1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Về thời điểm ghi nhận đầu tiên loài sâu keo Spodoptera frugiperda (Smith) (Lepidoptera: Noctuidae) ở Việt Nam và tên Tiếng Việt của nó

4 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 302,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để chính xác hơn và tránh gây hiểu nhầm về thời gian phát sinh của loài sâu keo S. frugiperda thì cần phải gọi tên tiếng Việt của loài sâu keo S. frugiperda là “sâu keo châu Mỹ”. Khi trao đổi với nhiều nhà nghiên cứu côn trùng lớn tuổi của Việt Nam về tên gọi này của loài sâu keo S. frugiperda thì tất cả đều ủng hộ quan điểm là cần phải gọi loài sâu keo S. frugiperda là “sâu keo châu Mỹ”.

Trang 1

Kết quả đánh giá qua 3 thí nghiệm diện hẹp

cho thấy hiệu lực của chế phẩm phòng trừ bọ xít

hại nhãn chín muộn tại các xã: Đại Thành (Quốc

Oai), Song Phương và An Thượng (Hoài Đức),

đều đạt hiệu lực phòng trừ bọ xít trên 80% sau

14 ngày xử lý

4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1 Kết luận

- Chế phẩm sinh học Beauveria bassiana BX1

có hiệu quả cao trong phòng trừ bọ xít hại nhãn

chín muộn tại vùng Hà Nội, hiệu lực phòng trừ

đạt 68,3- 87,7% sau 14 ngày xử lý trong điều

kiện phòng thí nghiệm, đạt 61,3- 84,2% sau 14

ngày xử lý ngoài nhà lưới

- Hiệu quả phòng trừ bọ xít hại nhãn chín

muộn trên đồng ruộng của chế phẩm BX1 đạt

trên 80% sau 14 ngày phun ở liều lượng 10

kg/lần phun và phun kép 2 lần, cách nhau 7-10

ngày vào thời điểm nhãn ra nụ hoa rộ

4.2 Đề nghị

Nghiên cứu sử dụng rộng rãi chế phẩm sinh

học BX1 để phòng trừ bọ xít hại nhãn chín muộn

tại Hà Nội và phụ cận, tạo sản phẩm an toàn cho tiêu dùng và xuất khẩu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Thị Thùy, 2004 Công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội

2 Nguyễn Ngọc Tú, Nguyễn Cửu Thị Hương Giang, 1997 Bảo vệ cây trồng từ các chế phẩm từ vi nấm, Nhà Xuất Bản Nông nghiệp TP, Hồ Chí Minh,

155 Trang

3 Lin Qing-yuan, 2005 Study on Controlling Tessaratoma papillosa Drury By Using Beauverria bassiana, General Station of Forest Diseases and

Pests Control and Quarantine of Fujian Province, Fuzhou 350003, Fujian, China

4 Xu Yao-chang, 2005 Control effect of Beauveria bassiana Bbt1 strain and some other chemical pesticides on Tessaratoma papillosa Drury,

Forest Diseases and Insect Pests Control and Quarantine Station of Zhangzhou, Zhangzhou, Fujian

363000, China

Phản biện: PGS.TS Lê Văn Trịnh

VỀ THỜI ĐIỂM GHI NHẬN ĐẦU TIÊN LOÀI SÂU KEO Spodoptera frugiperda

(Smith) (Lepidoptera: Noctuidae) Ở VIỆT NAM VÀ TÊN TIẾNG VIỆT CỦA NÓ

Phạm Văn Lầm

Viện Bảo vệ thực vật

Giống Spodoptera (Lep.: Noctuidae) ở trên

thế giới đã phát hiện được 25 loài Loài sâu keo

Spodoptera frugiperda là một trong 4 loài thuộc

giống Spodoptera gây hại cây trồng có tầm

quan trọng kinh tế lớn (Niaz et al., 2018) Loài

sâu keo S frugiperda có nguồn gốc tại vùng

nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Mỹ Loài côn trùng

này có mặt ở phần lớn các nước tây bán cầu, từ

phía nam Ca-na-đa đến Chi-lê và Ác-hen-ti-na

(Luginbill, 1928; Midega et al., 2018; Todd and

Poole, 1980)

Tại Brazil, sâu keo S frugiperda gây giảm tới

34% năng suất ngô hạt dẫn đến tổng thiệt hại hàng năm tới 400 triệu đô la Mỹ Sâu keo

S frugiperda hàng năm gây tổn thất hơn 500 triệu đô la Mỹ cho các vùng đông nam và duyên

hải Atlantic của Hoa Kỳ (Ganiger et al., 2018)

Sâu non của loài sâu keo S frugiperda có tính

đa thực, có thể sử dụng hơn 100 loài thuộc nhiều

họ thực vật để làm thức ăn Sâu keo

S frugiperda là loài côn trùng cánh vảy có khả năng di cư xa Trưởng thành có thể bay được trên 100 km trong một đêm (Johnson, 1987) Do

đó, loài côn trùng này đã trở thành loài ngoại lai

Trang 2

xâm lấn gây hại nghiêm trọng trên cây ngô và

một số cây trồng khác thuộc họ hòa thảo ở nhiều

nơi trên thế giới Vào đầu năm 2016 đã ghi nhận

sự xâm lấn của loài sâu keo S frugiperda tới

vùng Trung tâm và phía Tây của châu Phi Đến

cuối năm 2016 và năm 2017 nó đã lây lan tới các

vùng phía Nam, phía Đông và phía Bắc của châu

Phi (Goergen et al., 2016; FAO, 2017)

Tại Việt Nam, ngày 19-2-2019 Cục Bảo vệ

thực vật có công văn số 351/BVTV-TV về điều

tra và theo dõi sâu keo S frugiperda Trong công

văn có đoạn ghi “Đây là loài sâu hại mới chưa

phát hiện tại Việt Nam, được cảnh báo có khả

năng phát tán vào Việt Nam và…”

Tuy nhiên, tại Hội nghị Khoa học toàn Quốc

lần thứ ba về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

được tổ chức ở Hà Nội vào ngày 22 tháng 10

năm 2009 có một công bố kết quả nghiên cứu

năm 2008 về sâu hại cỏ thảm Trong công bố

này có kết quả điều tra thành phần sâu hại cỏ

thảm trồng tại Phú Diễn (Hà Nội) Theo kết quả

nghiên cứu này, đã phát hiện được 17 loài sâu

hại cỏ thảm ở điểm nghiên cứu Trong số những

loài sâu hại đã phát hiện hại cỏ thảm, có 3 loài

phát sinh rất phổ biến, với tần suất xuất hiện đạt

từ 50% trở lên (được ký hiệu với 3 dấu cộng

“+++”) Đó là các loài Spodoptera frugiperda

(Smith), Herpetogramma phaeopteralis (Guenee)

và Gryllotalpa africana Pal de Beauvois (Nguyễn

Thị Kim Oanh, Vũ Thị Phượng, 2009) Tên khoa

học của các loài sâu hại cỏ thảm trong công bố

này được GS.TS Brandenburg giám định

(GS.TS Brandenburg làm việc tại Trung tâm

Nghiên cứu và Giáo dục môi trường cỏ thảm ở

Bắc Carolina, Hoa Kỳ) Như vậy, loài sâu keo

S frugiperda đã được ghi nhận từ năm 2008 và

là một trong 3 loài phổ biến trên cỏ thảm tại Phú

Diễn, Hà Nội

Công bố nêu trên được đăng tải trong tập báo

cáo khoa học của một Hội nghị Khoa học toàn

Quốc lần thứ ba về Sinh thái và Tài nguyên Sinh

vật do Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật tổ

chức định kỳ Bài đăng đã được phản biện và tập

Báo cáo khoa học này được xuất bản chính thức

(nhà xuất bản Nông nghiệp) Tập báo cáo khoa

học của Hội nghị Khoa học toàn Quốc (không

phải hội thảo) do Viện Sinh thái và Tài nguyên

Sinh vật in ấn và phát hành là một tài liệu có giá

trị tham khảo khoa học Tập báo cáo khoa học này là những công bố khoa học nghiêm túc, có giá trị khoa học, giá trị pháp lý và giá trị tham khảo khoa học Điều này có nghĩa là công bố về

sự xuất hiện của sâu keo S frugiperda trên cỏ

thảm ở Phú Diễn năm 2009 là hoàn toàn có giá trị khoa học Nếu có nhà nghiên cứu côn trùng nào đó viết tổng quan về côn trùng hại cây trồng

hoặc nghiên cứu chuyên sâu về loài sâu keo S

frugiperda ở Việt Nam thì chắc chắn người đó sẽ phải tham khảo và trích dẫn công bố khoa học nêu trên mới được cho là đã tham khảo đầy đủ tài liệu tiếng Việt

Tuy nhiên, lại có ý kiến đánh giá thấp giá trị khoa học, giá trị pháp lý và giá trị tham khảo khoa học của công bố khoa học nêu trên, thậm chí coi công bố khoa học nêu trên không có giá trị, nghĩa là không công nhận sự ghi nhận về loài

sâu keo S frugiperda trên cỏ thảm ở Việt Nam

năm 2008

Cơ sở để tin kết quả nghiên cứu trong một công bố khoa học là phương pháp nghiên cứu

Công bố khoa học nêu trên có phương pháp nghiên cứu đúng, việc giám định tên khoa học do một GS.TS nước ngoài tiến hành Điều này tự nói lên rằng kết quả nghiên cứu của công bố khoa học nói trên hoàn toàn đáng tin cậy

Ngoài tài liệu nêu trên, loài sâu keo

S frugiperda với tên là “sâu ăn lá” cũng đã được đưa vào chương III của cuốn sách “Côn trùng và động vật hại nông nghiệp Việt Nam” - sách chỉ viết về các loài côn trùng và động vật gây hại chính đã ghi nhận trên cây trồng phổ biến ở Việt Nam Cuốn sách này được Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) phối hợp với Hội Côn trùng học Việt Nam tổ chức biên soạn Cuốn sách này được 37 nhà nghiên cứu côn trùng (TS, PGS, GS) trong cả nước tham gia biên soạn và do GS.TS Nguyễn Văn Đĩnh, GS.TS Hà Quang Hùng, GS.TS Nguyễn Thị Thu Cúc, GS.TS

Phạm Văn Lầm làm chủ biên Sách này được nhà xuất bản Nông nghiệp in năm 2012

Vào tháng 2 năm 2019, trên cây ngô vụ xuân ở nhiều nơi đã xuất hiện một loài sâu ăn

lá với mật độ cao Một số cán bộ kỹ thuật cũng như nông dân trồng ngô tại vài tỉnh khẳng định loài sâu keo hại trên cây ngô này đã xuất hiện

Trang 3

trong vài năm nay Loài sâu ăn lá này được

xác định chính là sâu keo S frugiperda Các

cán bộ kỹ thuật này nói rằng họ cứ nghĩ đó là

loài sâu cắn nõn ngô (Mythimna loreyi) đã có

lâu nay ở Việt Nam, nên không quan sát kỹ về

đặc điểm hình thái của sâu Điều này góp thêm

dẫn liệu rằng sâu keo S frugiperda đã xuất

hiện ở Việt Nam trước tháng 2 năm 2019, chứ

không phải như công văn số 351/BVTV-TV ký

ngày 19-2-2019 của Cục Bảo vệ thực vật

khẳng định “Đây là loài sâu hại mới chưa phát

hiện tại Việt Nam,…”

Về tên tiếng Việt của loài sâu keo S

frugiperda trong công văn số 351/BVTV-TV

ngày 19-2-2019 của Cục Bảo vệ thực vật đã ghi

“Sau khi xem xét về phân loại, tập tính gây

hại,… đề nghị tên tiếng Việt của loài sâu này là

sâu keo mùa Thu” Rất hoan nghênh việc đặt

tên tiếng Việt ngay lập tức cho loài sâu hại này

vì hiện nay còn rất nhiều loài côn trùng hại nói

riêng và sinh vật hại nói chung trên các cây

trồng ở nước ta (kể cả loài bản địa) vẫn chưa

được gọi tên tiếng Việt

Nhưng, tên tiếng Việt “sâu keo mùa Thu” (từ

“thu” được viết hoa theo công văn số

351/BVTV-TV) không có gì liên quan đến phân loại, tập tính

gây hại của loài sâu keo S frugiperda như giải

thích trong công văn số 351/BVTV-TV Tên “sâu

keo mùa Thu” trong công văn số 351/BVTV-TV là

dịch từ tên tiếng Anh “fall armyworm” Tên tiếng

Anh này với từ “fall” có thể xuất phát từ sự phát

sinh/gây hại vào mùa thu tại châu Mỹ (quê

hương của nó), nhưng cũng có thể không phải

vậy, vì từ “fall” không chỉ có nghĩa là mùa thu, mà

có nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từ khác

đi cùng với từ “fall”

Tên tiếng Việt được đặt cho các sâu hại

dựa vào tiếng nước ngoài và tên latinh của loài

nói chung là rất tốt Tuy nhiên, tên tiếng Anh

của côn trùng dịch sang tiếng Việt theo nghĩa

từ điển trong nhiều trường hợp sẽ không đúng

bản chất của loài côn trùng Thí dụ, cụm từ

tiếng Anh “the family Reduviidae consists…” đã

được dịch theo nghĩa từ điển là “Reduviidae

gia đình bao gồm…”; cụm từ “kissing bugs” là

tên tiếng Anh của một loài bọ xít hút máu

(Triatoma rubrofasciata) đã được dịch theo

nghĩa từ điển là “hôn lỗi”; tên tiếng Anh của

loài rệp giường mê-hi-cô là “mexican bed bug”

đã được dịch theo nghĩa từ điển là “mexico giường lỗi”; cụm từ tiếng Anh “the word "bug" strictly refers only to the large order of insects…” đã được dịch theo nghĩa từ điển là

“từ "lỗi" nghiêm chỉnh chỉ đề cập đến thứ tự lớn của côn trùng (Hemiptera)…” (Tạp chí Da liễu Online, 2001) Các cụm từ tiếng Anh liên quan đến côn trùng được dịch theo kiểu ghép nghĩa

từ điển như nêu trên thì quả thật rất nực cười

và không ai hiểu là gì?

Ngay sau khi công văn số 351/BVTV-TV ngày 19-2-2019 của Cục Bảo vệ thực vật được gửi tới các địa phương đã có câu hỏi

được nêu ra là “Nó (=sâu keo S frugiperda)

phát sinh vào mùa thu mà bây giờ bắt đi điều tra thì làm gì có?” Như vậy, khi gọi loài

S frugiperda là “sâu keo mùa Thu” đã làm nảy sinh ý nghĩ rằng loài sâu keo này phát sinh gây hại vào mùa thu hàng năm Điều này cho thấy cụm từ tiếng Việt “sâu keo mùa Thu”

dùng để gọi tên cho loài S frugiperda là

không ổn, gây hiểu nhầm cho cán bộ kỹ thuật

ở địa phương về thời gian xuất hiện trong năm của loài côn trùng hại này là vào mùa thu Tương tự, cũng đã có sự hiểu nhầm do

tên gọi tiếng Việt cho loài “Laodelphax

striatellus” Nhưng sự hiểu nhầm này lại về

kích thước cơ thể của loài “Laodelphax

striatellus” Loài rầy này trước đây trong làng BVTV Việt Nam đã được biết đến với tên là

“rầy xám” hay “muội xám” Cách đây 10 năm, một cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định

gọi loài “Laodelphax striatellus” với tên “rầy

nâu nhỏ” Ngay sau đó, tác giả bài viết này đã nhận được mẫu những cá thể của loài rầy nâu

(Nilaparvata lugens) có kích thước cơ thể nhỏ

từ vài địa phương gửi tới với câu hỏi những mẫu đó có phải là “rầy nâu nhỏ”?

Có ý kiến cho rằng dùng cụm từ “sâu keo

mùa thu” để gọi tên cho loài “S frugiperda” và

“rầy nâu nhỏ” để gọi cho loài “Laodelphax

striatellus” là để hội nhập quốc tế Thật khó hiểu

ý kiến này? Sử dụng tên gọi tiếng Việt cho côn trùng sao cho chuẩn xác, dễ hiểu, không gây hiểu nhầm và vẫn giữ nguyên tên tiếng Anh của

nó (khi cần trao đổi quốc tế) thì có gì ảnh hưởng đến hội nhập quốc tế? Thí dụ, đối với loài

Trang 4

“Laodelphax striatellus” gọi là “rầy xám” hay

“muội xám” và vẫn dùng tên tiếng Anh là “small

brown planthopper” thì hoàn toàn không ảnh

hưởng đến hội nhập quốc tế

Có không ít loài côn trùng ngoại lai thường

được sử dụng nguồn gốc của loài để gọi tên

tiếng Việt (bất kể trong tên tiếng Anh có từ chỉ

địa danh xuất xứ hay không) Thí dụ, loài

Ceratitis capitata được gọi là ruồi đục quả địa

trung hải, loài Bactrocera tsuneonis được gọi là

ruồi đục quả nhật bản, loài Zabrotes

subfasciatus được gọi là mọt đậu mê-hi-cô,…

Như trên đã nêu, loài sâu keo S frugiperda có

nguồn gốc tại vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới

châu Mỹ Vậy tại sao không gọi là “sâu keo

châu Mỹ” mà lại gọi là “sâu keo mùa Thu” như

trong công văn số 351/BVTV-TV ngày

19-2-2019 của Cục Bảo vệ thực vật?

Tác giả bài viết này thấy rằng để chính xác

hơn và tránh gây hiểu nhầm về thời gian phát

sinh của loài sâu keo S frugiperda thì cần phải

gọi tên tiếng Việt của loài sâu keo S frugiperda

là “sâu keo châu Mỹ” Khi trao đổi với nhiều

nhà nghiên cứu côn trùng lớn tuổi của Việt Nam

về tên gọi này của loài sâu keo S frugiperda thì

tất cả đều ủng hộ quan điểm là cần phải gọi loài

sâu keo S frugiperda là “sâu keo châu Mỹ”

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Côn trùng và động vật hại nông nghiệp Việt Nam, 2012 Nxb Nông nghiệp, Hà Nội: 124-126

2 Nguyễn Thị Kim Oanh, Vũ Thị Phượng, 2009

Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ ba, Hà Nội, 22-10-2009 Nxb Nông nghiệp: 1490-1498

3 FAO, 2017 Briefing note on FAO actions on fall armyworm in Africa

4 Ganiger P.C., H.M Yeshwanth,

K Muralimohan, N Vinay, A.R.V Kumar,

K Chandrashekara, 2018 Current Science,

Vol.115(4): 621-623

5 Goergen G., P.L Kumar, S.B Sankung,

A Togola, M Tamò, 2016 PLoS ONE,

11(10):e0165632.doi:10.1371/journal.pone.0165632

6 Hôn lỗi (Triatoma) và da Tạp chí Da liễu Online, 2001, số 7 (1): 6

7 Johnson S J., 1987 International Journal of Tropical Insect Science, 8(4-5-6): 543-549

8 Luginbill P., 1928 Technical Bulletin United States Department of Agriculture, Vol 34:1-91

9 Midega C.A.O., J.O Pittchar, J.A Pickett, G.W

Hailu, Z.R Khan, 2018 Crop Protection, 105: 10-15

10 Niaz U., A.Khan, M.U Javed, M.Atif,

Shahab-ud-Din, 2018 J Agric Sci Bot., 2(3):1-4

11 Todd E.L., R.W Poole, 1980 Ann Entomol

Soc Am., 73:722-738

SÂU ĐỤC LÁ CÀ CHUA NAM MỸ ĐÃ XUẤT HIỆN TẠI TỈNH SƠN LA

Nguyễn Văn Liêm, Đào Thị Hằng

Viện Bảo vệ thực vật

Xuất xứ và lây lan của sâu đục lá cà chua

Nam Mỹ

Loài sâu đục lá cà chua Nam Mỹ, Tuta

absoluta (Meyrick) (Lepidoptera: Gelechiidae), có

nguồn gốc ở Pê-ru thuộc Nam Mỹ, đã trở thành

một trong các sâu hại chính trên cà chua ở các

nước Nam Mỹ từ những năm 1960 (Souza et al.,

1983), đây cũng là sâu hại cà chua cực kỳ nguy

hiểm ở các nước thuộc khu vực này (Guillemaud

et al., 2015)

Tại châu Á, loài này được phát hiện có mặt tại Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2009 (Kilic, 2010), Đến nay, chúng đã có mặt ở hầu khắp các nước thuộc khu

vực Trung và Tây Nam châu Á (Biondi et al.,

2018).Tại khu vực Nam Á, chúng đã xâm lấn vào Nepal năm 2016, đã lây lan đến miền Tây Ấn Độ vào năm 2014 và đến miền Đông nước này vào

năm 2017 (Sankarganesh et al., 2017) và đã có

mặt tại Băng-la-đét vào năm 2016 Đến nay, loài này đã hiện diện ở 16 quốc gia ở châu lục này

Ngày đăng: 27/05/2020, 05:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w