1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học Beauverria bassiana (BX1) phòng chống bọ xít hại nhãn chín muộn tại Hà Nội

7 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 406,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế phẩm sinh học phòng trừ bọ xít BX1 do Viện Bảo vệ thực vật nghiên cứu, sản xuất từ chủng nấm Beauveria bassiana được phân lập và tuyển chọn từ các vùng trồng nhãn tại Hà Nội và phụ cận. Bài báo này cung cấp thông tin về kết quả đánh giá hiệu quả của chế phẩm BX1 trong phòng chống bọ xít hại nhãn chín muộn tại Hà Nội.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC Beauverria bassiana (BX1)

PHÕNG CHỐNG BỌ XÍT HẠI NHÃN CHÍN MUỘN TẠI HÀ NỘI

Study on Controlling to Tessaratoma papillosa Drury by Using Beauverria

bassiana (BX1) on Late Ripen Longan in Hanoi

Phạm Văn Nhạ 1 , Trần Văn Huy 1 , Nguyễn Thị Nga 1 , Hà Thị Thu Thủy 1

, Nguyễn Thị Như Quỳnh 1 , Đặng Thanh Thúy 1 , Phạm Thị Bình 1

Hoàng Thị Hòa 2 và Trần Văn Nam 2

Ngày nhận bài: 24.7.2019 Ngày chấp nhận: 05.8.2019

Abstract

Late ripen longan is a valuable fruit plant that is widely grown in Hanoi Stink bug (Tessaratoma papillosa Drury) is the main insect pest on it A research on the application of Beauvetia bassiana (BX1) to control to stink

bugs towards the production of safe and high quality of fruit was undertaken on late ripe longan fruit in Hanoi The result of study showed that the effect of controlling to stink bugs was 87.7% in laboratory conditions, reached to 84.2% in screening house In the fields in Hanoi, BX1 was used with dosage of 10kg per spray and two times application at 10 and 17 days of highest flower bud stage, the control effect on stink bugs was over 80% after 14 days of spraying

Keywords: Beauverria bassiana, stink bugs (Tessaratoma papillosa), late ripen longan, BX1, flower bud

stage

1 ĐẶT VẤN ĐỀ *

Những năm gần đây, nhãn chín muộn đã trở

thành sản phẩm nông sản chủ lực của ngành

Nông nghiệp Hà Nội và đã xuất khẩu sang một

số nước như Nhật, Mỹ, Châu Âu…Hiện tổng diện

tích nhãn chín muộn của Hà Nội có khoảng gần

1000ha Dự kiến trong những năm tới, thành phố

sẽ tiếp tục nhân rộng diện tích trồng loài cây đặc

sản này Tuy nhiên sự gia tăng diện tích cũng

kéo theo nhiều loại sâu bệnh hại phát triển, trong

đó bọ xít (Tessaratoma papillosa Drury) đang là

đối tượng gây hại chính Đây là loại dịch hại có

khả năng sinh sản cao và phá hại nặng trong thời

điểm ra hoa đậu trái, nuôi quả Để phòng trừ bọ

xít, người dân chủ yếu sử dụng thuốc trừ sâu

hóa học gây độc hại tới môi trường Đặc biệt,

gây nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong

quả nhãn, làm ảnh hưởng tới thương hiệu nhãn

chín muộn đang được phát triển trên thị trường

trong nước và xuất khẩu Để giải quyết vấn đề

này cần đẩy mạnh ứng dụng các chế phẩm sinh

học để phòng chống bọ xít Chế phẩm sinh học

phòng trừ bọ xít BX1 do Viện Bảo vệ thực vật

1 Viện Bảo vệ thực vật

2 Trung tâm Phát triển nông nghiệp Hà Nội

nghiên cứu, sản xuất từ chủng nấm Beauveria bassiana được phân lập và tuyển chọn từ các vùng trồng nhãn tại Hà Nội và phụ cận Bài báo này cung cấp thông tin về kết quả đánh giá hiệu quả của chế phẩm BX1 trong phòng chống bọ xít hại nhãn chín muộn tại Hà Nội

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu

Gồm chế phẩm sinh học Beauveria bassiana

(BX1), bọ xít hại nhãn, nhãn chín muộn tại Hà Nội và các dụng cụ phục vụ phun chế phẩm và điều tra theo dõi mật độ bọ xít

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Đánh giá hiệu quả phòng trừ bọ xít hại nhãn của chế phẩm Beauveria bassiana (BX1 ) trong phòng thí nghiệm, nhà lưới tại Viện Bảo vệ thực vật

Đánh giá hiệu lực của chế phẩm phòng trừ

bọ xít trong phòng thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí 4 công thức tương ứng với 3 mức nồng độ chế phẩm và công thức đối chứng:

CT1: 10 gr chế phẩm /1 lít nước + 0,1% chất bám dính

Trang 2

CT2: 5 gr chế phẩm/1 lít nước + 0,1% chất

bám dính

CT3: 2,5 gr chế phẩm/1 lít nước + 0,1% chất

bám dính

CT4: Đối chứng phun nước lã

Mỗi công thức thí nghiệm nhắc lại 3 lần, mỗi

lần nhắc lại 30 cá thể bọ xít tuổi 2

Chỉ tiêu theo dõi: Số bọ xít sống sau 7, 10 và

14 ngày xử lý chế phẩm, đồng thời theo dõi số

lượng xác bọ xít mọc nấm trở lại Hiệu lực phòng

trừ được tính theo công thức Abbott

Đánh giá hiệu quả phòng trừ bọ xít hại nhãn

của chế phẩm trong nhà lưới

Địa điểm đánh giá trong nhà lưới tại Viện Bảo

vệ thực vật Mỗi thí nghiệm được tiến hành trên 3

nồng độ: 10gr, 5gr và 2,5 gr chế phẩm trong 1 lít

nước Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần thực

hiện trên 3 cây nhãn 2 tuổi trồng trong nhà lưới

Tiến hành thả bọ xít tuổi 1 - 2 lên cây, khống chế

số lượng bọ xít thí nghiệm là 20 con/một cây, sau

khi thả bọ xít 1 ngày để ổn định thì tiến hành

phun thuốc Theo dõi số bọ xít còn sống sau

phun 7, 10 và 14 ngày để tính hiệu lực của chế

phẩm và theo dõi tỷ lệ xác bọ xít chết có mọc

nấm trở lại

2.2.2 Nghiên cứu phương pháp sử dụng chế

phẩm sinh học BX1

Xác định liều lượng phun thích hợp

Thí nghiệm được tiến hành hành với 4 công

thức tương đương với 3 liều lượng: 5kg; 10kg,

20 kg chế phẩm/ha và công thức đối chứng

không phun Mỗi công nhắc lại 3 lần, mỗi lần

nhắc lại phun trên 5 cây nhãn Theo dõi mật độ

bọ xít /chùm lộc nhãn sau 7, 10 và 14 ngày sau

phun thuốc Hiệu lực phòng trừ tính theo công

thức Henderson – Tilton

 Xác định thời điểm phun chế phẩm thích hợp

Thí nghiệm được bố trí với 4 công thức tương

ứng với 3 thời điểm phun chế phẩm phòng trừ bọ

xít hại nhãn chín muộn trên đồng ruộng: Thời

điểm ra mầm (lộc) hoa rộ; Sau thời điểm ra mầm

(lộc) hoa 10 ngày; Sau thời điểm ra mầm (lộc)

hoa rộ 17 ngày và công thức đối chứng: Mỗi công

thức phun trên diện tích 400m2, liều lượng phun

chế phẩm là10 kg /ha/ lần phun Theo dõi mật độ

bọ xít/ chùm lộc Hiệu lực phòng trừ được tính

theo công thức Henderson – Tilton

 Xác định số lần phun chế phẩm trên vụ nhãn

Thí nghiệm xác định số lần phun thích hợp trên đồng ruộng được bố trí với 4 công thức tương ứng với số lần phun chế phẩm trên đồng ruộng: 1 lần phun chế phẩm, 2 lần phun chế phẩm, 3 lần phun chế phẩm và công thức đối chứng không phun Mỗi công thức phun trên diện tích 400m2, liều lượng 10 kg/ha/ lần phun, thời gian giữa các lần phun cách nhau 7 ngày vào thời điểm trước khi nhãn ra hoa rộ Hiệu lực phòng trừ được tính theo công thức Henderson – Tilton

2.2.3 Đánh giá hiệu quả phòng trừ bọ xít hại nhãn của chế phẩm BX1 ngoài đồng ruộng

Tiến hành 3 thí nghiệm diện hẹp tại 3 địa điểm là Đại Thành (Quốc Oai), An Thượng (Hoài Đức) và Thạch Thất (Hoài Đức) Mỗi thí nghiệm được bố trí 3 công thức

Công thức 1: Phun chế phẩm BX1 Liều lượng 10kg /ha

Công thức 2: Phun thuốc trừ sâu Actara 25WG 0,54kg /ha

Công thức 3: Đối chứng không phun Mỗi công thức 4 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại tiến hành trên 5 cây nhãn Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên

Theo dõi mật độ bọ xít hại nhãn chín muộn sau 7, 10, 14 ngày phun thuốc và tính hiệu lực phòng trừ theo công thức Henderson – Tilton

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiệu quả phòng trừ bọ xít hại nhãn của chế phẩm trong phòng thí nghiệm và nhà lưới tại Viện Bảo vệ thực vật

Thí nghiệm đánh giá hiệu quả phòng trừ bọ

xít hại nhãn của chế phẩm Beauveria bassiana

BX1 trong phòng thí nghiệm được tiến hành với

3 nồng độ: 0,25 ×107bt/ml tương đương 2,5g pha trong 1 lít nước; 0,5 ×107 bt/ml tương đương 5 gram pha trong 1 lít nước và nồng độ 1,0 ×107 tương đương 10g/1 lít nước Kết quả thí nghiệm (bảng 1) cho thấy khi phun với nồng độ 0,25 x107 bt/ml (công thức 1) cho hiệu quả thấp nhất, chỉ đạt 68,3% sau 14 ngày xử lý Hai công thức 2 và

3 với nồng độ tương ứng 0,5 × 07 và 1,0 × 107 bt/ml cho hiệu quả phòng trừ tương đương nhau đạt 86,4 và 87,7% sau 14 ngày xử lý

Trang 3

Bảng 1 Hiệu lực phòng trừ bọ xít hại nhãn của chế phẩm BX1 trong phòng thí nghiệm

(Viện Bảo vệ thực vật, 2018)

Công

thức

Nồng độ

(bào tử /ml)

Số lượng BX trước xử lý chế phẩm (con /LN)

Số bọ xít sống sau

14 xử lý chế phẩm (con /LN)

Hiệu lực

o

C

TB

H(%)

TB

25,3 67,4

Đánh giá hiệu lực phòng trừ bọ xít của chế

phẩm sinh học BX1 trong điều kiện nhà lưới

(bảng 2) cho thấy, trong số các công thức liều

lượng phun chế phẩm thì 2 công thức phun ở

nồng độ 5gr chế phẩm/1 lít nước và 10gr chế

phẩm/1 lít nước tương đương với 10 và 20kg/ha

có triển vọng nhất, hiệu quả phòng bọ xít đạt 76,5% và 77,6% sau 10 ngày phun và đạt đến

83,6% và 84,2% sau 14 ngày phun Trong khi đó,

ở công thức phun 2,5gr chế phẩm/1 lít nước, hiệu lực trừ bọ xít chỉ đạt 56,4% sau 10 ngày và đạt 61,34% sau 14 ngày phun

Bảng 2 Hiệu quả hạn chế bọ xít của chế phẩm nấm BX1 với các liều lƣợng khác nhau

(Nhà lưới Viện BVTV, 2018)

Công

thức

Liều lượng xử lý

(gr/lit nước)

Số bọ xít trước phun (con /lần nhắc)

Hiệu lực trừ bọ xít của chế phẩm BX1

Số bọ xít (con /lần nhắc

Hiệu lực (%)

Số bọ xít (con/lần nhắc)

Hiệu lực (%)

Theo dõi tỷ lệ xác bọ xít chết mọc nấm trở lại

trong thí nghiệm xử lý chế phẩm BX1 phòng trừ

bọ xít trong điều kiện nhà lưới (bảng 3) cho thấy

tỷ lệ xác bọ xít mọc nấm trở lại ở 2 công thức xử

lý với liều lượng 5gr và 10 gr chế phẩm/1 lít

nước đạt tương ứng 94,1 và 94,8 %, trong khi đó

tại công thức xử lý với liều lượng 2,5gr chế phẩm/1 lít nước có tỷ lệ nấm mọc trở lại là 83,6%

Kết quả thí nghiệm trong nhà lưới cho thấy có thể sử dụng chế phẩm BX1 để phòng trừ bọ xít với liều lượng từ 10 - 20kg/ha

Bảng 3 Tỷ lệ xác bọ xít chết mọc nấm trở lại sau khi xử lý chế phẩm BX1 trong điều kiện nhà lưới

(Viện Bảo vệ thực vật, 2018) Công

thức

Liều lượng (gr/lít nước)

số lượng bọ xít chết sau 14 ngày

xử lý chế phẩm

Số lượng xác

bọ xít mọc nấm trở lại

Tỷ lệ xác bọ xít mọc nấm trở lại (%)

ToC H%

25,3 74,8

Trang 4

3.2 Xác định phương pháp sử dụng chế

phẩm sinh học BX1

Kết quả thử nghiệm xác định liều lượng phun

chế phẩm thích hợp trên đồng ruộng để phòng

trừ bọ xít hại nhãn chín muộn (bảng 4) cho thấy,

trong số 3 mức liều lượng phun là 5, 10 và 20

kg/ha thì mức liều lượng 5 kg/ ha cho hiệu lực

phòng trừ bọ xít thấp, chỉ đạt 53,6% sau 14 ngày

xử lý Hai công thức sử dụng 10 và 20 kg chế phẩm trên 1 ha cho hiệu lực phòng trừ bọ xít tương đương nhau đạt tương ứng 80,0 và 81,4% Như vậy để đạt hiệu quả phòng trừ bọ xít cao, có thể tiết kiệm chi phí thì liều lượng sử dụng chế phẩm là10 kg/ ha trong1 lần phun

Bảng 4 Hiệu lực phẩm của chế phẩm BX1 ở các liều lượng khác nhau

trên đồng ruộng tại xã Đại Thành

(Quốc Oai, Hà Nội - 2018)

Công

thức

Liều lượng

phun

(kg/ha)

Mật độ bọ xít trước phun (con / cành /chùm)

Hiệu lực trừ bọ xít sau các ngày xử lý

Mật độ bọ xít (con / cành /chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Mật độ bọ xít (con / cành / chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Xác định thời điểm phun chế phẩm BX1 thích

hợp trên đồng ruộng qua thí nghiệm bố trí với 3

công thức là xử lý chế phẩm khi ra mầm hoa rộ;

phun vào thời điểm sau khi ra hoa rộ 10 ngày và

công thức phun thời điểm sau khi ra lộc hoa rộ

17 ngày Kết quả (bảng 5) cho thấy ở công thức

1, thời điểm này lộc hoa mới hình thành và mật

độ bọ xít thấp, đa số là trưởng thành đang thời

kỳ đẻ trứng nên hiệu quả phòng trừ của chế

phẩm không cao, chỉ đạt 70,9% sau 14 ngày xử

lý Ở công thức 2 xử lý chế phẩm vào thời kỳ lộc

thành thục bọ xít non lứa 1 mới nở, mật độ 0,1 con /cành nên chế phẩm đạt hiệu quả cao đạt 80,9 % sau 14 ngày xử lý Còn ở công thức 3 xử

lý vào giai đoạn 17 ngày sau khi khi ra lộc hoa rộ cho hiệu quả phòng trừ không cao, do giai đoạn này cây bắt đầu ra hoa, mật độ bọ xít tăng cao đạt 0,14 con trên cành và nấm có hiệu quả chậm lên khả năng gây hại của bọ xít đối với chùm hoa

là rất lớn Vì vậy thời điểm 10 ngày sau khi ra lộc hoa rộ là thời điểm thích hợp để phòng trừ bọ xít hại trên cây nhãn chín muộn tại Hà Nội

Bảng 5 Hiệu lực của chế phẩm BX1 khi phun ở các thời điểm khác nhau

trên đồng ruộng tại xã Đại Thành

(Quốc Oai, Hà Nội – 2018)

CT Thời gian xử lý

(kg/ha)

Mật độ bọ xít trước phun (con /chùm hoa)

Hiệu lực trừ bọ xít của chế phẩm sau các ngày xử lý

Mật độ bọ xít (con / /chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Mật độ bọ xít (con / cành/

chùm hoa)

Hiệu lực (%)

1

Thời điểm ra mầm

Trang 5

CT Thời gian xử lý

(kg/ha)

Mật độ bọ xít trước phun (con /chùm hoa)

Hiệu lực trừ bọ xít của chế phẩm sau các ngày xử lý

Mật độ bọ xít (con / /chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Mật độ bọ xít (con / cành/

chùm hoa)

Hiệu lực (%)

2

Sau thời điểm ra

3

Sau thời điểm ra

Kết quả xác định số lần phun chế phẩm thích

hợp trên đồng ruộng (bảng 6) cho thấy, công

thức xử lý chế phẩm 1 lần cho hiệu quả thấp

nhất chỉ đạt 73,1% sau 14 ngày xử lý Nếu xử lý

2 lần cho hiệu lực phòng trừ bọ xít đạt 82,9% đạt

tương tương đương với công thức 3 lần xử lý chế phẩm (83,0%) Do đó để tiết kiệm chi phí có thể sử dụng 2 lần chế phẩm BX1 để phòng trừ

bọ xít hại nhãn vào thời điểm ra nụ hoa rộ và xử

lý tiếp lần 2 sau lần thứ nhất là 7 ngày

Bảng 6 Hiệu quả số lần phun trong phòng trừ bọ xít hại nhãn chín muộn

trên đồng ruộng tại xã Đại Thành

(Quốc Oai, Hà Nội - 2018)

Công

thức

Số lần xử lý chế

phẩm (kg/ha)

Mật độ bọ xít trước phun (con /chùm hoa)

Hiệu lực trừ bọ xít sau các ngày xử lý

Mật độ bọ xít (con /chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Mật độ bọ xít (con / chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Từ kết quả các thí nghiệm về liều lượng, thời

gian và số lần xử lý chế phẩm, cho phép xác định

để sử dụng chế phẩm sinh học BX1 để phòng trừ

bọ xít hại nhãn chín muộn có hiệu quả tại Hà Nội

với liều lượng phun 10 kg /lần phun, thời điểm

phun sau khi nhãn ra nu hoa rộ 10 ngày và xử lý

tiếp lần 2 sau lần thứ nhất là 7 ngày

3.3 Hiệu quả phòng trừ bọ xít hại nhãn chín

muộn của chế phẩm BX1 trên đồng ruộng

Kết quả đánh gía hiệu quả của chế phẩm sinh

học BX1 tại xã Đại Thành - huyện Quốc Oai

(bảng 7) cho thấy, sau 7 ngày xử lý hiệu quả

phòng trừ bọ xít của chế phẩm đạt 61,7% thấp

hơn so với công thức sử dụng thuốc hóa học Actara 25WG với hiệu lực phòng trừ đạt 74,9% Tuy nhiên, sau 14 ngày hiệu lực của chế phẩm đạt tới 80,7%, cao hơn so với sử dụng thuốc hoá học Actara 25WG (70,0%)

Hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học BX1 tại

xã Song Phương (Hoài Đức) (bảng 8) cũng cho kết quả tương đương như áp dụng tại xã Đại Thành (Quốc Oai) Sau 7 ngày xử lý, hiệu quả phòng trừ bọ xít của chế phẩm đạt 62,8% thấp hơn so với công thức sử dụng thuốc hóa học Actara 25WG (76,9%) Sau 14 ngày hiệu lực của chế phẩm đạt 81,1% cao hơn so với công thức

sử dụng Actara 25WG (70,8%)

Trang 6

Bảng 7 Hiệu lực của chế phẩm BX1 trong phòng trừ bọ xít

hại nhãn chín muộn tại xã Đại Thành

(Quốc Oai, Hà Nội - 2018)

Công thức

Liều lượng Phun (kg/ha)

Mật độ bọ xít trước phun (con/

cành/chùm)

Hiệu lực phòng trừ bọ xít sau các ngày xử lý BX1

Mật độ bọ xít (con / chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Mật độ bọ xít (con / chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Đối chứng Không

Bảng 8 Hiệu lực phẩm của chế phẩm BX1 (Beauveria bassiana)

trên đồng ruộng tại xã Song Phương

(Hoài Đức, Hà Nội - 2018)

Công thức

Liều lượng Phun (kg/ha)

Mật độ bọ xít trước phun (con/

chùm hoa)

Hiệu lực phòng trừ bọ xít sau các ngày xử lý BX1

Mật độ bọ xít (con/ chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Mật độ bọ xít (con/ chùm hoa)

Hiệu lực (%)

Actara

Đối chứng Không

Kết quả đánh giá tại xã An Thượng (Hoài

Đức) trình bày ở bảng 9 cho thấy, hiệu quả

phòng trừ bọ xít của chế phẩm đạt 61,9% sau

7 xử lý, thấp hơn so với thuốc hoá học Actara

25WG (76,7%) Nhưng sau 14 ngày, hiệu lực của chế phẩm BX1 đạt 80,5% cao hơn so với công thức sử dụng thuốc hóa học Actara 25WG (72,8%)

Bảng 9 Hiệu lực phẩm của chế phẩm BX1 trên đồng ruộng tại xã An Thượng

(Hoài Đức, Hà Nội - 2018)

Công thức

Liều lượng Phun (kg/ha)

Mật độ bọ xít trước phun (con/

chùm hoa)

Hiệu lực phòng trừ bọ xít của chế phẩm

Mật độ bọ xít (con/ cành)

Hiệu lực (%)

Mật độ bọ xít (con/ cành)

Hiệu lực(%)

Actara

Đối chứng Không

Trang 7

Kết quả đánh giá qua 3 thí nghiệm diện hẹp

cho thấy hiệu lực của chế phẩm phòng trừ bọ xít

hại nhãn chín muộn tại các xã: Đại Thành (Quốc

Oai), Song Phương và An Thượng (Hoài Đức),

đều đạt hiệu lực phòng trừ bọ xít trên 80% sau

14 ngày xử lý

4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1 Kết luận

- Chế phẩm sinh học Beauveria bassiana BX1

có hiệu quả cao trong phòng trừ bọ xít hại nhãn

chín muộn tại vùng Hà Nội, hiệu lực phòng trừ

đạt 68,3- 87,7% sau 14 ngày xử lý trong điều

kiện phòng thí nghiệm, đạt 61,3- 84,2% sau 14

ngày xử lý ngoài nhà lưới

- Hiệu quả phòng trừ bọ xít hại nhãn chín

muộn trên đồng ruộng của chế phẩm BX1 đạt

trên 80% sau 14 ngày phun ở liều lượng 10

kg/lần phun và phun kép 2 lần, cách nhau 7-10

ngày vào thời điểm nhãn ra nụ hoa rộ

4.2 Đề nghị

Nghiên cứu sử dụng rộng rãi chế phẩm sinh

học BX1 để phòng trừ bọ xít hại nhãn chín muộn

tại Hà Nội và phụ cận, tạo sản phẩm an toàn cho tiêu dùng và xuất khẩu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Thị Thùy, 2004 Công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội

2 Nguyễn Ngọc Tú, Nguyễn Cửu Thị Hương Giang, 1997 Bảo vệ cây trồng từ các chế phẩm từ vi nấm, Nhà Xuất Bản Nông nghiệp TP, Hồ Chí Minh,

155 Trang

3 Lin Qing-yuan, 2005 Study on Controlling Tessaratoma papillosa Drury By Using Beauverria bassiana, General Station of Forest Diseases and

Pests Control and Quarantine of Fujian Province, Fuzhou 350003, Fujian, China

4 Xu Yao-chang, 2005 Control effect of Beauveria bassiana Bbt1 strain and some other chemical pesticides on Tessaratoma papillosa Drury,

Forest Diseases and Insect Pests Control and Quarantine Station of Zhangzhou, Zhangzhou, Fujian

363000, China

Phản biện: PGS.TS Lê Văn Trịnh

VỀ THỜI ĐIỂM GHI NHẬN ĐẦU TIÊN LOÀI SÂU KEO Spodoptera frugiperda

(Smith) (Lepidoptera: Noctuidae) Ở VIỆT NAM VÀ TÊN TIẾNG VIỆT CỦA NÓ

Phạm Văn Lầm

Viện Bảo vệ thực vật Giống Spodoptera (Lep.: Noctuidae) ở trên

thế giới đã phát hiện được 25 loài Loài sâu keo

Spodoptera frugiperda là một trong 4 loài thuộc

giống Spodoptera gây hại cây trồng có tầm

quan trọng kinh tế lớn (Niaz et al., 2018) Loài

sâu keo S frugiperda có nguồn gốc tại vùng

nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Mỹ Loài côn trùng

này có mặt ở phần lớn các nước tây bán cầu, từ

phía nam Ca-na-đa đến Chi-lê và Ác-hen-ti-na

(Luginbill, 1928; Midega et al., 2018; Todd and

Poole, 1980)

Tại Brazil, sâu keo S frugiperda gây giảm tới

34% năng suất ngô hạt dẫn đến tổng thiệt hại hàng năm tới 400 triệu đô la Mỹ Sâu keo

S frugiperda hàng năm gây tổn thất hơn 500 triệu đô la Mỹ cho các vùng đông nam và duyên

hải Atlantic của Hoa Kỳ (Ganiger et al., 2018)

Sâu non của loài sâu keo S frugiperda có tính

đa thực, có thể sử dụng hơn 100 loài thuộc nhiều

họ thực vật để làm thức ăn Sâu keo

S frugiperda là loài côn trùng cánh vảy có khả

năng di cư xa Trưởng thành có thể bay được trên 100 km trong một đêm (Johnson, 1987) Do

đó, loài côn trùng này đã trở thành loài ngoại lai

Ngày đăng: 27/05/2020, 05:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w