1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu biến động địa hình đáy cửa đà diễn phú yên

82 43 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, do nằm trong vùng tác động trực tiếp của dòng lũ từ thượng nguồn, lòng sông Đà Rằng hàng năm bị biến động bồi xói và tồn tại nhiều bãi bồi giữa sông, đặc biệt địa hình vùng cử

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THỌ SÁO

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn với đề tài: “Nghiên cứu biến động địa hình đáy cửa Đà Diễn –

Phú Yên” đã được hoàn thành trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa Khí

tượng, Thủy văn và Hải dương học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thọ Sáo đã tận hình hướng dẫn, định hướng nghiên cứu và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng chân thành cảm ơn tới các quý thầy cô giáo, cán bộ khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, cùng toàn thể anh chị em, bạn bè tại Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã hỗ trợ kiến thức, chuyên môn để luận văn được hoàn thành

Xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu cơ

sở khoa học để xác định cơ chế bồi lấp, sạt lở và đề xuất các giải pháp ổn định các cửa sông Đà Diễn và Đà Nông tỉnh Phú Yên phục vụ phát triển bền vững cơ sở hạ tầng và kinh tế xã hội” mã số ĐTĐL.CN.15/15 do Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì, đã cung cấp số liệu, tài liệu cũng như hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu

Do thời gian và kiến thức hạn chế, luận văn chắc không tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, các nhà khoa học và độc giả để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Đỗ Huy Toàn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3

1.1.ĐẶCĐIỂMĐỊALÝTỰNHIÊN 3

1.1.1 Vị trí địa lý 3

1.1.2 Đặc điểm địa hình 4

1.1.3 Đặc điểm khí hậu 5

1.1.4 Đặc điểm thủy văn 9

1.1.5 Đặc điểm hải văn 12

1.2.TÁCĐỘNGNHÂNSINHĐẾNSÔNGBAVÀKHUVỰCCỬAĐÀDIỄN 16

1.2.1 Các công trình thủy lợi, thủy điện trên lưu vực sông Ba 16

1.2.2 Tình hình biến đổi thảm phủ lưu vực sông Ba 18

1.2.3 Các hoạt động kinh tế tác động vào vùng cửa Đà Diễn 19

1.3.TỔNGQUANNGHIÊNCỨUDIỄNBIẾNCỬASÔNG 19

1.3.1 Các phương pháp nghiên cứu diễn biến cửa sông 19

1.3.2 ổng quan các c ng tr nh nghiên cứu i l i t trong và ngoài nư c 21

1.4.TÌNHHÌNHDIỄNBIẾNXÓILỞBỒITỤKHUVỰCCỬAĐÀDIỄN 28

1.4.1 Thực trạng xói l b i t khu vực cửa Đà Diễn 28

1.4.2 Nguyên nhân gây sạt l , b i lắng cửa Đà Diễn 31

1.5.TỔNGQUANVÀLỰACHỌNMÔHÌNH 34

1.5.1 Tổng quan các mô hình 34

1.5.2 Lựa chọn mô hình toán 35

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU 37

2.1.CÁCBƯỚCNGHIÊNCỨU 37

2.2.GIỚITHIỆUMÔHÌNHMIKE21/3FMCOUPLE 37

2.2.1 Cơ s l thuyết mo ul ng chảy D 38

2.2.2 Cơ s lý thuyết modul sóng (SW) 40

2.2.3 Cơ s lý thuyết modul bùn cát (ST) 41

Trang 5

2.2.1 Số liệu địa hình 43

2.2.2 Số liệu thủy, hải văn 45

2.2.3 Số liệu trầm tích 46

2.2.4 Số liệu sóng, gió 47

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ TÍNH TOÁN BIẾN ĐỔI ĐỊA HÌNH ĐÁY KHU VỰC CỬA ĐÀ DIỄN 48

3.1.THIẾTLẬPMÔHÌNH 48

3.1.1 Miền tính và lư i tính 48

3.1.2 Điều kiện biên 49

3.2.HIỆUCHỈNHVÀKIỂMĐỊNHMÔHÌNH 50

3.2.1 Hiệu chỉnh mô hình 50

3.2.2 Kiểm định mô hình 51

3.3.KẾTQUẢTÍNHTOÁN 57

3.3.1 Kịch bản tính toán 57

3.3.2 Kết quả tính toán 59

3.3.2.1 Biến động địa h nh đáy trung nh từ tháng 10/2015 đến 8/2016 59

3.3.2.2 Mô phỏng trong thời kỳ mùa lũ 60

3.3.3.3 Mô phỏng trong thời kỳ mùa khô 65

KẾT LUẬN 71

KIẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tần suất (%) và hướng gió thịnh hành khu vực Phú Yên 6

Bảng 1.2 Lượng mưa trung bình nhiều năm các tháng (mm) 8

Bảng 1.3 Dòng chảy bình quân tại Củng Sơn (1977-2016) 10

Bảng 1.4 Đường kính hạt trung bình (d50) và độ chọn lọc (so) của trầm tích v ng cửa sông Đà Diễn 12

Bảng 1.5 Bảng tính toán cao độ và biên độ thủy triều dựa trên số liệu toàn cầu 13

Bảng 1.6 Độ cao sóng bình quân (m) theo các tháng và m a trong năm tại trạm Tuy Hòa, Phú Yên 14

Bảng 1.7 Các thuỷ điện trên dòng chính và dòng nhánh hệ thống sông Ba 17

Bảng 1.8 Sự thay đổi thảm phủ trên lưu vực sông Ba (1992-2000) 18

Bảng 1.9 Chỉ tiêu đánh giá trạng thái ổn định cửa sông 24

Bảng 1.10 Bộ tham số lựa chọn cho mô hình 57

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Lưu vực sông Ba 3

Hình 1.2 Vị trí cửa Đà Diễn 4

Hình 1.3 Hoa gió tính từ số liệu gió đo tại trạm gió Tuy Hòa 7

Hình 1.4 Bản đồ phân bố lượng mưa m a mưa (trái) và m a khô (phải) 8

Hình 1.5 Lưu lượng trung bình tháng nhiều năm (1978 – 2016) trạm Củng Sơn 10

Hình 1.6 Hoa sóng tính từ số liệu gió đo tại trạm Tuy Hòa] 15

Hình 1.8 Vị trí các hồ chứa lớn trên lưu vực sông Ba 16

Hình 1.9 Nạo vét luồng lạch ở cửa Đà Diễn 19

Hình 1.10 Xói bờ biển phía Nam (trái) và bồi lấp cửa sông (phải) tháng 12/2015 29 Hình 1.11 Mỏ hàn bảo vệ bờ Bắc, khu vực phường 6 (phải) và đổ đá bảo vệ bờ phía Nam, khu vực Xóm Rớ (trái) tháng 12/2016 30

Hình 1.12 Đổ đá bảo vệ bờ Bắc (trái, 12/2016) và đổ đá bảo vệ bờ Nam (phải, 11/2017) 30

Hình 1.13 Sơ đồ hệ thống các yếu tố tác động đến cửa sông Đà Diễn 31

Hình 2.1 Các bước nghiên cứu của luận văn 37

Hình 2.2 Các modul mô hình Mike 21/3 FM Couple 38

Hình 2.3 Nguồn dữ liệu địa hình biển Đông từ GEBCO 44

Hình 2.4 Địa hình khu vực cửa Đà Diễn (trái, 11/2015) và địa hình khu vực cửa Đà Diễn (phải, 3/2016) 44

Hình 2.5 Sơ đồ các trạm trong đợt khảo sát tháng 11/2015 45

Hình 2.6 Sơ đồ các trạm trong đợt khảo sát tháng 5/2015 46

Hình 2.7 Đường kính kích thước hạt d50 47

Hình 3.1 Lưới và địa hình miền lớn (Mesh I) 48

Hình 3.2 Lưới và địa hình miền nhỏ (Mesh II) 49

Hình 3.3 So sánh mực nước thực đo với tính toán tại trạm C 50

Hình 3.4 So sánh độ cao sóng có nghĩa thực đo với tính toán tại trạm A 51

Hình 3.5 So sánh mực nước thực đo với tính toán tại trạm F 52

Hình 3.6 So sánh vận tốc dòng chảy tính toán với thực đo tại trạm G 52

Trang 8

Hình 3.8 So sánh chu kỳ sóng trung bình tính toán với thực đo tại trạm F 53

Hình 3.9 So sánh chu kỳ sóng đỉnh phổ tính toán với thực đo tại trạm F 53

Hình 3.10 Địa hình đáy cửa Đà Diễn tính toán (trái) và Google Earth (phải) T10/2015 54

Hình 3.11 Địa hình đáy cửa Đà Diễn tính toán (trái) và Google Earth (phải) T3/2016 55

Hình 3.12 Địa hình đáy cửa Đà Diễn tính toán (trái) và Google Earth (phải) T7/2016 56

Hình 3.13 Sơ đồ mặt cắt nghiên cứu 58

Hình 3.14 Tốc độ biến động địa hình đáy trung bình 59

Hình 3.15 Trường sóng tháng 10/2015 60

Hình 3.16 Trường dòng chảy vào m a lũ tại cửa Đà Diễn (triều lên) 61

Hình 3.17 Trường dòng chảy vào m a lũ tại cửa Đà Diễn (triều xuống) 61

Hình 3.18 Biến đổi địa hình đáy qua các mặt cắt vào cuối m a lũ (tháng 1/2016) 63 Hình 3.19 Biến đổi địa hình đáy khu vực cửa Đà Diễn m a lũ 64

Hình 3.20 Trường sóng tháng 6/2016 66

Hình 3.21 Trường dòng chảy vào mùa khô tại cửa Đà Diễn (triều lên) 66

Hình 3.22 Trường dòng chảy vào mùa khô tại cửa Đà Diễn (triều xuống) 67

Hình 3.23 Biến đổi địa hình đáy qua các mặt cắt vào cuối mùa khô (tháng 8/2016)68 Hình 3.24 Biến đổi địa hình đáy khu vực cửa Đà Diễn mùa khô 69

Trang 9

MỞ ĐẦU

Đà Diễn là cửa của sông Ba (phía hạ nguồn gọi là sông Đà Rằng) là con sông lớn nhất khu vực Nam Trung bộ, và là lưu vực sông nội địa lớn thứ hai trên lãnh thổ nước ta với diện tích lưu vực 13900 km2, chiều dài dòng chính là 380 km Với diện tích hứng nước lớn, khu vực thượng nguồn có độ dốc lớn, thủy năng dồi dào, tuy có thuận lợi cho việc khai thác điện năng nhưng đồng thời lại là nguyên nhân gây lũ lớn, ngập úng đe dọa đến các hoạt động dân sinh, kinh tế xã hội ở khu vực hạ lưu, đặc biệt là đối với các hoạt động nông nghiệp ở nơi được mệnh danh là vựa lúa Phú Yên của duyên hải Nam Trung Bộ cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến thành phố Tuy Hòa nằm ngay bên cửa sông Đà Diễn

Cho đến hiện nay, cửa sông Đà Diễn đang được dùng làm bến cảng cá và nơi neo đậu của trên dưới 900 tàu khai thác hải sản xa bờ và câu cá ngừ đại dương thuộc phường 6 và phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hoà và là trung tâm mua bán

cá ngừ đại dương lớn nhất duyên hải miền Trung Tuy nhiên, do nằm trong vùng tác động trực tiếp của dòng lũ từ thượng nguồn, lòng sông Đà Rằng hàng năm bị biến động (bồi xói) và tồn tại nhiều bãi bồi giữa sông, đặc biệt địa hình vùng cửa biển Đà Diễn luôn bị biến động theo mùa dẫn đến các hoạt động nói trên ở khu vực hạ lưu sông Ba và thành phố Tuy Hòa trở nên rất dễ bị tổn thương đối với lũ, sạt lở bờ sông, bờ biển, xâm nhập mặn, bồi lấp luồng lạch và khu neo đậu tàu thuyền

Trong những ngày sóng lớn, biển động hàng trăm tàu thuyền không thể xuất bến đi đánh bắt hải sản hoặc khi về không vào cảng được, bị mắc cạn hoặc phải di chuyển neo đậu ở các cảng khác cách xa thành phố Tuy Hòa đã không còn là chuyện xa lạ ở địa phương và gây ra những tổn thất nghiêm trọng về kinh tế và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, quốc phòng trên biển

Như vậy các yếu tố động lực biển như sóng, triều, dòng ven,… không những đưa b n cát bồi nông khu vực cửa sông gây ách tắc tàu thuyền ra vào cửa sông Đà Điễn mà còn gây sạt lở khu vực hai bên cửa sông rất nghiêm trọng Sạt lở diễn ra mạnh mẽ vào m a gió Đông Bắc Tình hình biến động mạnh và phức tạp ở vùng cửa sông Đà Diễn ảnh hưởng rất nhiều tới dân sinh kinh tế xã hội Phú Yên

Trang 10

Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn “Nghiên cứu biến động địa

h nh đáy cửa Đà Diễn – Phú Yên”

Cấu trúc luận văn gồm 3 chương chính c ng với phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Cụ thể như sau:

Mở đầu

Chương 1 Tổng quan khu vực nghiên cứu

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu và số liệu

Chương 3 Kết quả tính toán biến động địa hình đáy cửa Đà Diễn – Phú Yên Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

1.1.1 Vị trí địa l

Lưu vực sông Ba (hình 1.1) là một trong những lưu vực lớn nhất khu vực miền Trung, với tổng diện tích lưu vực là 13.900 km2, có tọa độ địa lý lý từ 12o35' đến 14o38' vĩ độ Bắc và từ 108o00' đến 109o55' kinh độ Đông Phía Bắc giáp lưu vực sông Trà Khúc, phía Tây và Nam giáp lưu vực sông Cái (Nha Trang) và sông Srepk, phía Đông giáp lưu vực sông Kone, sông Kỳ Lộ và biển Đông Diện tích tự nhiên toàn lưu vực nằm trên địa phận hành chính của 15 huyện, thị xã thuộc 4 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và Phú Yên Tổng diện tích đất nông nghiệp trên

35000 ha và tổng dân số trên lưu vực khoảng 1,5 triệu người

Hình 1.1 Lưu vực sông Ba

Sông Ba (phần thượng lưu gọi là Ia Pa, Ea Pa; phần hạ lưu gọi là Đà Rằng) dài 388 km, bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô, Tây Bắc tỉnh Kon Tum, từ độ cao 1549 mét, chảy theo hướng Bắc – Nam, qua huyện Kon Plông của tỉnh Kon Tum và các

Trang 12

huyện KBang, Đắk Pơ, An Khê, Kông Chro, Ia Pa, Ayun Pa của tỉnh Gia Lai, chuyển sang hướng Tây Bắc – Đông Nam qua huyện Krông Pa (Gia Lai) rồi đi vào địa phận tỉnh Phú Yên theo hướng Tây – Đông làm thành ranh giới tự nhiên giữa Sơn Hòa và Sông Hinh, giữa Sơn Hòa và Tây Hòa, giữa Tây Hòa và Phú Hòa, giữa Tây Hòa và thành phố Tuy Hòa rồi đổ ra Biển Đông ở cửa biển Đà Diễn (hình 1.2) [1]

Sông Ba cung cấp nước quanh năm cho đồng bằng Tuy Hòa, với diện tích hơn 20000 ha, vựa lúa lớn nhất Duyên hải Nam Trung Bộ

Hình 1.2 Vị trí cửa Đà Diễn

(Ngu n: Google Earth)

Tọa độ của cửa sông Đà Diễn là khoảng 13o5’23.65” vĩ độ Bắc,

109o19’40.79” kinh độ Đông V ng cửa sông nằm ở phía Nam thành phố Tuy Hòa, giáp với huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên

1.1.2 Đặc điểm địa h nh

Địa hình lưu vực sông Ba khá phức tạp, bị chia cắt mạnh mẽ bởi sự chi phối của dãy Trường Sơn Đường phân thuỷ của lưu vực có độ cao từ (500 – 2000 m) bao bọc 3 phía: Bắc, Đông, Nam và chỉ được mở rộng về phía Tây với cao nguyên

Trang 13

Dưới tác động của các yếu tố địa hình phức tạp có thể chia lưu vực thành 5

- V ng cao nguyên: có độ cao phổ biến từ (300 – 500 m)

- V ng gò đồi: chủ yếu là v ng An Khê, Sơn Hoà, hạ lưu sông Hinh và lưu vực sông Krông H Năng

- V ng đồng bằng: tập trung ở hạ lưu sông Ba, Phú Yên Phía Đông khu vực này là Biển Đông, ba mặt còn lại đều giáp núi (dãy Cù Mông ở phía Bắc, dãy Vọng Phu - Đèo Cả ở phía Nam, phía Tây là rìa Đông của dãy Trường Sơn)

Do vị trí địa lý và ảnh hưởng của địa hình nên vùng hạ du lưu vực sông Ba thường xuyên chịu tác động mạnh của các yếu tố tự nhiên như mưa, gió, sóng, bão,

áp thấp nhiệt đới, phân bố bồi tích không đều … gây nên lũ lụt, bồi lấp, xói lở khu vực cửa sông

Mặt khác, những hoạt động kinh tế như khai thác tài nguyên rừng, khoanh đắp các đầm nuôi hải sản, các công trình dân sinh, thủy lợi, thủy điện… làm thay đổi chế độ dòng chảy và lượng bùn cát từ sông đổ ra biển Hiện nay, phía thượng nguồn rừng bị tàn phá làm suy thoái và cạn kiệt dòng chảy mùa vào khô ở hạ lưu dẫn đến suy thoái hệ sinh thái, giảm nguồn lợi thuỷ sản, thay đổi vận chuyển bùn cát của sông, nhiễm mặn và suy giảm chất lượng nước, …

1.1.3 Đặc điểm khí hậu

a Chế độ gió:

Chế độ gió ở Phú Yên thể hiện hai mùa rõ rệt, m a mưa là thời kỳ thịnh hành gió Bắc (Bắc, Đông Bắc và Đông); m a khô là thời kỳ thịnh hành gió hướng Tây, Tây Nam

Trang 14

Bảng 1.1 Tần suất % và hư ng gió thịnh hành khu vực Phú Yên

Tháng/Trạm Tuy Hoà Miền Tây Sơn Hoà

(Ngu n: rung tâm khí tượng thủy văn quốc gia)

Nghiên cứu chuỗi số liệu quan trắc gió tại trạm Tuy Hoà, Miền Tây và Sơn Hòa (Phú Yên) trong 20 năm từ năm 1987 đến năm 2007 (bảng 1.1), cho thấy vào

m a đông (từ tháng X, XI đến tháng III, IV năm sau) gió ở khu vực Phú Yên và cửa

Đà Diễn có hướng thịnh hành nhất là hướng Bắc (tần suất 50 - 60%) Sau đó là gió Đông Bắc với tần suất 30 - 45% Vào cuối m a đông còn xuất hiện gió Đông với tần suất dưới 30%

Trang 15

Hình 1.3 Hoa gió tính từ số liệu gi đo tại trạm gió Tuy Hòa [3]

Từ tháng VI đến tháng IX gió mùa mùa hạ phát triển mạnh, toàn lãnh thổ Phú Yên thịnh hành gió Tây với tần suất 30 - 65%, tháng VIII tần suất gió Tây lớn nhất trong năm Từ cuối tháng IX, gió mùa mùa hạ bắt đầu bước vào thời kỳ suy thoái, đồng thời cũng là thời kỳ tranh chấp của hai thứ gió mùa (hình 1.3)

Tốc độ gió trung bình năm dao động trong khoảng 2 - 2,5 m/s Nhìn chung các tháng mùa hè tốc độ gió trung bình lớn hơn m a đông Tốc độ gió trong bình lớn nhất vào tháng V, VI và nhỏ nhất vào tháng XII hoặc tháng I

b Chế độ mưa

Mưa là một yếu tố chính của khí hậu, thủy văn, là một trong những thành

Trang 16

chi phối thời vụ, cơ cấu cây trồng, năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là các vùng sản xuất còn lệ thuộc vào nước trời

Hình 1.4 Bản đ phân bố lượng mưa mùa mưa (trái) và mùa khô (phải) [4]

Lượng mưa trung bình nhiều năm biến đổi từ 1300 mm đến 2200 mm, mưa ít nhất tại các vùng khuất gió như Cheo Reo, Phú Túc và mưa nhiều nhất là thượng nguồn sông Hinh và thượng nguồn sông Ba (hình 1.4)

Bảng 1.2 Lượng mưa trung nh nhiều năm các tháng mm

Trạm Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

Phú Lạc 48 21 43 33 80 48 36 49 245 637 517 258 Hòa Đồng 72 28 56 45 109 80 58 63 246 679 614 324 Sơn Thành 46 17 54 52 124 100 77 76 235 621 563 272 Sông Hinh 58 21 68 65 155 125 97 95 237 626 567 274 Miền Tây 22 10 34 36 125 106 80 107 213 447 409 155 Sơn Hòa 23 10 36 38 132 112 84 113 209 469 402 152 Củng Sơn 21 9 38 35 89 113 75 106 180 487 399 154

Hà Bằng 31 12 26 35 112 75 63 77 225 517 462 159 Xuân Lãnh 43 17 36 48 155 104 87 107 239 550 491 169

Cù Mông 59 26 34 31 96 74 44 81 269 594 607 315 Sông Cầu 26 11 13 30 83 81 34 66 244 534 487 193 Chí Thạnh 20 8 10 23 62 61 26 50 226 495 452 179 Tuy Hòa 47 18 35 30 94 60 42 56 288 656 549 215 Phú Lâm 40 19 32 30 89 56 39 51 267 612 498 200

Trang 17

M a mưa trên lưu vực sông Ba giữa khu vực Tây và Đông Trường Sơn có khác nhau, ở Tây Trường Sơn m a mưa từ tháng V đến tháng X (bảng 1.2), còn Đông Trường Sơn là từ tháng IX đến tháng XII Vì vậy dòng chảy mặt lưu vực sông

Ba là phong phú, tính đến Tuy Hòa (diện tích 13900 km2) thì tổng lượng nước trung bình nhiều năm khoảng 9,8 tỷ m3 Tuy nhiên lượng nước này phân bố không đều trong năm kết hợp với ảnh hưởng của địa hình tạo ra m a mưa lớn (dễ gây lũ lụt) và mùa khô thiếu nước

c Bão và áp thấp nhiệt đới

Bão và áp thấp nhiệt đới thường ảnh hưởng hoặc đổ bộ vào nước ta từ tháng

5 đến tháng 12, nhưng cũng có năm bão đổ bộ từ tháng 3 (năm 1982) M a bão ở Phú Yên tr ng với m a mưa (tháng 10 đến tháng 12) nhưng cũng có năm cuối tháng

6 đầu tháng 7 đã có bão đổ bộ vào khu vực này (năm 1978, 2004), cho nên vào giữa mùa gió Tây khô nóng cũng không loại trừ khả năng bão đổ bộ (http://weather.unisys.com)

Có thể nói, Phú Yên tuy là một trong những tỉnh ven biển nằm trong khu vực đón bão, song bão không nhiều như Bắc Trung Bộ và miền Bắc, và xen kẽ có năm không có bão Địa hình của tỉnh Phú Yên đóng vai trò quan trọng trong chế độ mưa của bão Lượng mưa do bão đem tới đã góp phần làm cho tổng lượng mưa toàn mùa thêm phong phú, nhưng mưa bão kết hợp địa hình dốc ngắn đã làm cho các trận lũ trở nên phức tạp hơn trong suốt cả m a

1.1.4 Đặc điểm thủy văn

Lưu lượng dòng chảy m a lũ trên sông Ba chiếm 71,8% lưu lượng dòng chảy

cả năm Tháng có lưu lượng lớn nhất là tháng 11 với lưu lượng trung bình khoảng 863,2 m3/s, chiếm 25,8% lưu lượng dòng chảy cả năm (hình 1.5)

Trang 18

Hình 1.5 Lưu lượng trung nh tháng nhiều năm 1978 – 2016 trạm Củng ơn [2]

Dòng chảy m a khô xuất hiện từ tháng 1 và kết thúc vào tháng 8 Từ cuối tháng 12 đến tháng 1, dòng chảy trên các sông được hình thành chủ yếu là do thành phần nước trữ lại từ m a mưa trước đó cung cấp, thường giảm xuống nhanh chóng, đến tháng 4 đạt giá trị trung bình nhiều năm thấp nhất chỉ chiếm khoảng 1,4% dòng chảy năm Từ tháng 5 đến tháng 8, nhờ có mưa lũ tiểu mãn và mưa sớm đầu m a, nên tỉ lệ dòng chảy tăng lên đến 7,3% nhưng vẫn là m a khô Trong 8 tháng m a khô, lượng dòng chảy chỉ chiếm khoảng 29,2% lượng dòng chảy năm, là thời kỳ thiếu nước cho sản xuất và dân sinh Đây cũng chính là nguyên nhân động lực v ng cửa sông không còn khả năng cân bằng với động lực biển và thời gian này các yếu

tố biển trội hơn nhiều các yếu tố sông, gây ra các tác động bồi lấp cửa do b n cát được vận chuyển từ biển và ven bờ, một phần nhỏ b n cát mịn từ sông cũng bị lắng đọng ngay ở v ng trong cửa sông (bảng 1.3)

Bảng 1.3 Dòng chảy bình quân tại Củng ơn 1977-2016) [2]

Trang 19

Lượng dòng chảy năm trên lưu vực sông Ba không lớn, modul dòng chảy 23 năm (Mo) đạt 22,8 l/s.km, hàng năm sông Ba đổ ra Biển Đông xấp xỉ 10 tỷ m3 nước [2]

Vào mùa mưa, dòng chảy lũ sông Ba có tác động rất lớn đến diễn biến cửa

Đà Diễn, một mặt phá v và đẩy b n cát bị bồi lấp ở cửa sông trong thời kỳ m a khô, mặt khác mang lượng b n cát đáng kể từ thượng lưu về để phân bố lại ở v ng cửa sông Theo số liệu thống kê gần 100 năm qua, tại Củng Sơn (diện tích lưu vực F=12.410 km2) đã xảy ra 3 trận lũ có đỉnh trên 20.000 m3/s, đó là lũ năm 1938 có Qmax = 24.000 m3/s, lũ năm 1964 có Qmax 21.850 m3/s, và lũ 1993 có Qmax 20.700 m3/s

Thời gian duy trì các trận lũ sông Ba thường chỉ 3 đến 5 ngày, biên độ lũ cao, cường suất nước lũ lớn, thời gian lũ lên ngắn, dạng lũ đỉnh nhọn Tổng lượng

lũ 1 ngày lớn nhất chiếm tới 40-50% tổng lượng của toàn trận lũ Lũ lớn tập trung vào hai tháng X và XI, chiếm 81-88% tổng số các trận lũ trong năm

b Bùn cát sông Ba

Bùn cát là một trong những yếu tố thủy văn đặc biệt quan trong đối với ổn định lòng sông, cửa sông Lượng b n cát trên sông Ba cũng thay đổi rất lớn theo thời gian trong năm Các kết quả phân tích thống kê cho thấy độ đục (hàm lượng

b n cát) trung bình nhiều năm của sông Ba tại Củng Sơn là 228,0 g/m3 nước Trong

đó tháng cao nhất là tháng X đạt tới 294,2 g/m3, tháng thấp nhất là tháng 3 chỉ có 18,3 g/m3 chênh nhau tới 16 lần

Kết quả điều tra nghiên cứu khảo sát cho thấy, đường kính cấp hạt (d50) của tất cả các mẫu trầm tích trong khu vực nghiên cứu biến đổi từ 0,003 - 1,4 mm, ngoại trừ có một số ít cuội sỏi với đường kính cấp hạt biến đổi từ 7,0 - 15,0 mm Hầu hết các trầm tích hạt thô có màu trắng, vàng - trắng và xám nhạt, còn những trầm tích hạt mịn có màu xám xanh và vàng xám Nhìn chung độ chọn lọc của các trầm tích hạt thô và trung khá tốt, biến đổi từ 1,1 - 1,6 (bảng 1.4) Tuy nhiên độ chọn lọc của các trầm tích hạt mịn kém hơn, biến đổi từ 2,2 - 3,5

Trang 20

Bảng 1.4 Đường kính hạt trung nh d 50 và độ chọn lọc (s o của trầm tích

1.1.5 Đặc điểm hải văn

a Thủy triều

Thuỷ triều tại khu vực này thuộc chế độ nhật triều không đều Hàng tháng có

từ 18 đến 22 ngày nhật triều Thời kỳ triều cường thường xuất hiện nhật triều, khi triều kém thường xuất hiện bán nhật triều Độ lớn triều trung bình là 1,50 ± 0,20 m Khi triều cường, độ lớn mực nước là 1,70 m, khi triều kém độ lớn triều là 0,50 m Thời gian triều dâng thường kéo dài hơn thời gian triều rút Vào m a mưa thuỷ triều chỉ gây ảnh hưởng tối đa đến khoảng 4 km trong sông Vào m a khô, lưu lượng dòng chảy nhỏ, triều truyền xa hơn

Theo số liệu toàn cầu, cao độ và biên độ thủy triều được tính toán theo từng tháng như sau (bảng 1.5):

Trang 21

Bảng 1.5 Bảng tính toán cao độ và iên độ thủy triều dựa trên số liệu toàn cầu [1]

Mực nước triều - diễn biến đặc trưng triều:

Các số liệu khảo sát cho thấy bình quân đỉnh triều cao nhất vào tháng XI, thấp nhất vào tháng III và IV Biên độ triều giảm dần từ cửa sông vào nội địa, song

do điều kiện lòng sông thay đổi nên biên độ triều có chênh lệch giữa các đoạn sông

và NE với độ cao trung bình là 0,9 m và độ cao lớn nhất biến đổi từ 3,5 đến 4,0 m (bảng 1.6) Nhìn chung, chế độ sóng trong mùa hè không ổn định và độ lớn nhỏ hơn

Trang 22

so với m a đông Biểu đồ hoa sóng mô tả chế độ sóng ngoài khơi khu vực Tuy Hòa được thể hiện trên (hình 1.6)

Bảng 1.6 Độ cao s ng nh quân m theo các tháng và mùa trong năm

tại trạm Tuy Hòa, Phú Yên [3]

Tháng N NE E SE S SW W NW Trung

Bình

I 0,75 0,73 0,45 0,35 0,30 0,30 0,30 0,51 0,61

II 0,73 0,83 0,50 0,53 0,30 0,33 0,30 0,81 0,63 III 0,71 0,69 0,55 0,61 0,47 0,30 0,36 0,61 0,54

IV 0,88 0,54 0,58 0,59 0,37 0,39 0,56 0,30 0,51

V 0,55 0,49 0,57 0,66 0,45 0,47 0,48 0,57 0,46

VI 0,46 0,40 0,52 0,55 0,56 0,67 0,81 0,64 0,59 VII 0,56 0,52 0,57 0,57 0,58 0,60 0,76 0,69 0,59 VIII 0,41 0,53 0,55 0,52 0,65 0,69 0,82 0,67 0,64

IX 0,48 0,46 0,44 0,49 0,46 0,54 0,62 0,42 0,44

X 0,91 0,66 0,44 0,78 0,30 0,38 0,90 0,58 0,60

XI 0,97 1,02 0,77 0,50 0,30 1,14 1,40 0,94 0,91 XII 0,97 1,01 0,75 0,49 0,30 1,07 1,38 0,91 0,88

Cả năm 0,84 0,80 0,56 0,59 0,50 0,62 0,78 0,68 0,63

M a mưa

(IX-XII) 0,94 0,91 0,60 0,58 0,41 0,64 0,86 0,70 0,73 Mùa khô (I-VIII) 0,72 0,71 0,55 0,59 0,52 0,61 0,76 0,66 0,57 ĐôngBắc (X-IV) 0,87 0,83 0,58 0,60 0,38 0,62 1,01 0,78 0,68 Tây Nam (V-IX) 0,50 0,48 0,54 0,59 0,55 0,62 0,75 0,62 0,55

Trang 23

Hình 1.6 Hoa sóng tính từ số liệu gi đo tại trạm Tuy Hòa [3]

3 - 4

1 - 2 0.6 - 1 0.1 - 0.2 Below 0.1

3 - 4

1 - 2 0.6 - 1 0.1 - 0.2 Below 0.1

N

Calm 0.00 %

10 %

Hs(m) Above 4

3 - 4

1 - 2 0.6 - 1 0.1 - 0.2 Below 0.1

N

Calm 0.00 %

10 %

Hs(m) Above 4

3 - 4 0.6 - 1 Below 0.1

3 - 4 0.6 - 1 Below 0.1

N

Calm 0.00 %

10 %

Hs(m) Above 4

3 - 4 0.6 - 1 Below 0.1

N

Calm 0.00 %

10 %

Hs(m) Above 4

3 - 4

1 - 2 0.6 - 1 0.1 - 0.2 Below 0.1

3 - 4

1 - 2 0.6 - 1 0.1 - 0.2 Below 0.1

N Calm 0.00 %

10 %

Hs(m) Above 4

3 - 4

1 - 2 0.6 - 1 0.1 - 0.2 Below 0.1

N Calm 0.00 %

10 %

Hs(m) Above 4

3 - 4

1 - 2 0.6 - 1 0.1 - 0.2 Below 0.1

3 - 4

1 - 2 0.6 - 1 0.1 - 0.2 Below 0.1

N

Calm 0.00 %

10 %

Hs(m) Above 4

3 - 4

1 - 2 0.6 - 1 0.1 - 0.2 Below 0.1

N

Calm 0.00 %

10 %

Trang 24

1.2 TÁC ĐỘNG NHÂN SINH ĐẾN SÔNG BA VÀ KHU VỰC CỬA ĐÀ DIỄN

Trong xu thế phát triển chung của đất nước, tỉnh Phú Yên đã có những bước phát triển kinh tế vượt bậc Trong khoảng vài ba chục năm qua, trên lưu vực sông

Ba và sông Ba các hoạt động của con người gia tăng rất mạnh mẽ, nhằm khai thác các thế mạnh của lưu vực và tiềm năng dòng chảy sông Ba để phát triển kinh tế xã hội Trong đó, hai lĩnh vực phát triển mạnh mẽ nhất là thuỷ điện và thuỷ lợi Ngoài các mặt tích cực mà thủy điện, thủy lợi mang lại các công trình này cũng gây ra những ảnh hưởng bất lợi tới đặc tính tự nhiên của con sông và trực tiếp tới dân sinh kinh tế xã hội nhất là khu vực hạ lưu sông Ba và cửa Đà Diễn

1.2.1 Các c ng tr nh thủy lợi thủy điện trên lưu vực sông Ba

Tính đến 2017, trên toàn lưu vực sông Ba đã xây dựng 72 công trình thủy lợi

và 12 công trình thủy điện lớn, nhỏ Tổng dung tích của các hồ chứa trên lưu vực khoảng 1560,2 triệu m3 Trong đó thủy điện sông Ba Hạ vừa có công suất thủy điện lớn nhất và có hồ chứa có dung tích lớn nhất, tiếp sau là thủy điện sông Hinh (bảng 1.7) [5]

Hình 1.7 Vị trí các h chứa l n trên lưu vực sông Ba

Trên lưu vực sông Ba các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ trên các dòng nhánh của lưu vực sông Ba chủ yếu là đập dâng Tuy nhiên cũng có một số trạm thuỷ điện Có 5 hệ thống hồ chứa lớn thường được coi là chủ đạo trong điều tiết

Trang 25

nước hệ thống sông Ba, trong đó An Khê – Ka Nak được xem là 1à hồ chứa lớn nhất (hình 1.8)

Bảng 1.7 Các thuỷ điện trên dòng chính và dòng nhánh hệ thống sông Ba [5]

STT Tên công

trình

F lưu vực (km 2 )

1 Ka Nak 833,0 KBang Sông Ba 13,0 56,6

2 An Khê 1236,0 TX An Khê Sông Ba 160 643,2

3 Đak Srông 2094 KonChRo Sông Ba 40 179,1

7 Hchan 854 Măng Yang IaYun 12 70,2

8 Hmun 890 Chư Sê IaYun 15 79,5

9 Ayun hạ 1670 AYunPa IaYun 3 24,2

10 EaKRông 1168 Sông Hinh Eakr 66 264,6

11 Sông Ba hạ 2612,7 Sông Ba Sơn Hoà 250 968,6

12 Sông Hinh 772 Sông Hinh Sông

Hinh 70 403,6

Cùng với các thủy điện, hoạt động của hồ chứa thủy lợi cũng tác động rất lớn tới lưu vực sông Trong các hồ chứa thủy lợi thì hồ Ayun Hạ có dung tích lớn nhất Thủy lợi Ayun Hạ hoàn thành năm 2000 với công suất tưới thiết kế 13.500 ha, tiếp

Trang 26

nước cơ bản của sông Ba trong mùa khô, làm cho đoạn hạ lưu khô cạn, tạo điều kiện cho tác động của các yếu tố biển chiếm ưu thế trong diễn biến cửa sông Đà Diễn

1.2.2 nh h nh iến đổi thảm phủ lưu vực s ng Ba

Rừng tự nhiên là lớp phủ quan trọng trên bề mặt lưu vực sông Ba đã thay đổi rất nhiều dưới tác động của con người, trong đó lớn nhất là khai thác gỗ và phát triển nông nghiệp Năm 1943, diện tích rừng tự nhiên các loại chiếm khoảng 82% diện tích lưu vực, nhưng đến năm 1983 chỉ còn 42% Các năm gần đây, mặc d đã được quản lý chặt chẽ, song diện tích lớp phủ thực vật trên lưu vực cũng thay đổi rất nhiều (bảng 1.8) Sự biến động về lớp phủ thực vật đã dẫn đến các hậu quả tiêu cực về môi trường, cụ thể là làm gia tăng khô hạn vào m a khô và lũ lụt vào m a lũ trong nhiều năm gần đây, tuy nhiên do sự hạn chế về số liệu điều tra chi tiết về thảm phủ sau năm 2000, đề tài chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu khía cạnh tác động của sự biến đổi thảm phủ đến chế độ thủy động lực nói chung và diễn biến bồi xói khu vực cửa sông Đà Diễn nói riêng [5]

Bảng 1.8 Sự thay đổi thảm phủ trên lưu vực sông Ba (1992-2000) [5]

Trang 27

1.2.3 Các hoạt động kinh tế tác động vào vùng cửa Đà Diễn

Ngoài các công trình khai thác tài nguyên nước ở thượng lưu, ở khu vực hạ lưu sông Ba và cửa Đà Diễn còn có nhiều công trình xây dựng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và phòng chống thiên tai bảo vệ cửa sông Trong đó đáng kể nhất là công trình giao thông gồm ba cầu đường bộ là: cầu đường sắt Bắc – Nam, 2 cầu qua

QL 1A và cầu H ng Vương Đồng thời còn có các công trình phòng chống thiên tai vùng cửa sông ven biển là cống tiêu nước đô thị, kè chống xói lở bảo vệ bờ sông bờ biển

Bên cạnh đó, hoạt động nạo vét luồng quá mức ở khu vực cửa sông đã làm thay đổi dòng chảy và gây ra sạt lở đường bờ, ảnh hưởng rất lớn đến dân sinh và xã hội trong khu vực (hình 1.9) Theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên, đến thời điểm tháng 6/2017 có 9 doanh nghiệp được Ủy ban Nhân dân tỉnh cấp phép khai thác với tổng khối lượng lên đến 1,5 triệu tấn [5] Tuy nhiên đây chỉ là con số thông báo, còn thực tế khối lượng khai cát còn hơn rất nhiều Hoạt động nạo vét luồng tại cửa Đà Diễn là có thể một trong những nguyên nhân tác động trực tiếp đến thay đổi dòng dẫn, dòng chảy và gây ra sạt lở bờ sông, bờ biển

Hình 1.8 Nạo vét lu ng lạch cửa Đà Diễn

1.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN CỬA SÔNG

1.3.1 Các phương pháp nghiên cứu iễn iến cửa s ng

Hiện nay, có nhiều phương pháp khác nhau nghiên cứu về diễn biến cửa sông trên thế giới cũng như tại Việt Nam Những phương pháp được sử dụng phổ biến là:

Trang 28

hư ng pháp điề t a c ản à đo đ c th c địa ng nghi n cứ

Đây là phương pháp truyền thống thường được sử dụng trong nghiên cứu diễn biến bờ biển trước đây và hiện nay Nhằm đánh giá định tính và định lượng các đặc trưng động lực v ng cửa sông ven biển thông qua đo đạc địa hình khu vực cửa sông theo các m a trong một số năm để so sánh và đánh giá diễn biến Đồng thời,

đo một số yếu tố thủy, hải văn để bổ sung số liệu đầu vào cho việc áp dụng mô hình toán vì thực tế số liệu quan trắc thủy, hải văn ở v ng cửa sông ven biển miền Trung còn rời rạc, thiếu đồng bộ và khó khăn cho nghiên cứu diễn biến cửa sông Đây là phương pháp được sử dụng sớm nhất, hiện nay đã được nâng cấp nhờ hiện đại hóa, chính xác hóa các thiết bị đo, như máy đo lưu tốc, lưu lượng ADCP, máy định vị vệ tinh DGPS, thiết bị đo sóng, đo b n cát, đo độ muối, và nhờ các k thuật tin học,

vi tính trong chỉnh l , phân tích số liệu để đưa ra những kết quả mang tính sát thực

tế hơn Tuy nhiên mức độ chính xác của phương pháp này hoàn toàn phụ thuộc vào

số liệu đo đạc, mà độ chính xác của số liệu đo là do phương pháp đo và thiết bị đo

hư ng pháp ch p ản đ

Phương pháp viễn thám bản đồ nghiên cứu biến động hình thái đường bờ bằng cách chập ảnh và chập bản đồ c ng tỷ lệ như nhau và khác thời gian để so sánh Từ các số liệu đo đạc khảo sát thực tế của một v ng tại các thời gian khác nhau, xây dựng mô hình số độ sâu cho khu vực nghiên cứu Mô hình số độ sâu (DEM) là mô hình số về độ cao hoặc độ sâu của địa hình, biến thiên liên tục tại bất

kỳ một vị trí nào trên bề mặt trái đất Chồng ghép các DEM với nhau để tìm ra sự biến động địa hình đáy qua các thời kỳ theo m a và theo năm, trên cơ sở đó định lượng sự biến động địa hình đáy như: lượng bồi, xói lớn nhất, bồi, xói trung bình và thể tích bồi, xói cho một khu vực

Trang 29

Là phương pháp xây dựng mô hình nguyên mẫu ngoài thực tế cho một đoạn

bờ biển cụ thể nào đó hoặc các công trình theo tỷ lệ thu nhỏ Các tác động trong tự nhiên tới bờ biển như sóng, dòng chảy, sự biến đổi mực nước do thủy triều, được tạo ra trong phòng thí nghiệm với tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ mô hình Các số liệu về mực nước, dòng chảy và sự biến đổi của bờ biển được ghi nhận lại thông qua các thiết bị đo đạc tự động hoặc bán tự động đặt trong mô hình

hư ng pháp m hình toán

Mô hình toán d ng để mô phỏng và xác định các quy luật liên quan đến diễn biến cửa sông như vận chuyển b n cát, quá trình diễn biến đường bờ, diễn biến mực nước, thủy triều và sóng biển khu vực ngoài khơi và v ng cửa sông nói riêng Các công cụ nghiên cứu xói lở, bồi tụ, dịch chuyển cửa sông, bờ biển bằng mô hình toán động lực hình thái 2 chiều, 3 chiều mô phỏng diễn biến hình thái của các cửa sông, lạch triều ngày càng được hoàn thiện và cho phép mô phỏng chi tiết hơn các hiện tượng diễn biến trong tự nhiên sát thực hơn với thời đoạn mô phỏng ngày càng dài hơn

1.3.2 ổng quan các c ng tr nh nghiên cứu i l i t trong và ngoài nư c

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về vận chuyển b n cát trong sông nói chung và bồi xói v ng cửa sông nói riêng Những nghiên cứu này sử dụng các phương pháp khác nhau để tính toán, phân tích và dự báo tình hình bồi lắng trong tương lai Để tính toán, dự báo quá trình bồi v ng trong sông và cửa sông có thể sử dụng các mô hình toán một chiều, hai chiều hoặc ba chiều Trong đó, một số nghiên cứu dựa trên mô hình 1 chiều và 2 chiều tính toán bồi xói trong sông hồ cũng như v ng cửa sông như sau:

ghi n cứ nước ngoài

Nghiên cứu biến động hình thái và cơ chế bồi lấp, xói lở vùng cửa sông từ lâu đã thu hút rất nhiều sự quan tâm từ các nhà khoa học trên thế giới ở các nước

M , Nga, Hà Lan, Đan Mạch, Nhật Bản, và ở hầu hết các nước có biển, có tiềm lực về khoa học và kinh tế đều có nghiên cứu về biến động hình thái cửa sông theo quy mô và mức độ khác nhau (Edmonds và Slingerland 2007, 2010; Tanaka và Lee,

Trang 30

2001; Nienhuis và nnk, 2016; Warrick và nnk, 2009, Leonardi và nnk, 2013; Luo Jing và nnk, 2013; Wu Xiao và nnk, 2017; Luan Hua Long và nnk, 2017 ) Có thể khái quát thấy các nghiên cứu tập trung vào một số vấn đề sau [5]:

a) Quy luật biến động tự nhiên địa hình - địa mạo khu vực châu thổ cửa sông:

Về vấn đề này có các nghiên cứu tiêu biểu như: Công trình nghiên cứu mang tính kinh điển về châu thổ Mississipy của Coleman (1975), Kolb và Lopik (1958);

Về cấu trúc châu thổ và tiến hóa trầm tích của các cửa sông lớn như: sông Rhon, Niger, Mahakam, Hoàng Hà đã được đề cập đến trong nghiên cứu của Fisk (1947, 1952), Coleman và nnk (1975), Galloway và Broussard (1975); Về nghiên cứu đánh giá các điều kiện địa chất, kiến tạo, thạch học có các công trình của Zenkovic V.P (1946, 1960-1962), Leontiev (1955, 1961)… Trong đó, Coleman (1975) dựa vào cơ chế động lực của sóng, thủy triều và dòng ven bờ đã phân chia v ng ven bờ thành các kiểu bờ khác nhau Đặc biệt đã phân tích chi tiết quá trình thành tạo và tiến hóa

các đê cát, giồng cát ven bờ (beach sand ridges) trong các đồng bằng cát ven bờ (chenier plain); Wright và David (1985), Could và Morgan (1970) đã phân tích chi

tiết điều kiện sinh thái và quá trình phát sinh, phát triển của v ng đầm lầy ven biển cửa sông Bên cạnh đó các ảnh hưởng của hoạt động địa chất, kiến tạo và dao động mực nước biển đến biến đổi các sông ven biển cũng đã được nghiên cứu bởi Bhattacharya (1992) và Beaumont và nnk (2000)

b) Quy luật ổn định về hình thái cửa sông:

Các cửa sông và cửa lạch triều (tidal inlet) khi đạt tới trạng thái cân bằng ổn định về hình thái đều tuân theo một quy luật tương quan giữa diện tích mặt cắt ngang của cửa (là diện tích chảy) với các đặc trưng của dòng chảy qua cửa Có 3 hướng nghiên cứu tiêu biểu về cân bằng ổn định hình thái các cửa sông của Le Conte (1905), của Escoffier (1940) và của Bruun và Gerritsen (1960)

Người đầu tiên nghiên cứu về tương quan cân bằng ổn định giữa diện tích mặt cắt ngang cửa với các đặc trưng dòng chảy đi qua cửa là Le Conte (1905) Le Conte đã tìm ra tương quan kinh nghiệm giữa diện tích mặt cắt ngang cửa với thể

Trang 31

vào các cảng ở bờ biển Thái Bình Dương thuộc M Tiếp theo là các nghiên cứu của O'Brien (1931), O'Brien (1969) đều tập trung ở các cửa lạch triều và cửa sông ở

bờ biển nước M , và Jarrett (1976) đã nghiên cứu khá đầy đủ và tổng hợp với 108 cửa sông, cửa lạch triều nằm ở 3 vùng bờ biển của M là: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và v ng vịnh Mexico, cho cả cửa sông tự nhiên và cửa sông đã xây dựng công trình chỉnh trị

Hướng tiếp cận giải tích có mục đích chính là đơn giản hóa các phương trình hay hệ phương trình toán và tìm ra nghiệm của chúng, từ đó phân tích và đánh giá được xu thế biến động của cửa sông Hướng tiếp cận này là hướng tiếp cận cơ bản

và đã được áp dụng vào nhiều các nghiên cứu khác nhau trên thế giới trong nhiều lĩnh vực Đối với việc áp dụng hướng nghiên cứu giải tích trong việc đánh giá xu thế ổn định của cửa sông, phải kể đến các nghiên cứu của Escoffier (1940), Escoffier (1977) hay Van de Kreeke (1992),… về xây dựng mối quan hệ giữa vận tốc dòng lớn nhất (hoặc ứng suất tiếp lớn nhất) và diện tích mặt cắt ngang cửa sông (giản đồ đường cong thủy lực ổn định) Thông qua việc xây dựng giản đồ đó, sự ổn định của cửa sông được đề xuất và đánh giá Ưu điểm của phương pháp này là có thể xác định một cách định lượng diện tích mặt cắt ngang cân bằng ổn định của họng sông, đây là một giá trị quan trọng trong việc đề xuất phương án quản lý và chỉnh trị cửa sông Tuy nhiên, không có mối quan hệ nào có thể đại diện cho tất cả các cửa sông trên thế giới, do đó, mỗi cửa sông đều cần được nghiên cứu và đề xuất mối quan hệ khác nhau

Một trong những vấn đề quan trọng nhất tại các lạch triều cửa sông có liên quan chặt chẽ tới bồi lấp các lạch triều này là hiện tượng chuyển cát qua cửa sông (by passing) Đây là một quá trình mà bùn cát bị dịch chuyển từ thượng lưu theo hướng dòng chảy dọc bờ về hạ lưu của cửa sông Trong quá trình này bùn cát bị dịch chuyển đi qua lòng dẫn của lạch triều tại cửa phía ngoài biển và đi qua delta triều xuống Một trong những người tiên phong trong nghiên cứu trường vận chuyển bùn cát tổng quát dẫn tới hiện tượng chuyển cát tại các cửa sông là Bruun và Gerritsen (1959) và sau này là nghiên cứu của Fitzgerald (1982,1988)

Trang 32

Theo Bruun và Gerritsen, hai nguyên l cơ bản làm dịch chuyển bùn cát qua cửa sông được mô tả như sau: (a) hiện tượng chuyển cát qua cửa sông thông qua các dải cát ngầm ngoài cửa và (b) hiện tượng chuyển cát qua cửa sông do tác động của dòng triều Cơ chế chuyển cát thứ nhất xảy ra khi dải cát ngầm phía ngoài cửa hoạt động như một “cầu nối”, chuyển cát từ thượng lưu cửa về hạ lưu cửa theo hướng của dòng ven Trong khi đó, cơ chế chuyển cát thứ 2 xảy ra khi bùn cát bị lắng đọng bên trong lạch triều dưới tác dụng của dòng triều lên, bị vận chuyển trở lại xuống vùng hạ lưu của cửa sông dưới tác dụng của dòng triều rút

Bruun và Gerritsen (1960) đã giới thiệu chỉ số đánh trạng thái ổn định chung của các cửa sông, cửa lạch triều bằng tỷ số (P/Mtot) giữa thể tích lăng trụ triều P và lượng bùn cát tổng cộng vận chuyển dọc bờ Mtot Bruun đã chỉ ra rằng, sự ổn định của một cửa sông, cửa lạch triều phụ thuộc là khả năng mang b n cát bồi tụ ở cửa của dòng triều, biểu thị bằng thể tích lăng trụ triều P và lượng bùn cát do sóng, dòng chảy mang tới gây bồi lấp cửa, biểu thị bằng Mtot Nếu dòng triều đủ lớn để mang hết bùn cát do sóng, dòng chảy do sóng đưa tới cửa thì cửa ở trạng thái ổn định, lạch triều qua cửa sẽ ít bị bồi lấp, dịch chuyển Ngược lại, nếu dòng triều quá nhỏ, không có khả năng tải lượng bùn cát bị đưa đến gây bồi lấp cửa thì cửa sẽ dần bị thu hẹp, mất ổn định và cuối cùng là bị lấp hoàn toàn Chỉ số ổn định của Bruun (1978)

và Gerritsen (1960) đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước khi đánh giá mức độ ổn định của cửa (Bảng 1.1)

Bảng 1.9 Chỉ tiêu đánh giá trạng thái ổn định cửa s ng

P/Mtot> 150 Cửa ổn định

100 < P/Mtot< 150 Trạng thái ổn định trung bình

50 < P/Mtot< 100 Trạng thái ổn định kém

P/Mtot< 50 Cửa không ổn định (có thể bị bồi lấp)

c) Nghiên cứu trường thủy động lực quá trình bồi xói ở khu vực cửa sông

Trang 33

Các thành tựu nổi bật về nghiên cứu biến động hình thái bằng các cách tiếp cận từ trường thủy động lực đã được công bố bởi các nhà khoa học của Hoa Kỳ, Hà Lan, Nhật Bản như Garde và nnk (1961); Laursen (1963); Gill (1972); Melville và Raudkivi (1997); Nagata, Hosoda và nnk, 2005; Zhang và nnk, 2006; Wolanski Eric, 2006; Behrens Dane Kristopher, 2012; Luo Jing và nnk, 2013; Hinwood JB, McLean EJ (2018); Những hướng chính trong nghiên cứu ở lĩnh vực này là:

- Hoàn thiện hệ thống quan trắc với các thiết bị hiện đại hơn trước, qua đó cải thiện độ chính xác của các đo đạc nhằm mục đích phát hiện và giải thích các quá trình Cùng với đó là các mô hình vật l cũng được thiết lập tại Delft-Hà Lan, Wallingford-Anh, Hội K sư Quân đội-Hoa Kỳ, …

- Nghiên cứu sâu về lý thuyết và cơ chế vận chuyển b n cát lơ lửng và đáy dưới tác động của sóng và dòng chảy ở vùng cửa sông với trầm tích kết dính và không kết dính Các nghiên cứu của Engelund & Fredsoe (1976), Engelund & Hansen (1976), Komar (1998), … đi sâu về cơ chế vận chuyển trầm tích, các mối ràng buộc về quy mô thời gian và không gian khi mô tả các quá trình này

d) Nghiên cứu các loại hình công trình và dạng kết cấu công trình phù hợp

Ở vùng cửa sông ven biển, công trình dạng đê biển, kè chắn sóng, kè ngăn

b n cát thường được sử dụng để chống lại ảnh hưởng của dâng cao mực nước do thủy triều, sóng bão; chống lại việc bùn cát bị sóng, dòng ven bờ lấy đi khỏi bãi, khỏi bờ gây xói lở hoặc ngăn chặn vận chuyển bùn cát ở khu vực khác đưa đến gây bồi lấp khu vực Trên cơ sở nghiên cứu từ mô hình vật lý, mô hình toán và quan trắc thực tế, các nhà khoa học Nhật Bản, Hà Lan, M đã xác định các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đê biển bị phá hủy bao gồm tác động của sóng, sạt lở mái do ngập nước, tác động của dòng chảy và đặc biệt là xói lở hạ thấp địa hình bãi biển, phá huỷ chân khay đê biển Nghiên cứu của Pilarczyk (1995) đã xác định 14 kiểu phá hoại đê biển, từ đó các loại hình công trình khác nhau được đề xuất nhằm tăng cường ổn định của đê biển gồm: các giải pháp giảm thiểu tác động của sóng (đê phá sóng, trồng rừng ngập mặn), gia cố trực tiếp thân đê (kè áp mái, chân khay bằng ống

bi, ) và các giải pháp điều chỉnh dòng bùn cát (kè ngang, kè dọc, nuôi bãi, )

Trang 34

Gần đây (2011) các nhà khoa học Nhật Bản đã nghiên cứu cải tiến các khối tetrapod thành khối rakuna 4, tốn ít vật liệu hơn và có khả năng giảm sóng tốt hơn Các vật liệu phụ trợ như geotextile hoặc stabilplage cũng được áp dụng Ở các nước đang phát triển có nhiều hệ thống kè mỏ hàn, các tấm hướng dòng mặt đã được áp dụng Do những khó khăn về kinh phí hoặc chỉ đáp ứng duy nhất mục tiêu ngăn dòng b n cát cũng như một số l do khác, cao độ đỉnh các kè mỏ hàn ngăn cát giảm sóng thường được thiết kế không chắn được sóng cao mà cho tràn qua nên, xói ở hạ lưu vẫn diễn ra dẫn đến việc phá hoại đường bờ và bản thân công trình

ghi n cứ t ong nước

Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến vấn đề thủy động lực và vận chuyển b n cát bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ trước Cho đến nay các vấn đề liên quan đến thủy động lực và vận chuyển trầm tích tại các

v ng ven biển Việt Nam đang là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu Một số nghiên cứu tiêu biểu về diễn biến bồi tụ, xói lở cửa sông

bờ biển bao gồm:

Đề tài nghiên cứu KHCN cấp Bộ: “Nghiên cứu dự báo xói lở bồi lắng lòng dẫn và đề xuất các biện pháp phòng chống cho hệ thống sông ở Đồng bằng sông Cửu Long” [11 : đã ứng dụng Mike 11, Mike 21C và đặc biệt là mô hình toán ba chiều lòng động vào nghiên cứu dự báo xói bồi biến hình lòng dẫn cho đoạn sông Tiền khu vực Tân Châu - Hồng Ngự, khu vực Vàm Nao và đoạn sông Hậu khu vực thành phố Long Xuyên Kết quả dự báo xói lở bờ được gửi đến các địa phương hàng năm vào trước m a mưa lũ; là cơ sở đề xuất các giải pháp xử l nhằm giảm nhẹ thiệt hại cho đoạn sông Tiền khu vực ấp Long Hòa, xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Đề tài KC08.07/06-10 “Nghiên cứu đề xuất giải pháp ổn định các cửa sông ven biển miền Trung” do Trường Đại học thủy lợi chủ trì thực hiện từ năm 2007 đến năm 2010 với các mục tiêu chính: là xác định nguyên nhân và quy luật diễn biến (bồi, xói, dịch chuyển) các cửa sông ven biển miền Trung Trên cơ sở tính toán

Trang 35

triển kinh tế, xã hội, an toàn cho ngư dân và tàu thuyền tránh bão Kết quả nghiên cứu đã tổng kết các quy luật diễn biến các cửa sông, ứng dụng mô hình toán Delft3D đưa ra những định hướng giải pháp tổng thể cho các cửa sông điển hình khu vực miền Trung

“Nghiên cứu dự báo diễn biến lòng dẫn và chế độ thủy văn hạ du sông Lô – Gâm do ảnh hưởng của thủy điện Tuyên Quang”: Nghiên cứu này đã tính toán về mức độ diễn biến lòng dẫn cũng như tác động của xói phổ biến lan truyền xuống hạ

du và biến động quan hệ Q-H v ng hạ du sử dụng công cụ mô hình mô phỏng, tính toán vận chuyển b n cát là Mike 11ST Kết quả nhiên cứu đã kh ng định tác động của xói phổ biến sẽ gây ra mất ổn định, sạt lở bờ sông trên diện rộng ở các sông Gâm, sông Lô (từ đập tới hạ lưu Lô Chảy) V ng hạ lưu Lô Gâm và thị xã Tuyên Quang chịu ảnh hưởng mạnh của điều tiết cắt xả lũ và vận hành theo phụ tải của hồ Tuyên Quang ngay trong những năm đầu Biến động xói lòng dẫn, sạt lở bờ ở khu vực thị xã Tuyên Quang sẽ gia tăng theo thời gian vận hành hồ Trong vòng 10 năm sau khu vực bờ hữu sông Lô (Tráng Đà, Nông Tiến) và bờ hữu sông Lô trung tâm thị xã từ nhà máy tới đền Mậu và khu vực H ng Thắng sẽ bị xói sâu gây sạt lở bờ rất mạnh

“Nghiên cứu về xu thế bồi tụ, xói lở khu vực cửa Đáy” của Nguyễn Xuân Hiển và nnk (Viện KH Khí tượng Thủy văn và Môi trường) Trong nghiên cứu này

đã phân tích xu thế bồi tụ và xói lở khu vực cửa Đáy bằng cách ứng dụng bộ mô hình MIKE couple Kết quả nghiên cứu cho thấy, khu vực cửa Đáy có xu thế bồi tụ

là chủ yếu, tạo thành các cồn cát trước cửa Đáy và các đồi cát dọc bờ thuộc địa phận huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định Nguyên nhân do khu vực này được tiếp nhận 2 nguồn bổ sung trầm tích từ: i) sông Đáy đưa ra và lắng đọng dưới tác động của động lực biển; ii) lượng b n cát được vận chuyển dọc theo bờ biển từ phía Bắc (cửa

Ba Lạt và Ninh Cơ) Ngoài ra, qua nghiên cứu này cho thấy, vào 4 tháng m a lũ từ tháng 6 tới tháng 10 lượng trầm tích tích được các con sông đưa ra chiếm khoảng 80% lượng trầm tích cả năm

Luận văn Thạc s của Hoàng Văn Đại với đề tài “Nghiên cứu ứng dụng mô

Trang 36

Lương” [13 : Nghiên cứu đã sử dụng mô hình diễn biến lòng dẫn 2 chiều trong hệ tọa độ phi trực giao TREM (Two-dimensional River bed Evolution Model) tính toán xói lở lòng sông theo 2 chiều Kết quả tính toán cho thấy mô hình TREM có khả năng mô phỏng khá tốt trường tốc độ và phân bố tốc độ theo phương ngang, và được thể hiện qua kết quả tính toán và thực đo tốc độ theo thủy trực tại trạm thủy văn Hà Nội

Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu về diễn biến, động lực hình thái các cửa sông ở miền Trung như luận án Tiến s của Nguyễn Bá Quỳ (Đại học Thủy Lợi), Nguyễn Thảo Hương (Viện Địa L ), Trần Văn Sung (Đại học Xây Dựng), Trần Thanh T ng (2011) Như vậy, các nghiên cứu trên cho thấy việc tính toán mô phỏng quá trình bồi xói v ng cửa sông đã được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước rất quan tâm và nghiên cứu Nhìn chung, các nghiên cứu này đã thu được nhiều kết quả có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn, đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng cơ sở khoa học và công cụ hỗ trợ cho việc đề xuất giải pháp công trình chống bồi lấp, xói lở cửa sông và bờ biển [2]

Nhưng xét về tổng thể, các nghiên cứu ở trên mặc d đã có nhiều đóng góp

về mặt khoa học nhưng mới dừng lại ở đánh giá chung và đơn l , chưa mang tính tổng hợp và hệ thống, nhất là trong đánh giá nguyên nhân và diễn biến cửa sông

1.4 TÌNH HÌNH DIỄN BIẾN XÓI LỞ BỒI TỤ KHU VỰC CỬA ĐÀ DIỄN

1.4.1 hực trạng i l i t khu vực cửa Đà Diễn

Phân tích số liệu quan trắc nhiều năm kết hợp với khảo sát và điều tra cho thấy, địa hình vùng cửa sông Đà Diễn biến động rất phức tạp Đó là hệ quả của tương tác giữa chế độ thủy động lực của biển và chế độ thủy động lực của sông Tuy nhiên, do thủy vực và lưu lượng dòng chảy của sông Ba (Đà Rằng) trong mùa

lũ (tháng 10 - 12) khá lớn nên chế độ sông chiếm ưu thế và áp đảo được chế độ thủy lực của biển Trong mùa khô (tháng 4 - 8) các yếu tố thủy động lực biển chiếm ưu thế và là nhân tố chủ đạo gây sạt lở khu vực, mà yếu tố chiếm ưu thế là sóng, nước dâng và dòng triều Vì vậy không khi nào cửa Đà Diễn bị bồi lấp hoàn toàn mà chỉ

Trang 37

diễn ra hiện tượng bồi nông cửa sông Hiện tượng xói lở, sạt lở vùng ven biển sát cửa sông thường xuyên diễn ra theo vị trí biến động, dịch chuyển cửa sông

Cửa sông dịch chuyển lên phía Bắc hoặc xuống phía Nam theo từng thời kỳ

kế tiếp nhau Trước đây khoảng 20 năm, cửa sông nằm ở phía Nam, doi cát bờ Bắc kéo xuống phía Nam Thời kỳ tiếp theo cửa sông lại dịch dần lên phía Bắc, doi cát

bờ Bắc bị xói dần Hiện nay cửa sông nằm ở giới hạn cuối cùng phía Bắc, doi cát bờ Nam kéo dài lên phía Bắc Trước đây khoảng 5, 7 năm khi cửa sông dịch lên sát phía Bắc khu vực bờ Bắc (phường 6 thành phối Tuy Hòa) bị xói lở mạnh Nhiều nhà cửa và cả cảng cá Tuy Hòa bị sạt lở, tỉnh phải đầu tư xử l cục bộ Hiện nay khu vực này vẫn còn diễn biến mạnh Tuy nhiên trong 3, 4 năm nay sạt lở phía biển lại diễn ra mạnh ở bờ Nam khu vực xóm Rớ, phường Phú Đông thành phố Tuy Hòa [5]

Như vậy, các yếu tố động lực biển như sóng, triều, dòng ven, trong những năm gần đây không những đưa b n cát bồi nông khu vực cửa sông gây ách tắc tàu thuyền ra vào cửa Đà Điễn mà còn gây sạt lở khu vực hai bên cửa sông rất nghiêm trọng Sạt lở diễn ra mạnh mẽ vào m a gió Đông Bắc

Hình 1.9 Xói bờ biển phía Nam (trái) và b i lấp cửa sông (phải) tháng

12/2015

Doi cát chắn cửa sông ít di chuyển mà chủ yếu chỉ thay đổi cao trình bề mặt Chính quá trình bồi lấp này đã hạn chế khả năng thoát lũ qua cửa sông vào mùa mưa lũ, gây ngập úng khu vực cửa sông Vào mùa khô, bãi bồi ở cửa sông đã cản

Trang 38

trở hoạt động ra vào của tàu thuyền (hình 1.10) ảnh hưởng nhiều tới dân sinh kinh tế

xã hội

Hình 1.10 Mỏ hàn bảo vệ bờ Bắc, khu vực phường 6 (phải) và đổ đá ảo vệ bờ phía

Nam, khu vực Xóm R (trái) tháng 12/2016

Hình 1.11 Đổ đá ảo vệ bờ Bắc (trái, 12/2016) và đổ đá ảo vệ bờ Nam (phải,

11/2017)

Trong những năm gần đây, do sạt lở diễn ra mạnh mẽ ở khu vực cửa sông ven biển Đà Diễn, nên hàng loạt công trình bảo vệ bờ đã được xây dựng Hai phía

bờ Bắc và Bờ Nam cửa sông liên tục bị xói lở, do đó một hệ thống kè gồm mỏ hàn

và kè lát mái đã được xây dựng ở bờ Bắc cửa sông trong khu vực phường 6 và đường ven bờ sông Trong đó đoạn kè bờ sông dài hơn 2000 m khá kiên cố với kết cấu mái nghiêng kết hợp mái đứng tạo cảnh quan được xây dựng từ năm 2006 đến

Trang 39

nay vẫn ổn định nhưng đoạn kè bờ sát biển đã bị sóng phá hoại làm đổ v (hình 1.11)

Đặc biệt, tại khu vực xóm Rớ ven biển phía Nam cửa sông, một hệ thống gồm kè mỏ hàn kết hợp kè mái đã được xây dựng từ năm 2016 để bảo vệ khu vực tập trung đông dân cư và cảng cá Đông Tác

Vào tháng 11 năm 2017, doi cát sát bờ Nam cửa sông Đà Diễn đã bị sóng biển công phá đục thủng tạo thành một cửa sông nhỏ rất nghiêm trọng Chính quyền địa phương đã phải bố trí đổ đá làm kè để bảo vệ bờ, ngăn không cho mở rộng hơn (hình 1.12)

1.4.2 Nguyên nhân gây sạt l i lắng cửa Đà Diễn

Xói lở, bồi tụ bờ biển và bồi lấp cửa sông là những quá trình động lực thuộc loại phức tạp nhất trong lĩnh vực động lực học sông, biển Đây là một dạng thiên tai phổ biến xảy ra ở dọc bờ biển, cửa sông nước ta Nguyên nhân xảy ra là do các yếu

tố tác động liên quan đến tiến hoá tự nhiên của dải ven biển cửa sông và tác động của con người Có thể thấy rằng ở một đoạn bờ cụ thể với cấu trúc địa chất và thành phần đất đá xác định bị xói lở hay bồi tụ là do một trong ba nhóm nguyên nhân: Ngoại sinh, nội sinh và nhân sinh, hoặc tổ hợp của 2 hoặc cả 3 nguyên nhân đó (hình 1.13) [5]

Hình 1.12 ơ đ hệ thống các yếu tố tác động đến cửa sông Đà Diễn

Trên cơ sở các tài liệu tham khảo, phân tích hiện trạng và các tác nhân gây xói lở, bồi tụ bờ biển cửa Đà Diễn và lân cận, luận văn có thể rút ra một số nhận xét

Trang 40

về nguyên nhân xói lở, bồi tụ bờ biển và bồi lấp cửa sông khu vực nghiên cứu như sau:

Nguyên nhân nội sinh:

Do tác động của hoạt động tân kiến tạo và chuyển động hiện đại gây nên chuyển động nâng, hạ, tách dãn, trượt của lớp hoặc các mảng đất đá dẫn tới xói lở hoặc bồi tụ ở khu bờ

Khi nghiên cứu nguyên nhân nội sinh: không đề cập đến tất cả mọi tác động

và những biểu hiện khác nhau của quá trình kiến tạo mà chỉ quan tâm đến những vấn đề như các vòm nâng, chậu trũng thông qua sự có mặt của chúng có thể phản ánh được mức độ tương phản, căng th ng kiến tạo và xu hướng chuyển động lên, xuống của từng phần địa hình của v ng Trên cơ sở bình đồ cấu trúc đó có thể dự báo, phân tích để gián tiếp chỉ ra những nguy cơ gây ra ngập lụt, xói lở bờ biển bồi lấp cửa Đà Diễn

Như vậy, có thể thấy việc sử dụng các nguyên nhân nội sinh để l giải các quá trình xói lở hay bồi tụ trầm trọng ở nhiều vị trí đặc biệt v ng cửa sông như Đà Diễn vẫn còn là bài toán chưa có giải pháp thỏa đáng

Nguyên nhân ngo i sinh:

+ Tác động của gi

Gió làm dịch chuyển b n cát trên bờ biển vào trong đất liền, hoặc khi nước dâng do bão cuốn b n cát và các trầm tích trên bề mặt bãi biển lên trên phần bãi cao hoặc vượt qua dải cát vào sâu trong lục địa Một phần b n cát bị vận chuyển dọc bờ dưới tác dụng của gió, sóng và dòng chảy và bị dòng triều đưa vào bên trong cửa sông, tạo thành các bãi bồi triền lên

Gió có tác động gián tiếp gây xói lở, bồi tụ bằng cách tạo ra sóng, dòng chảy

là những yếu tố trực tiếp gây ra hiện tượng đó Gió trong giông, bão có thể cuốn đi một khối lượng đáng kể cát ở bờ biển, song tác động chính gây xói lở vẫn do các hậu quả chính của gió bão là sóng bão và dòng chảy trong bão

+ ph n h ng đề ng n i t ch h

Nguồn gốc b n cát trong v ng ven biển cửa sông nói chung là từ 2 nguồn cơ

Ngày đăng: 27/05/2020, 08:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Linh, 2017. Nghiên cứu ảnh hư ng của các phương án nạo vét đến chế độ thủy động lực cửa Đà Diễn. Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Khoa học Tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hư ng của các phương án nạo vét đến chế độ thủy động lực cửa Đà Diễn
2. Phan Văn Thành, 2018. Nghiên cứu đánh giá i i vùng hạ lưu s ng Ba đoạn từ cầu Đà Rằng m i đến cửa Đà Diễn tỉnh Phú Yên. Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Khoa học Tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá i i vùng hạ lưu s ng Ba đoạn từ cầu Đà Rằng m i đến cửa Đà Diễn tỉnh Phú Yên
6. Cấn Thu Văn (2010), Ứng d ng mô hình MIKE - FLOOD tính toán ngập l t hạ lưu s ng Ba, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấn Thu Văn (2010), "Ứng d ng mô hình MIKE - FLOOD tính toán ngập l t hạ lưu s ng Ba
Tác giả: Cấn Thu Văn
Năm: 2010
3. Nguyễn Thu Hương, 2012. Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp ổn định cửa Đà Rằng, tỉnh Phú Yên. Luận án Tiến sĩ k thuật, trường Đại học Thủy Lợi Khác
4. Bùi Minh Hòa, 2012. Nghiên cứu xây dựng bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Ba. Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Khoa học tự nhiên Khác
5. Nguyễn Tiền Giang, 2015. Nghiên cứu cơ sở khoa học để xác định cơ chế bồi lấp, sạt lở và đề xuất các giải pháp ổn định các cửa sông Đà Diễn và Đà Nông tỉnh Phú Yên phục vụ phát triển bền vững cơ sở hạ tầng và kinh tế xã hội, thuyết minh đề tài cấp nhà nước mã số ĐTĐL.CN.15/15 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w