Bài viết trình bày các kết quả nghiên cứu liên quan đến phổ ký chủ, phân bố và biến động mật độ của nhện gié trên ruộng lúa tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Trang 1nâu, sâu non tuổi 1, kích thước cơ thể dài trung
bình 17 mm, rộng trung bình 3±0,25 mm, tương
ứng tuổi 2 là 27,0mm và 5±0,5 mm, tuổi 3 là
41±0,5 mm và 7±0,5 mm, sâu non hoạt động chủ
yếu vào ban ngày
Nhộng có chiều dài trung bình 26,5 mm, rộng
trung bình 8,0 mm
Trưởng thành cái dài trung bình 50,0 mm,
rộng trung bình 15 mm, lớn hơn trưởng thành
đực kích thước tương ứng là 39±0,5 mm và
12±0,5 mm, trưởng thành hoạt động mạnh vào
ban đêm
Loài A grandis ưa khí hậu mát, nơi có độ ẩm
cao, thường cư trú ở thân và gốc cây mục, nhiều
nhất trong vỏ cây Thức ăn ưa thich nhất của cả
sâu non và trưởng thành loài này là gỗ cây đang
mục Sức đẻ trứng từ 24-36 trứng/con cái, trung
bình 30,9 trứng/con cái, tỷ lệ cái/đực ở pha
nhộng là (1,0:1,18) Thời gian phát triển trung
bình của trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành
tương ứng là 18 ngày, 61 ngày, 16 ngày và 27
ngày Tuổi thọ của trưởng thành rất dài, dao động
từ 227 - 287,5 ngày, ở điều kiện thời tiết mát, nhiệt
độ thấp thì tuổi thọ càng cao Tỷ lệ hoàn thành
phát triển từ pha trứng đến pha trưởng thành loài
A grandis từ 45,83% đến 48,8%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông, 2013 Báo
cáo dự án điều tra, lập danh lục khu hệ động thực vật rừng Khu BTTN Pù Luông tỉnh Thanh Hóa
2 Bouchard, P, Andrew B T Smith, Hume Douglas, Matthew L Gimmel, Adam J Brunke and
Kojun Kanda, 2017 Biodiversity of Coleoptera:
Science and Society
3 Christoph Neumann, Masahiro Kon & Kunio Araya, 2013 Checklist of Passalidae Leach, 1815 (Coleoptera, Scarabaeoidea) of Laos with a key to their identification and a description of Leptaulax
pacholatkoi mutoniatus ssp nov Entomologica
Basiliensia et Collectionis Frey, 34, 207-235, ISN
1661-8041
4 Phạm Thị Nhị, Hoàng Vũ Trụ, Cao Thị Quỳnh Nga, Phạm Văn Phú, Cao Thị Kim Thu, Lê Mỹ Hạnh, Khuất Đăng Long, 2017 Đa dạng thành phần loài côn
trùng tại khu rừng đặc dụng Copia, tỉnh Sơn La Hội
nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 7
5 Slipinski, S A., Leschen, R A B., Lawrence, J
F., 2011 Order Coleoptera Linnaeus, 1758 In: Zhang,
Z.-Q (Ed.) Animal biodiversity: An outline of higher-level classification and survey of taxonomic richness
Phản biện: TS Nguyễn Văn Liêm
NGHIÊN CỨU PHỔ KÝ CHỦ, PHÂN BỐ VÀ BIẾN ĐỘNG MẬT ĐỘ CỦA NHÊN GIÉ
Steneotarsonemus spinki Smiley TRÊN RUỘNG LÚA SẠ LAN
TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Study on Host Plants, Distribution and Population Intensity of Panicle Rice
Mite Steneotarsonemus spinki Smiley in Rice Field in the Mekong Delta
Lăng Cảnh Phú, Phùng Thị Anh Thư và Nguyễn Văn Huỳnh
Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ
Ngày nhận bài: 29.3.2019 Ngày chấp nhận: 12.4.2019
Abstract
Panicle Rice Mite (PRM) is the most destructive mite pest attacking rice Oryza sativa (L.) in Viet Nam Poaceae
grass, sedges and the wild rice were recorded as alternate hosts of PRM in North Vietnam A survey was conducted
to identify alternate hosts of PRM in The Mekong Delta and the observations were confirmed by transmission test in net house Of the 20 species (grasses and sedges) were collected around fields were observed for PRM, all of them were not recorded PRM The transmission tests conducted with 20 species (grasses and sedges) at the net house
revealed that Echinochloa colona, Echinochloa crusgalli, Leptochloa chinensis, Eleusine indica, Fimbristylis miliacea,
Cyperus difformis, Dactyloctenium aegyptium facilitate the survival and oviposition of PRM Investigation of the
Trang 2distribution and population intensity of PRM was carried out on 3 rice fields in Hau Giang province PRM were distributed at all survey sites from 35 DAS to harvest Population intensity of PRM were increase gradually by the growth stages of rice and the highest in the ripening rice stage
Keywords: Panicle rice mite, alternate hosts, distribution, population Intensity, Steneotarsonemus spinki,
Tarsonemidae
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhện gié Steneotarsonemus spinki hiện diện
ở tất cả các vùng trồng lúa trên thế giới nhưng
nhiều nhất là ở châu Á (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004)
Ở Việt Nam, nhện gié được phát hiện đầu tiên ở
tỉnh An Giang và Đồng Tháp (Nguyễn Văn Huỳnh
và Lê Thị Sen, 2011) Dương Tiến Viện (2012)
thực hiện khảo sát 11 loài cỏ dại chung quanh và
trong ruộng lúa ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
ghi nhận nhện gié sống chủ yếu trên cây lúa
Oryza sativa, giữa hai vụ lúa nhện gié có thể
sống trên lúa chét, cỏ lồng vực cạn Echinochloa
colona, cỏ lồng vực nước E crusgalli và cỏ lồng
vực tím E glabrescens Chandrasena et al.,
(2016) khảo sát 13 loài cỏ dại trong ruộng lúa tại
Sri Lanka cho rằng loài lúa hoang Oryza nivara,
cỏ bấc Sacciolepis interrupta, cỏ lồng vực E
crus-galli và cỏ đuôi phụng Leptochloachinensis
có liên quan đến sự sống và là nơi lưu trú phụ
của nhện gié Theo Phạm Văn Kim (2016) nhện
gié sống trong lúa chét dọc bờ ruộng, tấn công
vào lúa non ven bờ, nhân mật độ và lan dần vào
trong ruộng lúa Tuy nhiên, hiện tại chưa có tác
giả nào khảo sát về phổ ký chủ, quy luật phân bố
và biến động mật độ của nhện gié tại các vùng
trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu liên
quan đến phổ ký chủ, phân bố và biến động mật
độ của nhện gié trên ruộng lúa tại vùng ĐBSCL
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa bàn nghiên cứu: Khảo sát ký chủ của
nhện gié thực hiện tại huyện Châu Thành A,
Long Mỹ và Thành phố Vị Thanh của tỉnh Hậu
Giang; khảo sát sự phân bố và biến động mật độ
của nhện gié thực hiện trên 3 ruộng lúa tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Thời gian thực hiện: từ tháng 10/2017 đến tháng 07/2018
Khảo sát ký chủ của nhện gié: thực hiện
10 ruộng/huyện, 10 điểm ngẫu nhiên kích t hước (30 x 30) cm trên bờ ruộng thu mẫu cỏ có vết nhện gây hại, trích nhện theo phương pháp của
Eric McDonald et al., (2009) quan sát dưới kính
lúp (X30) sự hiện diện các giai đoạn sinh trưởng của nhện trên các bẹ lá và bông (nếu có), thí nghiệm lây nhiễm nhện gié trong điều kiện nhà lưới được thực hiện theo phương pháp của Chandrasena (2016)
Khảo sát sự phân bố và biến động mật độ của nhện gié: thực hiện 3 ruộng lúa sạ lan, đặt ô
lấy chỉ tiêu có kích thước (50 × 50cm) theo 4 cạnh của bờ ruộng, mỗi cạnh đặt trên ba đường thẳng vuông góc với bờ ruộng, mỗi đường thẳng cách nhau 5 mét, trên mỗi đường thẳng đặt tại 3
vị trí cách bờ 1, 2, 4 mét và vị trí trung tâm ruộng, thu ngẫu nhiên 3 chồi lúa/ô, 10 ngày/lần từ khi lúa 35 NSS đến khi thu hoạch, mẫu lúa được trích nhện t heo phương pháp của Eric McDonald
et al., (2009) đếm số lượng trứng, ấu trùng và
thành trùng, đực (cái) của nhện gié trong tất cả
bẹ lá và bông (nếu có) dưới kính lúp (X30)
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Sự hiện diện của nhện gié S spinki
trên các loài cỏ ở ruộng lúa tại tỉnh Hậu Giang
Sau khi trích lược nhện qua rây từ các mẫu
cỏ thu thập ở 30 ruộng lúa tại Hậu Giang ghi
nhận được tần suất xuất hiện nhện gié S spinki
gây hại trên cỏ (bảng 1)
Bảng 1 Tần suất xuất hiện (%) nhện gié S spinki trên các loài cỏ ở ruộng lúa
tại tỉnh Hậu Giang, vụ lúa Đông Xuân 2018
nhện gây hại
TSXH nhện gié
S spinki (%)
Họ Hòa thảo Poaceae
2 Lồng vực nước Echinochloa crus-galli (L.) Beauv 216 0
Trang 3STT Tên Việt Nam Tên khoa học Số mẫu có vết
nhện gây hại
TSXH nhện gié
S spinki (%)
Họ Rau mương Onagraceae
Qua kết quả khảo sát các loài cỏ phổ biến ở
ruộng lúa ghi nhận có 20 loài cỏ, trong đó cỏ lá
rộng có hai loài (Rau mương đứng và Bạch đầu
ông), cỏ Hòa thảo có 12 loài và 6 loài thuộc cỏ
chác lác (bảng 1)
Trong 20 loài cỏ thu thập chung quanh ruộng
lúa có 15 loài có vết nhện gây hại nhưng không
ghi nhận được sự hiện diện của nhện gié
Steneotarsonemus spinki Smiley trên các bộ
phận của cây, chỉ ghi nhận sự hiện diện của một
loài nhện khác cùng chi với nhện gié hại lúa là
chi Steneotarsonemus Điều này phù hợp với kết
luận của Dương Tiến Viện (2012) khi khảo sát 11
loài cỏ trong ruộng lúa và trên bờ ruộng ở vụ mùa 2010 tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam ghi nhận có 3 loài cỏ là Lồng vực cạn, lồng vực nước và lồng vực tím có sự tồn tại của các pha phát dục của nhện gié
3.2 Khả năng sinh trưởng và phát triển của nhện gié trên 20 loài cỏ trồng trong nhà lưới
Qua khảo sát và ghi nhận các pha phát dục của nhện gié hại lúa trên 20 loài cỏ được trồng trong nhà lưới ở các thời điểm 18, 25 và 32 ngày sau khi thả nhện gié (bảng 2)
Bảng 2 Khả năng sinh trưởng và phát triển của nhện gié 18, 25, 32 ngày
sau khi thả nhện trong điều kiện nhà lưới
Trang 4STT Tên cỏ 18 ngày 25 ngày 32 ngày
Ghi chú: × có hiện diện nhện; - không có hiện diện của nhện
Theo kết quả bảng 2, trong số 20 loài cỏ
được trồng tại nhà lưới thì chỉ có 10 loài cỏ có sự
phát triển và sinh trưởng của nhện là: lồng vực
cạn, lồng vực nước, đuôi phụng, mần trầu, túc
hình rìa, cỏ chác, cỏ cháo, lục lông, cỏ chỉ và cỏ
chân gà ở 18 ngày sau khi thả Nhưng ở 25 và
32 ngày sau khi thả nhện, hai loài cỏ Chỉ và Túc
hình rìa không ghi nhận có sự tồn tại của nhện
gié trên các bộ phận của cây
Như vậy, ngoài cây lúa thì nhện gié S
spinki có thể sinh trưởng và phát triển trên 7
loài cỏ là lồng vực cạn, lồng vực nước, đuôi
phụng, mần trầu, cỏ chác, cỏ cháo và cỏ chân
gà Theo khảo sát của Dương Tiến Viện (2010)
và Chandrasena et al (2016) nhện gié có thể
sống và phát triển trên loài cỏ lồng vực nước, lồng vực cạn và đuôi phụng
3.3 Sự phân bố và biến động mật độ của nhện gié hại lúa sạ lan tại tỉnh Hậu Giang
3.3.1 Sự phân bố của nhện gié S spinki trên
ruộng lúa
Qua khảo sát sự hiện diện các giai đoạn phát triển của nhện gié trên ruộng ở tỉnh Hậu Giang tại các vị trí cách bờ 1 mét, 2 mét, 4 mét và trung tâm ruộng, kết quả về tần số xuất hiện (TSXH) được trình bày qua bảng 3
Bảng 3 Tần suất xuất hiện nhện gié (%) tại các vị trí cách bờ 1 mét, 2 mét, 4 mét
và trung tâm ruộng lúa, vụ Đông Xuân 2018
Ghi chú: NSS: Ngày sau sạ Trong cùng một cột, những số có chữ theo sau giống nhau thì khác biệt không ý nghĩa trong thốngkê ở mức 5% Số liệu ở tất cả các cột được chuyển sang asin(√(x + 0,5)trước khi xử lý thống kê
Qua kết quả thống kê TSXH nhện (%) ở các
vị trí trên ruộng (Bảng 3.3) nhận thấy tại các vị trí
cách bờ 1 mét, 2 mét, 4 mét và ở trung tâm
ruộng có TSXH nhện không khác biệt ở mức ý
nghĩa 5% vào tất cả các giai đoạn lúa từ 35 ngày
sau sạ (NSS) đến 85 NSS Điều này cho thấy
nhện gié có thể tấn công bất kì vị trí nào trong
ruộng và sự phân bố của nhện gié không theo
quy luật đi từ ngoài bờ ruộng vào bên trong
ruộng Kết quả của thí nghiệm không như nhận
định của Phạm Văn Kim (2016) là nhện gié sống
trong lúa chét dọc bờ ruộng, tấn công vào lúa
non ven bờ, nhân mật độ và lan dần vào trong ruộng lúa
Như vậy, nhện gié có thể gây hại ở tất cả các vị trí trong ruộng, không lây lan từ bờ ruộng vào trong ruộng và không tập trung gây hại nặng tại các vị trí ven bờ từ 35 NSS đến khi thu hoạch
3.3.2 Sự biến động mật độ của nhện gié
S spinki trên ruộng lúa
Sự biến động mật độ nhện gié ở vụ lúa Hè Thu 2018 tại 3 ruộng thí nghiệm ở tỉnh Hậu Giang được ghi nhận và trình bày trong hình 1
Trang 5Hình 1 Biến động mật độ nhện gié (con/chồi) theo thời gian trên ruộng lúa sạ lan
tại tỉnh Hậu Giang, vụ Đông Xuân 2018
Nhìn chung, mật độ trung bình của nhện gié
trên 3 ruộng thí nghiệm tăng dần theo thời gian
Vào giai đoạn lúa 35 NSS khi nhện mới bắt đầu
tấn công ruộng lúa thì mật độ chỉ có trung bình
0,5 con/chồi, đây là giai đoạn nhện bắt đầu tìm
nơi trú ngụ và nguồn t hức ăn để gia tăng mật độ
Ở giai đoạn lúa trổ và chín sữa nhện gié tăng
mật độ cao nhất đạt trung bình 15,22 con/chồi và
giảm xuống còn 14,95 con/chồi vào giai đoạn lúa
chín sáp (85 NSS)
Ở ruộng thí nghiệm thứ nhất, mật độ nhện gié
tăng từ trung bình 0,04 con/chồi (giai đoạn lúa 35
NSS) lên 15,60 con/chồi (giai đoạn lúa 85 NSS)
Tương tự như vậy, ở ruộng thí nghiệm thứ 2,
mật độ nhện gié cũng tăng từ trung bình 0,01
con/chồi lên 12,16 con/chồi tương ứng với giai
đoạn lúa 35 NSS và 85 NSS Còn ở ruộng thí
nghiệm thứ 3, mật độ nhện ở giai đoạn lúa 35
NSS đến 75 NSS cũng có xu hướng tăng từ
trung bình 1,47 con/chồi lên 21,17 con/chồi Tuy
nhiên ở lần lấy chỉ tiêu vào giai đoạn 85 NSS thì
mật độ nhện lại giảm xuống còn trung bình 17,10
con/chồi
Theo Nguyễn Văn Đĩnh và Trần Thị Thu
Phương (2006) thì mật độ nhện gié vào giai
đoạn lúa đẻ nhánh là 17con/chồi; giai đoạn làm
đòng, mật độ tăng nhanh lên 43 con/chồi và
đến giai đoạn mẫn cảm nhất, giai đoạn đòng -
trổ mật độ lên cao nhất trên 56 - 58 con/chồi
Theo Dương Tiến Viện (2012), gié xuất hiện gây hại trên lúa mùa từ giai đoạn lúa đẻ nhánh với mật độ từ 0,1 - 1,1 con/chồi, mật độ nhện gié tăng dần và đạt đỉnh cao vào giai đoạn làm đòng, trổ và chín sữa
Như vậy, trên đồng ruộng nhện gié bắt đầu tấn công cây lúa ở giai đoạn 35 NSS và gia tăng mật độ đến khi thu hoạch, mật độ cao nhất ở giai đoạn lúa chín sữa
4 KẾT LUẬN
Khảo sát sự hiện diện của nhện gié trên
những loài cỏ ở ruộng lúa cho thấy nhện gié S spinki không sinh sống trên 20 loài cỏ hiện diện
phổ biến Khi lây nhiễm nhện gié lên cỏ trồng trong nhà lưới, nhện gié có thể sinh trưởng và phát triển trên 7 loài cỏ là: lồng vực nước, lồng vực cạn, đuôi phụng, mần trầu, cỏ chác, cỏ cháo
và cỏ chân gà
Qua khảo sát sự phân bố và biến động mật
độ của nhện gié trên 3 ruộng lúa sạ lan tại tỉnh Hậu Giang, nhện gié phân bố đều khắp ruộng
và sự lây lan của nhện không theo hướng từ ven bờ ruộng vào trong ruộng Mật độ trung bình của nhện gié trong ruộng gia tăng theo từng giai đoạn của cây lúa từ 0,5 con/chồi lên 14,95 con/chồi vào giai đoạn trước thu hoạch (85 NSS)
0.50
2.52
4.84
9.14
0.00 5.00 10.00
15.00
20.00
25.00
Ruộng 1 Ruộng 2 Ruộng 3 Trung bình 3 ruộng