử tế hơn, h trợ nhiều hơn và ít phán xét gay gắt hơn với bản thân Nó liên quan đến sự thừa nhận những trải nghiệm của con người, hiểu rằng tất cả con người đều không hoàn hảo và có cuộc sống không toàn v n, nó
Trang 17khiến cảm giác tự cô lập bởi sự không hoàn hảo của bản thân giảm đi Nó đòi hỏi cá nhân phải có nhận thức chánh niệm về sự đau khổ và khiến chúng ta suy nghĩ ít hơn
về các khía cạnh tiêu cực của bản thân hoặc một trải nghiệm không tốt trong cuộc sống
Ba thành phần cốt lõi của lòng tự trắc ẩn theo mô hình lý thuyết của Dr.Kristin Neff : Nhân ái với bản thân; Tính tương đồng nhân loại; Chánh niệm Neff định nghĩa lòng tự trắc ẩn là một trạng thái của tâm trí liên quan đến việc t ng lòng tự trọng và giảm sự tự phán xét, t ng tính nhân v n và giảm sự cô lập, t ng chánh niệm
và giảm quy chụp quá mức, và đề xuất rằng các yếu tố này cùng loại ảnh hưởng lẫn nhau
Nh n ái với b n th n có nghĩa là chúng ta xoa dịu và an ủi bản thân khi ở
trong đau đớn Nó cung cấp cho chúng ta sự h trợ và lòng tốt khi chúng đưa ra sự yêu cầu đối với người bạn thân rằng mình đang đau khổ, cần họ giúp đỡ bằng cách đưa ra một cái ôm thay vì một lời chỉ trích Điều đó cũng giống như chúng ta đang
tự ch m sóc bản thân vì lợi ích lâu dài, chúng ta đưa bản thân vào danh sách ưu tiên
Tính tương đồng nh n ại liên quan đến việc nhận ra rằng đau khổ là một
phần của con người Không ai trong chúng ta là người duy nhất phải chịu sự đau khổ Làm người là chấp nhận n i đau, thử thách, thất bại và bất hạnh sẽ xảy ra
Chánh niệ cho phép chúng ta ở bên và xác nhận n i đau của mình một cách
cởi mở và chấp nhận Chúng ta phải chú ý rằng chúng ta đau khổ để làm bất cứ điều
gì để hàn gắn và thay đổi n i đau đó Chúng ta học cách nhìn rõ và chấp nhận rằng chúng ta sẽ thay đổi để có thể phản ứng khôn ngoan hơn trước những thách thức của cuộc sống thay vì phản ứng mà không cần suy nghĩ
Trên cơ sở lý thuyết về khái niệm và các yếu tố cấu thành, trong báo cáo
Development and validation of a scale to measure self - compassion, Neff (2003) đã
công bố thang đo về Lòng tự trắc ẩn - Self-Compassion Scale (SCS), gồm 26 items
đánh giá những suy nghĩ, cảm xúc, và hành vi khác nhau để thấy được những chiều kích khác nhau của lòng tự trắc ẩn; đánh giá sáu yếu tố phản ánh hai mặt tiêu cực và
Trang 18bản thân/tự chỉ trích, tính tương đồng nhân loại/tự cô lập, và chánh niệm/đồng nhất quá mức Trong ấn phẩm gốc (Neff, 2003a), tổng điểm SCS đã chứng minh độ tin cậy cao (Cronbach's α = 0,92), cũng như sáu thành tố của nó (Cronbach's α dao động từ 0,75 đến 0,81) Độ tin cậy kiểm tra lại trong khoảng thời gian ba tuần cũng tương đồng số điểm tin cậy của độ (Cronbach's α = 0,93) và sáu điểm số dưới mức (với giá trị α của Cronbach từ 0,80 đến 0,88) Hơn nữa, độ tin cậy cao của điểm SCS đã được chứng minh trên nhiều loại khách thể khác nhau (Neff et al., 2018) Trong bài viết này, bà cũng đưa ra các lập luận chứng minh tính khoa học của thang
đo về độ tin cậy, phân tích các nhân tố Đồng thời bà cũng chỉ ra mối tương quan giữa thang đo này với các thang đo Lòng tự trọng của Rosenberg (Rosenberg Self-Esteem Scale), thang đo Sự tự chấp nhận của Berger (Berger’s Self-Acceptance Scale), thang đo Sự tự xác định bản thân (Self-Determination Scale) và thang đo các nhu cầu tâm lý cơ bản (Basic Psychological Needs Scale)
Nghiên cứu của Neff và cộng sự (2005) đã chỉ ra mối tương quan thuận giữa lòng tự trắc ẩn và thái độ thích ứng đối với việc học và ứng phó với thất bại, việc duy trì những mục tiêu quyền lực - động lực để học tập và hoàn thiện Ngược lại, bà cũng chỉ ra mối tương quan nghịch với những mục tiêu thể hiện - động lực để nâng cao hình ảnh bản thân Những mối liên hệ này đã được tìm hiểu qua trung gian bởi
n i sợ thất bại ít hơn và n ng lực nhận thức cao hơn của những sinh viên có lòng tự trắc ẩn Ngoài ra, khi các cá nhân đối mặt với thất bại hoặc suy nghĩ về điểm yếu của bản thân, lòng tự trắc ẩn có liên quan đến mong muốn cải thiện bản thân nhiều hơn (Zhang & Chen, 2016) Những sinh viên đại học được gợi mở về lòng trắc ẩn trước một điểm yếu của bản thân có nhiều khả n ng mong muốn cải thiện bản thân
và dành nhiều thời gian hơn để học bài kiểm tra sau khi thất bại trước đó (Breines & Chen, 2012)
Mặc dù lòng tự trắc ẩn tương tự như lòng tự trọng ở ch nó đòi hỏi phải trải nghiệm cảm xúc tích cực thay vì cảm xúc tiêu cực đối với bản thân, thì hai khái niệm này vẫn có sự khác biệt rõ ràng Đối với một người, lòng tự trọng dựa trên những đánh giá tích cực về bản thân (line with James’s and Cooley’s definitions)
Trang 19Tự trắc ẩn, mặt khác, không phải là một loại tự đánh giá hoặc đại diện nhận thức cụ thể của bản thân Các cá nhân có lòng tự trắc ẩn lại ít có nhu cầu nâng cao hoặc bảo
vệ bản ngã của họ hơn những người được thúc đẩy bởi sự duy trì lòng tự trọng, cảm giác không thỏa đáng được đáp ứng bằng sự chấp nhận thay vì đánh giá và phán xét Ngoài ra, lòng tự trọng thường được khẳng định dựa trên cảm giác muốn trở nên đặc biệt, nổi bật trong đám đông Hầu hết mọi người, đặc biệt là trong v n hóa
Mỹ, người dân Haiti sẽ cảm thấy rằng việc được gọi là ở mức trung bình là một sự xúc phạm Ngược lại, lòng tự trắc ẩn được khẳng định dựa trên sự thừa nhận các khía cạnh chia sẻ và phổ quát của kinh nghiệm sống và do đó có xu hướng làm nổi bật những điểm tương đồng hơn là khác biệt với những người khác Ngoài ra, trong khi lòng tự trọng thường phụ thuộc vào việc đạt được thành công với các mục tiêu, thì lòng tự trắc ẩn lại được cảm nhận chính xác khi cuộc sống không suôn sẻ, cho phép khả n ng phục hồi và ổn định cao hơn
Trong nghiên cứu Self-compassion and Psychological Resilience Among
Ad escents nd Y ung Adu ts”, Neff đã chứng minh rằng không có sự khác biệt
đáng kể về mức độ tự trắc ẩn ở thanh thiếu niên và người trưởng thành Tuy nhiên,
có một sự khác biệt đáng kể về giới tính được tìm thấy trong mẫu người trưởng thành trẻ tuổi, với nữ giới báo cáo lòng tự trắc ẩn ít hơn nam giới Lòng tự trắc ẩn
có tương quan thuận đến hạnh phúc và cảm giác kết nối xã hội của thanh thiếu niên cũng như người trưởng thành và tương quan nghịch đáng kể với trầm cảm và lo lắng Không có sự khác biệt đáng kể trong mức độ của mối tương quan được tìm thấy giữa thanh thiếu niên và người trưởng thành khi so sánh (Neff, 2010)
Tại Việt Nam, lòng tự trắc ẩn đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu với những nghiên cứu khoa học về chủ đề này do Trần Thu Hương và Trần Minh Điệp thuộc khoa Tâm lý học, ĐHQGHN công bố vào n m 2017
Nghiên cứu Đánh giá òng tự trắc ẩn: Một nghi n cứu định ượng ở sinh
vi n Việt N đã bước đầu thích ứng thang đo lòng tự trắc ẩn trên khách thể sinh
viên Việt Nam và chỉ ra rằng: "Để đạt tới sự tự trắc ẩn, Chánh niệm là thành tố
Trang 20trong cuộc sống Có mối tương quan có ý nghĩa giữa các thành tố của lòng tự trắc
ẩn và giữa chúng với lòng tự trắc ẩn nói chung Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về các cấu thành trong thang đo SCS-26 giữa các nhóm giới tính, ngành học, vùng miền " (Trần Thu Hương & Trần Minh Điệp, 2017, tr.13)
1.2 Các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn và sức khỏe tâm thần
Nghiên cứu của Adams và cộng sự cũng cho thấy lòng tự trắc ẩn có liên quan đến sức khỏe tâm lý Mức độ lòng tự trắc ẩn cao có liên quan đến sự hài lòng với cuộc sống, trí tuệ cảm xúc, kết nối xã hội và mục tiêu làm chủ cao hơn, cũng như ít
tự phê bình, trầm cảm, lo lắng, đồn đoán, ức chế suy nghĩ, cầu toàn, mục tiêu thực hiện và rối loạn hành vi n uống (Adams & Leary, 2007; Neff, 2003a; Neff, Hsei, & Dejitthirat, 2005; Neff, Kirkpatrick, & Rude, 2007)
Lòng tự trắc ẩn mô tả một thái độ chánh niệm và nhân từ đối với chính mình khi đương đầu với thất bại, điểm yếu cá nhân hoặc đối mặt với n i đau thể xác Lòng tự trắc ẩn vì thế có liên quan tích cực với hạnh phúc (Zessin và cộng sự, 2015) Neff, Rude và Kirkpatrick (2007) phát hiện ra rằng lòng tự trắc ẩn có liên quan đến sự gia t ng trí tuệ và tình cảm, sáng kiến cá nhân, sự tò mò và khám phá, hạnh phúc, lạc quan và ảnh hưởng tích cực Họ cũng nhận thấy rằng lòng tự trắc ẩn có liên quan đến sự thái quá, hiềm khích và chủ nghĩa tiêu cực, mặc dù lòng tự trắc ẩn vẫn dự đoán phương sai duy nhất trong hoạt động tích cực sau khi kiểm soát các biến nhân cách
Trong nghiên cứu Compassion and Wisdom in Psychotherapy (2012), Neff
cho rằng, so với lòng tự trọng, lòng tự trắc ẩn có thể mang lại cho con người khả
n ng phục hồi cảm xúc tốt hơn, cũng như khả n ng tự nhận thức bản thân rõ ràng hơn, khiến cá nhân quan tâm đến các mối quan hệ nhiều hơn, đồng thời giảm mức
độ lòng tự ái và các phản ứng tiêu cực Bà quan niệm rằng lòng tự trọng thể hiện mức độ trân trọng giá trị bản thân, và thường dựa trên việc so sánh với người khác Lòng tự trọng cao đồng nghĩa với việc trở nên nổi bật giữa đám đông, ngược lại, lòng tự trắc ẩn không dựa trên những phán xét hay đánh giá tích cực của người khác
Trang 21mà dựa vào cách chúng ta liên hệ với chính mình Con người cảm thấy tự trắc ẩn vì
họ là con người, không phải vì họ thấy mình đặc biệt hay vượt trội hơn người khác
Nghiên cứu Men’s Self-Compassion and Self-Esteem: The Moderating Roles of Shame and Masculine Norm Adherence Psychology of Men Masculinity ; chỉ ra lòng tự trắc ẩn và lòng tự trọng có tương quan thuận, khá chặt với nhau (r=0,51, p<0,01) (Reilly, E D., Rochlen, A B.; Awad, G H., 2013, tr.3) Một nghiên cứu khác mang tên The Relationships Between Psychological Flexibility, Self-Compassion, and Emotional Well-Being cho thấy: lòng tự trắc ẩn có tương quan thuận và chặt với lòng tự trọng (r= 0,67,p<0,01), tương quan nghịch với mức
đô trầm cảm (r=-0,552, p<0,01), tương quan nghịch với sự lo âu (r=-0,353, p<0,01) (Marshall, E J.; Brockman, R N., 2016, tr.67)
Gilbert and Irons (2005) cho rằng tự trắc ẩn giúp t ng cường hạnh phúc vì nó giúp mọi người cảm nhận rõ hơn về sự gắn kết và cảm giác an toàn Dựa trên lý thuyết tâm lý xã hội, một mô hình dựa trên các nguyên tắc sinh học tiến hóa, sinh học thần kinh và lý thuyết về sự gắn bó (Gilbert, 1989), họ đã đề xuất rằng tự trắc
ẩn sẽ vô hiệu hóa hệ thống về các mối đe dọa (liên quan đến cảm giác bất an, phòng thủ và hệ thống limbic) và kích hoạt hệ thống tự làm dịu (liên quan đến cảm giác gắn bó an toàn, an toàn và hệ thống oxytocin) Nói cách khác, lòng tự trắc ẩn dường như có liên quan đến sự quan tâm và thông cảm, trong khi lòng tự trọng có liên quan đến cạnh tranh và tổ chức (Helgeson & Fritz, 1999) Ủng hộ đề xuất này, Neff (2006) đã phát hiện ra rằng lòng tự trắc ẩn mang tính dự đoán về hành vi quan hệ tích cực hơn lòng tự trọng về các mặt quan tâm, thân mật, h trợ và không xâm phạm với các đối tác quan hệ lãng mạn (theo báo cáo của các đối tác) Nghiên cứu tương tự cũng cho thấy tự trắc ẩn có ý nghĩa tương quan thường xuyên với cảm giác
an toàn
Cũng trong cuốn Compassion and Wisdom in Psychotherapy , mối quan hệ
Trang 22thể, bà cho rằng những người có lòng tự trắc ẩn sẽ đặt mục tiêu cao, nhưng họ nhận thức và chấp nhận được rằng họ không thể lúc nào cũng hoàn thành mục tiêu của mình Họ có động lực đạt được mục tiêu do nội động cơ chứ không phải do muốn
có được sự công nhận của xã hội Lòng tự trắc ẩn cũng có liên quan đến khả n ng sáng tạo cá nhân và mong muốn đạt đến mức n ng lượng cao nhất
Một nghiên cứu khác về Mối i n hệ giữ òng tự trắc ẩn và ức độ hạnh
phúc củ sinh vi n Việt N của tác giả Trần Minh Điệp đã chỉ ra rằng Lòng tự trắc
ẩn (SC) có tương quan thuận với cảm nhận hạnh phúc (Well-Being) và cả 3 thành tố
của nó với hệ số tương quan lần lượt là r WB = 0,511; r R = 0,486; r G = 0,38; r X= 0,38 (p<0,01) Bên cạnh đó, mô hình Tính tích cực của lòng tự trắc ẩn và Lòng tự trắc ẩn giải thích được 30,6% sự thay đổi của sự cảm nhận hạnh phúc ở sinh viên Việt Nam
Nghiên cứu về Mối i n hệ giữ òng tự trắc ẩn và ức độ stress củ sinh
vi n Việt N của tác giả Lê Trần Vân Anh cho rằng Lòng tự trắc ẩn nói chung
cũng như các thành tố của lòng tự trắc ẩn đều có mối quan hệ nghịch với mức độ
stress ở sinh viên Điều này đồng nghĩa với việc nếu òng tự trắc ẩn (SC) t ng thì
ức độ stress (PS) sẽ giảm và ngược lại (r = -0,325; p < 0,01) Tương tự, nếu có bất
kì thành tố nào của lòng tự trắc ẩn t ng (hoặc giảm) thì mức độ stress cũng sẽ có sự thay đổi ngược lại là giảm (hoặc t ng) Điều này cũng có thể nói lên được phần nào rằng lòng tự trắc ẩn là một loại ứng phó với stress, giống như kết quả nghiên cứu đã chỉ ra của Allen và Leary (2010) về mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn với stress và
sự ứng phó với stress rằng việc xây dựng lòng tự trắc ẩn chính là một loại chiến lược ứng phó với những tác nhân gây stress
Nghiên cứu về “Mối i n hệ giữ òng tự trắc ẩn và các ối qu n hệ cá nh n
củ sinh vi n” của Trần Thị Hạnh (2019) đã đưa ra kết quả thực tiễn rằng phần lớn
sinh viên có lòng tự trắc ẩn ở mức độ trung bình và trên trung bình Các sinh viên
đã sử dụng khá thường xuyên các thành tố của lòng tự trắc ẩn, đặc biệt là thành tố Chánh niệm, trong cuộc sống hằng ngày Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các sinh viên thuộc khối ngành khoa học xã hội có mức độ Đồng nhất quá mức cao hơn nhóm
Trang 23sinh viên thuộc khối ngành tự nhiên; những sinh viên thuộc nhóm tuổi từ 18 – 20 thì
có mức độ chánh niệm cao hơn so với những sinh viên thuộc nhóm tuổi 21 – 25 tuổi Lòng tự trắc ẩn có tương quan thuận và tương đối mạnh với tính tích cực của các mối quan hệ nói chung, tương quan nghịch mạnh với tính tiêu cực của các mối quan hệ Hơn nữa, lòng tự trắc ẩn là yếu tố có khả n ng dự báo sự thay đổi chất lượng các mối quan hệ của sinh viên
Theo những tìm hiểu của chúng tôi, các đề tài xung quanh lòng tự trắc ẩn tại Việt Nam còn khá mới, cần được nghiên cứu bổ sung
1.3 Các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn và các yếu tố ảnh hưởng
Sau khi nghiên cứu của Neff về Lòng tự trắc ẩn (2003) được sự ủng hộ của các nhà khoa học Thế giới, các nghiên cứu về mối tương quan giữa lòng tự trắc ẩn với các yếu tố tâm lý khác như hạnh phúc, lòng tự trọng, sự lo âu, trầm cảm, động cơ…đều được quan tâm nghiên cứu
Một loạt các nghiên cứu gần đây của Leary, Tate, Adams, Allen và Hancock (2007) đã điều tra các quá trình mà những người có lòng tự trắc ẩn đối phó với các tình huống khó chịu trong cuộc sống Một loạt các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng, bao gồm thu thập các trải nghiệm, phản ứng giữa các cá nhân, xếp hạng các tình huống được quay lại qua video trong một tình huống khó xử, phản ánh về trải nghiệm cá nhân tiêu cực và cảm xúc tâm trạng của họ trong cuộc sống thực Những người có lòng tự trắc ẩn thể hiện khả n ng phục hồi cảm xúc nhiều hơn (ví dụ, phản ứng thích nghi hơn với sự khác biệt v n hóa hàng ngày) và độ chính xác của sự tự đánh giá bản thân cao hơn (về cách phản ứng của chính họ) so với những người có lòng tự trắc ẩn thấp Một số nghiên cứu đã so sánh trực tiếp lòng tự trắc ẩn và lòng tự trọng và thấy rằng lòng tự trắc ẩn có liên quan đến các phản ứng cảm xúc tiêu cực ít hơn khi những người tham gia gặp phải tình huống xấu hổ, nhận được phản hồi giữa các cá nhân hoặc nhớ lại các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống Đồng thời, lòng tự trắc ẩn có liên quan mạnh mẽ hơn với sự tự chịu trách nhiệm cá
Trang 24Gilbert (2009) giải thích rằng trẻ em được nuôi dưỡng ổn định trong môi trường có sự trắc ẩn sẽ dần dần điều chỉnh được cảm xúc của chính họ; mặt khác, trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường tiêu cực quá mức dễ dàng phát triển sự tự phê bình, xấu hổ và mặc cảm tội l i Các cá nhân có tiền sử bị ngược đãi (Vitesse, Dyer, Li, & Wekerle, 2011) có thể phát triển rối loạn cảm xúc, tự phê bình và dễ bị tổn thương hơn Hơn nữa, những cá nhân có sự tự phê bình cao đặt ra kỳ vọng cho bản thân rằng, khi họ thất bại, họ sẽ phải duy trì cảm giác vô dụng, xấu hổ và mặc cảm (Shapira & Mongrain, 2010; Blatt, 1974)
Kết quả nghiên của Neff trong Self-compassion and Psychological
Resilience Among Adolescents and Young Adults (2010) khi kiểm tra khả n ng tự
phục hồi của thanh thiếu niên và so sánh với người trưởng thành thì đã chỉ ra rằng lòng tự trắc ẩn có liên quan mạnh mẽ đến hạnh phúc của thanh thiếu niên cũng như người lớn Ngoài ra, các yếu tố gia đình và nhận thức được xác định là yếu tố dự báo sự khác biệt cá nhân trong lòng tự trắc ẩn Cuối cùng, tự trắc ẩn đã được tìm thấy để làm trung gian một phần mối liên kết giữa các yếu tố gia đình/nhận thức tích cực và cảm nhận hạnh phúc Các mối quan hệ bên ngoài gia đình có thể được phản ánh trong cách các cá nhân liên quan đến bản thân họ (theo cách lành mạnh hoặc không lành mạnh), từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần Một thanh thiếu niên với một mối ràng buộc gắn bó an toàn, người m h trợ và gia đình chức n ng
có khả n ng tự từ bi nhiều hơn một người có môi trường gia đình có vấn đề, do sự quan tâm và lòng trắc ẩn đã được người khác mô hình hóa một cách thích hợp Vì vậy, ngoài việc cung cấp sự h trợ và ch m sóc trực tiếp trong những lúc đau khổ, gia đình tốt các mối quan hệ có thể gián tiếp tác động đến chức n ng bằng cách thúc đẩy các cuộc đối thoại nội tâm từ bi Mặt khác, các mối quan hệ gia đình rối loạn có khả n ng chuyển thành tự phê bình, tự thái độ tiêu cực và thiếu tự trọng, có nghĩa là
cả nguồn lực đối phó bên trong và bên ngoài đều bị hạn chế Lòng tự trắc ẩn có thể
là một mục tiêu can thiệp hiệu quả cho thanh thiếu niên mắc chứng suy nghĩ tiêu cực
Trang 25Có một yếu tố khác đặc trưng cho giai đoạn phát triển của tuổi thanh thiếu niên có thể giúp dự đoán mức độ của lòng tự trắc ẩn Sự hướng nội của thời kỳ thiếu niên thường dẫn đến chủ nghĩa vị thành niên (Elkind, 1967), có nghĩa là quan điểm của bản thân và người khác không được phân biệt và hòa nhập rõ ràng Đặc biệt, thanh thiếu niên đôi khi ở trong chính câu chuyện ngụ ngôn của mình - tin rằng những trải nghiệm của họ là độc nhất và người khác không thể hiểu những gì họ đang trải qua (Lapsley, Fitz Gerald, Rice, & Jackson, 1989) Câu chuyện ngụ ngôn
cá nhân có thể góp phần vào việc thiếu lòng tự trắc ẩn nếu những khó kh n và thất bại của một người không được công nhận là một phần bình thường của cuộc sống
Ngược lại, lòng tự trắc ẩn có thể giúp chúng ta giải thích mối liên hệ giữa câu chuyện ngụ ngôn cá nhân và sức khỏe tinh thần kém Alsma, Lapsley và Flannery (2006) phát hiện ra rằng tin rằng một người hoàn toàn cô độc có thể bị trầm cảm và xuất hiện ý tưởng tự tử Điều này có thể một phần do mức độ tự trắc ẩn thấp Khi thanh thiếu niên không thể tích hợp trải nghiệm của riêng mình với những người khác, họ có thể khắc nghiệt hơn với bản thân, cảm thấy bị cô lập hơn trong những thất bại của họ và kịch tính hóa quá mức các vấn đề cá nhân (tức là, họ sẽ thiếu ba thành phần tự từ bi) Điều này, đến lượt nó, có khả n ng làm trầm trọng thêm cảm giác chán nản, lo lắng và cô lập
Mặc dù ít được biết về nguồn gốc của sự biến đổi cá nhân về mức độ tự trắc
ẩn, có khả n ng một số phương sai được giải thích bởi sự khác biệt bẩm sinh trong chứng loạn thần kinh hoặc xu hướng lặp lại (Neff, 2003a; Neff, Rude, et al., 2007) Các yếu tố môi trường cũng có khả n ng đóng một vai trò quan trọng Bằng chứng
sơ bộ trong thanh thiếu niên cho thấy rằng lòng tự trắc ẩn có liên quan đến lời chỉ trích của m và các thông điệp gia đình khác được đưa ra cho thanh thiếu niên(Neff, 2008) Ngoài ra, có một số bằng chứng cho thấy v n hóa cung cấp các thông điệp liên quan đến giá trị của sự tự kiểm soát so với tự phê bình và sự khác biệt cá nhân trong lòng tự trắc ẩn có thể một phần do xu hướng chấp nhận hoặc từ chối các thông điệp v n hóa thống trị (Neff, Pisitsungkagarn, & Hseih , 2008)
Trang 26Nghiên cứu “Se f-compassion and self-construal in the United States,
Th i nd nd T iw n” của Kristin D Neff và cộng sự (2008) với khách thể nghiên
cứu là 181 sinh viên Mỹ (độ tuổi trung bình 21,4), 223 sinh viên Thái Lan (tuổi trung bình là 19,8) và 164 sinh viên Đài Loan (tuổi trung bình là 20,5), với thành phần tôn giáo bao gồm Kito giáo, Phật Giáo, Do Thái giáo, Đạo giáo, tôn giáo khác
và không theo tôn giáo Kết quả thu được là điểm trung bình lòng tự trắc ẩn của sinh viên Thái là cao nhất (3,41), tiếp theo là sinh viên Mỹ (3,14) và thấp nhất là sinh viên Đài Loan (2,92) Nhóm tác giả đã lý giải theo chiều kích khác biệt v n hoá, rằng cả lòng trắc ẩn và tự trắc ẩn đều đề cao giáo lý Phật giáo mà phần lớn người dân Thái Lan đều là phật tử, vì vậy mà mức độ lòng tự trắc ẩn của họ ở mức cao nhất Trong khi đó người Đài Loan chủ yếu bị ảnh hưởng bởi triết lý của Đạo giáo, nhấn mạnh vào hành vi đúng đắn, quan hệ xã hội đúng đắn, khiêm tốn và tự cải thiện để duy trì sự hoà hợp trong cộng đồng nên họ sẽ có lòng tự trắc ẩn thấp hơn Như vậy, có thể thấy rằng yếu tố về v n hoá, tôn giáo cũng gây ảnh hưởng đến mức
độ lòng tự trắc ẩn của m i người (Neff, Pisitsungkagarn & Hsieh, 2008)
1.4 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và trầm cảm
Filip Raes (2010), trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa Lòng tự trắc ẩn với
Lo âu – Trầm cảm (Rumination and worry as mediators of the relationship between
self-compassion and depression and anxiety), bằng cách đo lường lòng tự trắc ẩn,
sự suy ngẫm, sự lo lắng, trầm cảm và lo âu của 271 sinh viên chưa tốt nghiệp, đã đưa ra kết luận: đối với mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và trầm cảm, chỉ có sự suy ngẫm xuất hiện như một yếu tố trung gian đáng kể Cả sự suy ngẫm và sự lo lắng đều xuất hiện với tư cách trung gian giữa lòng tự trắc ẩn và lo âu, nhưng ảnh hưởng trung gian của lo lắng lớn hơn đáng kể so với sự suy ngẫm Filip cũng khẳng định rằng lòng tự trắc ẩn có thể giảm bớt trầm cảm và lo âu thông qua các tác động tích cực của nó vào những suy nghĩ vô ích lặp đi lặp lại
Một ngoại lệ là trong một nghiên cứu của Raes (2011) đã điều tra mối liên hệ dọc giữa tự trắc ẩn và các triệu chứng trầm cảm Một mẫu gồm 105 sinh viên tâm lý học n m thứ nhất đã hoàn thành các biện pháp tự trắc ẩn và các triệu chứng trầm
Trang 27cảm ở hai lần đánh giá cách nhau trong khoảng thời gian 5 tháng Kết quả cho thấy mức độ tự trắc ẩn ở mức cơ bản có thể mối liên hệ tiêu cực đáng kể với các triệu chứng trầm cảm Để phù hợp với kết quả này, Zeller và các đồng nghiệp (Zeller et al., 2014) đã tìm thấy trong một mẫu thanh niên được dự đoán là có lòng tự trắc ẩn cao thì không chỉ làm giảm mức độ trầm cảm mà còn giảm cả c ng thẳng sau chấn thương, hoảng loạn và ý tưởng tự tử, cũng như kết quả tốt hơn sau sáu tháng
Tuy nhiên, một hạn chế của cả hai nghiên cứu là chúng không loại trừ được hiệu ứng đối ứng có thể xảy ra, tức là, sự thay đổi trong các triệu chứng (trầm cảm)
có thể dẫn đến thay đổi lòng tự trắc ẩn Kết quả là, mối tương quan tiêu cực cắt ngang giữa lòng tự trắc ẩn và các triệu chứng trầm cảm có thể là kết quả của các cơ chế khác nhau Có thể là (1) (thiếu) tự trắc ẩn gây ra các triệu chứng trầm cảm, (2) các triệu chứng trầm cảm gây ra (thiếu) tự trắc ẩn, (3) gây ra triệu chứng trầm cảm
và (thiếu) tự trắc ẩn, hoặc (4) triệu chứng trầm cảm và tự trắc ẩn là nguyên nhân không liên quan Dữ liệu theo chiều dọc là cần thiết để kiểm tra quan hệ qua lại Nghiên cứu sử dụng thiết kế dọc ba đợt trong 12 tháng, kiểm tra sự tương tác giữa lòng tự trắc ẩn và các triệu chứng trầm cảm theo thời gian Do đó, nghiên cứu kết hợp thiết kế theo chiều dọc nhiều đợt với phân tích độ trễ chéo (Finkel, 1995), cho phép tháo gỡ các mối quan hệ nguyên nhân
Trong nghiên cứu Lòng tự trắc ẩn tr ng Tr C : Những ối i n hệ với
Ở bệnh nhân trầm cảm ngoại trú, long tự trắc ẩn làm giảm các triệu chứng trầm cảm, chữa trị các triệu chứng suy tư, cũng như nhận thức và hành vi né tránh
Trang 28Ngoài ra, việc chữa trị triệu chứng suy tư và hành vi tránh né chính là trung gian giữa lòng tự trắc ẩn và các triệu chứng trầm cảm Những phát hiện này mở rộng thêm các cho nghiên cứu trước đây về lòng tự trắc ẩn, mối quan hệ của nó với trầm cảm, cũng như các quá trình điều hoà mối quan hệ này, và nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng tự trắc ẩn ở những bệnh nhân bị trầm cảm lâm sàng Khi thấy bệnh nhân trầm cảm có thể đang gặp khó kh n trong việc tự trắc ẩn, các nhà trị liệu tâm lý được khuyến khích khám phá và tìm ra cách giúp họ đối xử tốt hơn với bản thân
Cũng trong nghiên cứu này, một phân tích tổng hợp gần đây của MacBeth và Gumley (2012) đã tìm thấy mức độ hiệu ứng tổng thể lớn (r=-0.52) cho mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và các triệu chứng trầm cảm qua các nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn và trầm cảm là được tiến hành với các mẫu không theo nguyên tắc, trong khi nghiên cứu trên các mẫu lâm sàng vẫn còn thưa thớt (Barnard & Curry, 2011) Liên quan đến các thành phần của lòng
tự trắc ẩn, một số nghiên cứu đã điều tra mối quan hệ của các thành phần của lòng
tự trắc ẩn với các triệu chứng trầm cảm trong các mẫu không theo nguyên tắc (Mills, Gilbert, Bellew, McEwan, & Gale, 2007; Ying, 2009) và ở những người đang tìm kiếm sự giúp đỡ để thoát khỏi đau khổ và lo lắng của bản thân (Van Dam, Sheppard, Forsyth, & Earleywine, 2011) Nhìn chung, trong khi các triệu chứng trầm cảm có tương quan tiêu cực với các khía cạnh tích cực của lòng tự trắc ẩn, chúng có mối tương quan tích cực với các khía cạnh tiêu cực Như Barnard và Curry (2011) chỉ ra, sức mạnh của mối liên hệ giữa các triệu chứng trầm cảm với các khía cạnh tích cực của lòng tự trắc ẩn có xu hướng yếu hơn so với những khía cạnh tiêu cực
Bài báo cáo Self-compassion is a better predictor than mindfulness of
symptom severity and quality of life in mixed anxiety and depression của Nicholas
T Van Dam∗, Sean C Sheppard, John P Forsyth, Mitch Earleywine (2001) đã chỉ
ra mục đích của các phân tích hiện tại là khám phá sự liên hệ giữa khả n ng dự đoán của chánh niệm và lòng tự trắc ẩn trong mối quan hệ đến mức độ nghiêm trọng của
Trang 29triệu chứng và chất lượng cuộc sống ở những người bị lo âu và trầm cảm Nói chung, các phát hiện này cho thấy rằng việc tự xử lý (được đo bằng SCS) là một yếu
tố dự báo mạnh mẽ hơn về triệu chứng trầm cảm và lo âu và chất lượng cuộc sống
Sự kết hợp giữa MAAS (Mindful Attention Awareness Scale – thang đo nhận
thức chánh niệm) và SCS đã dự đoán về các triệu chứng lo âu [R = 404, F (2, 503)
= 48.9, p <.001], các triệu chứng trầm cảm [R = 664, F (2, 503) = 197.6 , p <.001],
lo lắng [R = 605, F (2, 503) = 144.9, p <.001] và chất lượng cuộc sống, [R = 521,
F (2, 503) = 93.1, p <.001] Các yếu tố dự đoán chiếm 16,3% phương sai trong lo
âu, 44,1% phương sai trong trầm cảm, 36,6% phương sai trong lo lắng và 27,1% phương sai về chất lượng cuộc sống
Trong nghiên cứu The Relationship of Self-Compassion and Depression:
Cross-Lagged Panel Analyses in Depressed Patients After Outpatient Therapy chỉ
ra rằng nhiều nghiên cứu đã điều tra sự liên kết cắt ngang của lòng tự trắc ẩn và trầm cảm Phân tích tổng hợp của MacBeth và Gumley (2012) bao gồm khoảng
4000 đối tượng đã cho thấy kích thước hiệu ứng trung bình của r = -.51 giữa các triệu chứng lòng tự trắc ẩn và trầm cảm
Hơn nữa, một nghiên cứu của Krieger và các đồng nghiệp (Krieger và cộng
sự, 2013) chỉ ra rằng những người mắc chứng trầm cảm nặng báo cáo mức độ tự trắc ẩn thấp hơn đáng kể so với những người không bao giờ bị trầm cảm ngay cả khi kiểm soát các triệu chứng trầm cảm Cùng với đó, những nghiên cứu này cho thấy một mối liên hệ chặt chẽ giữa trầm cảm và lòng tự trắc ẩn
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa trầm cảm hoặc các triệu chứng trầm cảm với lòng tự trắc ẩn đã sử dụng một thiết kế cắt ngang Một ngoại lệ là một nghiên cứu của Raes (2011) đã điều tra mối liên hệ dọc giữa lòng tự trắc ẩn và các triệu chứng trầm cảm Một mẫu gồm 105 sinh viên tâm lý học n m thứ nhất đã hoàn thành các biện pháp tự trắc ẩn và các triệu chứng trầm cảm ở hai lần đánh giá cách nhau trong khoảng thời gian 5 tháng Kết quả cho thấy mức độ tự trắc ẩn ở mức cơ bản có tương quan nghịch đáng kể với các triệu chứng trầm cảm
Trang 30thấy trong một mẫu thanh niên có nguy cơ tự trắc ẩn dự đoán không chỉ làm giảm mức độ trầm cảm mà còn cả c ng thẳng sau chấn thương, hoảng loạn và ý tưởng tự
tử cũng như kết quả tốt hơn sau sáu tháng
Hiện tại, theo tìm hiểu của chúng tôi, các nghiên cứu trong nước liên quan đến lòng
tự trắc ẩn còn thiếu vắng, đặc biệt là đề tài về mối liên hệ của lòng tự trắc ẩn và trầm cảm của sinh viên chưa từng được nhắc đến Bởi vậy việc tiến hành một
nghiên cứu tương quan về chủ đề này là cần thiết và phù hợp với xu thế phát triển của tâm lý học quốc tế
2 Các nghiên cứu về trầm cảm
Trầm cảm đã được phát hiện và nghiên cứu từ rất sớm trên Thế Giới, đặc biệt
ở hai lĩnh vực Tâm thần học và Tâm lý học
Sầu uất (Melancholia) là thuật ngữ đầu tiên để mô tả trầm cảm được sử dụng trong học thuyết thể dịch của Hyppocrate (460 – 377 trước công nguyên), người được cho là cha đẻ của y học Trong y học hiện đại, từ "melancholia" chỉ đề cập đến các triệu chứng trầm cảm về tâm thần Song Hippocrate tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh siêu hình và quy luật tự nhiên trong sức khỏe và bệnh tật
Ở đầu thế kỷ 17, Robert Burton đã viết cuốn sách The Anatomy of
Melancholy, trong đó đề cập đến vấn đề điều trị u sầu (trầm cảm không đặc hiệu)
bằng việc dùng âm nhạc và khiêu vũ như một hình thức điều trị Trong khi pha trộn với các kiến thức về y học, cuốn sách chủ yếu sưu tập các bài viết bình luận về bệnh trầm cảm, và những điều thuận lợi mà bệnh trầm cảm mang lại cho xã hội
Đến n m 1686, Theophilus Bonet mô tả một dạng bệnh tâm thần với tên gọi: Hưng cảm – sầu uất (Maniaco – Melancolicus); n m 1854 Falret lần đầu tiên mô tả hai trạng thái rối loạn trên cùng một người bệnh trong một bệnh cảnh chung, được gọi là loạn thần tuần hoàn; n m 1882 nhà Tâm thần học người Đức Karl Kahlbaum dùng thuật ngữ Cyclothymia (bệnh khí sắc chu kỳ) để mô tả hưng cảm và trầm cảm là các giai đoạn cảm xúc của cùng một bệnh; n m 1921 nhà Tâm thần học người Đức – Kraepelin lần đầu tiên, đã công nhận các nguyên nhân sinh học của bệnh Tâm thần và được cho là người đầu tiên nghiên cứu nghiêm túc về bệnh tâm
Trang 31thần Kraepelin đã chỉ ra sự khác biệt giữa trầm cảm và chứng mệt mỏi mà bây giờ được gọi là Tâm thần phân liệt N m 1950 Kleist phân ra hai thể loạn thần hưng trầm cảm lưỡng cực và đơn cực Quan điểm này được chấp nhận cho đến n m 1962 khi Leonard và cộng sự đề xuất sự phân loại thành ba nhóm: Trầm cảm đơn cực, hưng cảm đơn cực và những bệnh nhân bị cả rối loạn trầm cảm và hưng cảm (lưỡng cực)
Trầm cảm đã được các nhà Tâm thần học mô tả một cách cụ thể hơn vào những n m 80 của thế kỷ XX với các đặc trưng là: cảm xúc, hành vi và tư duy đều
bị ức chế Pinet mô tả trầm cảm là một trong bốn loại loạn thần Cho đến n m 1992, trầm cảm đã được các chuyên gia tâm bệnh nghiên cứu hoàn thiện về khái niệm bệnh học và phân loại trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của
Tổ chức Y thế thế giới, mới nhất gần đây là trong hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ 5 (DSM 5) của Hội tâm thần học Hoa Kỳ Theo bảng phân loại bệnh quốc tế ICD 10, trầm cảm được xếp ở các mục [20]: F06.32: Trầm cảm thực tổn; F31.2, F31.3, F31.4: Giai đoạn trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực; F32: Giai đoạn trầm cảm; F33: Trầm cảm tái diễn; F41.2: Rối loạn h n hợp lo âu – trầm cảm; F43.20 và F43.21: Trầm cảm trong rối loạn sự thích ứng; F20.4: Trầm cảm sau phân liệt
Trong nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến Trầm cảm, nhà Tâm lý học Beck Aaron T đã tiếp cận trầm cảm theo hướng nhận thức Beck đã thiết lập mô hình Trầm cảm theo 3 thành tố chính: (1) suy nghĩ tiêu cực về bản thân, người khác và tương lai; (2) quá trình xử lí thông tin bị sai lệch; (3) hình ảnh bản thân bị bóp méo Trên cơ sở đó, Beck đưa ra phương pháp điều trị trầm cảm bằng cách thay đổi nhận thức, chỉnh sửa quá trình xử lý thông tin bị sai lệch N m 1961, Ông đã xây dựng thang đo trầm cảm Beck Depression Inventory – BDI để đo lường mọi phương diện của trầm cảm: cơ thể, nhận thức, cảm xúc và hành vi Sau nhiều lần chỉnh sửa, thang đo BDI của Beck vẫn được sử dụng phổ biến cho đến ngày nay (Gordon J.K., 2016)
Trang 32William M Reynolds (1986) cũng đã xây dựng Thang Đánh giá trầm cảm thanh thiếu niên (Reynolds Adolescent Depression Scale - RADS) RADS là thang
tự đánh giá nhằm xác định các thanh thiếu niên có các triệu chứng trầm cảm và đã được Việt hóa bởi các bác sĩ tại Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia và đưa vào sử dụng tại viện từ n m 1995 (Mark, 2004) Ngoài ra còn một số thang đo trầm cảm được sử dụng phổ biến khác như: Thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress (DASS-21), Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton (HAM-D), Thang đánh giá trầm cảm ở người già (GDS),…
Trầm cảm là một rối loạn thường gặp ở bất kể sự khác biệt về nhóm tuổi, v n hóa, tầng lớp xã hội, ở cả nam và nữ, già hay trẻ, song tùy từng độ tuổi, từng giới
mà tỉ lệ mắc khác nhau Tỉ lệ tự tử ở người trẻ gia t ng đáng kể trong vài thập kỷ qua Trong n m 1997, tự tử là nguyên nhân thứ 3 trong số những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở lứa tuổi từ 15 đến 24, khoảng 19.100.000 người Mỹ trưởng thành tuổi từ 18 đến 54, chiếm 13,3% người dân trong nhóm tuổi này có một hội chứng rối loạn lo âu Rối loạn lo âu thường xuyên xảy ra cùng với các rối loạn trầm cảm, rối loạn n uống hoặc lạm dụng thuốc
Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất (Kessler et al., 2005) và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến bệnh nhân trầm cảm cũng như xã hội (Kupfer et al., 2012; stün et al., 2004) Trầm cảm thường được xác nhận bằng bản chất tái phát (Bockting et al., 2015), và mặc dù nhiều bệnh nhân có thể được chữa trị nhờ các phương pháp điều trị trầm cảm, tỷ lệ tái phát và tái phát ngay cả sau khi điều trị thành công là rất lớn (Vittengl et al., 2007) Ngoài ra, các triệu chứng trầm cảm còn sót lại đã được tìm thấy là yếu tố dự báo mạnh nhất và dễ tái phát trầm cảm nhất (ví dụ, Judd et al., 1998)
Theo Robert G Robinson (2002), tỷ lệ mắc trầm cảm ở những người khỏe mạnh thấp hơn rất nhiều so với những người đang mắc bệnh Tỷ lệ mắc trầm cảm trong nhóm bệnh nhân rất cao, từ 20 đến 40% Trầm cảm đơn thuần hoặc kết hợp với các bệnh lý khác đều gây những tổn hại nghiêm trọng về mặt thể chất và tinh thần Nếu không được điều trị, trầm cảm có thể kéo dài nhiều tháng và có thể gây
Trang 33phức tạp thêm quá trình điều trị bệnh Bất cứ bệnh mãn tính hoặc bệnh nặng nào đều có thể dẫn đến trầm cảm Nhiều loại thuốc dùng cho các bệnh mãn tính có thể gây ra trầm cảm Trong số đó có thuốc giảm đau trong bệnh viêm khớp, thuốc hạ cholesterol, thuốc điều trị cao huyết áp và bệnh tim, thuốc giãn phế quản được sử dụng cho bệnh hen suyễn và các bệnh phổi khác Các bệnh có thể dẫn đến trầm cảm
có thể liệt kê như sau: Bệnh tuyến giáp - Suy giáp có thể gây ra trầm cảm Tuy nhiên, suy giáp cũng có thể được chẩn đoán lầm là trầm cảm và không bị phát hiện Theo nghiên cứu của Unicef tại Việt Nam Tổng quan lại các bằng chứng về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung đối với trẻ em và vị thành niên ở Việt Nam dao động từ 8% đến 29%và khác nhau theo tỉnh, giới tính, đặc điểm người trả lời và tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu Một khảo sát dịch tễ học gần đây trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh/thành cho thấy tỷ lệ trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em khoảng 12%, đồng nghĩa với việc hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần Các loại hình vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề hướng nội (lo âu, trầm cảm, đơn độc) và vấn đề hướng ngoại (t ng động, giảm chú ý) Tỷ lệ tự tử của Việt Nam được báo cáo là thấp đáng
kể so với những ước tính toàn cầu song có sự gia t ng về những lo ngại về tự tử ở thanh niên Việt Nam Trong một nghiên cứu ở 90 quốc gia, tỷ lệ của số ca tự tử trên tổng số ca tử vong ở vị thành niên là 9,1% (Wasserman và cộng sự, 2005) trong khi
ở Việt Nam, tỷ lệ này là 2,3% (Blum và cộng sự, 2012)
Theo tác giả Hồ Ngọc Quỳnh (2009) nghiên cứu Tr c ở sinh vi n điều
dưỡng và y tế công cộng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm ở
sinh viên y tế công cộng lên đến 17.6%, ở sinh viên điều dưỡng là 16.5% và liên quan tới một số yếu tố như sự quan tâm của cha m , gắn kết với nhà trường; thành tích học tập; quan hệ xã hội; tự nhận thức về bản thân
Nguyễn Thị Bình (2015), Nhận thức củ sinh vi n về rối ạn tr c
Nghiên cứu trên sinh viên khoa Kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân; Khoa Cơ khí -
Trang 34dục; Khoa Y đa khoa - Đại học Y Hà Nội; Khoa Tâm lý học và Lịch sử Đại học Khoa học xã hội và Nhân v n đã phát hiện được thực trạng mức độ nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm ở mức trung bình, đồng thời, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm
Nguyễn Thanh Cao, Đặng Hoàng Anh, Bùi Lưu Hưng - Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên Trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh Bắc Kạn (Trạm Y tế phường Sông Cầu, 2012) Nghiên cứu mô tả cắt ngang đặc điểm dịch tễ học trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người trưởng thành ở phường Sông Cầu thị xã Bắc Kạn tỉnh Bắc Kạn Qua nghiên cứu ta thấy: tỷ lệ mắc trầm cảm ở người trưởng thành là 4,3%, nữ mắc cao hơn nam (nữ 8,3%, nam 1,6%) Tỷ lệ trầm cảm cao ở các nhóm tuổi 51-60 (7,4%), 61-70 (9,4%) và trên 70 tuổi (8,2%); trình độ học vấn trung học phổ thông (5,6%) Học sinh/sinh viên và nhóm không nghề nghiệp mắc trầm cảm cao (3,8% và 18,1%) Đa số bệnh nhân trầm cảm ở thể nh (72,5%) với các triệu chứng chính là khí sắc trầm 79,8%, mất hoặc giảm quan tâm thích thú: 45,6%, mất hoặc giảm n ng lượng/giảm hoạt động gặp 87% Các triệu chứng phổ biến và cơ thể gặp cao: rối loạn giấc ngủ chiếm 74,6%, n ít ngon miệng gặp 61,7, hoa mắt chóng mặt chiếm 58%, đau đầu kéo dài 59% Trầm cảm liên quan đến điều kiện kinh tế gia đình nghèo, sang chấn tâm lý trong gia đình như mất người thân, cha m ly dị/ly thân hoặc sang chấn tâm lý trong công việc như áp lực công việc, thua l kinh doanh hay mất việc làm
TS Cao Vũ Hùng (2014), Nghiên cứu về rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên, tại viện Nhi Trung Ương Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả phân tích lâm sàng, có theo dõi dọc dài ngày, sử dụng các trắc nghiệm h trợ chẩn đoán và đánh giá trên 80 bệnh nhi tuổi vị thành niên (10 – 19 tuổi), đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm theo ICD-10 và điều trị tại khoa Tâm thần – Bệnh viện Nhi Trung ương Nghiên cứu đã rút ra những kết luận về: Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên, Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến rối loạn trầm
Trang 35cảm và các nhận xét về điều trị rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Nguyễn Thị Mai (2013), Tìm hiểu thực trạng các biểu hiện trầm cảm của học sinh trung học cơ sở quận Hoàng Mai, Hà Nội Những kết quả thu được về mặt lý luâ đã làm rõ hơn đặc điểm tâm lí lâm sàng của học sinh trung học cơ sở có rối loạn trầm cảm Đưa ra đươc tỉ lê hoc sinh trung hoc cơ sở có biểu hiê trầm cảm Chỉ ra được một số yếu tố liên quan đến trầm cảm làm ảnh hưởng đến mọi mặt của học sinh trung học cơ sở hiện nay
3 Khái niệm cơ bản của đề tài
3.1 Khái niệm lòng tự trắc ẩn
3.1.1 Định nghĩa lòng trắc ẩn
Lòng trắc ẩn là một nhận thức sâu sắc về những đau khổ của người khác và mong muốn làm giảm bớt nó Từ điển Webster làm sáng tỏ rằng lòng trắc ẩn là một cảm giác thương cảm và đau khổ sâu sắc đối với một người khác đang bị ảnh hưởng bởi đau khổ hoặc bất hạnh, kèm theo một mong muốn mạnh mẽ để giảm bớt n i đau hoặc loại bỏ nguyên nhân của nó Từ lòng trắc ẩn bắt nguồn từ tiếng la tinh là 'pati' có nghĩa là chịu đựng điều gì đó (McNeill, Morrison, & Nouwen, 1982)
Morse, Bottorff, Anderson, O’Brien, and Solberg (1992) tuyên bố: Người có òng
trắc ẩn thấu hiểu và chi sẻ nỗi đ u khổ Khi chi sẻ với những đ u khổ củ người khác họ bày tỏ òng trắc ẩn giúp củng cố và n ủi người đ ng chịu đ u khổ
(tr.814)
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, "trắc ẩn à thương xót tr ng
òng" (Viện ngôn ngữ học, 2003, tr.1026) Theo từ điển Cambridge dictionary,
"Lòng trắc ẩn à ột c giác ạnh ẽ củ sự c thông và nỗi buồn ch sự đ u
khổ h ặc xui xẻ củ người khác và ng uốn giúp đỡ họ"
Lòng trắc ẩn liên quan đến sự nhạy cảm với trải nghiệm đau khổ, cùng với mong muốn sâu sắc để làm giảm bớt sự đau khổ đó (Goertz, Keltner & Simon-Thomas, 2010) Điều này có nghĩa là mở ra một nhận thức về n i đau của người
Trang 36với người khác và mong muốn cải thiện sự đau khổ của họ để nổi lên (Wispe, 1991)
Lòng trắc ẩn là hành động hoặc khả n ng chia sẻ với cảm xúc đau đớn của người khác Lòng trắc ẩn là từ rộng hơn: nó đề cập đến cả sự hiểu biết về n i đau khác của người khác và mong muốn bằng cách nào đó làm giảm bớt n i đau đó Lòng trắc ẩn cũng liên quan đến sự hiểu biết về tình trạng chung của con người, mong manh và không hoàn hảo, cũng như sẵn sàng mở rộng sự hiểu biết đó cho người khác khi họ thất bại hoặc sai lầm
3.1.2 Định nghĩa lòng tự trắc ẩn
Theo APA Dictionary of Psychology (2007): Lòng tự trắc ẩn là ột cấu
trúc xuất phát từ tư tưởng Phật giá và ké the ột ập trường không ng tính
ph bình đối với những bất cập và thất bại củ chính ình Có ý kiến ch rằng nếu
tự ph bình có thể dẫn đến những c xúc ti u cực òng tự trắc ẩn có thể thúc đẩy
c nhận hạnh phúc bằng cách b vệ chính ình khỏi những c xúc ti u cực từ những thất bại à họ nhận thức được”
Trước đó, người đầu tiên đưa ra khái niệm về lòng tự trắc ẩn - Kristin D
Neff - đã đưa ra nhận định: Lòng tự trắc ẩn b gồ việc trở n n cởi ở và
thương c với đ u khổ củ chính ình tr i nghiệ c xúc củ qu n t và
nh n ái với chính ình đe ại sự thấu hiểu thái độ trung ập với sự thiếu thốn và thất bại củ b n th n và nhận r kinh nghiệ củ ình à ột ph n củ tr i nghiệ củ t àn nh n ại” (Neff, 2003b, tr 224)
Neff nêu rõ sự khác biệt giữa tự trắc ẩn và lòng ích kỷ ở ch lòng tự trắc ẩn không phải là trở nên ích kỉ hay coi mình là trung tâm, cũng không phải là sự ưu tiên các nhu cầu của bản thân mình hơn những người khác, thay vào đó, lòng tự trắc
ẩn là sự nhận thức được rằng tất cả mọi người, bao gồm cả bản thân mình, đều xứng đáng được nhận lòng trắc ẩn
Nếu sự tự phê bình có thể dẫn đến những cảm xúc tiêu cực thì lòng tự trắc ẩn
có thể thúc đẩy hạnh phúc bằng cách bảo vệ một người khỏi những tác động của
Trang 37những cảm xúc tiêu cực của việc nhận thức rằng bản thân là người thất bại Trong những n m gần đây, lòng tự trắc ẩn được coi như một phương tiện phục hồi chống lại c ng thẳng và mệt mỏi về cảm xúc Neff (2003a) đã giải thích thêm rằng lòng tự trắc ẩn có khả n ng phục hồi và chống lại lo âu -trầm cảm, đồng thời làm t ng sự hài lòng trong cuộc sống, sự lạc quan, kết nối xã hội và hạnh phúc
Lòng tự trắc ẩn chỉ đơn giản là sự trắc ẩn hướng vào trong Cũng giống như chúng ta có thể cảm thấy thương cảm cho sự đau khổ của người khác, chúng ta có thể mở rộng lòng trắc ẩn đối với bản thân khi chúng ta trải qua đau khổ, bất kể sự đau khổ do hoàn cảnh bên ngoài hay sai lầm, thất bại và bất cập cá nhân của chúng
ta
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi xin được sử dụng theo khái niệm và
sự phân loại các thành tố của Kristin D Neff (2003): Lòng tự trắc ẩn à sự tự c
thông trước đ u khổ h y bất hạnh củ chính ình đồng thời tiếp nhận nỗi đ u bất hạnh đó với òng nh n ái ki n nhẫn bình th n và ng uốn s u sắc à dịu bớt
Neff (2003b) khi chia lòng tự trắc ẩn bao gồm ba yếu tố chính: Nhân ái với bản thân, Tính tương đồng nhân loại; Chánh niệm Các thành tố này kết hợp và
Trang 38quan khi xem xét những thiếu sót của cá nhân, sai lầm và thất bại, cũng như khi đối mặt với những tình huống khó kh n trong cuộc sống nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta
- Nhân ái với bản thân (self-kindness): Khi phạm sai lầm hoặc thất bại,
chúng ta có thể có nhiều khả n ng tự trách mình trước hơn là tự động viên và trợ giúp bản thân đầu tiên Xu hướng tự chỉ trích này đặc biệt phổ biến ở những người mang chứng rối loạn lo âu và trầm cảm (Blatt, 1995) Và ngay
cả khi các vấn đề đó xuất phát từ các yếu tố khách quan vượt ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, chẳng hạn như tai nạn hoặc gặp các chấn thương, chúng ta thường tập trung nhiều hơn vào việc khắc phục vấn đề hơn là tự làm dịu và
an ủi bản thân (Austenfeld & Stanton, 2004) Nhân ái với bản thân đề cập đến xu hướng ủng hộ và thông cảm với chính mình khi nhận thấy những thiếu sót cá nhân không chính xác với việc đánh giá khắc nghiệt bản thân Nó đòi hỏi sự liên kết các sai lầm và thất bại của chúng ta với sự khoan dung và hiểu biết, và cá nhân phải nhận thức được rằng sự hoàn hảo là không thể đạt được Tự trắc ẩn được thể hiện trong các cuộc đối thoại theo hướng nhân từ
và khuyến khích hơn là tàn nhẫn hoặc chê bai Thay vì mắng mỏ bản thân, chúng ta cung cấp cho mình sự ấm áp và chấp nhận vô điều kiện Thay vì cứ giải quyết vấn đề và bỏ qua sự đau khổ của chính mình, chúng ta tạm dừng
để tự an ủi bản thân khi đối mặt với những tình huống đau đớn Với lòng tốt của bản thân, chúng ta tạo ra sự ấm áp, dịu dàng và cảm thông với chính bản thân, để tâm trí ta thật sự được chữa lành và cảm thấy bình an
- Tính tương đồng nhân loại (common humanity): Tất cả con người đều
thiếu sót trong công việc; ai cũng thất bại và có những lúc sai lầm Chúng ta đều có những mong muốn mà chúng ta không thể đạt được, và phải duy trì
sự hiện diện của những trải nghiệm khó kh n mà chúng ta rất muốn tránh Đúng như Đức Phật đã nhận ra, khoảng 2.600 n m trước, tất cả chúng ta đều đau khổ (Makransky, 2012) Tuy nhiên, thông thường, chúng ta thường cảm thấy bị cô lập và tách biệt với những người khác khi xem xét những khó
Trang 39kh n và thiếu sót của bản thân dưới góc độ chỉ riêng mình gặp phải Đây không phải là một quá trình hợp lý, nhưng là một loại nhận thức thường gặp
mà trong đó chúng ta đánh mất hình ảnh con người với cái nhìn toàn thể và tập trung chủ yếu vào suy nghĩ rằng bản thân luôn yếu đuối và vô giá trị Tương tự như vậy, khi gặp phải khó kh n, chúng ta thường cho rằng những người khác đang có thời gian dễ dàng hơn, rằng tình huống của chúng ta là bất thường hoặc không công bằng Chúng ta cảm thấy bị cô lập và tách biệt với những người khác, có lẽ mọi người bình thường đều đang tận hưởng sự hạnh phúc Phản ứng tự nhiên này giống như "câu chuyện ngụ ngôn cá nhân" thường thấy ở thanh thiếu niên - niềm tin rằng trải nghiệm cá nhân của một người là duy nhất và không liên quan đến những người khác (Lapsley, FitzGerald, Rice & Jackson, 1989) Tuy nhiên, suy nghĩ này vẫn tồn tại ở người trưởng thành, đặc biệt là về cách chúng ta liên hệ với sự đau khổ của chính mình
- Chánh niệm (Mindfulness): Chánh niệm liên quan đến việc nhận thức được
trải nghiệm tại khoảnh khắc hiện tại một cách rõ ràng và cân bằng (Brown & Ryan, 2003) Sự chấp nhận chánh niệm liên quan đến việc trải nghiệm đúng với thời điểm hiện tại, cho phép bất kỳ suy nghĩ, cảm xúc và cảm giác nào đi vào nhận thức mà không cần phán xét, tránh né hay kìm nén (Bishop et al., 2004) Đầu tiên, cần phải nhận ra rằng bạn đang đau khổ để cho mình lòng trắc ẩn Mặc dù có vẻ như sự đau khổ là hiển nhiên, nhưng nhiều người không thừa nhận mức độ đau đớn của chính họ, đặc biệt là khi n i đau đó bắt nguồn từ sự tự phê bình bản thân Hoặc khi đối mặt với những thách thức trong cuộc sống, mọi người thường bị cuốn theo quá trình cố gắng khắc phục vấn đề của họ đến n i họ không muốn xem xét họ đang phải vật lộn như thế nào trong lúc này Mặc dù xu hướng kìm nén hoặc phớt lờ n i đau là vấn đề chung của mọi người, nhưng một cơ chế phòng vệ với những cảm xúc tiêu cực có thể dẫn đến các chiến lược không hiệu quả như lạm dụng chất gây
Trang 40phép chúng ta chấp nhận những trải nghiệm của mình ngay cả khi điều đó
thật sự rất khó chịu
Những khía cạnh của lòng tự trắc ẩn của sinh viên cũng được trải nghiệm khác
nhau và khác biệt về mặt khái niệm, nhưng chúng cũng có xu hướng tác động và tạo
ra nhau Chẳng hạn, sự chấp nhận - một phần của chánh niệm, làm giảm bớt sự tự
phán xét Ngược lại, nếu người ta ngừng phán xét và mắng mỏ bản thân đủ lâu để tự
thể hiện sự tốt bụng với bản thân, những trải nghiệm tiêu cực sẽ giảm đi, từ đó giúp
cá nhân dễ dàng nhận thức được sự cân bằng giữa suy nghĩ và cảm xúc Tương tự
như vậy, đau khổ và thất bại cá nhân khi được chia sẻ với những người khác sẽ làm
giảm mức độ đổ l i và phán xét khắc nghiệt đối với bản thân, giống như việc giảm
bớt sự tự phán xét có thể làm dịu đi cảm giác về sự tách biệt và cô lập (Neff, 2003)
Để xây dựng thang đo lòng tự trắc ẩn (SCS), Neff (2003a) đã sử dụng các cặp
đối lập dựa trên 3 thành tố chính ban đầu: Nhân ái với bản thân (SK -
Self-Kindness) và Chỉ trích bản thân (SJ - Self-Jugdement); Tính tương đồng nhân loại
(CH - Common Humanity) và Cô lập (ISO – Isolation); Chánh niệm (MF –
Mindfulness ) và Đồng nhất quá mức (OI – Over-identification) Trong khuôn khổ
của để tài, chúng tôi sẽ sử dụng 6 thành tố này để xem xét mối liên hệ giữa lòng tự
trắc ẩn và mức độ trầm cảm dựa trên thang đo SCS của Neff và BDI của Beck
3.2 Khái niệm trầm cảm
3.2.1 Định nghĩa trầm cảm
Có rất nhiều định nghĩa và cách nhận biết mức độ về rối loạn trầm cảm của
các tác giả trong và ngoài nước:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Rối loạn trầm cảm là một rối loạn tâm
thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn rầu, mất sự thích thú hoặc khoái cảm, cảm
giác tội l i hoặc giá trị bản thân thấp, rối loạn giấc ngủ hoặc n uống và kém tập
trung Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát, làm suy giảm đáng kể khả n ng làm
việc, học tập hoặc đương đầu với cuộc sống hằng ngày của một cá nhân Ở dạng
nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử Nếu nh , người bị trầm cảm có thể được